|
|
KẾ TOÁN - THUẾ - DOANH NGHIỆP - LAO ĐỘNG |
|
|
|
|
THAY ĐỔI CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN,ƯỚC TÍNH KẾ TOÁN VÀ CÁC SAI
SÓT (Ban hành và công bố theo Quyết định số 12/2005/ QĐ-BTC
ngày 15/02/2005của Bộ trưởng Bộ Tài
chính) QUY ĐỊNH
CHUNG 01. Mục đích của Chuẩn mực
này là quy định và hướng dẫn các nguyên tắc, phương pháp kế toán và trình bày sự
thay đổi trong các chính sách kế toán, các ước tính kế toán và sửa chữa các sai
sót để doanh nghiệp có thể lập và trình bày báo cáo tài chính một cách nhất
quán. Chuẩn mực này cũng nhằm mục đích nâng cao tính phù hợp, độ tin cậy của các
báo cáo tài chính của doanh nghiệp và khả năng so sánh các báo cáo tài chính của
doanh nghiệp giữa các kỳ và với báo cáo tài chính của các doanh nghiệp khác.
02. Chuẩn mực này áp dụng để
xử lý những thay đổi trong các chính sách kế toán, các ước tính kế toán và sửa
chữa sai sót của các kỳ kế toán trước. 03. Việc lựa chọn áp dụng
các chính sách kế toán và trình bày các chính sách kế toán được thực hiện theo
quy định tại Chuẩn mực kế toán số 21 “Trình bày báo cáo tài chính”. Ảnh hưởng về
thuế của việc sửa chữa các sai sót kỳ trước và điều chỉnh hồi tố đối với những
thay đổi trong chính sách kế toán được kế toán và trình bày phù hợp với Chuẩn
mực kế toán số 17 “Thuế thu nhập doanh nghiệp”. 04. Các thuật ngữ trong
chuẩn mực này được hiểu như sau: Chính sách kế
toán:
Là các nguyên tắc, cơ sở và phương pháp kế toán cụ thể được doanh nghiệp áp dụng
trong việc lập và trình bày báo cáo tài chính. Thay đổi ước tính kế
toán:
Là việc điều chỉnh giá trị ghi sổ của tài sản, nợ phải trả hoặc giá trị tiêu hao
định kỳ của tài sản được tạo ra từ việc đánh giá tình trạng hiện thời và lợi ích
kinh tế trong tương lai cũng như nghĩa vụ liên quan đến tài sản và nợ phải trả
đó. Những thay đổi trong ước tính kế toán do có các thông tin mới không phải là
sửa chữa các sai sót. Bỏ sót hoặc sai sót trọng
yếu:
Việc bỏ sót hoặc sai sót được coi là trọng yếu nếu chúng có thể làm sai lệch
đáng kể báo cáo tài chính, làm ảnh hưởng đến quyết định kinh tế của người sử
dụng báo cáo tài chính. Mức độ trọng yếu phụ thuộc vào quy mô và tính chất của
các bỏ sót hoặc sai sót được đánh giá trong hoàn cảnh cụ thể. Quy mô, tính chất
của khoản mục là nhân tố quyết định đến tính trọng yếu. Sai sót của kỳ
trước:
Là những sai sót hoặc bỏ sót trong báo cáo tài chính tại một hay nhiều kỳ trước
do không sử dụng hoặc sử dụng không đúng các thông tin: (a) Sẵn có tại thời điểm báo
cáo tài chính của các kỳ đó được phép công bố; (b) Có thể thu thập và sử
dụng để lập và trình bày báo cáo tài chính đó. Các sai sót bao gồm sai sót
do tính toán, áp dụng sai các chính sách kế toán, bỏ quên, hiểu hoặc diễn giải
sai các sự việc và gian lận. Áp dụng hồi
tố: Là
