|
|
KẾ TOÁN - THUẾ - DOANH NGHIỆP - LAO ĐỘNG |
|
|
|
|
BỘ TƯ PHÁP VỤ PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP
LUẬT ------------------------- BỘ TÀI CHÍNH VỤ PHÁP CHẾ ---------------- ĐỀ CƯƠNG GIỚI THIỆU LUẬT KẾ TOÁN Luật kế toán được Quốc hội
thông qua ngày 20/11/2015 tại kỳ họp thứ 10. Chủ tịch nước ký lệnh công bố
ngày 04/12/2015. Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày
01/01/2017. I. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH
1. Đánh giá tình hình thực hiện Luật kế toán năm
2003 Luật kế toán năm 2003 có hiệu lực thi hành từ ngày
01/01/2004. Sau 10 năm thực hiện, Luật đã đạt được những kết quả quan trọng sau
đây: - Thứ nhất, Luật kế toán là văn bản pháp lý cao nhất cho
việc thực hiện công tác kế toán của nước ta. Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Chính
phủ ban hành Nghị định số 128/2004/NĐ- CP ngày 31/5/2004 quy định chi tiết và
hướng dẫn thi hành một số điều của Luật kế toán áp dụng trong lĩnh vực kế toán
nhà nước; Nghị định số 129/2004/NĐ-CP ngày 31/5/2004 quy định chi tiết và hướng
dẫn thi hành một số điều của Luật kế toán áp dụng trong hoạt động kinh doanh; Bộ
Tài chính đã ban hành các văn bản quy định chi tiết về chế độ kế toán, chuẩn mực
kế toán và tổ chức quản lý nhà nước về công tác kế toán cũng như kiểm tra, giám
sát. Các văn bản trên đã tạo lập khuôn khổ pháp luật đầy đủ, toàn diện về kế
toán để áp dụng thống nhất trong cả nước. - Thứ hai, trên cơ sở các quy định trên đây, tổ chức hệ
thống kế toán của Việt Nam đã được phân định rõ ràng, cụ thể hơn, theo các khu
vực sau đây: + Một là, khu vực kế toán nhà nước bao gồm kế toán thu
chi ngân sách Nhà nước, kế toán Kho bạc, kế toán thuế, kế toán đơn vị hành chính
sự nghiệp, kế toán tài sản công nhằm đảm bảo thực hiện nhiệm vụ quản lý ngân
sách nhà nước, quản lý kho bạc, tài sản quốc gia. + Hai là, khu vực kế toán doanh nghiệp áp dụng chung cho
tất cả các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế để theo dõi, quản lý biến
động về vốn, tài sản, thu nhập, chi phí, phân phối thu nhập của các doanh
nghiệp. Một số ngành, lĩnh vực doanh nghiệp đặc thù đã có quy định phù
hợp. + Ba là, khu vực kế toán ngân hàng, các tổ chức tín dụng,
tổ chức tài chính, các quỹ tài chính nhà nước để áp dụng cho hoạt động của Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam, tổ chức tín dụng, công ty tài chính, công ty chứng khoán
và một số tổ chức đặc thù khác như: các ngân hàng chính sách, bảo hiểm xã hội.
Các quỹ tài chính nhà nước cũng được quy định phù hợp để đáp ứng chức năng,
nhiệm vụ được giao của các tổ chức này. + Bốn là, khu vực kế toán hợp tác xã theo Luật hợp tác xã
đã được quy định đảm bảo theo dõi biến động về vốn, tài sản và hoạt động hợp tác
xã, với những đặc điểm khác với doanh nghiệp về trình độ quản lý theo mô hình
hợp tác xã. - Thứ ba, các văn bản trên đã tạo điều kiện cho mọi đối
tượng thực hiện kế toán và tổ chức công tác kế toán tại từng đơn vị của mình,
đồng thời cũng là công cụ để Nhà nước thực hiện vai trò kiểm tra, giám sát thông
qua lập, trình bày, công bố báo cáo tài chính; góp phần tích cực trong việc thực
hiện công tác kiểm toán (cả Kiểm toán Nhà nước; Kiểm toán độc lập); giám sát
việc thực hiện nghĩa vụ thu nộp ngân sách Nhà nước, tạo cơ chế công khai, minh
bạch các báo cáo tài chính. - Thứ tư, các văn bản trên đã góp phần hoàn thiện cơ chế
thị trường có sự quản lý của Nhà nước, phù hợp với hội nhập quốc tế, tạo điều
kiện cho các nhà đầu tư có được thông tin cần thiết để quyết định tham gia các
hoạt động đầu tư, phát triển thị trường tài chính cũng như dịch vụ về kế
toán. - Thứ năm, việc tổ chức đào tạo chuyên ngành kế toán đã
được cải tiến; các trường đại học, cơ sở đào tạo đã đưa vào chương trình đào tạo
chuyên ngành kế toán, đội ngũ kế toán trưởng với những quy định cụ thể về điều
kiện, tiêu chuẩn được đào tạo, cấp chứng chỉ thường xuyên trao đổi kinh nghiệm
thông qua Câu lạc bộ Kế toán trưởng và hoạt động của các Hội như: Hội kế toán và
kiểm toán Việt Nam, Hội kiểm toán viên hành nghề Việt
Nam. Bên cạnh những kết quả đạt được, Luật kế toán và công tác
kế toán ở Việt Nam còn bộc lộ các tồn tại, hạn chế sau
đây: - Một là, về nguyên tắc kế toán: Luật năm 2003 mới chỉ
quy định hạch toán theo giá gốc, nên đã không phản ánh được tình hình biến động
tài sản và nợ phải trả tại thời điểm lập báo cáo tài chính. Theo chuẩn mực kế
toán quốc tế và thông lệ phổ biến trên toàn thế giới việc hạch toán được thực
hiện theo giá trị hợp lý (giá thị trường tại thời điểm đánh giá). Ở Việt Nam, cơ
chế kinh tế thị trường đã thực hiện trong nhiều năm, vì vậy phải sửa đổi, bổ
sung các quy định trên cho phù hợp với định hướng phát triển và hội nhập.
