|
|
KẾ TOÁN - THUẾ - DOANH NGHIỆP - LAO ĐỘNG |
|
|
|
|
BỘ TƯ PHÁP VỤ
PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT ----------- BỘ
XÂY DỰNG CỤC
QUẢN LÝ NHÀ VÀ THỊ TRƯỜNG BẤT ĐỘNG SẢN ---------------- ĐỀ
CƯƠNG GIỚI
THIỆU LUẬT NHÀ Ở Ngày
25 tháng 11 năm 2014, tại kỳ họp
thứ 8, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII đã
thông qua Luật nhà ở số 65/2014/QH13 (sau đây gọi tắt là Luật nhà ở năm 2014).
Chủ tịch nước đã ký Lệnh công bố ngày 08 tháng 12 năm 2014 và Luật có
hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
I. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH LUẬT Nhà
ở là tài sản quan trọng, có liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống
kinh tế-xã hội như quy hoạch, đất đai, tài chính, đầu tư…và có liên quan
đến nhiều chủ thể như chính quyền, các doanh nghiệp và người dân. Để
có cơ sở pháp lý điều chỉnh toàn diện các vấn đề về nhà ở, ngày 29/11/2005
Quốc hội đã thông qua Luật nhà ở (Luật này có hiệu lực thi hành kể từ ngày
01/7/2006), tiếp đó năm 2008, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số
19/2008/QH12 về việc thí điểm cho tổ chức, cá nhân nước ngoài mua và sở hữu nhà
ở tại Việt Nam và đến năm 2009, Quốc hội tiếp tục thông qua Luật số
34/2009/QH12 về sửa đổi, bổ sung Điều 126 Luật nhà ở và Điều 121 Luật đất đai
để mở rộng đối tượng người Việt Nam định cư ở nước ngoài được mua và sở hữu
nhà ở tại Việt Nam. Sau khi Quốc hội thông qua các văn bản luật nêu trên,
Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các Bộ, ngành có liên quan đã ban hành
nhiều văn bản quy phạm pháp luật để hướng dẫn thi hành.
Sau
gần 8 năm triển khai thực hiện Luật Nhà ở, lĩnh vực nhà ở đã đạt
được những thành tựu quan trọng, giải quyết cơ bản được nhu cầu về
nhà ở của người dân, đặc biệt là việc hỗ trợ cải thiện nhà ở cho
các đối tượng chính sách xã hội, người thu nhập thấp, người nghèo
có khó khăn về nhà ở, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - xã
hội của đất nước, từng bước bảo đảm an sinh xã hội. Luật nhà ở năm
2005 và các văn bản sửa đổi, bổ sung đã tạo một hành lang pháp lý tương
đối hoàn chỉnh để điều chỉnh hầu hết các vấn đề liên quan đến lĩnh vực nhà ở.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được thì cũng đã xuất hiện
nhiều tồn tại, vướng mắc trong quá trình thực thi các văn bản pháp
luật về nhà ở, cụ thể là: 1.
Sự
bất cập trong cơ
chế, chính sách phát triển nhà ở Các quy định của Luật Nhà ở trong thời gian vừa qua
đã đề cập tương đối đầy đủ các vấn đề liên quan đến nhà ở, nhiều
quy định đã đi vào cuộc sống và có tác động tích cực đến đời sống
của người dân. Tuy vậy, vẫn còn nhiều quy định chưa có tính thực thi
trên thực tế, chưa khuyến khích các chủ thể tham gia phát triển nhà
ở, đặc biệt là nhà ở xã hội, nhà ở giá rẻ, dẫn đến chưa tạo điều
kiện để tăng nguồn cung cho thị trường, làm cho quan hệ cung - cầu về
nhà ở vẫn còn mất cân đối và nhiều bất cập. Tại các đô thị lớn như Trong
thời gian vừa qua, các quy định của Luật Nhà ở mới chỉ tập trung vào
việc khuyến khích đầu tư xây dựng nhà ở thương mại để tăng nguồn cung
cho thị trường mà chưa quan tâm nhiều đến các cơ chế ưu đãi nhằm phát
triển nhà ở giá rẻ cho người nghèo, người có thu nhập thấp tại khu
vực đô thị, nên có một bộ phận lớn người dân gặp khó khăn về nhà ở
nhưng không có điều kiện về tài chính để tạo lập chỗ ở. Mặc dù vừa
qua, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành một số chính sách
riêng để khuyến khích đầu tư xây dựng nhà ở giá rẻ cho người nghèo,
người có thu nhập thấp tại khu vực đô thị, nhưng trên thực tế việc
triển khai thực hiện vẫn còn gặp nhiều khó khăn, do cơ sở pháp lý
chưa cao, chưa tạo ra được các ưu đãi cụ thể để khuyến khích các doanh
nghiệp, các cá nhân tham gia đầu tư xây dựng loại nhà ở này, như các
cơ chế ưu đãi về thuế, về đất đai, thủ tục đầu tư...