việc áp dụng một chính sách kế toán mới đối với các giao dịch, sự kiện phát sinh
trước ngày phải thực hiện các chính sách kế toán đó. Điều chỉnh hồi
tố: Là
việc điều chỉnh những ghi nhận, xác định giá trị và trình bày các khoản mục của
báo cáo tài chính như thể các sai sót của kỳ trước chưa hề xảy
ra. Tính không hiện
thực:
Một yêu cầu được coi là không hiện thực khi doanh nghiệp không thể áp dụng được
yêu cầu đó sau rất nhiều nỗ lực, cố gắng. Việc áp dụng hồi tố đối với các thay
đổi trong chính sách kế toán hoặc thực hiện điều chỉnh hồi tố nhằm sửa chữa các
sai sót của kỳ trước là không hiện thực nếu: (a) Ảnh hưởng của việc áp
dụng hồi tố và điều chỉnh hồi tố là không thể xác định
được; (b) Việc áp dụng hồi tố và
điều chỉnh hồi tố đòi hỏi phải đặt giả thiết về ý định của Ban Giám đốc trong
thời kỳ đó; (c) Việc áp dụng hồi tố và
điều chỉnh hồi tố đòi hỏi một ước tính đáng kể và không phân biệt được các thông
tin sau đây với các thông tin khác: - Cung cấp bằng chứng của
hoàn cảnh tại ngày mà các khoản mục này được ghi nhận, được xác định giá trị và
được trình bày; và - Sẵn có tại thời điểm báo
cáo tài chính của kỳ trước được phép công bố. Áp dụng phi hồi
tố đối
với thay đổi trong chính sách kế toán và ghi nhận ảnh hưởng của việc thay đổi
các ước tính kế toán là: (a) Áp dụng chính sách kế
toán mới đối với các giao dịch và sự kiện phát sinh kể từ ngày có sự thay đổi
chính sách kế toán; (b) Ghi nhận ảnh hưởng của
việc thay đổi ước tính kế toán trong kỳ hiện tại và tương lai do ảnh hưởng của
sự thay đổi. NỘI DUNG CHUẨN MỰC
Thay đổi chính sách kế
toán Tính nhất quán của chính
sách kế toán 05. Doanh nghiệp phải lựa
chọn và áp dụng chính sách kế toán nhất quán đối với các giao dịch, sự kiện
tương tự, trừ khi có chuẩn mực kế toán khác yêu cầu hoặc cho phép phân loại các
giao dịch, sự kiện tương tự thành các nhóm nhỏ và áp dụng chính sách kế toán
khác nhau cho các nhóm này. Trường hợp này, một chính sách kế toán phù hợp sẽ
được lựa chọn và áp dụng nhất quán đối với mỗi
nhóm. Thay đổi chính sách kế
toán 06. Doanh nghiệp chỉ được
thay đổi chính sách kế toán khi: (a) Có sự thay đổi theo quy
định của pháp luật hoặc của chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán; hoặc
(b) Sự thay đổi sẽ dẫn đến
báo cáo tài chính cung cấp thông tin tin cậy và thích hợp hơn về ảnh hưởng của
các giao dịch và sự kiện đối với tình hình tài chính, kết quả hoạt động kinh
doanh và lưu chuyển tiền tệ của doanh nghiệp. 07. Người sử dụng báo cáp
tài chính cần phải so sánh được báo cáo tài chính của doanh nghiệp qua nhiều kỳ
để xác định xu hướng biến động tình hình tài chính, kết quả hoạt động kinh doanh
và lưu chuyển tiền tệ của doanh nghiệp. Do đó, chính sách kế toán cần được áp
dụng nhất quán giữa các kỳ, trừ khi có sự thay đổi chính sách kế toán theo quy
định tại đoạn 06. 08. Những vấn đề sau đây