- Hai là, về vai trò kiểm tra, kiểm soát thông qua công
cụ kế toán, Luật 2003 quy định chưa rõ ràng như các hành vi bị cấm, quy định hóa
đơn bán hàng để bảo đảm hạch toán tại đơn vị kế toán; và sử dụng để kê khai,
thanh quyết toán thuế với ngân sách nhà nước; các quy định về kiểm soát, kiểm
toán nội bộ, công khai báo cáo tài chính, về kiểm tra kế toán, xác định rõ trách
nhiệm của người đại diện theo pháp luật của đơn vị kế toán nhằm tạo ra cơ chế
hạch toán rõ ràng, trung thực, công khai và minh
bạch. - Ba là, một số nội dung về hiện đại hóa công nghệ thông
tin trong lĩnh vực kế toán cần phải chỉnh sửa, nhất là khi tổ chức ứng dụng công
nghệ thông tin hiện đại thì việc in, lưu giữ chứng từ điện tử, in và lưu giữ sổ
kế toán cũng phải quy định phù hợp, khắc phục phương thức hạch toán kế toán thủ
công như trước đây.
- Bốn là, đứng trước yêu cầu phát triển nghề nghiệp dịch
vụ kế toán, thời gian qua đã có nhiều doanh nghiệp được thành lập để cung cấp
dịch vụ kế toán vì thế các quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ kế toán và
phương thức tổ chức cần được nghiên cứu chỉnh sửa để phát triển ngành nghề này
và nâng cao chất lượng dịch vụ. - Năm là, nội dung quản lý nhà nước về kế toán cần phải
được làm rõ hơn, không chỉ ban hành các văn bản pháp luật về kế toán, mà còn
phải gắn với tổ chức kiểm tra giám sát, xử lý vi phạm; cấp giấy chứng nhận đủ
điều kiện kinh doanh dịch vụ kế toán; đình chỉ kinh doanh cũng như việc tổ chức
thi, cấp chứng chỉ hành nghề về kế toán. - Sáu là, các quy định về kiểm soát chất lượng công tác
kế toán chưa được Luật 2003 quan tâm đúng mức. Kể từ khi Luật kế toán được ban
hành, các chế độ, chuẩn mực kế toán được hướng dẫn, chất lượng công tác kế toán
đã được coi trọng, các đơn vị kiểm toán, người đại diện pháp luật của đơn vị kế
toán đã quan tâm đến công tác tổ chức kế toán, kế toán nghiệp vụ, kế toán thống
kê, kế toán tài chính. Tuy nhiên chất lượng kế toán còn chưa đáp ứng yêu cầu
quản lý và đòi hỏi của thực tế, còn
có biểu hiện hạch toán kế toán không trung thực, gian lận đã xảy ra và bị cơ
quan pháp luật xử lý; báo cáo tài chính chưa kịp thời và độ tin cậy chưa cao.
Tồn tại này một phần do công tác quản lý, mặt khác, do Luật kế toán năm 2003
chưa có chế tài đủ mạnh để xử lý. Những hạn chế, tồn tại trên do nhiều nguyên nhân, trong
đó tập trung vào các nguyên nhân sau đây: - Một là, do ý thức trách nhiệm của thủ trưởng các đơn vị
kế toán, những người làm công tác kế toán ở các đơn vị chưa đầy đủ nên không
tuân thủ quy định về quản lý tài chính, kế toán của nhà nước,vẫn còn để xảy ra
các sai phạm phải xử lý, chưa thực sự công khai minh bạch trong quản lý tài
chính kế toán. - Hai là, quy định pháp luật về kế toán chưa hoàn chỉnh,
chế độ quản lý tài chính, chế độ kế toán, chuẩn mực chưa được ban hành đồng bộ,
có điểm còn mâu thuẫn nhau, dẫn đến việc hiểu và thực thi pháp luật còn hạn
chế. - Ba là, môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam đã có
nhiều biến đổi, việc mở cửa thị trường, hội nhập quốc tế đòi hỏi các cơ chế
chính sách về tài chính, kế toán phải điều chỉnh kịp thời; với nhiều thành phần
kinh tế, trong đó có các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, các chi nhánh doanh
nghiệp nước ngoài tại Việt Nam. Trong khi đó luật lệ tài chính, kế toán của các
nước ngoài có khác. Các yếu tố này cũng ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động kế
toán. - Bốn là, phạm vi hoạt động kế toán rất rộng, bao gồm cả
các cấp chính quyền, cơ quan, tổ chức sử dụng ngân sách Nhà nước, các doanh
nghiệp, các hợp tác xã, các đơn vị tổ chức kinh tế - xã hội, nhưng việc kiểm tra
công tác kế toán còn nhiều bất cập. Nhiệm vụ kiểm tra kế toán không phải chỉ
thuộc về cơ quan quản lý nhà nước về kế toán mà còn là trách nhiệm của các Bộ,
ngành, địa phương, các đơn vị với tư cách là cơ quan chủ quản cấp trên, đơn vị
kế toán trong việc tuân thủ pháp luật về kế toán. 2. Sự cần thiết phải sửa đổi, bổ sung Luật kế toán
2003 Việc sửa đổi, bổ sung Luật kế toán năm 2003 là hết sức
cần thiết, xuất phát từ các lý do sau: Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện khuôn
khổ pháp luật về kế toán đặc biệt là nguyên tắc kế toán, chế độ kế toán, chuẩn
