|
|
KẾ TOÁN - THUẾ - DOANH NGHIỆP - LAO ĐỘNG |
|
|
|
|
BÁO CÁO TÀI CHÍNH GIỮA NIÊN
ĐỘ (Ban hành và công bố theo
Quyết định số 12/2005/QĐ-BTC, ngày 15/02/2005 của Bộ trưởng Bộ Tài
chính) QUY ĐỊNH
CHUNG 1. Mục đích của Chuẩn mực
này là quy định nội dung tối thiểu của một báo cáo tài chính tóm lược giữa niên
độ, các nguyên tắc ghi nhận và đánh giá cần phải được áp dụng khi lập và trình
bày báo cáo tài chính giữa niên độ. Báo cáo tài chính giữa niên độ được lập kịp
thời và đáng tin cậy sẽ cho phép các nhà đầu tư, các chủ nợ và những người sử
dụng khác hiểu rõ hơn về khả năng tạo ra các nguồn thu, các luồng tiền, về tình
hình tài chính và khả năng thanh toán của doanh nghiệp. 2. Chuẩn mực này áp dụng cho
các doanh nghiệp theo quy định của pháp luật phải lập báo cáo tài chính
quý. Chuẩn mực này cũng được áp
dụng cho các doanh nghiệp tự nguyện lập báo cáo tài chính giữa niên độ.
Doanh nghiệp phải công khai
báo cáo tài chính giữa niên độ theo quy định của pháp
luật. 3. Các thuật ngữ trong Chuẩn
mực này được hiểu như sau: Kỳ kế toán giữa niên độ: Là
kỳ lập báo cáo tài chính tháng hoặc quý theo quy định của pháp luật.
Báo cáo tài chính giữa niên
độ: Là báo cáo tài chính gồm các báo cáo đầy đủ theo quy định trong Chuẩn mực kế
toán số 21 “Trình bày báo cáo tài chính” hoặc các báo cáo tài chính tóm lược quy
định trong Chuẩn mực này cho một kỳ kế toán giữa niên độ. NỘI DUNG CHUẨN
MỰC Nội dung báo cáo tài chính
giữa niên độ 4. Chuẩn mực kế toán số 21
“Trình bày báo cáo tài chính” đã quy định báo cáo tài chính
gồm: (a) Bảng cân đối kế
toán; (b) Báo cáo kết quả hoạt
động kinh doanh; (c) Báo cáo lưu chuyển tiền
tệ; và (d) Bản thuyết minh báo cáo
tài chính. 5. Chuẩn mực này quy định
những nội dung tối thiểu của một bộ báo cáo tài chính giữa niên độ gồm các báo
cáo tài chính tóm lược và phần thuyết minh được chọn lọc. Báo cáo tài chính giữa
niên độ nhằm cập nhật các thông tin đã trình bày trong bộ báo cáo tài chính năm
gần nhất. Báo cáo tài chính giữa niên độ tập trung trình bày vào các sự kiện,
các hoạt động mới và không lặp lại các thông tin đã được công bố trước
đó. 6. Chuẩn mực này khuyến
khích doanh nghiệp công bố một bộ đầy đủ các báo cáo tài chính giữa niên độ
giống như các báo cáo tài chính năm. Chuẩn mực này cũng khuyến khích doanh
nghiệp cung cấp thêm trong các báo cáo tài chính giữa niên độ tóm lược những
thông tin khác ngoài nội dung tối thiểu của một báo cáo tài chính giữa niên độ
hoặc phần thuyết minh được chọn lọc như quy định trong Chuẩn mực này. Các nguyên
tắc kế toán và đánh giá quy định trong Chuẩn mực này cũng được áp dụng đối với
các báo cáo tài chính đầy đủ giữa niên độ và các báo cáo này cần phải cung cấp
mọi diễn giải trong phần thuyết minh quy định tại Chuẩn mực này (đặc biệt là các
diễn giải quy định tại đoạn 13) cũng như các thuyết minh quy định tại các Chuẩn
mực kế toán khác. Nội dung báo cáo tài chính
tóm lược giữa niên độ 7. Báo cáo tài chính tóm
lược giữa niên độ bao gồm: (a) Bảng cân đối kế toán tóm
lược; (b) Báo cáo kết quả hoạt
động kinh doanh tóm lược; (c) Báo cáo lưu chuyển tiền
tệ tóm lược; và (d) Bản Thuyết minh báo cáo
tài chính chọn lọc. Hình thức và nội dung của