Cơ
chế, chính sách về đầu tư xây dựng các dự án nhà ở có quy mô lớn,
đồng bộ về hạ tầng và chính sách về cải tạo các khu nhà ở, khu
chung cư cũ còn chưa đầy đủ và chưa cụ thể, chưa đáp ứng được yêu cầu
đặt ra, các địa phương vẫn chủ yếu thực hiện đầu tư xây dựng các dự
án nhà ở có quy mô nhỏ, thiếu đồng bộ về hệ thống hạ tầng, đặc
biệt là hệ thống hạ tầng xã hội. Đối với việc cải tạo, xây dựng
lại các khu nhà ở cũ thì hầu như chưa được triển khai thực hiện trên
thực tế. Hiện
nay, Luật Nhà ở cũng chưa có quy định cụ thể để điều tiết thị
trường nhà ở nhằm bảo đảm cho thị trường nhà ở phát triển cân bằng,
đặc biệt là điều tiết về giá cả, các phân khúc nhà ở, các loại
nhà ở và quản lý chặt chẽ hoạt động kinh doanh bất động sản nên vẫn
còn xảy ra tình trạng mất cân bằng giữa các loại nhà ở, giá cả nhà ở
vẫn cao hơn so với thực tế, người có nhu cầu thực sự về chỗ ở thì
không có khả năng tạo lập nhà ở, trong khi những người tham gia đầu tư
thì lại có điều kiện thực hiện đầu tư làm cho giá nhà ở tăng quá
cao vì phải qua nhiều khâu trung gian. Luật
Nhà ở cũng chưa có quy định cụ thể về việc cung cấp các thông tin có
liên quan trong lĩnh vực nhà ở nói riêng và bất động sản nói chung như:
thông tin về quy hoạch, chính sách, các dự án, thông tin về giá
cả….nên các doanh nghiệp, các nhà đầu tư và những người tham gia mua
bán, cho thuê nhà ở vẫn còn thiếu nhiều thông tin, gây khó khăn cho
hoạt động đầu tư, kinh doanh. Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến thị
trường nhà ở phát triển không minh bạch, không lành mạnh và thiếu bền
vững. 2.
Sự thiếu đồng bộ giữa các quy định về nhà ở với các quy định về
đất đai, đầu tư, quy hoạch và tài chính Lĩnh
vực nhà ở có liên quan đến nhiều lĩnh vực khác như: quy hoạch, đất
đai, đầu tư xây dựng, tài chính..., trong đó mỗi một lĩnh vực lại
thuộc chức năng quản lý của một cơ quan Nhà nước khác nhau, như vấn
đề đất đai thuộc chức năng quản lý của Bộ Tài nguyên và Môi trường,
vấn đề thủ tục đầu tư thuộc chức năng quản lý của Bộ Kế hoạch -
Đầu tư, vấn đề tài chính, thuế thuộc chức năng quản lý của Bộ Tài
chính...Do đó, các quy định về nhà ở mặc dù đã được ban hành nhưng
vẫn chưa đồng bộ, chưa thống nhất và còn gây nhiều khó khăn cho hoạt
động kinh doanh nhà ở của các doanh nghiệp. Quy
hoạch xây dựng được coi là yếu tố quan trọng cần đi trước một bước,
tuy nhiên hiện nay vấn đề quy hoạch xây dựng, đặc biệt là quy hoạch chi
tiết các khu vực đô thị, cụm dân cư nông thôn vẫn còn thiếu và chưa
đồng bộ, các quy định về lập quy hoạch xây dựng tại khu vực nông thôn
vẫn còn chung chung, chưa rõ ràng đã dẫn đến công tác lập, phê duyệt
quy hoạch còn rất chậm, nhiều nơi vần còn bỏ trống về quy hoạch, do
đó việc phát triển nhà ở, đặc biệt là tại khu vực nông thôn và các
vùng giáp ranh giữa đô thị và nông thôn vẫn còn thiếu đồng bộ giữa
nhà ở và cơ sở hạ tầng, nhiều khu vực nhà ở được xây dựng khang
trang nhưng thiếu hệ thống cấp nước sạch, thoát nước thải, gây úng
ngập cục bộ, làm mất vệ sinh môi trường… Thủ
tục trong đầu tư xây dựng nhà ở được quy định theo pháp luật về nhà
ở và pháp luật về đầu tư chưa có sự thống nhất, việc Luật Đầu tư
quy định các chủ đầu tư trong nước phải làm thủ tục để đăng ký đầu
tư hoặc cấp giấy chứng nhận đầu tư đã gây thêm thủ tục phiền hà, làm
tăng chi phí và mất nhiều thời gian cho các chủ đầu tư.
Các
quy định về việc tạo quỹ đất cho phát triển nhà ở, đặc biệt là để
xây dựng nhà ở giá thấp, các quy định về giao đất, cho thuê đất vẫn
còn mang nặng tính xin - cho, chưa có tính cạnh tranh cao thông qua các
hình thức như đấu thầu, đấu giá nên nhiều chủ đầu tư mặc dù đã được
giao đất làm dự án nhưng không có khả năng tài chính để thực hiện dự
án, dẫn đến làm chậm tiến độ thực hiện, làm hạn chế nguồn cung về
nhà ở cho thị trường, dẫn đến hiện tượng sốt giá nhà đất, gây mất
ổn định trong hoạt động đầu tư kinh doanh bất động
sản.
Các quy định về thủ tục thu, nộp tài chính (tiền sử dụng đất,
tiền thuê đất), các khoản thuế, lệ phí, phí liên quan đến vấn đề nhà
ở vẫn còn rườm rà, gây khó khăn cho các tổ chức, cá nhân tham gia đầu
tư, kinh doanh nhà ở. Quy định về thủ tục nộp thuế thu nhập cá nhân
khi chuyển nhượng bất động sản còn phức tạp, mất nhiều thời gian. Cơ
chế về thu chênh lệch địa tô trong sử dụng đất đai vẫn chưa được đặt
ra, nhiều khu vực có dự án nhà ở, dự án khu đô thị mới được triển
khai xây dựng, các doanh nghiệp đã đầu tư kinh phí để xây dựng hệ
thống hạ tầng kỹ thuật đồng bộ, tuy nhiên Nhà nước vẫn chưa có chính
sách để điều tiết chênh lệch địa tô của những đối tượng được hưởng
lợi từ việc sử dụng hệ thống hạ tầng kỹ thuật đã được xây
dựng. 3.
Giá nhà ở tăng cao gây ảnh hưởng không tốt đến việc tạo lập về chỗ
ở của người dân Mặc
dù Nhà nước đã thực hiện nhiều chính sách để làm tăng nguồn cung về
nhà ở cho thị trường, góp phần làm giảm giá nhà ở nhằm tạo điều
kiện cho những người có thu nhập trung bình có khả năng tạo lập chỗ
ở. Tuy nhiên, do các quy định được ban hành chưa đồng bộ nên trong thời
gian vừa qua, giá nhà ở luôn tăng cao, vượt quá khả năng về tài chính
của một bộ phận lớn dân cư, đã dẫn đến sức ép về nhà ở ngày càng
tăng, đặc biệt là nhà ở tại khu vực đô thị, nhiều người dân, đặc
biệt là những người có thu nhập trung bình và thu nhập thấp không thể
tạo lập được chỗ ở cho bản thân và gia đình. 4.