không phải là thay đổi chính sách kế toán: (a) Việc áp dụng một chính
sách kế toán cho các giao dịch, sự kiện có sự khác biệt về cơ bản so với các
giao dịch, sự kiện đó đã xảy ra trước đây; (b) Việc áp dụng các chính
sách kế toán mới cho các giao dịch, sự kiện chưa phát sinh trước đó hoặc không
trọng yếu. 09. Việc đánh giá lại tài
sản cố định theo quy định của Nhà nước được đề cập trong Chuẩn mực kế toán số 03
“Tài sản cố định hữu hình” và Chuẩn mực kế toán số 04 “Tài sản cố định vô hình”
là một thay đổi trong chính sách kế toán nhưng được xử lý như một nghiệp vụ íanh
giá lại TSCĐ theo chuẩn mực số 03 hoặc 04, chứ không theo quy định của Chuẩn mực
này. Áp dụng các thay đổi trong
chính sách kế toán 10. Việc áp dụng các thay
đổi trong chính sách kế toán được thực hiện trong các trường hợp
sau: (a) Doanh nghiệp phải thực
hiện thay đổi chính sách kế toán do áp dụng lần đầu các quy định của pháp luật
hoặc chuẩn mực kế toán, chế độ kế toán theo các hướng dẫn chuyển đổi cụ thể (nếu
có) của pháp luật, chuẩn mực kế toán, chế độ kế toán đó;
(b) Khi doanh nghiệp thay
đổi chính sách kế toán do áp dụng lần đầu các quy định của pháp luật hoặc chuẩn
mực kế toán, chế độ kế toán nhưng không có các hướng dẫn chuyển đổi cụ thể cho
sự thay đổi đó, hoặc tự nguyện thay đổi chính sách kế toán thì phải áp dụng hồi
tố chính sách kế toán mới. Áp dụng hồi
tố 11. Khi sự thay đổi chính
sách kế toán được áp dụng hồi tố theo đoạn 10(a) hoặc 10(b) thì doanh nghiệp
phải điều chỉnh số dư đầu kỳ các khoản mục bị ảnh hưởng đã được trình bày trong
phần vốn chủ sở hữu của kỳ sớm nhất và các số liệu so sánh cho mỗi kỳ trước cũng
phải được trình bày như thể đã được áp dụng chính sách kế toán
mới. Giới hạn áp dụng hồi
tố 12. Theo quy định tại đoạn
10(a) và 10(b), những thay đổi chính sách kế toán phải được áp dụng hồi tố, trừ
khi không thể xác định được ảnh hưởng cụ thể của từng kỳ hoặc ảnh hưởng lũy kế
của sự thay đổi. 13. Nếu tại thời điểm đầu kỳ
hiện tại không thể xác định được ảnh hưởng lũy kế của việc áp dụng chính sách kế
toán mới cho tất cả các kỳ trước đó, doanh nghiệp phải điều chỉnh hồi tố các
thông tin so sánh theo chính sách kế toán mới cho kỳ sớm nhất mà doanh nghiệp có
thể thực hiện được. 14. Khi không thể áp dụng
hồi tố một chính sách kế toán mới do không thể xác định được ảnh hưởng lũy kế
của việc áp dụng chính sách kế toán đó cho tất cả các kỳ trước đó, thì theo quy
định tại đoạn 13, doanh nghiệp phải áp dụng hồi tố chính sách mới kể từ kỳ sớm
nhất mà doanh nghiệp có thể thực hiện áp dụng hồi tố. Việc thay đổi chính sách
kế toán vẫn được thực hiện ngay cả khi không thể áp dụng hồi tố cho các kỳ
trước. Những hướng dẫn khi không thể áp dụng chính sách kế toán mới đối với một
hoặc nhiều kỳ trước được quy định từ đoạn 30 đến 33. Thay đổi ước tính kế
