|
|
KẾ TOÁN - THUẾ - DOANH NGHIỆP - LAO ĐỘNG |
|
|
|
|
BÁO CÁO BỘ
PHẬN (Ban hành
và công bố theo Quyết định số 12/2005/QĐ-BTC, ngày 15/02/2005của Bộ trưởng
Bộ Tài chính) QUY ĐỊNH CHUNG
01. Mục đích của chuẩn mực
này là quy định nguyên tắc và phương pháp lập báo cáo các thông tin tài chính
theo bộ phận, lĩnh vực kinh doanh và các khu vực địa lý khác nhau của doanh
nghiệp nhằm hỗ trợ người sử dụng báo cáo tài chính: a) Hiểu rõ về tình hình hoạt
động các năm trước của doanh nghiệp; b) Đánh giá đúng về những
rủi ro và lợi ích kinh tế của doanh nghiệp; và c) Đưa ra những đánh giá hợp
lý về doanh nghiệp. Nhiều doanh nghiệp cung cấp
các nhóm sản phẩm và dịch vụ hoặc hoạt động trong các khu vực địa lý khác nhau
có tỷ lệ sinh lời, cơ hội tăng trưởng, triển vọng và rủi ro khác nhau. Thông tin
về các loại sản phẩm, dịch vụ tại các khu vực địa lý khác nhau được gọi là thông
tin bộ phận. Thông tin bộ phận cần thiết cho việc đánh giá rủi ro và lợi ích
kinh tế của doanh nghiệp có cơ sở ở nước ngoài hoặc doanh nghiệp có phạm vi hoạt
động trên nhiều tỉnh, thành phố trong cả nước. Thông tin bộ phận cũng cần thiết
cho người sử dụng báo cáo tài chính. 02. Chuẩn mực này áp dụng cho việc lập và trình
bày đầy đủ hơn báo cáo tài chính năm phù hợp với các Chuẩn mực kế toán Việt
Nam. 03. Báo cáo tài chính bộ
phận cũng bao gồm Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh,
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ và Bản thuyết minh báo cáo tài chính như quy định
trong Chuẩn mực số 21 “Trình bày báo cáo tài chính”. 04. Chuẩn mực này áp dụng cho doanh nghiệp có
chứng khoán trao đổi công khai và doanh nghiệp đang phát hành chứng khoán trên
thị trường chứng khoán. 05. Khuyến khích các doanh
nghiệp không phát hành hoặc không có chứng khoán trao đổi công khai áp dụng
chuẩn mực này. 06. Nếu
doanh nghiệp không phát hành hoặc không có chứng khoán trao đổi công khai tự
nguyện áp dụng chuẩn mực này thì phải tuân thủ đầy đủ các quy định của chuẩn
mực. 07. Nếu
báo cáo tài chính bao gồm báo cáo tài chính hợp nhất của tập đoàn có chứng khoán
được trao đổi công khai và báo cáo tài chính riêng của công ty mẹ và của một
hoặc nhiều công ty con, thông tin theo bộ phận cần phải trình bày trong báo cáo
tài chính hợp nhất. Nếu công ty con có chứng khoán trao đổi công khai, thì công
ty con đó sẽ trình bày thông tin bộ phận trong báo cáo tài chính riêng của
mình. 08. Các thuật ngữ trong
Chuẩn mực này được hiểu như sau: Hoạt động kinh
doanh:
Là các hoạt động tạo ra doanh thu chủ yếu của doanh nghiệp và các hoạt động khác
không phải là hoạt động đầu tư hoặc hoạt động tài chính. Chính sách kế
toán:
Là các nguyên tắc, cơ sở và phương pháp kế toán cụ thể được doanh nghiệp áp dụng
trong việc lập và trình bày báo cáo tài chính. Doanh
thu: Là
tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán, phát
sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường của doanh nghiệp, góp
phần làm tăng vốn chủ sở hữu. Định nghĩa bộ phận theo lĩnh
vực kinh doanh và bộ phận theo khu vực địa lý 09. Bộ
phận theo lĩnh vực kinh doanh: Là một bộ phận có thể phân biệt được của
một doanh nghiệp tham gia vào quá trình sản xuất hoặc cung cấp sản phẩm, dịch vụ
riêng lẻ, một nhóm các sản phẩm hoặc các dịch vụ có liên quan mà bộ phận này có
rủi ro và lợi ích kinh tế khác với các bộ phận kinh doanh khác. Các nhân tố cần
xem xét để xác định sản phẩm và dịch vụ có liên quan hay không,
gồm: a) Tính chất của hàng hóa và
dịch vụ; b) Tính chất của quy trình
sản xuất; c) Kiểu hoặc nhóm khách hàng
sử dụng các sản phẩm hoặc dịch vụ; d) Phương pháp được sử dụng
để phân phối sản phẩm hoặc cung cấp dịch vụ; e) Điều kiện của môi trường
pháp lý như hoạt động ngân hàng, bảo hiểm hoặc dịch vụ công
cộng. Bộ phận theo khu vực địa
lý: Là
một bộ phận có thể phân biệt được của một doanh nghiệp tham gia vào quá trình
sản xuất hoặc cung cấp sản phẩm, dịch vụ trong phạm vi một môi trường kinh tế cụ
thể mà bộ phận này có rủi ro và lợi ích kinh tế khác với các bộ phận kinh doanh
trong các môi trường kinh tế khác. Các nhân tố cần xem xét để xác định bộ phận
theo khu vực địa lý, gồm: a) Tính tương đồng của các
điều kiện kinh tế và chính trị; b) Mối quan hệ của những
hoạt động trong các khu vực địa lý khác nhau; c) Tính tương đồng của hoạt
động kinh doanh; d) Rủi ro đặc biệt có liên
quan đến hoạt động trong một khu vực địa lý cụ thể; e) Các quy định về kiểm soát
ngoại hối; và f) Các rủi ro về tiền
tệ. Một bộ phận cần báo
cáo: Là
một bộ phận theo lĩnh vực kinh doanh hoặc một bộ phận theo khu vực địa lý được
xác định dựa trên các định nghĩa nêu trên. 10. Một lĩnh vực kinh doanh
