|
|
KẾ TOÁN - THUẾ - DOANH NGHIỆP - LAO ĐỘNG |
|
|
|
|
CHÍNH PHỦ
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ
NGHĨA VIỆT NAM Số: 122/2010/NĐ-CP Hà Nội, ngày 31 tháng
12 năm 2010 CHÍNH PHỦ Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm
2001; Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ
Khoa học và Công nghệ, NGHỊ ĐỊNH: 1. Sửa đổi điểm h
khoản 2 Điều 3 như sau: “h) Quản lý chỉ dẫn địa lý thuộc địa phương, kể cả địa
danh, dấu hiệu khác chỉ nguồn gốc đặc sản địa
phương;” 2. Sửa đổi khoản
3, khoản 4 và bổ sung khoản 5 Điều 19 như
sau: “3. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Công
Thương chủ trì, phối hợp với Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương xác định các loại đặc sản, các đặc tính của sản phẩm, quy trình sản
xuất các các đặc sản mang chỉ dẫn địa lý thuộc phạm vi quản lý của bộ, ngành,
địa phương. 4. Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương tiến hành nộp đơn đăng ký và tổ chức quản lý chỉ dẫn địa lý cho các đặc sản
của địa phương và cấp phép để đăng ký nhãn hiệu chứng nhận đối với địa danh, dấu
hiệu khác chỉ nguồn gốc địa lý đặc sản địa phương. 5. Bộ Khoa học và Công nghệ quy định tiêu chí xác định
địa danh, dấu hiệu khác chỉ nguồn gốc địa lý của sản
phẩm.” 3. Bổ sung Chương IIIa như sau: “Chương IIIa. SÁNG CHẾ
MẬT Điều 23a. Sáng chế mật; văn bằng bảo
hộ sáng chế mật; nội dung và giới hạn quyền đối với sáng chế
mật 1. Sáng chế được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định
là bí mật nhà nước thuộc lĩnh vực quốc phòng và an ninh quốc gia theo pháp luật
về bảo vệ bí mật nhà nước gọi là sáng chế mật. 2. Sáng chế mật chỉ có thể được cấp Bằng độc quyền sáng
chế mật hoặc Bằng độc quyền giải pháp hữu ích mật. 3. Đơn đăng ký sáng chế mật, Bằng độc quyền sáng chế mật,
Bằng độc quyền giải pháp hữu ích mật không được công bố và phải được bảo mật
theo pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước. 4. Việc sử dụng, chuyển giao quyền sử dụng sáng chế mật,
chuyển giao quyền nộp đơn, quyền sở hữu sáng chế mật phải được phép của cơ quan
nhà nước có thẩm quyền theo pháp luật về bảo vệ bí mật nhà
nước. 5. Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng có thể
sử dụng, giao cho tổ chức, cá nhân sử dụng sáng chế mật nhằm mục đích quốc
phòng, an ninh theo quy định tại các điều 145, 146 và 147 của Luật Sở hữu trí
tuệ. 6. Kể cả ngày sáng chế mật được cơ quan có thẩm quyền
giải mật theo pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước, đơn và văn bằng bảo hộ sáng
chế mật được xử lý như sau: a) Đơn sáng chế mật tiếp tục được xử lý như đơn sáng
chế; b) Bằng độc quyền sáng chế mật, Bằng độc quyền giải pháp
hữu ích mật được chuyển đổi thành Bằng độc quyền sáng chế, Bằng độc quyền giải
pháp hữu ích và được công bố trên Công báo sở hữu công nghiệp và ghi nhận vào Sổ
đăng ký quốc gia về sáng chế. Điều 23b. Kiểm soát an ninh đối với
sáng chế trước khi đăng ký ra nước ngoài. 1. Tổ chức, cá nhân Việt Nam chỉ được đăng ký sáng chế
mật ở những nước có quy định về bảo hộ sáng chế mật và phải được cơ quan có thẩm