toán 15. Nhiều khoản mục trong
báo cáo tài chính của doanh nghiệp không thể xác định được một cách tin cậy mà
chỉ có thể ước tính. Ước tính kế toán là một quá trình xét đoán dựa trên những
thông tin tin cậy nhất và mới nhất tại thời điểm đó. Ví dụ cần thực hiện các ước
tính kế toán đối với: (a) Các khoản phải thu khó
đòi; (b) Giá trị hàng lỗi thời
tồn kho; (c) Thời gian sử dụng hữu
ích hoặc cách thức sử dụng TSCĐ làm cơ sở tính khấu hao; (d) Nghĩa vụ bảo
hành. 16. Việc sử dụng ước tính kế
toán với độ tin cậy hợp lý là một phần không thể thiếu trong việc lập báo cáo
tài chính và không vì là ước tính kế toán mà bị xem là kém tin
cậy. 17. Ước tính kế toán cần
được xem xét lại nếu các căn cứ thực hiện ước tính có thay đổi hoặc do có thêm
thông tin hay kinh nghiệm mới. Về bản chất, việc xem xét lại một ước tính kế
toán không liên quan đến kỳ kế toán trước và không phải là việc sửa chữa một sai
sót. 18. Thay đổi cách thức xác
định thông tin là thay đổi về chính sách kế toán và không phải là thay đổi ước
tính kế toán. Khi khó xác định một thay đổi là thay đổi chính sách kế toán hay
thay đổi ước tính kế toán thì thay đổi này được coi là thay đổi ước tính kế
toán. 19. Các thay đổi ước tính kế
toán, trừ những thay đổi quy định tại đoạn 20, sẽ được áp dụng phi hồi tố và ghi
nhận vào Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh: (a) Của kỳ có thay đổi, nếu
thay đổi chỉ ảnh hưởng đến kỳ hiện tại; hoặc (b) Của kỳ có thay đổi và
các kỳ sau đó, nếu thay đổi ảnh hưởng đến các kỳ
này. 20. Nếu sự thay đổi ước tính
kế toán dẫn đến thay đổi tài sản, nợ phải trả, hoặc thay đổi một khoản mục trong
vốn chủ sở hữu thì thay đổi ước tính kế toán đó sẽ được ghi nhận bằng cách điều
chỉnh giá trị ghi sổ của tài sản, nợ phải trả hay khoản mục thuộc vốn chủ sở hữu
liên quan. 21. Việc điều chỉnh phi hồi
tố đối với ảnh hưởng của thay đổi ước tính kế toán có nghĩa là thay đổi chỉ được
áp dụng cho giao dịch, sự kiện kể từ ngày thay đổi ước tính kế toán. Thay đổi
ước tính kế toán có thể chỉ ảnh hưởng đến Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
của kỳ hiện tại, hoặc có thể ảnh hưởng đến Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
của cả kỳ hiện tại và các kỳ sau đó. Ví dụ, thay đổi ước tính giá
trị khoản phải thu khó đòi chỉ ảnh hưởng đến lãi, lỗ của kỳ hiện tại và do đó
được ghi nhận vào kỳ hiện tại. Ngược lại, thay đổi ước tính thời gian sử dụng
hữu ích hoặc cách thức sử dụng TSCĐ làm cơ sở tính khấu hao sẽ ảnh hưởng đến chi
phí khấu hao của cả kỳ hiện tại và các kỳ sau. Trong cả hai trường hợp, ảnh
hưởng của thay đổi đối với kỳ hiện tại được ghi nhận vào Báo cáo kết quả hoạt
động kinh doanh của kỳ hiện tại, còn những ảnh hưởng đối với các kỳ tương lai
được ghi nhận vào Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của các kỳ tương