mực kế toán…nhằm nâng cao trách nhiệm của các cơ quan trong việc tuân thủ quy
định pháp luật về tài chính, để công tác kế toán thật sự trở thành một công cụ
trong việc quản lý tài chính, vốn, tài sản của nhà nước, của doanh nghiệp, các
đơn vị tài chính kế toán cũng như công cụ quản lý, giám sát của Nhà
nước. Thứ hai, nâng cao chất lượng của
công tác kế toán, đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong điều
kiện kinh tế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, đồng thời đáp ứng yêu cầu
hội nhập ngày càng sâu rộng của Việt Nam vào kinh tế thế giới, trong đó có hội
nhập về tài chính, kế toán. Thứ ba, tăng cường quản lý, giám
sát của Nhà nước, giám sát của cộng đồng doanh nghiệp, nhà đầu tư, người dân
trong lĩnh vực này, góp phần tăng cường nâng cao chất lượng kế toán, đảm bảo
nguyên tắc công khai, minh bạch, phòng chống tham nhũng, lãng phí đối với mỗi
đơn vị kế toán cũng như toàn xã hội. II. QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO 1. Quán triệt quan điểm của Đảng và Nhà nước về hoàn
thiện thể chế kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, hình thành từng
bước cơ chế chính sách, công cụ quản lý kinh tế - xã hội, trong đó xác định kế
toán là công cụ để phản ánh biến động nguồn vốn, tài sản của quốc gia, của mỗi
doanh nghiệp, đơn vị, tổ chức một cách đầy đủ, chính xác, trung thực; tăng cường
tính công khai, minh bạch và giám sát việc thực thi pháp
luật. 2. Kế thừa các quy định trong Luật kế toán hiện hành còn
phù hợp, có giá trị áp dụng, chỉ bổ sung, sửa đổi những điều cần thiết, khắc
phục các bất cập trong thực thi; bảo đảm tính khả thi, khả năng giám sát của Nhà
nước, không làm ảnh hưởng, biến động lớn đối với hoạt động kinh tế - xã hội của
đất nước. 3. Nghiên cứu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế, nhất là
nguyên tắc, chuẩn mực kế toán và thông lệ quốc tế vào điều kiện, hoàn cảnh Việt
Nam cho phù hợp với bối cảnh kinh tế - xã hội của đất nước.
4. Bảo đảm tuân thủ pháp Hiến pháp năm 2013, thống nhất
với Luật đầu tư năm 2014, Luật doanh nghiệp năm 2014 và các luật hiện hành. III.
BỐ CỤC CỦA LUẬT Luật
gồm 06 chương, 74 điều: -
Chương
1. Những quy định chung (gồm
15 điều, từ Điều 1 đến Điều 15). Chương này quy định về phạm vi điều chỉnh; đối
tượng áp dụng; giải thích từ ngữ; nhiệm vụ kế toán; yêu cầu kế toán; nguyên tắc
kế toán; chuẩn mực kế toán; chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kế toán; đối tượng kế
toán; kế toán tài chính, kế toán quản trị, kế toán tổng hợp, kế toán chi tiết;
đơn vị tính sử dụng trong kế toán; chữ viết và chữ số sử dụng trong kế toán; kỳ
kế toán; các hành vi bị nghiêm cấm; giá trị của tài liệu, số liệu kế toán; trách
nhiệm quản lý, sử dụng, cung cấp thông tin, tài liệu kế
toán. -
Chương 2. Nội dung công tác kế toán (gồm
06 mục, 33 điều, từ Điều 16 đến Điều 48). Chương này quy định cụ thể như
sau: + Mục 1. Chứng từ kế toán (gồm 06
điều, từ Điều 16 đến Điều 21) quy định về nội dung chứng từ kế toán; chứng từ
điện tử; lập và lưu trữ chứng từ kế toán; ký chứng từ kế toán; hóa đơn; quản lý,
sử dụng chứng từ kế toán; + Mục 2. Tài khoản kế toán và sổ
kế toán (gồm 07 điều, từ Điều 22 đến Điều 28) quy định về tài khoản kế toán và
hệ thống tài khoản kế toán; lựa chọn áp dụng hệ thống tài khoản kế toán; sổ kế
toán; hệ thống sổ kế toán; mở sổ, ghi sổ, khóa sổ và lưu trữ sổ kế toán; sửa
chữa sổ kế toán; đánh giá và ghi nhận theo giá trị hợp lý; + Mục 3. Báo cáo tài chính (gồm 05
điều, từ Điều 29 đến Điều 33) quy định về báo cáo tài chính của đơn vị kế toán;
báo cáo tài chính nhà nước; nội dung công khai báo cáo tài chính; hình thức và
thời hạn công khai báo cáo tài chính; kiểm toán báo cáo tài
chính; + Mục 4. Kiểm tra kế toán (gồm 06
điều, từ Điều 34 đến Điều 39) quy định về kiểm tra kế toán; nội dung kiểm tra kế
toán; thời gian kiểm tra kế toán; quyền và trách nhiệm của đoàn kiểm tra kế
toán, đơn vị kế toán được kiểm tra kế toán; kiểm soát nội bộ và kiểm toán nội
bộ; + Mục 5. Kiểm kê tài sản, bảo
quản, lưu trữ tài liệu kế toán (gồm 03 điều từ Điều 40 đến Điều 42) quy định về
kiểm kê tài sản; bảo quản, lưu trữ tài liệu kế toán; trách nhiệm của đơn vị kế