không bao gồm các sản phẩm, dịch vụ có rủi ro và lợi ích kinh tế khác biệt đáng
kể. Có những điểm không tương đồng với một hoặc một vài nhân tố trong định nghĩa
bộ phận theo lĩnh vực kinh doanh nhưng các sản phẩm, dịch vụ trong một lĩnh vực
kinh doanh phải tương đồng với phần lớn các nhân tố. 11. Một khu vực địa lý không
bao gồm các hoạt động trong môi trường kinh tế có rủi ro và lợi ích kinh tế khác
biệt đáng kể. Một khu vực địa lý có thể là một quốc gia, hai hay nhiều quốc gia
hoặc một, hai hay nhiều tỉnh, thành phố trong cả nước. 12. Cách thức tổ chức và
quản lý của doanh nghiệp phụ thuộc vào các rủi ro có tác động đáng kể tới doanh
nghiệp đó. Đoạn 25 Chuẩn mực này quy định về cơ cấu tổ chức của một doanh nghiệp
và hệ thống báo cáo tài chính nội bộ của doanh nghiệp làm cơ sở xác định các bộ
phận của doanh nghiệp. Rủi ro và lợi ích kinh tế của doanh nghiệp bị ảnh hưởng
bởi khu vực địa lý là vị trí của tài sản, là nơi doanh nghiệp hoạt động (nơi sản
xuất sản phẩm hoặc nơi hình thành dịch vụ của doanh nghiệp) và cũng bị ảnh hưởng
bởi vị trí của khách hàng (nơi sản phẩm của doanh nghiệp được bán hoặc nơi dịch
vụ của doanh nghiệp được cung cấp). Xác định các bộ phận theo khu vực địa lý dựa
trên: a) Vị trí của tài sản là địa
điểm sản xuất hoặc hình thành dịch vụ của doanh nghiệp;
hoặc b) Vị trí của khách hàng là
địa điểm của thị trường và khách hàng của doanh nghiệp. 13. Cơ cấu tổ chức và quản
lý của doanh nghiệp là căn cứ để xác định liệu các rủi ro liên quan đến khu vực
địa lý phát sinh từ nơi sản xuất hay nơi tiêu thụ sản phẩm. Doanh nghiệp căn cứ
vào cơ cấu tổ chức và quản lý hoặc vị trí của tài sản hoặc vị trí của khách hàng
để xác định các khu vực địa lý của doanh nghiệp . 14. Việc xác định bộ phận
báo cáo theo lĩnh vực kinh doanh hoặc theo khu vực địa lý phụ thuộc vào đánh giá
của Ban Giám đốc doanh nghiệp. Để thực hiện việc đánh giá này, Ban Giám đốc phải
xem xét mục tiêu của việc lập báo cáo tài chính theo bộ phận quy định trong
Chuẩn mực này và các chuẩn mực khác. Định nghĩa doanh thu, chi
phí, kết quả, tài sản và nợ phải trả bộ phận 15. Các thuật ngữ dưới đây
sử dụng trong Chuẩn mực này được hiểu như sau: Doanh thu bộ
phận:
Là doanh thu trình bày trong Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp được tính trực tiếp hoặc phân bổ cho bộ phận, bao gồm doanh thu bán hàng
và cung cấp dịch vụ ra bên ngoài và doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ cho
bộ phận khác của doanh nghiệp. Doanh thu bộ phận không bao
gồm: a) Thu nhập
khác; b) Doanh thu từ tiền lãi
hoặc cổ tức, kể cả tiền lãi thu được trên các khoản ứng trước hoặc các khoản
tiền cho các bộ phận khác vay, trừ khi hoạt động của bộ phận chủ yếu là hoạt
động tài chính; hoặc c) Lãi từ việc bán các khoản
đầu tư hoặc lãi từ việc xoá nợ trừ khi hoạt động của bộ phận đó chủ yếu là hoạt
động tài chính. Doanh thu của bộ phận bao
gồm cả phần lãi hoặc lỗ do đầu tư vào công ty liên kết, công ty liên doanh hoặc
các khoản đầu tư tài chính khác được hạch toán theo phương pháp vốn chủ sở hữu
khi các khoản doanh thu đó nằm trong doanh thu hợp nhất của tập
đoàn. Chi phí bộ
phận:
Là chi phí phát sinh từ các hoạt động kinh doanh của bộ phận được tính trực tiếp
cho bộ phận đó và phần chi phí của doanh nghiệp được phân bổ cho bộ phận đó, bao
gồm cả chi phí bán hàng ra bên ngoài và chi phí có liên quan đến những giao dịch
với bộ phận khác của doanh nghiệp. Chi phí bộ phận không bao gồm:
a) Chi phí
khác; b) Chi phí tiền lãi vay, kể
cả tiền lãi phải trả phát sinh đối với khoản tiền ứng trước hoặc tiền vay từ các
bộ phận khác, trừ khi hoạt động của bộ phận đó chủ yếu là hoạt động tài
chính; c) Lỗ từ việc bán các khoản
đầu tư hoặc lỗ từ việc xoá nợ, trừ khi hoạt động của bộ phận đó chủ yếu là hoạt
động tài chính; d) Phần sở hữu của doanh
nghiệp trong khoản lỗ của bên nhận đầu tư do đầu tư vào các công ty liên kết,
công ty liên doanh hoặc các khoản đầu tư tài chính khác được hạch toán theo
phương pháp vốn chủ sở hữu; e) Chi phí thuế thu nhập
doanh nghiệp; hoặc f) Chi phí hành chính chung
và các chi phí khác phát sinh liên quan đến toàn bộ doanh nghiệp. Các chi phí
doanh nghiệp chi hộ bộ phận được coi là chi phí bộ phận nếu chi phí đó liên quan
đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của bộ phận và những chi phí này có thể được
tính trực tiếp hoặc phân bổ vào bộ phận đó một cách hợp
lý. Đối với bộ phận có hoạt động
kinh doanh chủ yếu là hoạt động tài chính, thì doanh thu và chi phí từ tiền lãi
được trình bày trên cơ sở thuần trong báo cáo bộ phận nếu báo cáo tài chính của
doanh nghiệp hoặc báo cáo tài chính hợp nhất được trình bày trên cơ sở
thuần. Kết quả kinh doanh của bộ
phận:
Là doanh thu bộ phận trừ (-) chi phí bộ phận. Kết quả kinh doanh của bộ phận
được xác định trước khi tính đến lợi ích của cổ đông thiểu
số. Tài sản của bộ
phận:
Là tài sản đang được bộ phận đó sử dụng trong các hoạt động sản xuất, kinh doanh
và được tính trực tiếp hoặc được phân bổ vào bộ phận đó. Trường hợp kết quả kinh
doanh của một bộ phận có thu nhập từ tiền lãi hay cổ tức thì tài sản của bộ phận
đó bao gồm cả các khoản phải thu, khoản cho vay, các khoản đầu tư tài chính hoặc
tài sản khác tạo ra thu nhập trên. Tài sản của bộ phận không
bao gồm tài sản thuế thu nhập hoãn lại. Tài sản của bộ phận không
bao gồm các khoản dự phòng giảm giá có liên quan do các khoản này được trừ (-)
trực tiếp trong Bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp. Các khoản nợ phải trả bộ
phận:
Là các khoản nợ trong kinh doanh của bộ phận được tính trực tiếp hoặc phân bổ
vào bộ phận đó. Trường hợp kết quả của bộ
phận có chi phí lãi vay thì nợ phải trả của bộ phận cũng bao gồm nợ phải trả
chịu lãi có liên quan. Nợ phải trả bộ phận không
bao gồm nợ phải trả thuế hoãn lại. Chính sách kế toán bộ
phận:
Là các chính sách kế toán được áp dụng để lập và trình bày báo cáo tài chính hợp
nhất của tập đoàn hoặc doanh nghiệp bao gồm cả chính sách kế toán liên quan đến
lập báo cáo bộ phận. 16. Định nghĩa về doanh thu,
chi phí, tài sản và nợ phải trả bộ phận bao gồm các khoản mục được tính trực
tiếp vào bộ phận và các khoản mục được phân bổ vào bộ phận. Căn cứ vào hệ thống
báo cáo tài chính nội bộ của mình, doanh nghiệp xác định các khoản mục được tính
trực tiếp hoặc được phân bổ vào bộ phận làm cơ sở xác định doanh thu, chi phí,
tài sản và nợ phải trả của bộ phận được báo cáo. 17. Doanh thu, chi phí, tài
sản hoặc nợ phải trả của bộ phận không được tính và phân bổ một cách chủ quan mà
phải dựa vào định nghĩa về doanh thu, chi phí, tài sản và nợ phải trả bộ phận
quy định trong Chuẩn mực này để tính và phân bổ một cách hợp
lý. 18. Tài sản của bộ phận gồm:
Tài sản lưu động, tài sản cố định hữu hình, tài sản cố định vô hình, tài sản cố
định thuê tài chính dùng cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của bộ phận được
phân bổ hoặc khấu hao tính vào chi phí của bộ phận thì tài sản đó cũng được tính
trong tài sản của bộ phận. Tài sản bộ phận không bao gồm các tài sản được sử
dụng chung trong doanh nghiệp hoặc dùng cho trụ sở chính. Tài sản bộ phận còn
bao gồm các tài sản sử dụng cho hoạt động sản xuất, kinh doanh chung cho hai hay
nhiều bộ phận và được tính trực tiếp hoặc phân bổ cho từng bộ phận, bao gồm cả
lợi thế thương mại. 19. Nợ phải trả bộ phận gồm:
Khoản phải trả thương mại, khoản phải trả khác, chi phí phải trả, các khoản ứng
trước của khách hàng. Nợ phải trả bộ phận không bao gồm các khoản đi vay, nợ
thuê tài chính và nợ phải trả khác cho mục đích tài trợ chứ không phải cho mục
đính sản xuất, kinh doanh. Trường hợp chi phí lãi vay tính trong kết quả kinh
doanh bộ phận thì nợ phải trả chịu lãi liên quan được tính trong nợ phải trả bộ
phận. Nợ phải trả bộ phận mà hoạt động chủ yếu của bộ phận đó không phải là hoạt
động tài chính do không bao gồm các khoản vay và các khoản có tính chất vay. Kết
quả bộ phận thể hiện lãi, lỗ từ hoạt động kinh doanh chứ không phải từ hoạt động
tài chính. Các khoản nợ thông thường do trụ sở chính đi vay không thể tính trực
tiếp hoặc phân bổ vào nợ phải trả chịu lãi của bộ phận đó.
20. Việc tính toán, xác định
giá trị tài sản và nợ phải trả bộ phận bao gồm cả những điều chỉnh giá trị ghi
sổ khi mua tài sản và nợ phải trả bộ phận, khoản điều chỉnh của doanh nghiệp mua
trong giao dịch hợp nhất kinh doanh phục vụ cho mục đích lập báo cáo tài chính
hợp nhất mà không được ghi vào báo cáo tài chính riêng của công ty mẹ hoặc công
ty con. 21. Việc phân bổ chi phí đã
quy định trong các Chuẩn mực kế toán khác: Chuẩn mực số 02 “Hàng tồn kho” hướng
dẫn việc tính và phân bổ chi phí mua vào hàng tồn kho; Chuẩn mực số 15 “Hợp đồng
xây dựng” hướng dẫn việc tính và phân bổ chi phí vào các hợp đồng xây dựng. Các
hướng dẫn này được sử dụng cho việc tính và phân bổ chi phí vào các bộ
phận. 22. Doanh thu, chi phí, tài
sản và nợ phải trả bộ phận phải được xác định trước khi loại trừ số dư và các
giao dịch nội bộ của quá trình hợp nhất báo cáo tài chính, trừ khi số dư và các
giao dịch đó được thực hiện thuộc nhóm doanh nghiệp của bộ phận riêng
lẻ. 23. Chính sách kế toán được
sử dụng để lập và trình bày báo cáo tài chính của doanh nghiệp cũng là chính
sách kế toán cơ bản để lập báo cáo bộ phận. Ngoài ra, chính sách kế toán để lập
báo cáo bộ phận còn bao gồm các chính sách liên quan trực tiếp đến việc lập báo