lai. Sai
sót 22. Sai sót có thể phát sinh
từ việc ghi nhận, xác định giá trị, trình bày và thuyết minh các khoản mục trên
báo cáo tài chính. Báo cáo tài chính được coi là không phù hợp với chuẩn mực kế
toán và chế độ kế toán nếu chúng có các sai sót trọng yếu hoặc các sai sót không
trọng yếu nhưng cố ý trình bày tình hình tài chính, kết quả hoạt động kinh doanh
hay các luồng tiền theo một hướng khác. Những sai sót của kỳ hiện tại được phát
hiện trong kỳ đó phải được sửa chữa trước khi báo cáo tài chính được phép công
bố. Nếu sai sót trọng yếu được phát hiện ở kỳ sau thì sai sót này phải được điều
chỉnh vào số liệu so sánh được trình bày trong báo cáo tài chính của kỳ phát
hiện ra sai sót (xem các đoạn từ 23 đến 28). 23. Doanh nghiệp phải điều
chỉnh hồi tố những sai sót trọng yếu liên quan đến các kỳ trước vào báo cáo tài
chính phát hành ngay sau thời điểm phát hiện ra sai sót bằng
cách: (a) Điều chỉnh lại số liệu
so sánh nếu sai sót thuộc kỳ lấy số liệu so sánh;
hoặc (b) Điều chỉnh số dư đầu kỳ
của tài sản, nợ phải trả và các khoản mục thuộc vốn chủ sở hữu của kỳ lấy số
liệu so sánh, nếu sai sót thuộc kỳ trước kỳ lấy số liệu so
sánh. Giới hạn của điều chỉnh hồi
tố 24. Sai sót của các kỳ trước
được sửa chữa bằng cách điều chỉnh hồi tố, trừ khi không thể xác định được ảnh
hưởng của sai sót đến từng kỳ hay ảnh hưởng lũy kế của sai
sót. 25. Khi không thể xác định
được ảnh hưởng của sai sót đến từng kỳ, doanh nghiệp phải điều chỉnh số dư đầu
kỳ của tài sản, nợ phải trả và các khoản mục thuộc vốn chủ sở hữu của kỳ sớm
nhất (có thể chính là kỳ hiện tại) mà doanh nghiệp xác định được ảnh hưởng của
sai sót . 26. Khi không thể xác định
được ảnh hưởng lũy kế của sai sót tính đến thời điểm đầu kỳ hiện tại, doanh
nghiệp phải điều chỉnh hồi tố số liệu so sánh để sửa chữa sai sót kể từ kỳ sớm
nhất mà đơn vị xác định được ảnh hưởng này. 27. Việc sửa chữa sai sót
của kỳ trước không được thực hiện bằng cách điều chỉnh vào Báo cáo kết quả hoạt
động kinh doanh của kỳ phát hiện ra sai sót. Tất cả số liệu so sánh cần phải
được điều chỉnh lại nếu có thể thực hiện được. 28. Khi không thể xác định
được ảnh hưởng của một sai sót như sai sót khi áp dụng một chính sách kế toán
đối với các kỳ quá khứ, doanh nghiệp phải điều chỉnh hồi tố thông tin so sánh
trong báo cáo tài chính của kỳ sớm nhất mà doanh nghiệp xác định được ảnh hưởng
của sai sót theo quy định tại đoạn 26. Việc sửa chữa sai sót không được bỏ qua
phần điều chỉnh lũy kế đối với tài sản, nợ phải trả và các khoản mục thuộc vốn
chủ sở hữu trước kỳ đó. Những trường hợp không thể sửa chữa sai sót cho một hay
nhiều kỳ trước được quy định từ đoạn 30 đến 33. 29. Sửa chữa sai sót khác
với thay đổi ước tính kế toán. Ước tính kế toán về bản chất là những ước tính