Tình trạng mất cân đối về tỷ trọng các loại nhà ở, khoảng cách về
điều kiện ở của người dân ngày càng chênh lệch
cao Tốc
độ đô thị hoá nhanh cộng với tình hình gia tăng dân số cơ học làm cho vấn
đề nhà ở đô thị ngày càng trở nên bức xúc, giá nhà đất đô thị thường xuyên có
những biến động không phù hợp với thực trạng của nền kinh tế và thu nhập của
người lao động, gây tác động trực tiếp đến đời sống của đại đa số các tầng lớp
dân cư. Tình trạng thiếu nhà ở tại khu vực đô thị do nhiều hộ gia đình không đủ
khả năng tự tạo lập nhà ở đã dẫn tới các hiện tượng vi phạm pháp luật như lấn
chiếm đất công; cơi nới, xây dựng nhà ở trái phép, đầu cơ nhà đất xảy ra phổ
biến ở nhiều nơi. Trong khi đó, cơ cấu các loại nhà ở trên thị trường còn mất
cân đối, thiếu các loại nhà ở có diện tích và giá cả trung bình, thiếu vắng loại
hình nhà ở cho thuê. Mặt khác, hệ thống tài chính nhà ở chưa hoàn thiện, thị
trường nhà ở chủ yếu dựa vào nguồn tín dụng từ ngân hàng với lãi suất cao, càng
làm khó khăn hơn cho nỗ lực tạo lập nhà ở của những người làm công ăn lương.
Thực tế này đã làm tăng chênh
lệch giàu - nghèo giữa các tầng lớp dân cư ảnh hưởng tiêu cực đến
việc thực hiện chính sách an sinh xã hội của Đảng và Nhà nước.
5.
Sự thiếu đồng bộ trong chính sách đầu tư xây dựng nhà ở tại khu vực
nông thôn Trong
thời gian vừa qua, các quy định điều chỉnh về nhà ở tại khu vực nông
thôn vẫn còn hạn chế và chỉ mang tính nguyên tắc. Các chính sách chủ
yếu tập trung vào việc hỗ trợ, cải thiện nhà ở cho các hộ gia đình
nghèo và khu vực bị ngập lụt, chưa có những quy định cụ thể về việc
đầu tư xây dựng nhà ở tại khu vực này như vấn đề quy hoạch, kiến
trúc, yêu cầu, tiêu chuẩn và chất lượng nhà ở, vấn đề ứng phó với
biến đổi khí hậu... Pháp
luật về quy hoạch xây dựng đã có quy định phải lập quy hoạch đối với các điểm
dân cư nông thôn, nhưng cho đến nay kết quả đạt được của các địa phương
trong việc triển khai lập và phê duyệt quy hoạch chi tiết xây dựng điểm
dân cư nông thôn vẫn còn hạn chế. Vì vậy, mặc dù việc đầu tư xây dựng
nhà ở nông thôn trong những năm qua tuy đã có sự tăng trưởng về số lượng,
nhưng chủ yếu là phát triển tự phát, thiếu sự hướng dẫn, kiểm tra về
thiết kế, kiến trúc, kết nối hạ tầng, môi trường v.v... Chất lượng xây dựng
nhà ở nông thôn còn ở mức thấp, cuộc sống của đại bộ phận người dân tại
khu vực này vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra như: không đồng bộ
về hệ thống hạ tầng, kỹ thuật (như hệ thống cấp nước sạch, cấp
điện chiếu sáng, hệ thống xử lý vệ sinh môi trường…), đối với hệ
thống hạ tầng xã hội thì chưa đầy đủ.
Nhiều hộ gia đình nghèo, đặc biệt là tại các vùng sâu, vùng xa,
vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn, đòi hỏi Nhà nước cần sớm có chính sách
cụ thể để chính quyền địa phương triển khai thực hiện nhằm giúp các hộ
nghèo tại các khu vực này có điều kiện cải thiện chỗ ở. Hiện
nay, pháp luật về nhà ở chưa có quy định cụ thể trong việc xây dựng
nhà ở ứng phó với biến đổi khí hậu tại các khu vực thường xuyên bị
thiên tai, bão lũ như khu vực miền Trung, các tỉnh phía nam. Việc xây
dựng nhà ở tại các khu vực này mới chỉ tập trung đến việc bảo đảm
nhu cầu về diện tích chỗ ở, chưa có nghiên cứu, đánh giá cụ thể về
tác động của thiên tai đối với nhà ở để đưa ra các giải pháp trong
thiết kế, thi công xây dựng nhằm ứng phó hoặc hạn chế các thiệt hại
do thiên tai gây ra. 6.
