|
|
KẾ TOÁN - THUẾ - DOANH NGHIỆP - LAO ĐỘNG |
|
|
|
|
BỘ TÀI CHÍNH CỘNG
HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Số: 1873/TCT-TTKT Hà
Nội, ngày 01
tháng 6
năm 2022 Kính
gửi: Cục
Thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Thời
gian qua, Tổng cục Thuế đã có các chỉ đạo về tăng cường quản lý thuế, quản lý về
hóa đơn, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra đối với các doanh nghiệp có rủi
ro cao về thuế, chống gian lận hoàn thuế giá trị gia tăng (GTGT), trốn thuế.
Theo đó, Cơ quan Thuế địa phương đã góp phần ngăn chặn và khắc phục có hiệu quả
đối với các hành vi gian lận trong hoàn thuế GTGT, trốn thuế, nâng cao ý thức
chấp hành pháp luật thuế, đồng thời góp phần tạo môi trường kinh doanh lành
mạnh,
bình đẳng. Tuy nhiên hiện nay, các cơ quan điều tra vẫn tiếp tục phát hiện,
triệt phá một số đường dây thành lập công ty mua bán trái phép hóa đơn GTGT,
nhằm chiếm đoạt tiền thuế của NSNN. Để
kịp
thời phát hiện, ngăn chặn và xử lý nghiêm các trường hợp buôn bán hóa đơn nhằm
thu lợi bất chính, Tổng cục Thuế đề nghị Cơ quan Thuế các cấp căn cứ vào các quy
định hiện hành, tiếp tục thực hiện các giải pháp theo chỉ đạo tại các văn bản:
Công văn số 3928/TCT-TTKT ngày 18/09/2020 v/v tăng cường các giải pháp của cơ
quan Thuế về ngăn chặn, phát hiện, xử lý hành vi vi phạm pháp luật về quản lý,
sử dụng hóa đơn; Công văn số 2838/TCT-KTNB ngày 28/07/2021 v/v chấn chỉnh, kiểm
tra, rà soát, có biện pháp phòng ngừa xử lý đối với NNT có rủi ro về hành vi mua
bán, sử dụng hóa đơn bất hợp pháp... Ngoài
ra, cần thực hiện đồng bộ các biện pháp cụ thể như sau: 1. Cơ
quan thuế các cấp tổ chức triển khai, phổ biến, tổ chức thực hiện, tổng kết,
đánh giá và trao đổi kinh nghiệm về các dấu hiệu, hành vi vi phạm trong việc
quản lý hóa đơn: Phát hành, sử dụng, mua bán hóa đơn không hợp pháp. Đồng thời,
tổ chức rà soát, đánh giá phân loại các doanh nghiệp có dấu hiệu rủi ro về hóa
đơn thông qua các dấu hiệu nghi vấn. Trường hợp có rủi ro cao về thuế thì cơ
quan thuế yêu cầu giải trình làm rõ. Khi chứng minh được cơ sở nghi vấn rủi ro
thì đưa vào kiểm tra giám sát trọng điểm, còn qua giải trình không đủ cơ sở
chứng minh rủi ro thì
tổ
chức thanh tra,
kiểm tra thuế kết hợp với kiểm tra hóa đơn ngay. (Một
số dấu hiệu, hành vi vi phạm tại Phụ lục kèm theo công
văn). 2.