các báo cáo tài chính giữa niên độ 8. Nếu doanh nghiệp lập và
trình bày báo cáo tài chính đầy đủ giữa niên độ, thì hình thức và nội dung của
từng báo cáo đó phải phù hợp với quy định tại Chuẩn mực kế toán số 21 “Trình bày
báo cáo tài chính”. 9. Nếu doanh nghiệp lập và
trình bày báo cáo tài chính tóm lược giữa niên độ, thì hình thức và nội dung của
từng báo cáo tài chính tóm lược đó tối thiểu phải bao gồm các đề mục và số cộng
chi tiết được trình bày trong báo cáo tài chính năm gần nhất và phần thuyết minh
được chọn lọc theo yêu cầu của Chuẩn mực này. Để báo cáo tài chính tóm lược giữa
niên độ không bị sai lệch, doanh nghiệp cần phải trình bày các khoản mục hoặc
các phần thuyết minh bổ sung. 10. Lợi nhuận trên một cổ
phiếu trước và sau ngày phân phối cần phải được trình bày trong Báo cáo kết quả
hoạt động kinh doanh đầy đủ hoặc tóm lược của kỳ kế toán giữa niên
độ. 11. Một doanh nghiệp có công
ty con phải lập báo cáo tài chính hợp nhất theo quy định của Chuẩn mực kế toán
số 25 “Báo cáo tài chính hợp nhất và kế toán khoản đầu tư vào công ty con” thì
cũng phải lập báo cáo tài chính hợp nhất tóm lược giữa niên độ ngoài báo cáo tài
chính giữa niên độ riêng biệt của mình. Phần thuyết minh được lựa
chọn 12. Báo cáo tài chính giữa
niên độ không cần phải trình bày những thông tin không quan trọng đã được trình
bày trong phần thuyết minh báo cáo năm gần nhất. Việc trình bày các sự kiện và
giao dịch quan trọng trong báo cáo tài chính giữa niên độ nhằm giúp người sử
dụng hiểu được những thay đổi về tài chính và kinh doanh của doanh nghiệp từ
ngày lập báo cáo tài chính năm gần nhất. 13. Một doanh nghiệp cần
phải trình bày các thông tin sau trong phần thuyết minh báo cáo tài chính tóm
lược giữa niên độ, nếu các thông tin này mang tính trọng yếu và chưa được trình
bày trong báo cáo tài chính giữa niên độ nào. Các thông tin này cần phải trình
bày trên cơ sở luỹ kế từ đầu niên độ đến ngày lập báo cáo. Tuy nhiên, doanh
nghiệp cũng cần phải trình bày các sự kiện hoặc giao dịch trọng yếu để hiểu được
kỳ kế toán giữa niên độ hiện tại: (a) Doanh nghiệp phải công
bố việc lập báo cáo tài chính giữa niên độ và báo cáo tài chính năm gần đây nhất
là cùng áp dụng các chính sách kế toán như nhau. Trường hợp có thay đổi thì phải
mô tả sự thay đổi và ảnh hưởng của những thay đổi
này; (b) Giải thích về tính thời
vụ hoặc tính chu kỳ của các hoạt động kinh doanh trong kỳ kế toán giữa niên
độ; (c) Tính chất và giá trị của
các khoản mục ảnh hưởng đến tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu, thu nhập
thuần, hoặc các luồng tiền được coi là các yếu tố không bình thường do tính
chất, quy mô hoặc tác động của chúng; (d) Những biến động trong
nguồn vốn chủ sở hữu luỹ kế tính đến ngày lập báo cáo tài chính giữa niên độ,
cũng như Phần thuyết minh tương ứng mang tính so sánh cùng kỳ kế toán trên của
niên độ trước gần nhất; (đ) Tính chất và giá trị của
những thay đổi trong các ước tính kế toán đã được báo cáo trong báo cáo giữa
niên độ trước của niên độ hiện tại hoặc những thay đổi trong các ước tính kế
toán đã được báo cáo trong các niên độ trước, nếu những thay đổi này có ảnh
hưởng trọng yếu đến kỳ kế toán giữa niên độ hiện
tại; (e) Phát hành, mua lại và