cáo bộ phận, như các nhân tố xác định bộ phận phải báo cáo, phương pháp định giá
các giao dịch liên bộ phận, cơ sở phân bổ doanh thu và chi phí vào các bộ
phận. XÁC ĐỊNH CÁC BỘ PHẬN PHẢI
BÁO CÁO Báo cáo chính yếu và thứ yếu
24. Tính chất rủi ro và lợi
ích kinh tế của một doanh nghiệp là căn cứ chủ yếu để xác định báo cáo bộ phận
chính yếu (báo cáo đối với bộ phận chính yếu) được lập theo lĩnh vực kinh doanh
hay khu vực địa lý. Nếu rủi ro và tỷ suất sinh lời của doanh nghiệp bị tác động
chủ yếu bởi những khác biệt về sản phẩm và dịch vụ mà doanh nghiệp đó sản xuất
ra thì báo cáo chính yếu phải căn cứ vào thông tin về lĩnh vực kinh doanh và báo
cáo thứ yếu (báo cáo đối với bộ phận thứ yếu) căn cứ vào thông tin về khu vực
địa lý. Nếu rủi ro và tỷ suất sinh lời của doanh nghiệp bị tác động chủ yếu do
doanh nghiệp hoạt động tại nhiều khu vực địa lý khác nhau thì báo cáo chính yếu
phải căn cứ vào thông tin về khu vực địa lý và báo cáo thứ yếu phải căn cứ vào
thông tin về lĩnh vực kinh doanh. 25. Cơ cấu tổ chức và quản
lý nội bộ của doanh nghiệp và hệ thống báo cáo tài chính nội bộ cho Ban Giám đốc
thường là cơ sở để nhận biết nguồn và tính chất chủ yếu của các rủi ro và các tỷ
suất sinh lời khác nhau của doanh nghiệp. Đó là cơ sở để xác định xem báo cáo bộ
phận nào là chính yếu và báo cáo bộ phận nào là thứ yếu ngoại trừ các trường hợp
quy định dưới đây: a) Nếu rủi ro và tỷ suất
sinh lời của doanh nghiệp bị tác động mạnh bởi cả sự khác nhau về sản phẩm và
dịch vụ do doanh nghiệp đó sản xuất ra và về khu vực địa lý mà doanh nghiệp này
đang hoạt động được chứng minh bởi “phương pháp ma trận” đối với việc quản lý
doanh nghiệp và báo cáo nội bộ cho Ban Giám đốc, sau đó doanh nghiệp sử dụng
lĩnh vực kinh doanh là báo cáo chính yếu và khu vực địa lý là báo cáo thứ yếu;
và b) Nếu cơ cấu tổ chức và
quản lý của doanh nghiệp và hệ thống báo cáo tài chính nội bộ cho Ban Giám đốc
không dựa trên sự khác nhau về sản phẩm và dịch vụ hoặc về khu vực địa lý thì
Ban Giám đốc cần phải quyết định xem liệu các rủi ro và lợi ích kinh tế của
doanh nghiệp liên quan nhiều hơn đến sản phẩm và dịch vụ mà doanh nghiệp đó sản
xuất ra hay liên quan nhiều hơn đối với các khu vực địa lý mà doanh nghiệp này
hoạt động. Kết quả là Ban Giám đốc phải chọn lĩnh vực kinh doanh hoặc khu vực
địa lý để lập báo cáo bộ phận chính yếu. 26. Phần lớn các doanh
nghiệp căn cứ vào rủi ro và lợi ích kinh tế để xác định cơ cấu tổ chức và quản
lý của mình. Cơ cấu tổ chức, quản lý và hệ thống báo cáo tài chính nội bộ cung
cấp bằng chứng về khả năng rủi ro và lợi ích kinh tế chủ yếu phục vụ cho mục
đích lập báo cáo bộ phận của doanh nghiệp. Doanh nghiệp thường báo cáo thông tin
bộ phận trong báo cáo tài chính của mình trên cùng một cơ sở khi lập báo cáo nội
bộ lên Ban Giám đốc. Khả năng rủi ro và lợi ích kinh tế trở thành khuôn mẫu xác
định báo cáo bộ phận chính yếu hay thứ yếu. 27. Việc trình bày theo
“phương pháp ma trận” khi các thông tin về lĩnh vực kinh doanh và khu vực địa lý
đều được báo cáo theo bộ phận chính yếu và có phần thuyết minh đầy đủ các thông
tin cho mỗi cơ sở lập báo cáo. Phương pháp ma trận cung cấp thông tin hữu ích
nếu rủi ro và tỷ suất sinh lời bị tác động mạnh bởi cả sự khác biệt về sản phẩm
và dịch vụ mà doanh nghiệp sản xuất ra và bởi cả khu vực địa lý mà doanh nghiệp
hoạt động. Trong một số trường hợp, cơ
cấu tổ chức và báo cáo tài chính nội bộ của doanh nghiệp có thể thiết lập không
phụ thuộc vào sự khác biệt về sản phẩm và dịch vụ mà doanh nghiệp sản xuất ra và
khu vực địa lý mà doanh nghiệp hoạt động. Ví dụ, báo cáo tài chính nội bộ được
thiết lập trên cơ sở các pháp nhân kinh tế mà các pháp nhân này sản xuất ra các
sản phẩm và dịch vụ với tỷ suất sinh lời khác nhau. Trường hợp này các thông tin
bộ phận của báo cáo tài chính nội bộ sẽ không đáp ứng được mục đích của Chuẩn
mực này. Theo đó, đoạn 25(b) yêu cầu Ban Giám đốc doanh nghiệp phải xác định xem
liệu rủi ro và lợi ích kinh tế của doanh nghiệp có liên quan nhiều đến lĩnh vực
kinh doanh hay khu vực địa lý làm cơ sở để doanh nghiệp lựa chọn báo cáo bộ phận
nào là chính yếu. Mục đích của sự lựa chọn trên là để đạt được mức độ so sánh
hợp lý với các doanh nghiệp khác và đáp ứng nhu cầu cung cấp đầy đủ thông tin
tài chính cấp thiết cho nhà đầu tư, các chủ nợ và các đối tượng khác khi xem xét
về rủi ro và lợi ích kinh tế liên quan đến lĩnh vực kinh doanh và khu vực địa lý
của doanh nghiệp. Các lĩnh vực kinh doanh và
khu vực địa lý 29. Các bộ phận được lập
theo lĩnh vực kinh doanh và khu vực địa lý của doanh nghiệp dùng để lập báo cáo
cho bên ngoài phải là các đơn vị nằm trong cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp đó.