toán trong trường hợp tài liệu kế toán bị mất hoặc bị hủy
hoại; + Mục 6. Công việc kế toán trong
trường hợp đơn vị kế toán chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi loại hình
hoặc hình thức sở hữu, giải thể, chấm dứt hoạt động, phá sản (gồm 06 điều, từ
Điều 43 đến Điều 48) quy định về công việc kế toán trong trường hợp chia, tách,
hợp nhất, sáp nhập đơn vị kế toán; công việc kế toán trong trường hợp chuyển đổi
loại hình hoặc hình thức sở hữu; công việc kế toán trong trường hợp giải thể,
chấm dứt hoạt động, phá sản. -
Chương
III. Tổ chức bộ máy kế toán và người làm kế toán (gồm
08 điều, từ Điều 49 đến Điều 56). Chương này quy định về tổ chức bộ máy kế toán;
trách nhiệm của người đại diện theo pháp luật của đơn vị kế toán; tiêu chuẩn,
quyền và trách nhiệm của người làm kế toán; những người không được làm kế toán;
kế toán trưởng; tiêu chuẩn và điều kiện của kế toán trưởng; trách nhiệm và quyền
của kế toán trưởng; thuê dịch vụ làm kế toán, dịch vụ làm kế toán
trưởng. -
Chương IV. Hoạt động kinh doanh dịch vụ kế toán (gồm
14 điều, từ Điều 57 đến Điều 70). Chương này quy định về chứng chỉ kế toán viên;
đăng ký hành nghề dịch vụ kế toán; doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kế toán; điều
kiện cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kế toán; hồ sơ đề nghị
cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kế toán; thời hạn cấp Giấy
chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kế toán; cấp lại Giấy chứng nhận đủ
điều kiện kinh doanh dịch vụ kế toán; phí cấp, cấp lại Giấy chứng nhận đủ điều
kiện kinh doanh dịch vụ kế toán; hộ kinh doanh dịch vụ kế toán; những thay đổi
phải thông báo cho Bộ Tài chính; trách nhiệm của kế toán viên hành nghề, doanh
nghiệp kinh doanh dịch vụ kế toán, hộ kinh doanh dịch vụ kế toán; trường hợp
không được cung cấp dịch vụ kế toán; đình chỉ kinh doanh dịch vụ kế toán và thu
hồi Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kế toán, Giấy chứng nhận
đăng ký hành nghề dịch vụ kế toán; tổ chức nghề nghiệp về kế
toán. -
Chương V. Quản lý nhà nước về kế toán (gồm
01 điều là Điều 71). Chương này quy định về quản lý nhà nước về kế
toán. -
Chương VI. Điều khoản thi hành (gồm
03 điều, từ Điều 72 đến Điều 74) quy định về hiệu lực thi hành; điều khoản
chuyển tiếp và quy định chi tiết. IV. NỘI DUNG SỬA ĐỔI, BỔ SUNG CƠ
BẢN 1. Về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng (Điều 1,
Điều 2) Kế thừa phạm vi điều chỉnh của Luật kế toán năm 2003,
Luật 2015 bổ sung “tổ chức nghề nghiệp về kế toán”. Như vậy, phạm vi điều chỉnh của Luật
bao gồm: “... nội dung công tác kế toán, tổ chức bộ máy kế toán, người làm kế
toán, hoạt động kinh doanh dịch vụ kế toán, quản lý nhà nước về kế toán và tổ
chức nghề nghiệp về kế toán.” (Điều 1) Về đối tượng áp dụng để đảm bảo tính bao quát, đầy đủ,
ngoài việc kế thừa đối tượng áp dụng của Luật năm 2003, Luật năm 2015 đã bổ
sung: các cơ quan, tổ chức có nhiệm vụ thu, chi ngân sách nhà nước các cấp (cơ
quan thuế, hải quan, kho bạc nhà nước); kế toán viên hành nghề, doanh nghiệp
dịch vụ kế toán. 2. Về đối tượng kế toán (Điều
8) Theo Luật kế toán năm 2003, đối tượng kế toán bao gồm 4
nhóm: Ngân sách nhà nước và các đơn vị sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước
(NSNN); Đơn vị, tổ chức không sử dụng kinh phí NSNN; Các doanh nghiệp thuộc mọi
thành phần kinh tế; Các đối tượng thuộc lĩnh vực ngân hàng, tín dụng, bảo hiểm,
chứng khoán, đầu tư tài chính (Điều 9). Để phù hợp với sự điều chỉnh về tên gọi
của một số đối tượng theo Hiến pháp 2013 và một số luật mới ban hành, Luật 2015
đã thay đổi tên gọi một số đối tượng như: “Tài sản công”, “nợ công” thay cho cụm
từ “tài sản nhà nước”, “nợ nhà nước” cho phù hợp. Theo đó, Điều 8 của Luật quy
định đối tượng kế toán bao gồm: - Nhóm 1. Đối tượng kế toán thuộc hoạt động thu, chi ngân
sách nhà nước, hành chính, sự nghiệp; hoạt động của đơn vị, tổ chức sử dụng ngân
sách nhà nước gồm: Tiền, vật tư và tài sản cố định; Nguồn kinh phí, quỹ; Các
khoản thanh toán trong và ngoài đơn vị kế toán; Thu, chi và xử lý chênh lệch
thu, chi hoạt động; Thu, chi và kết dư ngân sách nhà nước; Đầu tư tài chính, tín