hoàn trả các chứng khoán nợ và chứng khoán vốn; (f) Cổ tức đã trả (tổng số
hay trên mỗi cổ phần) của cổ phiếu thường và cổ phiếu
khác; (g) Doanh thu và kết quả bộ
phận theo lĩnh vực kinh doanh hoặc khu vực địa lý, dựa trên cơ sở phân chia của
báo cáo bộ phận; (h) Những sự kiện trọng yếu
phát sinh sau ngày kết thúc kỳ kế toán giữa niên độ chưa được phản ánh trong các
báo cáo tài chính giữa niên độ đó; (i) Tác động của những thay
đổi trong cơ cấu hoạt động của doanh nghiệp trong kỳ kế toán giữa niên độ, chủ
yếu là các nghiệp vụ hợp nhất kinh doanh, mua hoặc thanh lý công ty con, đầu tư
dài hạn, tái cơ cấu và ngừng hoạt động; và (j) Những thay đổi trong các
khoản nợ ngẫu nhiên hoặc các tài sản ngẫu nhiên kể từ ngày kết thúc kỳ kế toán
năm gần nhất. 14. Các Chuẩn mực kế toán
đều quy định rõ các thông tin cần phải trình bày trong các báo cáo tài chính.
Trong bối cảnh này, thuật ngữ “báo cáo tài chính” được dùng để chỉ một bộ báo
cáo tài chính đầy đủ thường bao gồm báo cáo tài chính năm và có thể có cả những
báo cáo khác. Doanh nghiệp không bắt buộc phải diễn giải đầy đủ mọi phần thuyết
minh theo quy định trong các Chuẩn mực kế toán khác nếu như báo cáo tài chính
giữa niên độ của doanh nghiệp đó chỉ bao gồm các báo cáo tài chính tóm lược và
phần thuyết minh được chọn lọc. Trình bày việc tuân thủ các
chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán Việt Nam 15. Doanh nghiệp phải nêu rõ
trong Bản thuyết minh báo cáo tài chính là báo cáo tài chính giữa niên độ được
lập và trình bày phù hợp với chuẩn mực này. Báo cáo tài chính giữa niên độ chỉ
được coi là phù hợp với các chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán Việt Nam nếu báo
cáo tài chính tuân thủ các quy định của chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán hiện
hành do Bộ Tài chính ban hành. Các kỳ kế toán phải trình
bày trong báo cáo tài chính giữa niên độ 16. Báo cáo tài chính giữa
niên độ (tóm lược hoặc đầy đủ) phải bao gồm các kỳ như sau cho từng báo
cáo: (a) Bảng cân đối kế toán vào
ngày kết thúc kỳ kế toán giữa niên độ hiện tại và số liệu mang tính so sánh vào
ngày kết thúc kỳ kế toán năm trước; (b) Báo cáo kết quả hoạt
động kinh doanh của kỳ kế toán giữa niên độ hiện tại và số luỹ kế từ ngày đầu
niên độ hiện tại đến ngày lập báo cáo tài chính giữa niên độ đó. Báo cáo kết quả
hoạt động kinh doanh của kỳ kế toán giữa niên độ hiện tại có thể có số liệu so
sánh của Báo cáo kết quả kinh doanh giữa niên độ cùng kỳ năm
trước; (c) Báo cáo lưu chuyển tiền
tệ luỹ kế từ ngày đầu niên độ hiện tại đến ngày lập báo cáo tài chính giữa niên
độ, cùng với số liệu mang tính so sánh của cùng kỳ kế toán giữa niên độ
trước. 17. Chuẩn mực này khuyến
khích doanh nghiệp hoạt động theo thời vụ, báo cáo thông tin tài chính năm của
kỳ 12 tháng kết thúc vào ngày lập báo cáo tài chính giữa niên độ và các thông
tin mang tính so sánh cùng kỳ 12 tháng của niên độ trước
đây. Tính trọng
yếu 18. Doanh nghiệp cần đánh
giá tính trọng yếu dựa trên số liệu của báo cáo tài chính giữa niên độ trong các
quyết định về ghi nhận, đánh giá, phân loại hoặc trình bày một khoản mục trong
báo cáo tài chính giữa niên độ. Để đánh giá được tính trọng yếu, cần phải hiểu