Mô hình tổ chức phát triển nhà ở chưa đáp ứng được yêu cầu trong thời
kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Thời
gian vừa qua chỉ có một số đô thị lớn như Hà Nội, TP.Hồ
Chí Minh, TP.Đà
Nẵng…thực hiện việc phát triển nhà ở theo dự án, còn lại nhiều địa
phương chủ yếu vẫn thực hiện hình thức chia lô, bán nền để người dân
tự xây dựng nhà ở. Nhà ở được xây dựng thiếu quy hoạch, trái quy
hoạch, dọc các trục đường giao thông, các đê sông, kênh rạch đang diễn
ra phổ biến ở nhiều địa phương. Quy mô các dự án vẫn còn nhỏ lẻ, chưa
bảo đảm kết nối đồng bộ giữa các dự án với nhau và trong khu vực,
dẫn đến sau khi dự án được hoàn thành thì các dịch vụ đô thị vẫn chưa
đáp ứng kịp nhu cầu của người dân, như thiếu hệ thống hạ tầng xã hội,
thiếu kết nối với hạ tầng chung. Các
địa phương chưa chủ động ban hành Kế hoạch phát triển nhà ở của địa phương
mình nên việc phát triển nhà ở chủ yếu vẫn phụ thuộc vào tiến độ thực
hiện dự án của các chủ đầu tư, doanh nghiệp kinh doanh nhà, chính quyền các địa
phương chưa chủ động được trong cân đối cung - cầu cho thị trường nhà ở, thiếu
quỹ đất để phát triển nhà ở cho các đối tượng có thu nhập trung bình và thu nhập
thấp. Hiện
nay, Nhà nước mới chỉ khuyến khích các doanh nghiệp tham gia xây dựng
nhà ở theo dự án mà chưa khuyến khích các cá nhân tham gia vào lĩnh
vực này, đặc biệt là việc xây dựng nhà ở để phục vụ cho các đối
tượng có khó khăn, người nghèo, người thu nhập thấp. Quy mô các dự án
vẫn còn nhỏ lẻ, chưa bảo đảm kết nối đồng bộ giữa các dự án với
nhau và trong khu vực, kiến trúc công trình và nhà ở tại các dự án
vẫn thiếu nhất quán và không hợp lý, dẫn đến sau khi dự án được
hoàn thành thì việc sử dụng nhà ở của người dân vẫn chưa bảo đảm
yêu cầu đặt ra, như thiếu hệ thống hạ tầng xã hội, hệ thống kết nối
với hạ tầng chung…Tồn tại chủ yếu về vấn đề này một phần do thiếu
các quy định của pháp luật, một phần do việc chỉ đạo thực hiện của
chính quyền địa phương vẫn chưa quyết liệt, chính quyền vẫn chưa quan
tâm sát sao đến vấn đề này. 7.
Hệ thống tài chính nhà ở còn thiếu đồng
bộ Mặc
dù Nhà nước đã có một số chính sách về tài chính, tín dụng bất
động sản, nhưng nhìn chung vẫn còn chưa cụ thể, rõ ràng, chưa có
chính sách riêng về tài chính nhà ở, các quy định về việc lập Quỹ
phát triển nhà ở, Quỹ tín thác bất động sản, Quỹ đầu tư bất động
sản, thị trường thế chấp bất động sản còn chưa hoàn thiện, nên chưa
tạo ra được cơ chế về tài
chính đủ mạnh để hỗ trợ cho thị trường nhà ở phát triển, do đó các chủ
đầu tư vẫn thiếu vốn cho đầu tư xây dựng nhà ở. Nguồn vốn cung cấp
cho thị trường nhà ở vẫn còn hạn chế, đặc biệt là nguồn vốn trung
hạn và dài hạn. Hành lang pháp lý cho các công cụ tài chính trên thị
trường bất động sản chưa hoàn thiện,
chưa
hình thành và phát triển các mô hình tổ chức tài chính
cho phát triển nhà ở.
Hệ thống pháp luật về thuế liên quan đến thị trường nhà ở, như thuế
chuyển mục đích sử dụng đất, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế chuyển nhượng
quyền sử dụng đất, thuế nhà đất... hiện hành không đủ mạnh không hạn chế được
tình trạng đầu cơ nhà đất. Thuế chuyển nhượng
bất động sản tuy có giảm nhưng vẫn còn cao, chưa khuyến khích phát triển
giao dịch nhà ở chính thức.
Hiện
nay, vẫn thiếu khung pháp lý để ngân hàng tham gia vào quan hệ tay ba: Chủ đầu
tư - Ngân hàng - Khách hàng để hỗ trợ về tín dụng cho thị trường nhà ở. Chưa
có quy định mọi giao dịch phải thanh toán qua ngân hàng để quản lý về thuế, giao
dịch và hạn chế rủi ro cho người dân khi thực hiện các giao dịch về nhà
ở.
8.
Các thủ tục hành chính trong lĩnh vực nhà ở còn rườm rà, phức
tạp
Mặc dù thủ tục hành chính
liên quan đến lĩnh vực phát triển nhà ở, như lập, thẩm định phê
duyệt quy hoạch, thẩm định và chấp thuận chủ trương đầu tư, thủ tục
giao đất, cho thuê đất, bồi thường giải phóng mặt bằng đã có nhiều
cải tiến và đổi mới trong thời gian gần đây. Tuy nhiên, do việc đầu tư
xây dựng nhà ở có liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau như đất đai,
đầu tư, xây dựng, tài chính, thuế, trong khi các thủ tục hành chính
về việc lập, thẩm định và phê duyệt dự án nhà ở đã có nhiều cải
tiến, giảm tối đa các thủ tục, nhưng các lĩnh vực còn lại vẫn chưa
được cải tiến nhiều, đặc biệt là trong lĩnh vực đất đai như vấn đề
giao đất, cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất...nên
các nhà đầu tư vẫn còn gặp nhiều khó khăn trong quá trình tiếp cận
và thực hiện các thủ tục hành chính khi triển khai các dự án phát
triển nhà ở, khu đô thị mới. Trên
thực
tế, Chính phủ đã ban hành một số cơ chế để cải cách thủ tục hành chính
trong đầu tư xây dựng đối với các dự án khu đô thị mới, dự án nhà ở, dự án hạ
tầng kỹ thuật khu công nghiệp, nhưng tại nhiều địa phương vẫn chưa thực
hiện nghiêm túc, nguyên nhân do có sự không thống nhất trong quy định này
với quy định của pháp luật về đầu tư, đất đai và sự quan tâm thích đáng
của chính quyền địa phương nên các doanh nghiệp đầu tư kinh doanh nhà ở
vẫn gặp vướng mắc về thủ tục hành chính khi triển khai dự án trong lĩnh vực
nhà ở.. 9.
Cơ cấu, bộ máy tổ chức quản lý nhà nước về nhà ở còn nhiều hạn
chế Hiện
nay, bộ máy và cơ cấu tổ chức quản lý nhà nước về nhà ở từ
Trung
ương đến địa phương vẫn còn mỏng về số lượng và yếu về chất lượng.