dụng nhà nước; Nợ và xử lý nợ công; Tài sản công; Tài sản, các khoản phải thu,
nghĩa vụ phải trả khác có liên quan đến đơn vị kế
toán. - Nhóm 2. Đối tượng kế toán thuộc hoạt động của đơn vị,
tổ chức không sử dụng ngân sách nhà nước gồm tài sản, nguồn hình thành tài sản
theo quy định bao gồm: Tiền, vật tư và tài sản cố định; Nguồn kinh phí, quỹ; Các
khoản thanh toán trong và ngoài đơn vị kế toán; Thu, chi và xử lý chênh lệch
thu, chi hoạt động; Tài sản, các khoản phải thu, nghĩa vụ phải trả khác có liên
quan đến đơn vị kế toán. - Nhóm 3. Đối tượng kế toán thuộc hoạt động kinh doanh,
trừ hoạt động quy định tại nhóm 4, gồm: Tài sản; Nợ phải trả và vốn chủ sở hữu;
Doanh thu, chi phí kinh doanh, thu nhập và chi phí khác; Thuế và các khoản nộp
ngân sách nhà nước; Kết quả và phân chia kết quả hoạt động kinh doanh; Tài sản,
các khoản phải thu, nghĩa vụ phải trả khác có liên quan đến đơn vị kế
toán. - Nhóm 4. Đối tượng kế toán thuộc hoạt động ngân hàng,
tín dụng, bảo hiểm, chứng khoán, đầu tư tài chính gồm: Tài sản; Nợ phải trả và
vốn chủ sở hữu; Doanh thu, chi phí kinh doanh, thu nhập và chi phí khác; Thuế và
các khoản nộp ngân sách nhà nước; Kết quả và phân chia kết quả hoạt động kinh
doanh; Tài sản, các khoản phải thu, nghĩa vụ phải trả khác có liên quan đến đơn
vị kế toán; Các khoản đầu tư tài chính, tín dụng; Các khoản thanh toán trong và
ngoài đơn vị kế toán; Các khoản cam kết, bảo lãnh, giấy tờ có
giá. 3. Về nguyên
tắc kế toán (Điều 6) Kế thừa quy định về nguyên tắc hạch toán trong Điều 7
Luật kế toán năm 2003 và để phù hợp với chuẩn mực kế toán quốc tế, ngoài việc
hạch toán theo giá gốc, một số tài sản còn được hạch toán theo giá trị hợp lý
(có ý nghĩa là hạch toán theo giá thực tế của tài sản đó). Theo đó giá trị tài
sản và nợ phải trả được ghi nhận ban đầu theo giá gốc. Sau ghi nhận ban đầu, đối
với một số loại tài sản hoặc nợ phải trả mà giá trị biến động thường xuyên theo
giá thị trường và giá trị của chúng có thể xác định lại một cách đáng tin cậy
thì được ghi nhận theo giá trị hợp lý tại thời điểm cuối kỳ lập báo cáo tài
chính (Điều 6). Do việc xác định và hạch toán theo giá trị hợp lý có tính
kỹ thuật, vì vậy Luật giao Bộ Tài chính quy định cụ thể các tài sản và nợ phải
trả được ghi nhận và đánh giá lại theo giá trị hợp lý, phương pháp kế toán ghi
nhận và đánh giá lại theo giá trị hợp lý. 4.
Về
chuẩn mực kế toán (Điều 7) Theo
Luật năm 2003, chuẩn mực kế toán gồm những nguyên tắc và phương pháp kế toán cơ
bản để ghi sổ kế toán và lập báo cáo tài chính, Bộ Tài chính có trách nhiệm quy
định chuẩn mực kế toán trên cơ sở chuẩn mực quốc tế về kế toán và theo quy định
của Luật kế toán. Trên cơ sở đó, Bộ Tài chính đã ban hành 26 chuẩn mực kế toán
làm cơ sở cho việc hạch toán kế toán. Tuy nhiên do chuẩn mực kế toán quốc tế có
nhiều thay đổi, trong điều kiện cơ chế của Việt Nam cũng có thay đổi theo hướng
cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Vì vậy, Bộ Tài chính đang soạn
thảo ban hành các chuẩn mực kế toán mới, thay thế các chuẩn mực kế toán trước
đây. Để
phù hợp với chuẩn mực kế toán quốc tế, Luật năm 2015 bổ sung thêm Chuẩn mực đạo
đức nghề nghiệp (Điều 7). Theo đó, chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kế toán gồm
những quy định và hướng dẫn về nguyên tắc, nội dung áp dụng các tiêu chuẩn đạo
đức nghề nghiệp đối với người làm kế toán, kế toán viên hành nghề, doanh nghiệp
và hộ kinh doanh dịch vụ kế toán. Việc bổ sung quy định về chuẩn mực đạo đức
nghề nghiệp kế toán giúp cho người làm kế toán, người kinh doanh dịch vụ kế toán
đảm bảo tuân thủ quy định chung của nghề nghiệp kế toán. Do
nội dung của các chuẩn mực rất cụ thể, mang tính kỹ thuật cao, mặt khác các nội
dung và nguyên tắc chuẩn mực kế toán quốc tế thường thay đổi, vì vậy, Luật giao
cho Bộ Tài chính quy định chuẩn mực kế toán, chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kế
toán trên cơ sở chuẩn mực quốc tế về kế toán nhằm phù hợp với điều kiện cụ thể
của Việt Nam. 5. Về
chế độ kế toán (từ Điều 16 đến Điều 33) Theo quy định của Luật 2015, chế độ kế toán bao gồm các
nội dung: Chứng từ kế toán; Tài khoản kế toán và sổ kế toán; Báo cáo tài chính.