rằng các đánh giá giữa niên độ phần lớn dựa trên những ước tính do đó ít chính
xác hơn so với các đánh giá trong báo cáo tài chính
năm. 19. Chuẩn mực kế toán số 01
“Chuẩn mực chung” định nghĩa “Thông tin được coi là trọng yếu trong trường hợp
nếu thiếu thông tin hoặc thiếu chính xác của thông tin đó có thể làm sai lệch
đáng kể báo cáo tài chính, làm ảnh hưởng đến quyết định kinh tế của người sử
dụng báo cáo tài chính”. Chuẩn mực kế toán số 29 “Thay đổi chính sách kế toán,
ước tính kế toán và các sai sót” yêu cầu phải thuyết minh những thay đổi ước
tính kế toán, các sai sót và thay đổi chính sách kế toán. Chuẩn mực số 29 không
hướng dẫn cách xác định mức độ trọng yếu. 20. Doanh nghiệp phải xét
đoán khi đánh giá tính trọng yếu để lập báo cáo tài chính. Chuẩn mực này quy
định tài liệu của kỳ kế toán giữa niên độ là cơ sở cho quyết định ghi nhận và
trình bày thông tin của kỳ kế toán giữa niên độ, như những yếu tố không thường
xuyên, những thay đổi trong chính sách kế toán hoặc ước tính kế toán và những
sai sót sẽ được ghi nhận và trình bày trên cơ sở tính trọng yếu của chúng so với
các dữ liệu của kỳ kế toán giữa niên độ nhằm tránh suy diễn sai lệch do việc
không thuyết minh gây ra. Mục tiêu đánh giá tính trọng yếu là để đảm bảo cho báo
cáo tài chính giữa niên độ chứa đựng toàn bộ các thông tin hữu ích giúp người sử
dụng hiểu được tình hình tài chính và hoạt động của doanh nghiệp trong kỳ kế
toán giữa niên độ. Thông tin được trình bày
trong Bản thuyết minh báo cáo tài chính năm 21. Nếu ước tính một thông
tin trong báo cáo tài chính giữa niên độ có thay đổi đáng kể trong kỳ kế toán
giữa niên độ cuối cùng của năm tài chính nhưng báo cáo tài chính giữa niên độ
không được lập riêng rẽ cho kỳ này thì bản chất và giá trị của sự thay đổi trong
ước tính đó phải được trình bày trong Bản thuyết minh báo cáo tài chính năm
đó. 22. Chuẩn mực kế toán số 29
“Thay đổi chính sách kế toán, ước tính kế toán và các sai sót” quy định phải
trình bày bản chất và giá trị của những thông tin do thay đổi ước tính kế toán
có ảnh hưởng trọng yếu đến niên độ hiện tại hoặc dự kiến sẽ có ảnh hưởng trọng
yếu đến các niên độ kế tiếp. Đoạn 13(đ) của Chuẩn mực này quy định phải trình
bày tương tự trong báo cáo tài chính giữa niên độ. Ví dụ những thay đổi trong
ước tính được thực hiện trong kỳ kế toán giữa niên độ cuối cùng đối với việc lập
dự phòng hàng tồn kho, chi phí tái cơ cấu, đã được ghi sổ trong kỳ kế toán giữa
niên độ trước của năm tài chính. Việc trình bày theo yêu cầu của đoạn trên đây
nhất quán với các quy định của Chuẩn mực kế toán số 29 “Thay đổi chính sách kế
toán, ước tính kế toán và các sai sót” nhằm thu hẹp phạm vi chỉ liên quan đến
thay đổi trong ước tính kế toán. Ghi nhận và xác định giá
trị Áp dụng chính sách kế toán
giống chính sách kế toán trong báo cáo tài chính năm 23. Doanh nghiệp phải áp
dụng chính sách kế toán để lập báo cáo tài chính giữa niên độ như chính sách kế
toán đã áp dụng để lập báo cáo tài chính năm, ngoại trừ những thay đổi trong
chính sách kế toán xảy ra sau ngày lập báo cáo tài chính năm gần nhất. Việc lập
báo cáo tài chính năm và báo cáo tài chính giữa niên độ của doanh nghiệp không