quyền cho phép theo quy định tại khoản 2 Điều 23c của Nghị định
này. 2. Sáng chế của tổ chức, cá nhân Việt Nam và sáng chế
được tạo ra tại Việt Nam không được Nhà nước Việt Nam bảo hộ nếu đã nộp đơn đăng
ký bảo hộ sở hữu công nghiệp ở nước ngoài trái với quy định về kiểm soát an ninh
sau đây: a) Chỉ được nộp đơn yêu cầu bảo hộ sở hữu công nghiệp ở
nước ngoài khi đã nộp đơn đăng ký sáng chế tại Việt Nam và đã kết thúc thời hạn
6 tháng kể từ ngày nộp đơn đó, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản
này; b) Không được nộp đơn yêu cầu bảo hộ sở hữu công nghiệp ở
nước ngoài khi sáng chế được xác định là sáng chế mật theo pháp luật về bảo hộ
bí mật nhà nước và đã có thông báo của cơ quan có thẩm
quyền. Điều 23c. Xác định sáng chế mật và
giải mật; xác lập quyền và chuyển giao quyền đối với sáng chế
mật 1. Việc xác định sáng chế mật và giải mật do Bộ Quốc
phòng và Bộ Công an thực hiện theo pháp luật về bảo vệ bí mật nhà
nước. 2. Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Bộ Quốc phòng và Bộ
Khoa học và Công nghệ quy định thủ tục xác định sáng chế mật và giải mật sáng
chế; bảo vệ sáng chế mật; thủ tục thẩm định đơn và cấp văn bằng bảo hộ sáng chế
mật; quản lý việc sử dụng, chuyển giao quyền đối với sáng chế mật và đăng ký bảo
hộ sở hữu công nghiệp đối với sáng chế ở nước ngoài phù hợp với pháp luật về bảo
vệ bí mật nhà nước và pháp luật về sở hữu trí tuệ.” 4. Sửa đổi, bổ sung Điều 29
như
sau: “Điều 29. Cấp và thu hồi Chứng chỉ
hành nghề dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp 1. Chứng chỉ hành nghề dịch vụ đại diện sở hữu công
nghiệp được cấp cho cá nhân đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 2 Điều 155 của Luật Sở hữu trí
tuệ theo yêu cầu của cá nhân đó sau khi
nộp phí, lệ phí theo quy định của pháp luật. 2. Chứng chỉ hành nghề dịch vụ đại diện sở hữu công
nghiệp bị thu hồi trong các trường hợp sau đây: a) Người được cấp Chứng chỉ hành nghề dịch vụ đại diện sở
hữu công nghiệp từ bỏ hoạt động đại diện sở hữu công
nghiệp; b) Người được cấp Chứng chỉ hành nghề dịch vụ đại diện sở
hữu công nghiệp không còn đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 2 Điều 155 của Luật Sở hữu trí
tuệ; c) Người được cấp Chứng chỉ hành nghề dịch vụ đại diện sở
hữu công nghiệp bị tước quyền sử dụng Chứng chỉ hành nghề theo quyết định của cơ
quan nhà nước có thẩm quyền. 3. Việc xem xét yêu cầu cấp lại Chứng chỉ hành nghề dịch
vụ đại diện sở hữu công nghiệp trong trường hợp đã bị thu hồi theo quy định tại
điểm c khoản 2 Điều này chỉ được thực hiện sau khi kết thúc thời hạn bị tước
quyền sử dụng Chứng chỉ hành nghề. 4. Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức việc cấp, thu hồi
Chứng chỉ hành nghề dịch vụ đại diện sở hữu công
nghiệp.” “Điều 29a. Ghi nhận và xóa tên tổ chức đủ điều
kiện kinh doanh dịch vụ đại diện sở hữu công
nghiệp. 1. Tổ chức có đủ các điều kiện theo quy định tại
Điều 154 của Luật Sở hữu trí
tuệ và quy định chi tiết tại các khoản
2, 3 và 4 Điều này được ghi nhận là tổ chức kinh doanh dịch vụ đại diện sở hữu
công nghiệp trong Sổ đăng ký quốc gia về đại diện sở hữu công nghiệp và công bố