Thông tin bộ phận do các đơn vị này lập để giúp Ban Giám đốc đánh giá hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp và đưa ra quyết định điều hành và quản lý trong
tương lai của doanh nghiệp ngoại trừ các nhân tố được quy định trong đoạn
30. 30. Nếu cơ cấu tổ chức và
quản lý của doanh nghiệp và hệ thống báo cáo tài chính nội bộ cho Ban Giám đốc
được thiết lập không dựa trên lĩnh vực kinh doanh và khu vực địa lý (đoạn 25b)
thì Ban Giám đốc phải lựa chọn lĩnh vực kinh doanh hoặc khu vực địa lý làm báo
cáo chính yếu. Khi đó, Ban Giám đốc phải căn cứ vào các nhân tố theo định nghĩa
trong đoạn 09 của Chuẩn mực này chứ không phải căn cứ vào hệ thống báo cáo tài
chính nội bộ của doanh nghiệp để xác định lĩnh vực kinh doanh hay khu vực địa lý
phải lập báo cáo bộ phận. Các nhân tố này phải đáp ứng các yêu cầu
sau: a) Nếu một hay một số bộ
phận được báo cáo là lĩnh vực kinh doanh hoặc khu vực địa lý thoả mãn các yêu
cầu của đoạn 09 thì không cần phân chia chi tiết hơn để lập báo cáo bộ
phận; b) Đối với các bộ phận không
thỏa mãn các yêu cầu của đoạn 09, thì Ban Giám đốc doanh nghiệp cần phải xem xét
đến việc phân chia các bộ phận chi tiết hơn để báo cáo thông tin theo lĩnh vực
kinh doanh hoặc theo khu vực địa lý phù hợp đoạn 09;
và c) Nếu báo cáo theo bộ phận
chi tiết đáp ứng các yêu cầu của đoạn 09 thì đoạn 32 và 33 quy định các căn cứ
để xác định các bộ phận chi tiết có thể báo cáo. 31. Theo Chuẩn mực này, hầu
hết các doanh nghiệp sẽ xác định lĩnh vực kinh doanh và khu vực địa lý theo đơn
vị tổ chức có báo cáo cho Ban Giám đốc để phục vụ cho việc đánh giá hoạt động
của mỗi doanh nghiệp và để quyết định phân bổ nguồn lực trong tương lai. Các bộ
phận có thể lập báo cáo không theo lĩnh vực kinh doanh hoặc khu vực địa lý, thì
doanh nghiệp phải phân chia bộ phận chi tiết hơn để báo cáo thông tin tài chính
về lĩnh vực kinh doanh và khu vực địa lý. Các bộ phận cần báo
cáo 32. Hai hay nhiều lĩnh vực
kinh doanh hoặc khu vực địa lý tương đương có thể được kết hợp thành một lĩnh
vực kinh doanh hay một khu vực địa lý. Hai hay nhiều lĩnh vực kinh doanh hoặc
khu vực địa lý được coi là tương đương khi: a) Tương đương về tình hình
tài chính; b) Có chung phần lớn các
nhân tố quy định trong đoạn 09; 33. Một lĩnh vực kinh doanh
hay khu vực địa lý cần được xác định là một bộ phận phải báo cáo khi phần lớn
doanh thu phát sinh từ bán hàng ra ngoài đồng thời thoả mãn một trong các điều
kiện sau: a) Tổng Doanh thu của bộ
phận từ việc bán hàng ra ngoài và từ giao dịch với các bộ phận khác phải chiếm
từ 10% trở lên trên tổng doanh thu của tất cả bộ phận,
hoặc b) Kết quả kinh doanh của bộ
phận này bất kể lãi (hay lỗ) chiếm từ 10 % trở lên trên tổng lãi (hay lỗ) của
tất cả các bộ phận có lãi (hoặc trên tổng lỗ của tất cả các bộ phận lỗ) nếu đại
lượng nào có giá trị tuyệt đối lớn hơn, hoặc c) Tài sản của bộ phận chiếm
từ 10 % trở lên trên tổng tài sản của tất cả các bộ
phận. 34. Đối với các bộ phận có
mức dưới 10% theo quy định trong đoạn 33: a) Bộ phận đó có thể báo cáo
được mà không tính đến yếu tố quy mô nếu thông tin của bộ phận đó là cần thiết
cho người sử dụng báo cáo tài chính; b) Nếu bộ phận đó có thể
được kết hợp với các bộ phận tương đương khác ; và
c) Nếu các bộ phận còn lại
được báo cáo thành một khoản mục riêng. 35. Nếu tổng doanh thu bán
hàng ra ngoài của doanh nghiệp được phân bổ cho các bộ phận có thể được báo cáo
thấp hơn 75% tổng số doanh thu của doanh nghiệp hoặc doanh thu của tập đoàn thì
phải xác định thêm bộ phận cần báo cáo, kể cả khi bộ phận đó không đáp ứng được
tiêu chuẩn 10% trong đoạn 33, cho tới khi đạt được ít nhất 75% tổng số doanh thu
của doanh nghiệp hoặc tập đoàn được tính cho các bộ phận báo cáo
được. 36. Mức 10% trong Chuẩn mực
này không phải là ngưỡng để xác định mức trọng yếu của báo cáo tài chính mà là
cơ sở để xác định bộ phận phải báo cáo theo lĩnh vực kinh doanh và khu vực địa
lý. 37. Việc giới hạn đối với
các bộ phận cần báo cáo phần lớn doanh thu từ việc bán hàng và cung cấp dịch vụ
ra bên ngoài không có nghĩa là các giai đoạn khác nhau của quy trình sản xuất
khép kín phải được xác định như là các bộ phận kinh doanh riêng biệt. Một số
ngành có thể lập báo cáo bộ phận cho các hoạt động trong quy trình sản xuất khép
kín như là các bộ phận kinh doanh riêng biệt mặc dù các bộ phận này không tạo ra
doanh thu từ việc bán hàng và cung cấp dịch vụ ra bên ngoài. Ví dụ, Tổng Công ty
dầu khí có thể lập báo cáo bộ phận cho các hoạt động khai thác và sản xuất, hoạt
động lọc dầu và bán hàng là hai bộ phận kinh doanh riêng biệt cho dù hầu hết hay
toàn bộ các sản phẩm khai thác dầu thô được chuyển giao cho bộ phận lọc dầu của
doanh nghiệp. 38. Chuẩn mực này khuyến
khích nhưng không bắt buộc việc lập báo cáo bộ phận cho các hoạt động có quy
trình sản xuất khép kín. 39. Nếu báo cáo tài chính
nội bộ coi các giai đoạn khác nhau của quy trình sản xuất khép kín là một bộ
phận kinh doanh riêng biệt nhưng báo cáo ra bên ngoài không trình bày là bộ phận
kinh doanh riêng biệt thì bộ phận bán hàng được kết hợp với bộ phận mua để thành
bộ phận báo cáo ra bên ngoài, trừ khi không thể thực hiện
được. 40. Một bộ phận được báo cáo
trong năm trước vì đạt ngưỡng 10% nhưng năm hiện tại không đạt ngưỡng 10% thì
vẫn là bộ phận phải báo cáo trong năm hiện tại, nếu Ban Giám đốc đánh giá bộ
phận này vẫn có tầm quan trọng trong năm tiếp
theo. 41. Nếu một bộ phận được xác
định là có thể báo cáo trong năm nay do đạt ngưỡng 10% thì thông tin của bộ phận
này năm trước cần phải được trình bày lại để cung cấp số liệu so sánh cho người
sử dụng báo cáo mặc dù bộ phận đó không đạt 10% trong năm trước, trừ khi không
thể thực hiện được. Chính sách kế toán của bộ
phận 42. Thông tin bộ phận phải
được lập và trình bày phù hợp với chính sách kế toán áp dụng cho việc lập và
trình bày báo cáo tài chính hợp nhất hoặc báo cáo tài chính của doanh
nghiệp. 43. Chính sách kế toán mà
Ban Giám đốc doanh nghiệp sử dụng để lập báo cáo tài chính hợp nhất hoặc báo cáo
tài chính của doanh nghiệp là chính sách kế toán mà Ban Giám đốc cho là phù hợp
nhất để lập báo cáo ra bên ngoài doanh nghiệp. Mục đích của việc trình bày thông
tin bộ phận là để giúp người sử dụng báo cáo tài chính hiểu rõ và đánh giá được
doanh nghiệp một cách toàn diện hơn, nên khi lập và trình bày thông tin bộ phận,
chuẩn mực này yêu cầu sử dụng các chính sách kế toán mà Ban Giám đốc đã chọn lựa
để lập và trình bày báo cáo tài chính của doanh nghiệp hoặc báo cáo tài chính
hợp nhất. 44. Chuẩn mực này cho phép
việc trình bày các thông tin bộ phận bổ sung được lập trên cơ sở khác với chính
sách kế toán áp dụng đối với báo cáo tài chính hợp nhất hoặc báo cáo tài chính
của doanh nghiệp khi thoả mãn 2 điều kiện: a) Các thông tin được báo
cáo tài chính nội bộ cho Ban Giám đốc nhằm đưa ra quyết định về việc phân bổ các
nguồn lực vào bộ phận và đánh giá hoạt động của bộ phận đó; và
b) Cơ sở lập thông tin bộ
phận bổ sung được trình bày rõ ràng. 45. Tài sản do hai hay nhiều
bộ phận sử dụng cần phải phân bổ cho các bộ phận đó khi doanh thu và các chi phí
có liên quan tới tài sản được phân bổ cho các bộ phận.