ảnh hưởng đến việc xác định kết quả của niên độ. Việc xác định thông tin để lập
báo cáo giữa niên độ phải được thực hiện trên cơ sở luỹ kế từ đầu niên độ đến
ngày lập báo cáo tài chính giữa niên độ. 24. Việc quy định một doanh
nghiệp phải áp dụng chính sách kế toán để lập báo cáo tài chính giữa niên độ như
chính sách kế toán để lập báo cáo tài chính năm làm cho báo cáo tài chính giữa
niên độ có tính độc lập với nhau. Tuy nhiên báo cáo tài chính giữa niên độ không
ảnh hưởng đến việc xác định kết quả hàng năm của doanh nghiệp. Việc báo cáo
thông tin trên cơ sở luỹ kế từ ngày đầu niên độ đến ngày lập báo cáo tài chính
giữa niên độ có thể làm cho phải thay đổi những ước tính kế toán đã được công bố
trong các báo cáo tài chính giữa niên độ trước của năm hiện tại. Nguyên tắc ghi
nhận tài sản, nợ phải trả, doanh thu, thu nhập khác và chi phí trong các kỳ kế
toán giữa niên độ cũng giống như nguyên tắc ghi nhận được áp dụng trong báo cáo
tài chính năm. 25. Quy định cụ thể về ghi
nhận và xác định thông tin khi lập báo cáo tài chính giữa niên độ:
(a) Nguyên tắc ghi nhận và
xác định khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho, các khoản lỗ từ việc tái cơ cấu
hoặc tổn thất trong một kỳ kế toán giữa niên độ cũng giống như nguyên tắc phải
áp dụng nếu doanh nghiệp chỉ lập báo cáo tài chính năm. Tuy nhiên, nếu các khoản
mục này đã được ghi nhận và đánh giá trong kỳ kế toán giữa niên độ và việc ước
tính các yếu tố này thay đổi trong kỳ kế toán giữa niên độ sau của năm hiện tại
thì ước tính ban đầu phải được thay đổi trong kỳ kế toán giữa niên độ sau bằng
cách hạch toán thêm một khoản lỗ bổ sung hoặc bằng cách hoàn nhập một khoản dự
phòng đã được hạch toán trước đây; (b) Khoản chi phí không thỏa
mãn định nghĩa của một tài sản vào thời điểm cuối giữa niên độ sẽ không được
hoãn lại trên Bảng cân đối kế toán để chờ các thông tin trong tương lai nhằm
khẳng định xem liệu chi phí này có hội đủ tiêu chuẩn định nghĩa của một tài sản
hay không hoặc để che dấu các khoản lợi nhuận trong các kỳ kế toán giữa niên độ
của năm tài chính; và (c) Chi phí thuế thu nhập
doanh nghiệp được ghi nhận trong mỗi kỳ kế toán giữa niên độ trên cơ sở ước tính
tối ưu về thuế suất bình quân gia quyền được dự trù cho cả năm tài chính. Số
thuế phải nộp cho kỳ kế toán giữa niên độ có thể phải được điều chỉnh trong kỳ
kế toán giữa niên độ sau của cùng năm hiện tại nếu có thay đổi trong ước tính về
thuế suất của năm đó. 26. Theo Chuẩn mực số 01
“Chuẩn mực chung”, Báo cáo tài chính phải ghi nhận các yếu tố về tình hình tài
chính và tình hình kinh doanh của doanh nghiệp theo từng khoản mục. Định nghĩa
về tài sản, nợ phải trả, doanh thu, thu nhập khác và chi phí là nền tảng của
việc ghi nhận vào báo cáo tài chính giữa niên độ cũng như vào báo cáo tài chính
năm. 27. Đối với các tài sản cần
phải thực hiện những kiểm tra như nhau về lợi ích kinh tế mang lại trong tương
lai của chúng tại ngày kết thúc kỳ kế toán giữa niên độ cũng như vào ngày kết
thúc kỳ kế toán năm. Các chi phí, theo bản chất của chúng, không phải là các yếu
tố cấu thành tài sản vào ngày kết thúc kỳ kế toán năm sẽ không phải là các yếu