trên Công báo sở hữu công nghiệp theo yêu cầu của tổ chức đó sau khi nộp phí, lệ
phí theo quy định của pháp luật. 2. Các tổ chức quy định tại khoản 1 Điều 154 của Luật Sở hữu trí tuệ bao gồm: a) Doanh nghiệp được thành lập và hoạt động theo pháp
luật về doanh nghiệp; b) Hợp tác xã và liên hiệp hợp tác xã được thành lập và
hoạt động theo pháp luật về hợp tác xã; c) Các tổ chức hành nghề luật sư được thành lập và hoạt
động theo pháp luật về luật sư, trừ chi nhánh của tổ chức hành nghề luật sư nước
ngoài, công ty luật trách nhiệm hữu hạn một phần trăm vốn nước ngoài, công ty
luật trách nhiệm hữu hạn dưới hình thức liên doanh giữa tổ chức hành nghề luật
sư Việt Nam và tổ chức hành nghề luật sư nước
ngoài; d) Các tổ chức dịch vụ khoa học và công nghệ được thành
lập và hoạt động theo pháp luật về khoa học và công
nghệ. 3. Chi nhánh và các đơn vị phụ thuộc khác của các tổ chức
quy định khoản 2 Điều này chỉ được kinh doanh dịch vụ đại diện sở hữu công
nghiệp dưới danh nghĩa của tổ chức mà mình phụ
thuộc. 4. Người đại diện theo pháp luật của tổ chức dịch vụ đại
diện sở hữu công nghiệp hoặc người tổ chức được người đại diện theo pháp luật
của tổ chức ủy quyền trong hoạt động kinh doanh dịch vụ đại diện sở hữu công
nghiệp phải đáp ứng các điều kiện hành nghề dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp
quy định tại khoản 1 Điều 155
của Luật Sở hữu trí tuệ. 5. Tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp bị xóa tên
trong Sổ đăng ký quốc gia về đại diện sở hữu công nghiệp và việc xóa tên được
công bố trên Công báo sở hữu công nghiệp trong các trường hợp sau
đây: a) Tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp chấm dứt
kinh doanh dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp; b) Tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp không còn
đáp ứng đầy đủ các điều kiện quy định tại Điều 154 của Luật Sở hữu trí tuệ.” 6. Bổ sung các khoản 2a, 2b và 3a Điều
36 như
sau: “2a. Các đơn đăng ký sở hữu công nghiệp nộp cho Cục Sở
hữu trí tuệ từ ngày 01 tháng 7 năm 2006 đến trước ngày 01 tháng 10 năm 2010 được
xử lý theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 và các văn bản hướng dẫn
thi hành. 2b. Các đơn đăng ký sở hữu công nghiệp nộp cho Cục Sở hữu
trí tuệ từ ngày 01 tháng 01 năm 2010 được xử lý theo quy định của Luật sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2009 và các văn bản hướng dẫn
thi hành. 3a. Cục Sở hữu trí tuệ cấp Giấy chứng nhận đăng ký chỉ
dẫn địa lý đối với tên gọi xuất xứ hàng hóa đã được đăng bạ phù hợp với quy định
về đăng ký chỉ dẫn địa lý của Luật Sở hữu trí tuệ. Mọi quyền và nghĩa vụ của các
chủ thể đối với tên gọi xuất xứ hàng hóa được áp dụng theo quy định về chỉ dẫn
địa lý của Luật Sở hữu trí tuệ.” Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 20 tháng 02
năm 2011. Điều 3. Trách nhiệm hướng dẫn thi
hành 1. Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ hướng dẫn thi hành
Nghị định này. 2. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng
cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này. Nơi nhận: TM. CHÍNH PHỦ |
ĐƠN VỊ HỖ TRỢ
|