Để cụ thể hóa các nội dung này, Luật đã làm rõ các quy định về nội dung chứng từ
kế toán, lập và lưu trữ chứng từ kế toán, ký chứng từ kế toán, hóa đơn bán hàng,
quản lý, sử dụng chứng từ kế toán,...; Tài khoản kế toán và sổ kế toán; lựa chọn
và áp dụng hệ thống tài khoản kế toán; Sổ kế toán và hệ thống sổ kế toán; việc
lựa chọn và áp dụng hệ thống sổ kế toán; Mở sổ, ghi sổ, khóa sổ kế toán, sửa
chữa sổ kế toán,...; Các loại báo cáo tài chính, lập báo cáo tài chính, thời hạn
nộp báo cáo tài chính, nội dung công khai báo cáo tài chính, hình thức và thời
hạn công khai báo cáo tài chính, kiểm toán báo cáo tài chính,...
Theo
đó, các nội dung được làm rõ hơn bao gồm: danh mục hóa đơn chứng từ, số ký hiệu
các tài khoản, phương pháp hạch toán các nghiệp vụ, sổ kế toán, báo cáo tài
chính. Luật 2015 tiếp tục giao Bộ Tài chính hướng dẫn quy định chi tiết về báo
cáo tài chính cho từng lĩnh vực hoạt động, trách nhiệm, đối tượng, phương pháp
lập, thời hạn nộp, nơi nhận báo cáo và công khai báo cáo tài chính. - Về chứng từ điện tử và sổ kế toán: Kế thừa quy định về
chứng từ điện tử, sổ kế toán trên phương tiện điện tử sau khi khóa sổ được in ra
giấy, làm các thủ tục và lưu trữ theo quy định, Luật năm 2015 bổ sung quy định
đối với trường hợp không in ra giấy mà thực hiện lưu trữ trên các phương tiện
điện tử thì phải bảo đảm an toàn, bảo mật thông tin dữ liệu và phải bảo đảm tra
cứu được trong thời hạn lưu trữ. (Điều 18, Điều 26) - Về
hóa đơn bán hàng: Luật thay cụm từ “hóa đơn bán hàng” bằng cụm từ “hóa đơn” cho
phù hợp với thực tế vì các giao dịch hiện nay không phải chỉ có hóa đơn bán
hàng. Đây là chứng từ để làm căn cứ hạch toán và quyết toán thuế với Nhà nước (
Điều 20). - Về
tài khoản kế toán: Luật bổ sung quy định về các hệ thống tài khoản kế toán áp
dụng cho đơn vị kế toán có nhiệm vụ thu, chi ngân sách nhà nước, đơn vị sử dụng
ngân sách nhà nước, đơn vị không sử dụng ngân sách nhà nước, doanh nghiệp và đơn
vị kế toán khác (Điều 22). 6. Về
báo cáo tài chính nhà nước (Điều 30) Báo
cáo tài chính nhà nước là báo cáo tổng hợp về nguồn vốn và sử dụng vốn của quốc
gia (hoặc địa phương), bao gồm các chỉ tiêu như: Thu chi ngân sách nhà nước, các
quỹ tài chính nhà nước, nợ công, khoản vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp, các
tài sản công và nguồn vốn, tài sản khác của nhà nước. Qua
kinh nghiệm quốc tế cho thấy có nước không lập báo cáo tài chính nhà nước tổng
hợp mà thể hiện bằng các báo cáo tài chính riêng biệt, song cũng có nước lập báo
cáo tài chính tổng hợp (như: Mỹ, Nam Phi, Canada, Singapore, Hàn Quốc). Về chỉ
tiêu báo cáo các nước cũng có sự khác biệt nhất định, tuy nhiên báo cáo tài
chính các nước bao gồm: Báo cáo tình hình tài chính nhà nước; Báo cáo kết quả
hoạt động tài chính nhà nước; Báo cáo lưu chuyển tiền tệ và Thuyết minh báo cáo
tài chính nhà nước. Việc lập báo cáo tài chính nhà nước là nội dung mới trong
công tác kế toán Việt Nam, mặt khác các chỉ tiêu thống kê, đánh giá tổng hợp
chưa thực sự hoàn chỉnh, vì vậy Luật đã quy định một số nguyên tắc cơ bản như
sau: - Nội dung của báo cáo tài chính nhà nước, bao gồm: Thu
chi ngân sách nhà nước, nợ công, các quỹ tài chính nhà nước, vốn nhà nước đầu tư
tại doanh nghiệp, tài sản hình thành từ vốn nhà
nước. - Báo cáo tài chính nhà nước bao gồm 4 loại: Báo cáo tình
hình tài chính nhà nước; Báo cáo kết quả hoạt động tài chính nhà nước; Báo cáo
lưu chuyển tiền tệ; Thuyết minh báo cáo tài chính nhà
nước. Bộ
Tài chính chịu trách nhiệm lập báo cáo tài chính nhà nước trên phạm vi toàn
quốc, trình Chính phủ để báo cáo Quốc hội; chỉ đạo các cơ quan tài chính, kho
bạc nhà nước lập báo cáo tài chính thuộc phạm vi địa phương, trình Ủy ban nhân
dân để báo cáo Hội đồng nhân dân cùng cấp. Các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, tổ chức kinh tế
và các đơn vị có liên quan có trách nhiệm lập báo cáo của đơn vị mình và cung
cấp thông tin tài chính cần thiết phục vụ việc lập báo cáo tài chính nhà nước
trên phạm vi toàn quốc và từng địa phương. - Đối với các quy định như trình tự, thủ tục lập, công
khai báo cáo tài chính nhà nước Luật giao cho Chính phủ hướng
dẫn. 7.