Ở Trung ương, đầu mối quản lý nhà nước về lĩnh vực này là Bộ Xây
dựng với cơ quan giúp việc cho Bộ trưởng để thực hiện chức năng quản
lý nhà nước về nhà ở trong cả nước chỉ có một cơ quan cấp Cục đảm
trách, trong khi lĩnh vực nhà ở là lĩnh vực phức tạp, có liên quan
đến nhiều lĩnh vực khác của nền kinh tế như quy hoạch, môi trường, y
tế, giáo dục…, nhiều Chương trình lớn, trọng điểm quốc gia về nhà ở
đã được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và giao Bộ Xây dựng
chỉ đạo, kiểm tra, giám sát việc thực hiện, nhưng do cơ cấu tổ chức
chưa tương xứng với nhiệm vụ được giao nên trên thực tế việc triển khai
thực hiện các cơ chế, chính sách, chương trình chưa đạt yêu cầu đề ra.
Tại các địa phương, cơ cấu tổ chức về quản lý nhà ở vẫn chưa được
hoàn thiện, một số Sở Xây dựng vẫn gộp chức năng quản lý nhà nước
về nhà ở và thị trường bất động sản cùng với một số bộ phận khác
như quy hoạch, hạ tầng…, những Sở Xây dựng đã thành lập Phòng Quản
lý nhà ở và thị trường bất động sản riêng thì số lượng cán bộ phụ
trách lại mỏng (chỉ có từ 3 đến 5 người), với trình độ chuyên môn,
nghiệp vụ vẫn còn yếu, chưa đáp ứng được yêu cầu về quản lý nhà ở
tại địa phương. Tại
cấp huyện, chức năng quản lý nhà nước về nhà ở được gộp vào chức
năng quản lý giao thông, công thương, xây dựng với số lượng cán bộ
chuyên trách về nhà ở và xây dựng chỉ từ 1 đến 3 người. Còn tại cấp
xã thì không có cán bộ chuyên trách riêng về nhà ở mà do cán bộ địa
chính cấp xã đảm nhận. Về
trình độ chuyên môn nghiệp vụ của những người làm trong lĩnh vực nhà
ở thì vẫn còn yếu, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trong lĩnh
vực nhà ở mặc dù đã từng bước được Nhà nước quan tâm nhưng nhìn
chung vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu và điều kiện thực tế của địa
phương. Hệ thống chương trình đào tạo chính quy về chuyên môn, nghiệp
vụ trong lĩnh vực quản lý nhà ở hiện nay vẫn chưa có, các địa phương
chủ yếu chỉ thực hiện bồi dưỡng về kiến thức pháp luật khi có văn
bản mới được ban hành. 10.
Việc kiểm tra, thanh tra và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về
nhà ở chưa được thực hiện thường xuyên và triệt
để Hoạt
động đầu tư kinh doanh bất động sản nói chung và kinh doanh nhà ở nói
riêng là hoạt động đem lại nhiều lợi ích nên dễ xuất hiện các hành
vi vi phạm pháp luật. Mặc dù hiện nay Nhà nước đã ban hành các quy
định về xử phạt vi phạm, nhưng trên thực tế việc thực hiện các quy
định này vẫn còn chưa nghiêm, chưa kịp thời, mức xử phạt vi phạm còn thấp
mang tính hình thức nên tính răn đe phòng ngừa chưa cao. Tình trạng vi phạm
pháp luật, gây hậu quả nghiêm trọng cho các nhà đầu tư và những người
tham gia thị trường vẫn còn xảy ra phổ biến. Công
tác, kiểm tra, thanh tra để phát hiện các hành vi vi phạm tại các dự
án, tại các địa phương chưa được thực hiện thường xuyên, liên tục, nhiều
trường hợp kiểm tra còn mang tính hình thức và do nhiều nguyên nhân
khác nhau, như trình độ cán bộ thanh tra, kiểm tra còn yếu, chưa đáp
ứng được yêu cầu đề ra, vấn đề nể nang, tình cảm…vẫn còn, nên dù có
phát hiện hành vi vi phạm xảy ra nhưng cũng không được xử lý kịp thời
và nghiêm túc đối với các hành vi vi phạm. Từ
những lý do trên, việc xây dựng, ban hành Luật nhà ở năm 2014 là rất cần
thiết.
II. QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO XÂY DỰNG LUẬT
Luật nhà ở năm 2014 được xây dựng trên các quan điểm chỉ đạo
sau:
1. Bảo đảm quyền có chỗ ở của công dân theo quy định của Hiến
pháp năm 2013, coi đây là điều kiện cần thiết để phát triển con người
một cách toàn diện, đồng thời là nhân tố quyết định để phát triển
nguồn nhân lực phục vụ cho sự nghiệp phát triển đất nước;
2. Thể chế quan điểm, chủ trương của Đảng về phát triển nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong lĩnh vực phát triển nhà ở,
một mặt tạo môi trường thuận lợi để phát triển nhà ở nhằm đáp ứng
các nhu cầu về nhà ở của người dân theo cơ chế thị trường; đồng thời
quan tâm phát triển nhà ở xã hội có sự hỗ trợ của Nhà nước để phục
vụ các đối tượng chính sách xã hội, người nghèo, người thu nhập thấp
có khó khăn về nhà ở trên nguyên tắc việc phát triển nhà ở là trách nhiệm
của Nhà nước, của xã hội và của người dân;
3. Phát triển nhà ở phải được thể hiện trong quy hoạch tổng thể
phát triển kinh tế, xã hội của đất nước, phải tuân thủ quy hoạch,
chương trình và kế hoạch phát triển nhà ở trong từng giai đoạn của
mỗi địa phương, bảo đảm sử dụng có hiệu quả các nguồn lực cho phát
triển nhà ở, khắc phục tình trạng lệch pha cung-cầu trong phát triển nhà ở;
phát triển nhà ở phải bảo đảm đồng bộ về hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội,
đáp ứng các yêu cầu về chất lượng xây dựng, kiến trúc, cảnh quan, tiện nghi,
môi trường và phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất
nước;
4. Phát triển đa dạng và hài hòa các loại hình nhà ở bao gồm nhà ở chung
cư, nhà ở riêng lẻ; nhà ở để bán, cho thuê, cho thuê mua phù hợp với nhu cầu
và khả năng chi trả của từng nhóm đối tượng trong xã hội; hình thành các định
chế tài chính phát triển nhà ở phù hợp để các doanh nghiệp và mọi người
dân, đặc biệt là các đối tượng chính sách xã hội, người thu nhập thấp được
tiếp cận nguồn vốn tín dụng cho mục đích cải thiện nhà ở; từng bước đáp ứng
nhu cầu về nhà ở ngày càng tốt hơn cho các tầng lớp dân
cư;
5. Tăng cường sự quản lý thống nhất của Trung ương đi đôi với
phân cấp và nâng cao trách nhiệm của chính quyền địa phương, bảo đảm công
khai, minh bạch trong phát triển và quản lý sử dụng nhà
ở;
6. Mở rộng đối tượng và điều kiện người Việt Nam định cư ở
nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài được mua và sở hữu nhà ở
tại Việt Nam để huy động các nguồn lực về vốn, công nghệ, kinh
nghiệm…phục vụ cho phát triển đất nước; đồng thời góp phần thúc đẩy
thị trường xây dựng trong nước phát triển, giải quyết việc làm cho
người lao động, tạo sự tăng trưởng cho nền kinh tế trên nguyên tắc bảo
đảm ổn định chính trị, quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, bảo
đảm trật tự an toàn xã hội và phát triển bền vững.
III. BỐ CỤC VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT NHÀ Ở
A. Bố cục
Luật nhà ở năm 2014 có 13 Chương với 183 Điều, tăng 4 Chương và 30 Điều
so với Luật nhà ở 2005. Cụ thể là:
Chương I:
Những quy định chung
Chương II: Sở hữu nhà ở
Chương III: Phát triển nhà
ở
- Mục 1: Quy định chung về phát triển nhà ở
- Mục 2: Phát triển nhà ở thương mại theo dự
án
- Mục 3: Phát triển nhà ở công vụ
- Mục 4: Phát triển nhà ở để phục vụ tái định cư (bổ sung
mới)
- Mục 5: Phát triển nhà ở của hộ gia đình cá nhân
Chương
IV: Chính sách về Nhà ở xã hội (Chương mới)
- Mục 1. Những quy định chung
- Mục 2. Chính sách phát triển và quản lý nhà ở xã hội để cho thuê, cho thuê mua, để
bán
- Mục 3. Chính sách nhà ở xã hội cho hộ gia đình, cá nhân tự xây dựng
hoặc cải tạo sửa chữa để ở
Chương
V: Tài chính cho phát triển nhà ở (bổ sung mới)
Chương
VI: Quản lý sử dụng nhà ở
- Mục 1: Quy định chung về quản lý sử dụng nhà ở
- Mục 2: Quản lý sử dụng nhà ở thuộc sở hữu nhà nước (bổ sung
mới)
- Mục 3: Bảo hành, bảo trì, cải tạo nhà ở
- Mục 4: Phá dỡ nhà ở
Chương
VII: Quản lý sử dụng nhà chung cư (Chương mới)
- Mục 1: Quản lý sử dụng, bảo trì nhà chung cư
- Mục 2: Phá dỡ nhà chung cư để cải tạo, xây dựng lại nhà chung
cư
Chương
VIII: Giao dịch
về nhà ở
- Mục 1: Quy định chung về các giao dịch về nhà ở
- Mục 2: Mua bán nhà ở, chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở
- Mục 3: Cho thuê nhà ở
- Mục 4: Thuê mua nhà ở xã hội
- Mục 5: Tặng cho nhà ở
- Mục 6: Đổi nhà ở
- Mục 7: Thừa kế nhà ở
- Mục 8: Thế chấp nhà ở
- Mục 9: Góp vốn bằng nhà ở (bổ sung mới)
- Mục 10: Cho mượn, cho ở nhờ nhà ở
- Mục 11: Ủy quyền quản lý nhà ở
Chương
IX: Quyền sở hữu Nhà ở tại Việt Nam của tổ chức, cá nhân nước
ngoài
Chương
X: Hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu về nhà ở
(Chương mới)
Chương
XI: Quản lý nhà nước về nhà ở
Chương XII:
Giải quyết tranh chấp, khiếu nại tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về
nhà ở
Chương
XIII: Điều khoản thi hành
B. Nội dung cơ bản 1. Chương 1. Những quy định chung Nội dung cơ bản của Chương này là:
- Luật Nhà ở số 65/2014/QH14 đã phân biệt rõ phạm vi
điều chỉnh của Luật này và Luật kinh doanh bất động sản cũng như xử
lý các chồng chéo, không thống nhất giữa Luật Nhà ở và các Luật
khác có liên quan như Bộ Luật dân sự, Luật Đầu tư công, Luật Đầu tư,
Luật Đất đai, Luật Xây dựng…vừa được Quốc hội thông qua. Theo đó, Luật
này chỉ quy định cụ thể về việc đầu tư phát triển các loại nhà ở
(nhà ở thương mại, nhà ở xã hội, nhà ở công vụ, nhà ở để phục vụ
tái định cư, nhà ở của hộ gia đình, cá nhân), về quản lý, sử dụng,
các giao dịch về nhà ở và quản lý nhà nước về nhà ở. Đối với các
giao dịch về mua bán, cho thuê và thuê mua nhà ở của các doanh nghiệp,
hợp tác xã kinh doanh bất động sản thì thực hiện theo Luật kinh doanh
bất động sản (Điều 1).