46. Cách thức phân bổ tài
sản, nợ phải trả, doanh thu và chi phí cho các bộ phận phụ thuộc vào tính chất
của khoản mục hay hoạt động do bộ phận đó tiến hành và quyền tự chủ của bộ phận
đó. Không áp dụng một tiêu thức chung cho tất cả các doanh nghiệp. Việc phân bổ
tài sản, nợ phải trả, doanh thu và chi phí có liên quan đến hai hay nhiều bộ
phận, phải dựa trên cơ sở hợp lý. Các định nghĩa về doanh thu, chi phí, tài sản
và nợ phải trả bộ phận có liên quan với nhau và kết quả phân bổ theo đó cũng
phải nhất quán: Các tài sản sử dụng chung được phân bổ cho các bộ phận khi doanh
thu và chi phí có liên quan tới tài sản đó cũng được phân bổ cho các bộ phận
này. Ví dụ: Một tài sản được coi là tài sản của bộ phận khi phần khấu hao của
tài sản đó được tính vào chi phí khi xác định kết quả kinh doanh của bộ
phận. Trình
bày 47. Trong chuẩn mực này, các
đoạn từ 48 đến 61 quy định về trình bày đối với các bộ phận báo cáo được coi là
bộ phận chính yếu. Các đoạn từ 62 đến 66 quy định về yêu cầu cần trình bày đối
với các bộ phận báo cáo được coi là bộ phận thứ yếu. Việc khuyến khích các doanh
nghiệp trình bày toàn bộ các thông tin đối với mỗi bộ phận thứ yếu như yêu cầu
đối với bộ phận chính yếu được xác định trong các đoạn từ 48 đến 61. Các đoạn từ
67 đến 76 quy định các vấn đề cần thuyết minh về báo cáo bộ phận.
Báo cáo đối với bộ phận
chính yếu 48. Các yêu cầu về trình bày
nêu trong các đoạn từ 49 đến 61 cần phải được áp dụng cho mỗi bộ phận cần báo
cáo dựa vào báo cáo bộ phận chính yếu của doanh
nghiệp. 49. Doanh nghiệp phải trình
bày doanh thu bộ phận đối với mỗi bộ phận cần báo cáo. Doanh thu bộ phận từ việc
bán hàng và cung cấp dịch vụ cho khách hàng bên ngoài và từ các giao dịch với
các bộ phận khác phải được báo cáo riêng biệt. 50. Doanh nghiệp phải trình
bày kết quả bộ phận đối với mỗi bộ phận cần báo
cáo. 51. Nếu doanh nghiệp tính
toán được lãi hoặc lỗ thuần của bộ phận hoặc có các chỉ tiêu khác đánh giá khả
năng sinh lời của bộ phận ngoài kết quả bộ phận mà không có sự phân bổ tuỳ tiện,
thì khuyến khích doanh nghiệp trình bày thêm các chỉ tiêu đó kèm theo những diễn
giải phù hợp. Nếu các chỉ tiêu đó được tính toán dựa trên chính sách kế toán
khác với chính sách kế toán áp dụng cho báo cáo tài chính hợp nhất hoặc báo cáo
tài chính của doanh nghiệp thì doanh nghiệp cần trình bày rõ cơ sở tính toán chỉ
tiêu đó trong báo cáo tài chính của doanh nghiệp. 52. Khuyến khích doanh
nghiệp trình bày thêm các chỉ tiêu để đánh giá hoạt động của bộ phận: Lợi nhuận
gộp trên doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ; Lợi nhuận thuần từ hoạt động
kinh doanh hoặc lợi nhuận trước hoặc sau thuế. 53. Doanh nghiệp phải trình
bày “Tổng giá trị còn lại của tài sản bộ phận” đối với mỗi bộ phận cần báo
cáo. 54. Doanh nghiệp phải trình
bày “Nợ phải trả bộ phận” đối với mỗi bộ phận cần báo
cáo. 55. Doanh nghiệp phải trình
bày “Tổng chi phí đã phát sinh trong niên độ để mua tài sản cố định” - tài sản
bộ phận dự kiến sẽ sử dụng nhiều hơn một niên độ (TSCĐ hữu hình, TSCĐ vô hình và
các tài sản dài hạn khác) đối với mỗi bộ phận cần báo cáo.
56. Doanh nghiệp phải trình
bày “Tổng chi phí khấu hao TSCĐ và phân bổ chi phí trả trước dài hạn của bộ
phận” trong niên độ đã được tính trong chi phí để tính kết quả bộ phận đối với
mỗi bộ phận cần báo cáo. 57. Khuyến khích doanh
nghiệp trình bày bản chất và giá trị của các khoản doanh thu và chi phí có quy
mô, tính chất và phạm vi ảnh hưởng đáng kể mà phần thuyết minh này là phù hợp để
giải thích được hoạt động trong niên độ của mỗi bộ phận cần báo cáo.