Các hành vi bị cấm (Điều 13) Luật năm 2015 đã bổ sung các hành vi bị cấm để bao hàm
tất cả các hành vi gian lận, sai phạm trong quá trình thực hiện luật, tạo cơ sở
pháp lý cho việc xử lý vi phạm. Theo đó, các hành vi được bổ sung bao gồm: (a)
Lập hai hệ thống sổ kế toán tài chính trở lên hoặc cung cấp, công bố các báo cáo
tài chính có số liệu không đồng nhất trong cùng một kỳ kế toán; (b) Thuê, mượn,
cho thuê, cho mượn chứng chỉ kế toán viên, Giấy chứng nhận đăng ký hành nghề
dịch vụ kế toán dưới mọi hình thức; (c) Kinh doanh dịch vụ kế toán khi chưa được
cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kế toán hoặc hành nghề dịch
vụ kế toán khi không bảo đảm điều kiện quy định của Luật này; (d) Thuê cá nhân,
tổ chức không đủ điều kiện hành nghề, điều kiện kinh doanh dịch vụ kế toán cung
cấp dịch vụ kế toán cho đơn vị mình; (e) Kế toán viên hành nghề và doanh nghiệp
kinh doanh dịch vụ kế toán thông đồng, móc nối với khách hàng để cung cấp, xác
nhận thông tin, số liệu kế toán sai sự thật,.... 8. Về
kiểm soát nội bộ và kiểm toán nội bộ (Điều 39) Luật
năm 2015 đã bổ sung quy định về kiểm soát nội bộ và kiểm toán nội bộ để tăng
cường kỷ cương, kỷ luật trong công tác kế toán (Điều 39). - Về kiểm soát nội bộ: Luật quy định đơn vị phải thiết
lập hệ thống kiểm soát nội bộ để bảo đảm (a) Tài sản của đơn vị được bảo đảm an
toàn, tránh sử dụng sai mục đích, không hiệu quả; (b) Các nghiệp vụ được phê
duyệt đúng thẩm quyền và được ghi chép đầy đủ làm cơ sở cho việc lập và trình
bày báo cáo tài chính trung thực, hợp lý. - Về
kiểm toán nội bộ: Luật quy định
kiểm toán nội bộ là việc kiểm tra, đánh giá, giám sát tính đầy đủ, thích hợp và
tính hữu hiệu của kiểm soát nội bộ. Đồng thời quy định nhiệm vụ cụ thể của kiểm
toán nội bộ và giao Chính phủ quy định chi tiết về kiểm toán nội bộ trong doanh
nghiệp, cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp. 9.
Về
trách nhiệm của người đại diện pháp luật của đơn vị kế toán và kế toán trưởng
(Điều 50, Điều 55) Kế
thừa quy định về trách nhiệm của người đại diện pháp luật của đơn vị kế toán bao
gồm tổ chức bộ máy kế toán, bố trí người làm kế toán trưởng, tổ chức chỉ đạo
thực hiện công tác kế toán... (Điều 49 Luật năm 2003) Luật năm 2015 bổ sung
trách nhiệm người đại diện pháp luật của đơn vị kế toán bao gồm: (a) Chịu trách
nhiệm liên đới đối với những sai phạm do người khác gây ra nhưng thuộc trách
nhiệm quản lý của mình; (b) Tổ chức kiểm tra kế toán trong nội bộ đơn vị và thực
hiện kiểm tra kế toán các đơn vị cấp dưới (Điều 50). Ngoài ra, Luật còn bổ sung
trách nhiệm của kế toán trưởng phải lập báo cáo tài chính tuân thủ chế độ kế
toán và chuẩn mực kế toán. (Điều 55) 10.
Về việc tăng cường tính công khai, minh bạch (Điều 32) Theo Khoản 4, Điều 33 Luật kế toán năm 2003, đơn vị kế toán thuộc hoạt động kinh doanh phải
công khai báo cáo tài chính năm trong thời hạn một trăm hai mươi (120) ngày, kể
từ ngày kết thúc kỳ kế toán năm. Tuy nhiên, do tính chất đặc thù nên Luật các tổ chức tín
dụng, Luật chứng khoán lại quy định cụ thể về đối tượng, nội dung, hình thức
công khai báo cáo tài chính. (pháp luật về chứng khoán quy định về soát xét báo
cáo tài chính bán niên (6 tháng) hoặc quy định về kiểm toán độc lập được chấp
thuận “kiểm toán báo cáo tài chính đối với đơn vị có lợi ích công chúng” (cả
Luật kiểm toán độc lập, Luật các tổ chức tín dụng, Luật chứng khoán đều quy
định)). Vì vậy, để bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật, Luật
đã bổ sung quy định về việc thực hiện theo pháp luật chuyên ngành (chứng khoán,
tín dụng, bảo hiểm) có quy định cụ thể về hình thức, thời hạn công khai đối với
báo cáo tài chính khác với quy định của Luật kế toán thì theo quy định của pháp
luật về lĩnh vực đó (Khoản 4 Điều 32). 11.