gần đúng, cần được xem xét lại khi có thêm thông tin mới. Ví dụ, việc ghi nhận
lãi hay lỗ khi có kết luận cụ thể về một khoản nợ chưa xác định không phải là
sửa chữa sai sót. Tính không hiện thực của
việc áp dụng hồi tố và điều chỉnh hồi tố 30. Trong một số trường hợp,
không thể điều chỉnh thông tin cho một hay nhiều kỳ trong quá khứ để có số liệu
so sánh với kỳ hiện tại. Ví dụ không thể thu thập dữ liệu của các kỳ trong quá
khứ để có thể áp dụng hồi tố hoặc phi hồi tố một chính sách kế toán mới theo quy
định tại đoạn 32 - 33 hoặc điều chỉnh hồi tố để sửa chữa các sai sót của các kỳ
trước hoặc không thể tạo dựng lại được các thông tin này. 31. Trong nhiều trường hợp
cần thực hiện ước tính kế toán khi áp dụng chính sách kế toán mới đối với các
khoản mục của báo cáo tài chính được ghi nhận và trình bày thể hiện các giao
dịch hoặc nghiệp vụ kinh tế. Ước tính thực hiện ngay sau ngày kết thúc niên độ
thường mang tính chủ quan. Việc ước tính trở nên khó khăn hơn khi áp dụng hồi tố
các chính sách kế toán hoặc điều chỉnh hồi tố các sai sót thuộc các kỳ trước và
các giao dịch và nghiệp vụ kinh tế bị ảnh hưởng đó phát sinh từ rất lâu. Mục
đích của ước tính kế toán liên quan đến các kỳ trước cũng giống với ước tính cho
kỳ hiện tại là nhằm phản ánh phù hợp với hoàn cảnh tại thời điểm các giao dịch
và sự kiện kinh tế phát sinh. 32. Khi áp dụng hồi tố một
chính sách kế toán mới hoặc điều chỉnh hồi tố một sai sót đòi hỏi phải phân biệt
được các thông tin sau đây với các thông tin khác: (a) Thông tin cung cấp bằng
chứng về hoàn cảnh tại ngày phát sinh giao dịch hoặc nghiệp vụ kinh
tế; (b) Thông tin sẵn có tại
thời điểm báo cáo tài chính của các kỳ trong quá khứ được phát
hành. Đối với một số ước tính kế
toán, như ước tính giá trị hợp lý, không căn cứ vào thời giá hay các thông tin
đầu vào có thể quan sát được thì rất khó có thể đánh giá được các thông tin này.
Khi áp dụng hồi tố hoặc điều chỉnh hồi tố, nếu ước tính trọng yếu cũng không
phân biệt được hai loại thông tin này thì không thể áp dụng hồi tố chính sách kế
toán hoặc sửa chữa hồi tố các sai sót của kỳ trước. 33. Không sử dụng những nhận
thức có được ở các kỳ sau: (a) Khi áp dụng chính sách
kế toán mới hoặc sửa chữa sai sót của các kỳ trước; (b) Khi đưa ra giả định về ý
định của Ban Giám đốc trong kỳ trước; (c) Khi ước tính giá trị
được ghi nhận, xác định và thuyết minh trong kỳ trước. Ví dụ 1: Khi doanh nghiệp sửa chữa
sai sót trong kỳ trước về việc xác định giá trị tài sản tài chính khi nó đang
được phân loại là các khoản đầu tư giữ đến ngày đáo hạn theo chuẩn mực kế toán
“Các công cụ tài chính: Ghi nhận và xác định giá trị”, doanh nghiệp không được
thay đổi cơ sở của việc xác định giá trị đối với kỳ đó dù rằng Ban Giám đốc sau
đó lại quyết định không giữ các khoản đầu tư tới ngày đáo hạn.