58. Các khoản mục doanh thu
và chi phí từ các hoạt động có tính chất, quy mô đáng kể cần được thuyết minh để
giải thích các hoạt động của doanh nghiệp đó trong niên độ, thì tính chất và giá
trị các khoản mục đó phải trình bày riêng rẽ. Quy định tại đoạn 57 không thay
đổi việc phân loại các khoản mục doanh thu và chi phí từ các hoạt động thông
thường sang hoạt động khác hoặc thay đổi cách tính các khoản mục đó.
59. Đối với mỗi bộ phận cần
báo cáo, doanh nghiệp phải trình bày tổng giá trị các khoản chi phí lớn không
bằng tiền, ngoại trừ chi phí khấu hao và chi phí phân bổ đã được thuyết minh
riêng rẽ theo quy định tại đoạn 56. 60. Nếu doanh nghiệp đưa ra
các thuyết minh về luồng tiền bộ phận theo quy định của Chuẩn mực số 24 “Báo cáo
lưu chuyển tiền tệ” thì không phải trình bày tổng chi phí khấu hao và chi phí
phân bổ theo quy định tại đoạn 56 và các chi phí không bằng tiền theo quy định
tại đoạn 59. 61. Doanh nghiệp phải trình
bày bảng đối chiếu giữa số liệu của các bộ phận và số liệu tổng cộng trong báo
cáo tài chính của doanh nghiệp hoặc báo cáo tài chính hợp nhất. Trong bảng đối
chiếu này các số liệu không thuộc các bộ phận báo cáo phải được gộp vào một cột.
Doanh nghiệp phải đối chiếu doanh thu bộ phận so với tổng doanh thu bán hàng ra
bên ngoài trong đó nêu rõ số doanh thu bán hàng ra bên ngoài chưa được báo cáo ở
bất kỳ bộ phận nào; kết quả kinh doanh của bộ phận với tổng kết quả kinh doanh
của doanh nghiệp và với lợi nhuận thuần của doanh nghiệp; tài sản bộ phận phải
được đối chiếu với tổng tài sản của doanh nghiệp; nợ phải trả của bộ phận phải
đối chiếu với tổng nợ phải trả của doanh nghiệp. Báo cáo đối với bộ phận thứ
yếu 62. Các đoạn từ 63 đến 66
quy định về các yêu cầu cần trình bày đối với các bộ phận báo cáo được coi là bộ
phận thứ yếu của doanh nghiệp, như sau: a) Nếu báo cáo bộ phận chính
yếu được lập theo lĩnh vực kinh doanh, thì báo cáo bộ phận thứ yếu được lập theo
quy định trong đoạn 63; b) Nếu báo cáo bộ phận chính
yếu của doanh nghiệp được lập theo khu vực địa lý dựa trên vị trí của tài sản
(nơi sản phẩm của doanh nghiệp được sản xuất hoặc nơi các dịch vụ của doanh
nghiệp hình thành) thì báo cáo bộ phận thứ yếu được lập theo quy định trong đoạn
64 và 65; c) Nếu báo cáo bộ phận chính
yếu được lập theo khu vực địa lý dựa trên vị trí của khách hàng (thị trường nơi
các sản phẩm của doanh nghiệp được bán hoặc nơi mà các dịch vụ được cung cấp)
thì báo cáo bộ phận thứ yếu được lập theo quy định trong đoạn 64 và
66; 63. Nếu báo cáo bộ phận
chính yếu được lập theo lĩnh vực kinh doanh thì báo cáo bộ phận thứ yếu phải gồm
các thông tin sau: a) Doanh thu bộ phận bán
hàng ra bên ngoài theo khu vực địa lý dựa trên vị trí của khách hàng, nếu doanh
thu bán hàng ra bên ngoài của mỗi bộ phận đó chiếm từ 10% trở lên trên tổng
doanh thu của doanh nghiệp bán hàng ra bên ngoài; b) Tổng giá trị còn lại của
tài sản bộ phận theo vị trí của tài sản, nếu tài sản của mỗi bộ phận đó chiếm từ
10% trở lên trên tổng tài sản của toàn bộ các khu vực địa lý;
và c) Tổng chi phí đã phát sinh
trong niên độ để mua tài sản cố định - tài sản bộ phận dự kiến sẽ sử dụng nhiều
hơn một niên độ (TSCĐ hữu hình, TSCĐ vô hình và các tài sản dài hạn khác) theo
vị trí của tài sản, nếu tài sản của bộ phận đó chiếm từ 10% trở lên trên tổng
tài sản của các bộ phận. 64. Nếu báo cáo bộ phận
chính yếu được lập theo khu vực địa lý (dựa trên vị trí của tài sản hay vị trí
của khách hàng) thì báo cáo bộ phận thứ yếu cũng phải thuyết minh các thông tin
sau đối với lĩnh vực kinh doanh có doanh thu từ việc bán hàng ra bên ngoài chiếm
từ 10% trở lên trên tổng doanh thu từ bán hàng ra bên ngoài của doanh nghiệp,
hoặc tài sản bộ phận chiếm từ 10% trở lên trên tổng tài sản của các bộ
phận: a) Doanh thu bộ phận bán
hàng ra bên ngoài; b) Tổng giá trị còn lại của
tài sản bộ phận; và Tổng chi phí phát sinh trong
niên độ để mua tài sản cố định - tài sản bộ phận dự kiến sẽ sử dụng nhiều hơn
một niên độ (TSCĐ hữu hình, TSCĐ vô hình, tài sản dài hạn
khác). 65. Nếu báo cáo bộ phận
chính yếu được lập theo khu vực địa lý dựa trên vị trí của tài sản, và vị trí
của khách hàng của doanh nghiệp khác với vị trí của tài sản của doanh nghiệp thì
doanh nghiệp cần phải báo cáo doanh thu bán hàng ra bên ngoài cho mỗi bộ phận
theo khu vực địa lý dựa trên vị trí của khách hàng mà doanh thu từ việc bán hàng
cho khách hàng bên ngoài của nó chiếm từ 10% trở lên trên tổng doanh thu bán
hàng ra bên ngoài của doanh nghiệp. 66. Nếu báo cáo bộ phận
chính yếu được lập theo khu vực địa lý dựa trên vị trí của khách hàng, và tài
sản của doanh nghiệp được đặt tại các khu vực địa lý khác với khách hàng của
doanh nghiệp, thì doanh nghiệp cần phải thuyết minh các thông tin dưới đây đối
với mỗi khu vực địa lý dựa trên vị trí của tài sản mà doanh thu bán hàng ra bên
ngoài hoặc tài sản của bộ phận đó chiếm từ 10% trở lên trên tổng doanh thu bán