Trong công tác thanh tra, kiểm tra, cần thực hiện những công việc như: Xác minh
chứng từ, hóa đơn nguồn gốc của hàng hóa mua vào đến khâu cuối cùng (khi có dấu
hiệu xuất hóa đơn lòng vòng); Kiểm tra thực tế kho hàng, thông tin về giao nhận
hàng hóa từng lần xuất hàng; Kiểm tra, xác minh hàng hóa mua vào trong trường
hợp NNT có đầu vào mua từ các doanh nghiệp hoạt động tại các địa phương không có
nguồn nguyên liệu, hàng hóa đó; So sánh sự phù hợp giữa hàng hóa, dịch vụ của
hóa đơn mua vào và của hóa đơn bán ra tương ứng; Đối chiếu chứng từ thanh toán
tiền mua bán hàng hóa hạch toán tại doanh nghiệp với chứng từ thực tế phát sinh
tại ngân hàng mà NNT giao dịch để phát hiện việc chuyển tiền lòng vòng, giao
dịch đáng ngờ qua ngân hàng, tiến hành xác minh giao dịch qua ngân hàng (sao kê
ngân hàng) và phối hợp với chính quyền địa phương xác minh ngay những vấn đề còn
tồn tại của doanh nghiệp. Đối
với những hóa đơn phục vụ cho việc khấu
trừ, hoàn thuế
GTGT,
qua thanh tra, kiểm tra nếu phát hiện NNT có sử dụng đầu vào trực tiếp của doanh
nghiệp có dấu hiệu mua bán hóa đơn không hợp pháp nhưng chưa có kết luận chính
thức của cơ quan thuế hoặc cơ quan chức năng thì: Cơ quan thuế thông báo bằng
văn bản cho doanh nghiệp biết để kê khai điều chỉnh thuế GTGT, điều chỉnh hồ sơ
hoàn thuế. Nếu
doanh nghiệp vẫn khẳng
định các việc mua bán hàng hóa gắn liền với hóa đơn GTGT đầu vào là có thực và
đúng quy định thì doanh nghiệp phải cam kết chịu trách nhiệm trước pháp luật về
hồ sơ kê khai, hoàn thuế của mình. Đồng thời, cơ quan thuế quản lý doanh nghiệp
phải phối hợp với cơ quan thuế trực tiếp quản lý doanh nghiệp có dấu hiệu mua
bán hóa đơn không hợp pháp để kiểm tra hồ sơ khai thuế của doanh nghiệp này nhằm
xác minh, kết luận hành vi vi phạm của doanh nghiệp liên quan đến các hóa đơn
(nếu có). 3. Cơ
quan thuế các cấp khi nhận được yêu cầu xác minh về hóa đơn, nguồn gốc hàng hóa,
vận chuyển,...
thì phải phối hợp xác minh và trả kết quả xác minh chậm nhất là 10 ngày làm việc
kể từ ngày nhận được phiếu yêu cầu xác minh, trường hợp phức tạp thì thời gian
trả kết quả không quá 30 ngày làm việc, về vấn đề này, trong quá trình triển
khai thực hiện, nếu không nhận được sự phối hợp hoặc phối hợp không kịp thời của
Cục Thuế khác, đề nghị Cục Thuế báo cáo ngay với Tổng cục Thuế để
có
biện pháp xử lý kịp thời. Đối
với đơn vị xác minh và các đơn vị có liên quan đến đơn vị được yêu cầu xác minh,
đề nghị các Cục Thuế rà soát và xem xét như một thông tin cảnh báo về doanh
nghiệp có dấu hiệu rủi ro thuộc địa bàn quản lý thuế của mình để
xây
dựng kế hoạch kiểm tra giám sát trọng điểm. 4.
Các Cục Thuế căn cứ vào thực tiễn quản lý của địa phương, tiến hành đánh giá các
lĩnh vực có dấu hiệu rủi ro cao về thuế, kịp thời báo cáo với UBND tỉnh, thành
phố, Ban chỉ đạo chống thất thu NSNN tỉnh, thành phố để chỉ đạo các cơ quan liên
quan phối hợp với cơ quan thuế trong công tác chống thất thu cho NSNN. Đồng
thời, tham mưu với UBND tỉnh, thành phố chỉ đạo các Sở, Ban, Ngành tăng cường
công tác phối hợp nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước trong công tác thuế như:
trao đổi thông tin của doanh nghiệp giữa hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký
doanh nghiệp và hệ thống thông tin thuế, thực hiện tốt công tác đăng ký doanh
nghiệp, rà soát thông tin doanh nghiệp mới thành lập, thực hiện tốt cơ chế một
cửa liên thông, truyền tải thông tin kịp thời, chính xác, đầy đủ nhằm chống thất
thu NSNN (Sở Kế hoạch Đầu tư); thông tin về tình hình nguồn gốc hàng hóa trên
thị trường để phát hiện những trường hợp tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa
trôi nổi, không có nguồn gốc, không hạch toán sổ sách kế toán để không kê khai
thuế (Sở Công Thương);... 5.
Tăng cường trao đổi các kỹ năng qua thực tế đánh giá doanh nghiệp có dấu hiệu
rủi ro về hóa đơn, mua bán hóa đơn trong từng cơ quan thuế và cơ quan thuế các
cấp, đồng thời tuyên truyền việc nhận diện hành vi mua bán, sử dụng hóa đơn
không hợp pháp và chế tài xử lý đối với từng hành vi để NNT biết và tránh tham
gia vào các giao dịch mua bán hóa đơn; phối hợp với các đơn vị truyền thông công
khai thông tin doanh nghiệp có hành vi mua, bán hóa đơn để nêu gương, góp phần
“cảnh báo” các đối tượng đã và đang có ý định vi phạm pháp luật về mua, bán hóa
đơn. Khi cơ quan thuế có thông báo về doanh nghiệp có rủi ro về hóa đơn, đề nghị
Lãnh đạo các cơ quan thuế địa phương chỉ đạo tích cực phối hợp kiểm tra xử
lý. 6.