tố cấu thành tài sản vào ngày kết thúc kỳ kế toán giữa niên độ. Tương tự, một
khoản nợ phải trả tại ngày kết thúc kỳ kế toán giữa niên độ phải thể hiện một
nghĩa vụ hiện có tại ngày kết thúc kỳ kế toán giữa niên độ đó, giống như trường
hợp một khoản nợ phải trả tại ngày kết thúc kỳ kế toán
năm. 28. Một trong những điểm chủ
yếu của doanh thu, thu nhập khác và chi phí là các luồng vào và luồng ra của tài
sản và nợ phải trả tương ứng đã thực sự xảy ra. Nếu luồng vào và ra này đã thực
sự xảy ra thì doanh thu và chi phí tương ứng sẽ được ghi nhận. Chuẩn mực chung
đã quy định “chi phí sản xuất, kinh doanh và chi phí khác được ghi nhận trong
Báo cáo kết quả kinh doanh khi các chi phí này làm giảm lợi ích kinh tế trong
tương lai có liên quan đến việc giảm bớt tài sản hoặc tăng nợ phải trả và chi
phí này phải xác định được một cách đáng tin cậy”. Những khoản mục không thỏa
mãn định nghĩa về tài sản hoặc nợ phải trả thì không cho phép ghi nhận vào Bảng
cân đối kế toán. 29. Để xác định giá trị tài
sản, nợ phải trả, doanh thu, thu nhập khác, chi phí và các luồng tiền được phản
ánh trong báo cáo tài chính, doanh nghiệp chỉ phải lập báo cáo tài chính hàng
năm cần phải tính đến mọi thông tin mà doanh nghiệp có được trong suốt niên độ.
Việc xác định giá trị của tài sản, nợ phải trả, doanh thu và thu nhập khác, chi
phí phải được thực hiện trên cơ sở luỹ kế từ đầu niên độ đến cuối niên
độ. 30. Một doanh nghiệp phải
lập báo cáo tài chính giữa niên độ thì sử dụng các thông tin có được từ đầu năm
đến ngày lập báo cáo tài chính giữa niên độ để xác định giá trị trong báo cáo
tài chính giữa niên độ và các thông tin có được đến cuối niên độ hoặc ngay sau
đó để lập báo cáo tài chính của kỳ kế toán 12 tháng. Các đánh giá của cả 12
tháng sẽ phản ánh những thay đổi có thể có trong các ước tính của các số liệu đã
được báo cáo trong kỳ kế toán giữa niên độ. Các số liệu đã báo cáo trong báo cáo
tài chính giữa niên độ không cần phải điều chỉnh hồi tố. Đoạn 13(đ) và đoạn 21
yêu cầu phải trình bày tính chất và thông tin của mọi thay đổi quan trọng trong
các ước tính kế toán. 31. Một doanh nghiệp phải
lập báo cáo tài chính giữa niên độ cần phải xác định giá trị các khoản doanh
thu, thu nhập khác và chi phí trên một cơ sở luỹ kế đến ngày cuối cùng của từng
kỳ kế toán giữa niên độ căn cứ vào những thông tin sẵn có vào thời điểm lập báo
cáo tài chính. Số liệu các khoản doanh thu, thu nhập khác và chi phí được báo
cáo trong kỳ kế toán giữa niên độ hiện tại phản ánh mọi thay đổi trong các ước
tính kế toán đã được công bố trong những kỳ kế toán giữa niên độ trước đó của
năm tài chính. Các số liệu đã được báo cáo trong những kỳ kế toán giữa niên độ
trước đó không cần được điều chỉnh hồi tố. Đoạn 13(đ) và đoạn 21 yêu cầu phải
trình bày tính chất và thông tin của mọi thay đổi quan trọng trong các ước tính
kế toán. Doanh thu mang tính thời vụ,
chu kỳ hoặc thời cơ 32. Các khoản doanh thu mang
tính thời vụ, chu kỳ hoặc thời cơ nhận được trong một năm tài chính sẽ không
được ghi nhận trước hoặc hoãn lại vào ngày lập báo cáo tài chính giữa niên độ
nếu việc ghi nhận trước hoặc hoãn lại đó được coi là không thích hợp vào cuối
năm tài chính của doanh nghiệp. 33. Doanh thu mang tính chu