- Bổ sung thêm 01 Điều về giải thích từ ngữ (Điều 3) để giải thích
các khái niệm liên quan trong Luật như: nhà ở riêng lẻ, nhà ở chung cư, phần
sở hữu chung, sở hữu riêng trong nhà chung cư, nhà ở hình thành trong tương
lai... để có cách hiểu và thực hiện thống nhất;
- Tại Điều 6 về các hành vi nghiêm cấm: bổ sung thêm một số hành
vi nghiêm cấm trong phát triển, quản lý, sử dụng nhà ở như: nghiêm cấm việc sử
dụng sai mục đích nguồn vốn huy động từ tiền mua nhà ở trả trước, xây dựng nhà
ở trái phép, kinh doanh vật liệu gây cháy nổ, ô nhiễm môi trường trong nhà
chung cư....để các cơ quan chức năng có cơ sở trong việc quản lý, xử lý vi
phạm, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, người mua nhà ở.
2. Chương 2. Sở hữu nhà ở
Nội dung của Chương này là:
- Luật Nhà ở đã thể chế hóa được các quy định của
Hiến pháp năm 2013 về quyền có chỗ ở của người dân, trong đó quy định
cụ thể đối tượng, điều kiện được sở hữu nhà ở, việc công nhận
quyền sở hữu nhà ở, quy định các quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu
nhà ở.
+ Về đối tượng được sở hữu nhà ở (Điều 7): đối với chủ sở
hữu nhà ở trong nước thì Luật bổ sung thêm đối tượng là hộ gia đình
cho phù hợp với Luật đất đai; đối với người Việt Nam định cư ở nước
ngoài thì Luật cho phép người Việt Nam định cư ở nước ngoài (không
phân biệt là người còn quốc tịch hay người gốc Việt Nam) nếu được
phép nhập cảnh vào Việt Nam đều được sở hữu nhà ở thông qua nhiều
hình thức như: mua, thuê mua, nhận tặng cho, nhận thừa kế, nhận đổi
nhà ở; nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong các dự án xây
dựng nhà ở được phép bán nền để xây dựng nhà ở;
+ Quy định việc công nhận quyền sở hữu nhà ở (Điều 9), theo đó nếu thuộc
đối tượng được sở hữu nhà ở tại Việt Nam và có nhà ở được tạo lập hợp pháp theo
quy định của pháp luật thì được Nhà nước công nhận quyền sở hữu nhà ở thông qua
việc cấp Giấy chứng nhận. + Quy định về quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà ở
(Điều 10, Điều 11), theo hướng nếu là người Việt Nam định cư ở nước ngoài
có các quyền và nghĩa vụ như công dân Việt Nam ở trong nước (đây là
những quy định mới nhằm thể chế hóa chủ trương của Đảng coi người
Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận không thể tách rời của dân tộc
Việt Nam); đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài thì bị hạn chế một số quyền khi
sở hữu nhà ở tại Việt Nam như chỉ được mua nhà ở tại các dự án phát triển nhà ở
thương mại không thuộc khu vực cấm, hạn chế người nước ngoài cư trú đi lại, tổ
chức nước ngoài chỉ được sử dụng nhà ở để bố trí cho những người làm việc tại tổ
chức đó ở, không được cho thuê, làm văn phòng... - Quy định về thời điểm chuyển quyền sở hữu nhà ở (Điều
12), đây là nội dung mới theo đó, quy định cụ thể các thời điểm chuyển quyền sở
hữu nhà ở để tạo thuận lợi cho các chủ sở hữu thực hiện các quyền của mình trong
các giao dịch về nhà ở, cụ thể: + Trường hợp mua bán nhà ở và trường hợp thuê mua nhà ở
thì thời điểm chuyển quyền sở hữu nhà ở là kể từ thời điểm bên mua, bên thuê
mua đã thanh toán đủ tiền mua, tiền thuê mua và đã nhận bàn giao nhà ở,
trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác. + Trường hợp góp vốn, tặng cho, đổi nhà ở thì thời điểm
chuyển quyền sở hữu là kể từ thời điểm bên nhận góp vốn, bên nhận tặng cho,
bên nhận đổi nhận bàn giao nhà ở từ bên góp vốn, bên tặng cho, bên đổi
nhà ở. + Trường hợp mua bán nhà ở giữa chủ đầu tư dự án xây dựng
nhà ở với người mua thì thời điểm chuyển quyền sở hữu nhà ở là kể từ thời điểm
bên mua nhận bàn giao nhà ở hoặc kể từ thời điểm bên mua thanh toán đủ tiền
mua nhà ở cho chủ đầu tư. Đối với nhà ở thương mại mua của doanh nghiệp kinh
doanh bất động sản thì thời điểm chuyển quyền sở hữu được thực hiện theo quy
định của pháp luật về kinh doanh bất động sản. + Trường hợp thừa kế nhà ở thì thời điểm chuyển quyền sở
hữu nhà ở được thực hiện theo quy định của pháp luật về thừa kế.