Tăng cường tập huấn, bồi dưỡng, nâng cao nghiệp vụ đối với đội ngũ cán bộ, công
chức làm công tác thanh tra, kiểm tra để
bảo
đảm đủ năng lực kiểm tra, phát hiện và xử lý đối với doanh nghiệp có dấu hiệu
mua, bán, sử dụng hóa đơn bất hợp pháp. 7.
Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát công chức, viên chức trong thực thi công
vụ, nhất là công chức thường xuyên tiếp xúc với người nộp thuế, công chức làm
công tác thanh tra, kiểm tra. Kiên quyết xử lý nghiêm minh các công chức sai
phạm, kiên quyết đưa ra khỏi hệ thống những công chức, viên chức yếu kém về năng
lực, trình độ, thiếu ý thức, trách nhiệm, buông lỏng quản lý, vi phạm 10 Điều kỷ
luật đối với công chức, viên chức ngành thuế theo quy định tại Quyết định số
1036/QĐ-TCT ngày 11/6/2013 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế. 8.
Tăng cường công tác phối hợp với cơ quan công an theo Thông tư liên tịch số
85/2016/TTLT-BTC-BCA ngày
20/6/2016 của Bộ
Tài
chính - Bộ Công an trong việc xác minh nguồn gốc hàng hóa, kiểm tra xác minh
người mua, người bán từ khâu đầu đến khâu cuối; Hồ sơ, tài liệu chuyển cơ quan
Công an đảm bảo tính pháp lý, xác định rõ dấu hiệu, hình thức và thủ đoạn vi
phạm về in, phát hành, sử dụng hóa đơn không hợp pháp nhằm trốn thuế hoặc có dấu
hiệu mua bán hóa đơn của tổ chức cá nhân, doanh nghiệp; Phối hợp chặt chẽ việc
cung cấp thông tin, tài liệu theo đề nghị của cơ quan Công an trong quá trình
điều tra, xử lý, cập nhật kết quả điều tra, nhằm đẩy
nhanh tiến độ, sớm điều tra kết luận, kiến nghị khởi tố xử lý theo đúng quy định
của pháp luật và cập nhật kết quả xử lý kịp thời. Ban hành, sửa đổi các văn bản
phối hợp để
phù
hợp với quy định hiện hành. 9.
Tăng cường phối hợp với ngân hàng để xác minh việc thanh toán qua ngân hàng,
giao dịch đáng ngờ theo Quyết định số 1796/QĐ-BTC ngày 11/9/2017 của Bộ trưởng
Bộ Tài chính về việc sửa đổi, bổ sung một số Điều của Quy chế xử lý thông tin tổ
chức, cá nhân có giao dịch đáng ngờ tại Cơ quan thuế các cấp tại Quyết định số
568/QĐ-BTC ngày 26/3/2015 của Bộ trưởng Bộ Tài chính. 10.
Tăng cường phối hợp với cơ quan Hải quan để kịp thời trao đổi và cung cấp thông
tin theo Quyết định số 2413/QĐ-BTC ngày 23/11/2017 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về
việc ban hành Quy chế trao đổi thông tin giữa cơ quan Hải quan và cơ quan Thuế:
Xác minh nguồn gốc hàng hóa, tờ khai nhập khẩu, tờ khai xuất khẩu, kiểm tra đột
xuất các lô hàng xuất khẩu của các doanh nghiệp hoàn thuế,... Tổng
cục thuế thông báo để các Cục Thuế biết và triển khai thực hiện. Nếu phát sinh
vướng mắc, khó khăn trong quá trình thực hiện, đề nghị Cục Thuế báo cáo về Tổng
cục Thuế để được xem xét, giải quyết kịp thời./. TL. TỔNG CỤC TRƯỞNG PHỤ
LỤC VỀ DẤU HIỆU HÀNH VI VI PHẠM -
Doanh nghiệp thay đổi người đại diện trước pháp luật từ 2 lần trở lên trong vòng
12 tháng hoặc thay đổi
người đại diện trước pháp luật đồng thời chuyển địa
điểm kinh
doanh; -
Doanh nghiệp có số lần thay đổi trạng thái hoạt động hoặc số lần thay đổi kinh
doanh từ 2 lần trong năm. -
Doanh nghiệp mới thành lập có địa điểm kinh doanh không cố định (chuyển địa điểm
kinh doanh nhiều lần trong 1-2 năm hoạt động). -