Ví dụ 2: Khi doanh nghiệp sửa chữa
sai sót của kỳ trước liên quan đến việc tính toán nghĩa vụ trên số ngày nghỉ ốm
lũy kế của nhân viên, phải bỏ qua thông tin về dịch cúm xảy ra sau khi báo cáo
tài chính đó được phát hành. Trường hợp sửa chữa các thông tin so sánh cho các
kỳ trong quá khứ đòi hỏi phải có các ước tính đáng kể, tuy nhiên điều này không
cản trở việc điều chỉnh hoặc sửa chữa các thông tin so
sánh. Trình
bày Trình bày về thay đổi chính
sách kế toán 34. Khi áp dụng lần đầu một
chính sách kế toán có ảnh hưởng đến kỳ hiện tại, một kỳ nào đó trong quá khứ
hoặc các kỳ trong tương lai, doanh nghiệp phải trình bày những thông tin
sau: (a) Tên chính sách kế
toán; (b) Hướng dẫn chuyển đổi
chính sách kế toán; (c) Bản chất của sự thay đổi
chính sách kế toán; (d) Mô tả các quy định của
hướng dẫn chuyển đổi (nếu có); (e) Ảnh hưởng của việc thay
đổi chính sách kế toán đến các kỳ trong tương lai (nếu
có); (f) Các khoản được điều
chỉnh vào kỳ hiện tại và mỗi kỳ trước, như: - Từng khoản mục trên báo
cáo tài chính bị ảnh hưởng; - Chỉ số lãi trên cổ phiếu
nếu doanh nghiệp áp dụng Chuẩn mực kế toán “Lãi trên cổ
phiếu”; (g) Khoản điều chỉnh cho các
kỳ trước của kỳ được trình bày trên báo cáo tài chính;
(h) Trình bày lý do và mô tả
chính sách kế toán đó được áp dụng như thế nào và bắt đầu từ khi nào nếu không
thể áp dụng hồi tố theo quy định của đoạn 10(a) hoặc 10(b) đối với một kỳ nào đó
trong qúa khứ, hoặc đối với kỳ sớm nhất. Báo cáo tài chính của các kỳ
tiếp theo không phải trình bày lại các thông tin này.
35. Khi chính sách kế toán
được doanh nghiệp tự nguyện thay đổi có ảnh hưởng đến kỳ hiện tại hoặc một kỳ kế
toán nào đó trong qúa khứ hoặc các kỳ trong tương lai, doanh nghiệp phải trình
bày những thông tin sau: (a) Bản chất của sự thay đổi
chính sách kế toán; (b) Lý do của việc áp dụng
chính sách kế toán mới đem lại thông tin đáng tin cậy và phù hợp
hơn; (c) Các khoản được điều
chỉnh vào kỳ hiện tại và mỗi kỳ trước như: - Từng khoản mục trên báo
cáo tài chính bị ảnh hưởng; và - Chỉ số lãi trên cổ phiếu
nếu doanh nghiệp áp dụng Chuẩn mực kế toán “Lãi trên cổ
phiếu”; (d) Khoản điều chỉnh liên
quan đến các kỳ sớm nhất; (e) Nếu việc áp dụng hồi tố
theo yêu cầu của đoạn 10(a) hoặc 10(b) là không thể thực hiện được đối với một
kỳ nào đó trong qúa khứ, hoặc kỳ trước kỳ trình bày, thì phải trình bày lí do và
mô tả chính sách kế toán đó được áp dụng như thế nào và bắt đầu từ khi
nào. Báo cáo tài chính của các kỳ
tiếp theo không phải trình bày lại các thông tin
này. Trình bày về thay đổi ước
tính kế toán 36. Doanh nghiệp phải trình
bày tính chất và giá trị của các thay đổi ước tính kế toán có ảnh hưởng đến kỳ
hiện tại, dự kiến ảnh hưởng đến các kỳ trong tương lai, trừ khi không thể xác
định được thì phải trình bày lý do. Trình bày sai sót của các kỳ
trước 37. Khi thực hiện quy định
tại đoạn 23, doanh nghiệp phải trình bày các thông tin
sau: (a) Bản chất của sai sót
thuộc các kỳ trước; (b) Khoản điều chỉnh đối với
mỗi kỳ trước trong báo cáo tài chính: - Từng khoản mục trên báo
cáo tài chính bị ảnh hưởng; - Chỉ số lãi trên cổ phiếu
nếu doanh nghiệp áp dụng Chuẩn mực kế toán “Lãi trên cổ
phiếu”; (c) Giá trị điều chỉnh vào
đầu kỳ của kỳ lấy số liệu so sánh được trình bày trên báo cáo tài
chính; (d) Nếu không thực hiện được
điều chỉnh hồi tố đối với một kỳ cụ thể trong qúa khứ, cần trình bày lý do, mô
tả cách thức và thời gian sửa chữa sai sót. Báo cáo tài chính của các kỳ
tiếp theo không phải trình bày lại những thông tin
này./. |
ĐƠN VỊ HỖ TRỢ
|