Về
kinh doanh dịch vụ kế toán (từ Điều 57 đến Điều 69) -
Luật năm 2015 bổ sung quy định về “kế toán viên hành nghề” là người
được cấp Giấy chứng nhận đăng ký hành nghề dịch vụ kế toán theo quy định của
Luật
(Khoản 11 Điều 3). Theo đó người có chứng chỉ kế toán viên hoặc chứng chỉ kiểm
toán viên: Có năng lực hành vi dân sự; Có thời gian công tác thực tế về tài
chính, kế toán, kiểm toán từ 36 tháng trở lên kể từ thời điểm tốt nghiệp đại
học; Tham gia đầy đủ chương trình cập nhật kiến thức sẽ đăng ký hành nghề và
được công nhận là kế toán viên hành nghề (Điều 58). -
Luật năm 2015 còn quy
định rõ
hơn về điều kiện kinh doanh dịch vụ kế toán. Theo đó, đối
với doanh nghiệp phải
có ít nhất 2 người là kế toán viên hành nghề (điểm b khoản 1 Điều 60), đối với
cá nhân phải thành lập hộ kinh doanh và cá nhân đó phải là kế toán viên hành
nghề (điểm b khoản 1 Điều 65). -
Ngoài ra, Luật 2015 còn bổ sung các quy định về điều kiện, hồ sơ, thời hạn cấp
Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kế toán đảm bảo tính minh bạch,
rõ ràng, thuận lợi cho tổ chức, cá nhân thực hiện các thủ tục hành chính; Quy
định rõ về trách nhiệm của kế toán viên hành nghề, doanh nghiệp, hộ kinh doanh
dịch vụ kế toán; Quy định các trường hợp không được cung cấp dịch vụ kế toán;
Quy định các trường hợp bị đình chỉ kinh doanh dịch vụ kế toán, bị thu hồi Giấy
chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kế toán đối với doanh nghiệp, hộ kinh
doanh và bị đình chỉ hành nghề đối với kế toán viên hành nghề. 12.
Về tổ
chức nghề nghiệp kế toán
(Điều 70) Hiện
nay tổ chức nghề nghiệp kế toán đã được thành lập (Hội Kế toán và Kiểm toán Việt
Nam). Việc thành lập tổ chức và hoạt động của Hội được thực hiện theo quy định
pháp luật về hội và phải có trách nhiệm tuân thủ quy định pháp luật về kế toán.
Tuy nhiên, Luật kế toán năm 2003 chưa có quy định về chủ thể này. Trong khi đó,
theo Luật kiểm toán độc lập, Hội nghề nghiệp về kế toán được tham gia bồi dưỡng
kế toán cho các kế toán viên, kế toán viên hành nghề, được tổ chức đào tạo, bồi
dưỡng, thi lấy chứng chỉ hành nghề kế toán và thực hiện một số nhiệm vụ liên
quan đến hoạt động kế toán như tham gia xây dựng chuẩn mực, giám sát hoạt động
của các kế toán viên, kế toán viên hành nghề là hội viên của Hội. Vì vậy để
bảo
đảm đồng nhất với Luật kiểm toán độc lập, Luật năm 2015 đã quy định cụ thể về tổ
chức nghề nghiệp kế toán tại Điều 70. 13. Về quản lý nhà nước đối với lĩnh vực kế toán (Điều
71) - Kế thừa quy định về quản lý nhà nước trong lĩnh vực kế
toán trong Luật kế toán năm 2003, Luật tiếp tục quy định trách nhiệm của Chính
phủ, Bộ Tài chính, các Bộ ngành có liên quan, UBND cấp tỉnh trong việc quản lý
về lĩnh vực kế toán (bao gồm các nội dung về xây dựng chiến lược, chính sách
phát triển kế toán; văn bản QPPL về kế toán...). Để làm rõ hơn nội dung quản lý
nhà nước về kế toán, bao gồm cả việc quản lý hoạt động hành nghề dịch vụ kế
toán, quy định về thẩm quyền trong việc cấp, đình chỉ, thu hồi giấy chứng nhận
đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kế toán và giấy chứng nhận đăng ký hành nghề
dịch vụ kế toán, giám sát việc tuân thủ chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán.
Luật năm 2015 đã bổ sung nội dung này cho đầy đủ (Điều
71). V. TỔ
CHỨC THỰC HIỆN 1. Xây dựng văn bản hướng dẫn thi hành Luật kế
toán Để triển khai Luật kế toán năm 2015, trong thời gian tới,
Bộ Tài chính sẽ nghiên cứu, trình Chính phủ ban hành các Nghị định sau đây:
- Nghị định quy định chi tiết
và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật kế toán trong lĩnh vực kế
toán; -
Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật kế toán
trong hoạt động kinh doanh; -
Nghị định hướng dẫn về kiểm toán nội bộ trong các doanh nghiệp, cơ quan nhà
nước, đơn vị sự nghiệp. 2.
Tuyên truyền, phổ biến về Luật kế toán - Thực hiện Kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật năm
2015 của Bộ Tài chính ban hành kèm theo Quyết định số 2739/QĐ-BTC, năm 2016 và
các năm tiếp theo, Bộ Tài chính sẽ tổ chức giới thiệu, tập huấn, phổ biến Luật
thông qua các cơ quan báo chí trong và ngoài ngành Tài chính, nhất là với các
doanh nghiệp và các tổ chức khác là đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của
Luật. Ngoài ra, Bộ sẽ thực hiện các chuyên mục, chương trình, tin, bài phổ biến
Luật và các văn bản hướng dẫn thi hành trên website, báo chí, truyền hình trung
ương và địa phương. Đồng thời tăng cường phổ biến theo chuyên đề tuyên truyền
của Bộ Tài chính với VTV trên các Chương trình của Đài truyền hình Việt
Nam./. |
ĐƠN VỊ HỖ TRỢ
|