Doanh nghiệp chuyển địa điểm hoạt động kinh doanh sau khi đã có Thông báo không
hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký. -
Doanh nghiệp thành lập do các cá nhân có quan hệ gia đình cùng tham gia góp vốn
như Vợ, Chồng, anh, chị em ruột.... -
Doanh nghiệp thành lập mới do người đứng tên giám đốc, đại diện theo pháp luật
có Công ty do cơ quan thuế đã có thông báo bỏ địa chỉ kinh doanh (còn nợ thuế),
tạm ngừng hoạt động kinh doanh có thời hạn. -
Doanh nghiệp thành lập nhiều năm không phát sinh doanh thu, sau đó bán lại,
chuyển nhượng cho người khác. -
Doanh nghiệp thành lập không có giấy phép hoạt động khai thác khoáng sản nhưng
xuất hóa đơn tài nguyên, khoáng sản. -
Doanh nghiệp có hàng hóa bán ra, mua vào không phù hợp với điều kiện, đặc điểm
từng vùng. -
Doanh nghiệp chưa nộp đủ vốn điều lệ theo đăng ký; - Các
doanh nghiệp mua bán, sáp nhập với giá trị dưới 100 triệu
đồng; -
Doanh nghiệp kinh doanh siêu thị (bán lẻ hàng hóa tiêu dùng, hàng điện máy);
kinh doanh ăn uống, nhà hàng, khách sạn; kinh doanh vận tải; kinh doanh vật liệu
xây dựng; kinh doanh xăng dầu; kinh doanh trong lĩnh vực khai thác đất, đá, cát,
sỏi; kinh doanh khoáng sản (than, cao lanh, quặng sắt ...); kinh doanh nông lâm
sản (dăm gỗ,
gỗ ván, gỗ thanh,...); có phát sinh ngành nghề cho thuê nhân công (phát sinh
lớn). -
Doanh thu tăng đột biến, cụ thể: Kỳ kê khai trước doanh thu rất thấp, xấp xỉ
bằng 0 nhưng kỳ sau đột biến về doanh thu hoặc có doanh thu kỳ sau đột biến tăng
(từ 3 lần trở lên so doanh thu bình
quân của các kỳ trước) nhưng số thuế giá trị gia tăng (GTGT) phát sinh phải nộp
thấp (thuế GTGT phải nộp < 1 % doanh số phát sinh trong kỳ); -
Doanh thu lớn nhưng kho hàng không tương xứng hoặc không có kho hàng, không phát
sinh chi phí thuê kho; -
Doanh thu kê khai hàng năm phát sinh từ trên 10 tỷ đồng nhưng số thuế phát sinh
phải nộp thấp dưới 100 triệu đồng (1 %); -
Doanh nghiệp sử dụng hóa đơn với số lượng lớn (từ 500 đến 2000 số hóa đơn). Số
lượng hóa đơn xóa bỏ lớn, bình quân chiếm khoảng 20% số hóa đơn sử
dụng. -
Doanh nghiệp sử dụng hóa đơn điện tử theo Nghị định số 123/2020/NĐ-CP, Thông tư
số 78/2021/TT-BTC có số lượng hóa đơn điện tử giảm bất thường so với số lượng
hóa đơn đã sử dụng theo Nghị định số 51/2010/NĐ-CP. -
Doanh nghiệp
không có thông báo phát hành hóa đơn hoặc có thông báo phát hành nhưng không có
báo cáo tình hình sử dụng hóa đơn (hoặc chậm báo cáo). -
Doanh
nghiệp
có giá trị hàng hóa bán ra, thuế GTGT
đầu ra
bằng
hoặc chênh lệch rất nhỏ so với giá trị hàng hóa mua vào, thuế GTGT đầu
vào. -
Doanh nghiệp có hàng hóa dịch vụ bán ra không phù hợp với hàng hóa dịch vụ mua
vào; -
Doanh nghiệp có doanh thu và thuế GTGT đầu ra, đầu vào lớn nhưng không phát sinh
số thuế phải nộp, có số thuế GTGT âm nhiều kỳ. -
Doanh nghiệp không có tài sản cố định hoặc giá trị tài sản cố định rất
thấp; -
Doanh nghiệp có giao dịch đáng ngờ qua ngân hàng (tiền vào và rút ra ngay trong
ngày); -
Doanh nghiệp sử dụng lao động không tương xứng với quy mô và ngành nghề hoạt
động; - Một cá nhân đứng tên (người đại diện theo pháp luật)
thành lập, điều hành nhiều doanh nghiệp. |
ĐƠN VỊ HỖ TRỢ
|