kỳ, thời vụ hoặc thời cơ như trường hợp doanh thu từ cổ tức, bản quyền. Một số
doanh nghiệp có thể có doanh thu cao hơn trong một số kỳ so với những kỳ khác
của niên độ như doanh thu theo mùa vụ của cửa hàng bán lẻ. Các khoản doanh thu
này được ghi nhận khi chúng phát sinh. Chi phí phát sinh đột xuất
trong niên độ 34. Các chi phí phát sinh
đột xuất trong năm tài chính của doanh nghiệp cần phải được trích trước hoặc
phân bổ cho mục đích lập báo cáo tài chính giữa niên độ khi việc trích trước
hoặc phân bổ đó được coi là phù hợp với từng loại chi phí vào cuối năm tài
chính. Sử dụng các ước
tính 35. Thủ tục xác định thông
tin được thực hiện trong quá trình lập báo cáo tài chính giữa niên độ phải được
thiết lập để đảm bảo cho các thông tin tài chính trọng yếu, hữu ích được cung
cấp là đáng tin cậy, có thể hiểu được tình hình tài chính và hoạt động của doanh
nghiệp.Việc xác định thông tin trình bày trong báo cáo tài chính năm cũng như
trong báo cáo tài chính giữa niên độ thường được căn cứ trên các ước tính hợp
lý, nhưng việc lập báo cáo tài chính giữa niên độ thường phải sử dụng các ước
tính nhiều hơn so với báo cáo tài chính năm. Điều chỉnh báo cáo tài chính
giữa niên độ đã được báo cáo trước đây 36. Việc thay đổi chính sách
kế toán khác với việc thay đổi do Chuẩn mực kế toán mới được áp dụng. Trường hợp
này cần được phản ánh bằng cách: a) Điều chỉnh lại báo cáo
tài chính của các kỳ kế toán giữa niên độ trước của năm tài chính hiện tại và
các kỳ kế toán giữa niên độ tương ứng có thể so sánh được của năm tài chính
trước đây (xem đoạn 16) được điều chỉnh trong báo cáo tài chính năm theo quy
định của Chuẩn mực kế toán số 29 “Thay đổi chính sách kế toán, ước tính kế toán
và các sai sót”; hoặc b) Khi không thể xác định
được ảnh hưởng của việc áp dụng chính sách kế toán mới đến các kỳ trong quá khứ,
thì thực hiện phi hồi tố chính sách kế toán mới kể từ kỳ sớm nhất có thể thực
hiện được bằng cách điều chỉnh lại báo cáo tài chính của các kỳ giữa niên độ
trước niên độ hiện tại và các kỳ kế toán so sánh giữa niên độ tương
ứng.
37. Mục tiêu của quy định
tại đoạn 36 nhằm đảm bảo áp dụng nhất quán chính sách kế toán cho một loại giao
dịch cụ thể trong suốt năm tài chính. Theo Chuẩn mực kế toán số 29 “Thay đổi
chính sách kế toán, ước tính kế toán và các sai sót”, việc thay đổi chính sách
kế toán được áp dụng hồi tố bằng cách điều chỉnh lại các số liệu tài chính của
những kỳ kế toán trước đây. Tuy nhiên, nếu không thể điều chỉnh số liệu luỹ kế
có liên quan đến niên độ kế toán trước thì theo Chuẩn mực kế toán số 29, chính
sách kế toán mới được áp dụng phi hồi tố kể từ kỳ sớm nhất có thể xác định được
trở về trước. Quy định trong đoạn 36 yêu cầu mọi thay đổi chính sách kế toán
trong niên độ hiện tại cần phải được áp dụng hồi tố hoặc nếu không thực tế thì
áp dụng phi hồi tố muộn nhất là ngay từ đầu niên độ đó. 38. Việc cho phép những thay
đổi chính sách kế toán được thực hiện từ một ngày nào đó giữa niên độ sẽ cho
phép áp dụng hai chính sách kế toán khác nhau đối với một loại giao dịch trong
cùng một năm tài chính, sẽ gây ra khó khăn trong việc tính toán, phân tích và
hiểu các thông tin được cung cấp./. |
ĐƠN VỊ HỖ TRỢ
|