hàng ra bên ngoài hoặc tổng tài sản của doanh nghiệp:
a) Tổng giá trị còn lại của
tài sản bộ phận theo khu vực địa lý của tài sản;
và b) Tổng chi phí phát sinh
trong kỳ để mua tài sản cố định – tài sản bộ phận dự kiến sẽ sử dụng nhiều hơn
một niên độ (TSCĐ hữu hình, TSCĐ vô hình, tài sản dài hạn khác) theo vị trí của
tài sản. Các thuyết minh
khác 67. Nếu một lĩnh vực kinh
doanh hoặc một khu vực địa lý mà thông tin được báo cáo cho Ban Giám đốc không
phải là một bộ phận phải báo cáo do bộ phận đó thu được phần lớn doanh thu từ
việc bán hàng cho các bộ phận khác, tuy nhiên doanh thu của bộ phận này từ việc
bán hàng ra bên ngoài chiếm từ 10% trở lên trên tổng doanh thu của doanh nghiệp
bán hàng ra bên ngoài, doanh nghiệp này cũng cần phải thuyết minh về doanh thu
từ việc: Bán hàng ra bên ngoài và bán hàng cho các bộ phận nội bộ
khác. 68. Để xác định và báo cáo
doanh thu bộ phận từ các giao dịch với các bộ phận khác, các khoản chuyển giao
giữa các bộ phận cần phải được tính toán trên cơ sở là doanh nghiệp này thực sự
được sử dụng để định giá các khoản chuyển nhượng đó. Cơ sở cho việc định giá các
khoản chuyển giao giữa các bộ phận đó và bất cứ sự thay đổi liên quan cần phải
được thuyết minh trong báo cáo tài chính. 69. Những thay đổi về chính
sách kế toán được áp dụng cho việc trình bày báo cáo bộ phận có ảnh hưởng trọng
yếu lên các thông tin bộ phận cần phải được thuyết minh. Thông tin bộ phận của
kỳ trước được trình bày cho mục đích so sánh cần phải được trình bày lại, kể cả
tính chất và lý do thay đổi (nếu có). Các tác động về tài chính cũng phải được
trình bày nếu có thể xác định được một cách hợp lý. Nếu doanh nghiệp thay đổi
việc xác định các bộ phận báo cáo và không công bố thông tin bộ phận kỳ trước
theo căn cứ mới thì để đáp ứng mục đích so sánh, doanh nghiệp phải báo cáo thông
tin bộ phận dựa trên cả căn cứ mới và căn cứ cũ. 70. Doanh nghiệp phải thay
đổi chính sách kế toán khi tình hình thực tế yêu cầu, theo yêu cầu của cơ quan
có thẩm quyền hoặc nếu việc thay đổi chính sách kế toán sẽ hợp lý hơn đối với
các sự kiện hoặc các nghiệp vụ trong báo cáo tài chính của doanh
nghiệp. 71. Những thay đổi về chính
sách kế toán được áp dụng ở doanh nghiệp có tác động tới các thông tin bộ phận
phải được áp dụng hồi tố và các thông tin kỳ trước phải được điều chỉnh. Khi áp
dụng phương pháp này, các thông tin bộ phận của kỳ trước sẽ được trình bày.
72. Một số thay đổi về chính
sách kế toán có liên quan cụ thể đến việc báo cáo bộ phận, như: Các thay đổi
trong việc xác định các bộ phận và các thay đổi về cơ sở phân bổ doanh thu và
chi phí vào các bộ phận. Những thay đổi đó có thể tác động đáng kể lên các thông
tin bộ phận được báo cáo nhưng sẽ không làm thay đổi tổng số các thông tin tài
chính được báo cáo đối với toàn bộ doanh nghiệp. Để giúp người sử dụng báo cáo
tài chính nắm được những thay đổi này và để đánh giá được các xu hướng, những
thông tin bộ phận của kỳ trước được bao gồm trong báo cáo tài chính để phục vụ
cho mục đích so sánh được nêu rõ, nếu có thể sẽ phản ánh được chính sách kế toán
mới. 73. Quy định ở đoạn 68 phục
vụ cho mục đích lập báo cáo bộ phận. Các khoản chuyển giao nội bộ cần phải được
xác định trên cơ sở là doanh nghiệp thực sự đã từng định giá các khoản chuyển
giao nội bộ đó. Nếu doanh nghiệp thay đổi phương pháp đã sử dụng để định giá
khoản chuyển giao, thì đó không phải là thay đổi về chính sách kế toán mà dữ
liệu bộ phận kỳ trước cần phải được nêu rõ theo đoạn 69. Tuy nhiên, đoạn 68 yêu
cầu phải thuyết minh những thay đổi. 74. Doanh nghiệp cần báo cáo
các loại sản phẩm và dịch vụ trong mỗi lĩnh vực kinh doanh được báo cáo và thành
phần của mỗi khu vực địa lý được báo cáo, cả chính yếu và thứ yếu, nếu không
diễn giải ngược lại trong báo cáo tài chính. 75. Đánh giá tác động của
những vấn đề đó như là sự thay đổi về nhu cầu, thay đổi về giá đầu vào và các
nhân tố sản xuất khác. Việc phát triển các sản phẩm lựa chọn thay thế và các quy
trình kinh doanh, cần phải nắm được các hoạt động của bộ phận đó. Để đánh giá
được ảnh hưởng của những thay đổi về môi trường kinh tế, chính trị và tỷ lệ sinh
lời của một khu vực địa lý, điều quan trọng là phải hiểu được thành phần của khu
vực địa lý đó. 76. Các bộ phận được báo cáo
năm trước nhưng năm nay không còn đáp ứng được ngưỡng định lượng (ví dụ: do sự
giảm sút về nhu cầu hoặc một sự thay đổi về chiến lược quản lý hoặc do một phần
các hoạt động của bộ phận được bán hoặc được kết hợp với các bộ phận khác) thì
không được báo cáo một cách tách biệt. Doanh nghiệp cần giải thích lý do tại sao
một bộ phận được báo cáo năm trước nhưng năm nay lại không được báo cáo nhằm
giúp người sử dụng báo cáo dự đoán được xu hướng vận động của doanh nghiệp như
sự sụt giảm về thị trường và những thay đổi trong các chiến lược kinh doanh của
doanh nghiệp,..../. |
ĐƠN VỊ HỖ TRỢ
|