3. Chương 3. Phát triển nhà ở
Mục 1. Những quy định chung
Ngoài việc gộp một số quy định của Luật nhà ở 2005 tại các Điều để tránh
tản mát như: quy định về chính sách phát triển nhà ở, về yêu cầu đối với phát
triển nhà ở, quy hoạch quỹ đất để phát triển nhà ở... thì mục này đã bổ sung 1
số quy định mới như:
- Yêu cầu các địa phương phải lập Chương trình, kế hoạch phát triển
nhà ở năm năm, mười năm và dài hơn (Điều 15) để hạn chế việc đầu tư xây
dựng nhà ở tràn lan, tự phát theo phong trào, không theo quy hoạch, kế hoạch
như trong thời gian vừa qua, gây ra tình trạng mất cân đối nghiêm trọng cung cầu
nhà ở, dư thừa các sản phẩm có giá cao, thiếu các sản phẩm nhà ở có giá trung
bình phù hợp với khả năng thanh toán của người dân; đồng thời để tạo cơ sở pháp
lý cho công tác quản lý, kiểm soát của nhà nước trong phát triển nhà ở;
- Quy định về xác định quỹ đất cho phát triển nhà ở theo hướng:
khi lập, phê duyệt quy hoạch thì cơ quan phê duyệt quy hoạch phải xác
định cụ thể quỹ đất để phát triển cho từng loại nhà ở (Điều 16),
đặc biệt là quy định rõ đối với đô thị loại đặc biệt, loại 1 và loại 2 thì bắt
buộc chủ đầu tư phải dành một tỷ lệ đất nhất định trong dự án phát triển nhà ở
thương mại, dự án khu đô thị mới đã đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật để xây dựng
nhà ở xã hội;
Mục 2. Phát triển nhà ở thương mại theo dự án
Nội dung cơ bản của Mục này là:
- Quy định các điều kiện về năng lực chuyên môn, vốn, kinh nghiệm
để làm chủ đầu tư dự án xây dựng nhà ở thương mại (Điều 21), theo đó các chủ
đầu tư phải là các doanh nghiệp, hợp tác xã có chức năng kinh doanh bất động
sản và có đủ điều kiện về vốn pháp định theo quy định của pháp luật;
- Quy định về dự án đầu tư xây dựng nhà ở thương mại và lựa chọn chủ
đầu tư (Điều 22) cho phù hợp với quy định của Luật đất đai 2013, Luật nhà ở đã
quy định có 3 hình thức lựa chọn chủ đầu tư đó là: đấu giá quyền sử dụng đất,
đấu thầu dự án có sử dụng đất và chỉ định chủ đầu tư để nhằm lựa chọn các
chủ đầu tư có đủ điều kiện, năng lực thực hiện dự án;
- Quy định về hình thức sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư xây dựng
nhà ở thương mại (Điều 23), theo đó, quy định 4 hình thức đó là: Sử dụng diện
tích đất ở thuộc quyền sử dụng hợp pháp để xây dựng nhà ở thương mại; được
Nhà nước giao đất để xây dựng nhà ở cho thuê, cho thuê mua, để bán; được
Nhà nước cho thuê đất để xây dựng nhà ở cho thuê; nhận chuyển quyền sử
dụng đất ở theo quy định của pháp luật về đất đai để xây dựng nhà ở thương
mại.
- Quy định về loại nhà và tiêu chuẩn diện tích nhà ở thương mại (Điều
24), theo đó, đã bỏ quy định cụ thể trong Luật Nhà ở 2005 về tiêu chuẩn diện
tích nhà ở thương mại mà cho phép chủ đầu tư dự án nhà ở thương mại được chủ
động lựa chọn xây dựng các loại nhà ở có diện tích khác nhau để phù hợp với từng
vị trí và khả năng thanh toán của khách hàng; đối với nhà chung cư thì phải xây
dựng, thiết kế theo quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng.
- Quy định về quyền và trách nhiệm của chủ đầu tư dự án xây dựng nhà ở
thương mại (Điều 25, Điều 26), theo đó quy định các quyền và trách nhiệm như:
+ Yêu cầu cơ quan, tổ chức có liên quan thực hiện các thủ
tục theo đúng quy định của pháp luật trong quá trình lập, thẩm định, phê
duyệt và triển khai thực hiện dự án; + Cho thuê, cho thuê mua, bán nhà ở; thực hiện huy động
vốn, thu tiền cho thuê, cho thuê mua, tiền bán nhà ở theo quy định của Luật
này, pháp luật về kinh doanh bất động sản và theo nội dung hợp đồng đã ký
kết; + Lập, thẩm định, phê duyệt và triển khai thực hiện
dự án theo đúng quy định của Luật này và pháp luật về xây dựng; + Có đủ vốn pháp định theo quy định của pháp
luật về kinh doanh bất động sản; Ký quỹ để thực hiện dự án theo quy định của
pháp luật về đầu tư... Mục 3. Phát triển nhà ở công vụ
Mục này có một số nội dung như:
- Quy định cơ quan có thẩm quyền phải phải lập kế hoạch phát triển nhà ở
công vụ (Điều 27) theo đó, các cơ quan Trung ương có trách nhiệm xác định nhu
cầu về nhà ở công vụ gửi Bộ Xây dựng thẩm định và xây dựng kế hoạch phát triển
nhà ở công vụ của các cơ quan Trung ương trình Thủ tướng Chính phủ chấp thuận
trừ nhà ở công vụ của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có
trách nhiệm lập kế hoạch phát triển nhà ở công vụ của địa phương;
- Quy định Dự án đầu tư xây dựng nhà ở công vụ và lựa chọn chủ đầu tư dự
án (Điều 28), theo đó dự án nhà ở công vụ được phân thành làm 3 loại (dự án do Thủ
tướng Chính phủ quyết định đầu tư; dự án do Bộ Công an, Bộ Quốc phòng quyết định
đầu tư sau khi có ý kiến thống nhất của Bộ Xây dựng; dự án do Ủy ban nhân dân
tỉnh quyết định đầu tư) trên cơ sở đó có các hình thức lựa chọn chủ đầu tư tương
ứng;
- Quy định Quỹ đất để xây dựng nhà ở công vụ (Điều 29) theo đó quy định
khi tổ chức lập, phê duyệt quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng đô thị,
điểm dân cư nông thôn, Ủy ban nhân dân có thẩm quyền phê duyệt quy hoạch có
trách nhiệm xác định quỹ đất dành để đầu tư xây dựng nhà ở công vụ;
- Quy định về mua, thuê mua nhà ở thương mại làm nhà ở công vụ (Điều 30)
theo đó để hạn chế việc đầu tư xây dựng nhà ở công vụ thì Luật quy định Nhà nước
cấp ngân sách
(Trung ương và ngân sách địa phương) để mua nhà ở thương mại làm nhà ở
công vụ cho các đối tượng đang làm việc tại cơ quan Trung ương và cơ quan địa
phương thuê. Việc mua nhà ở thương mại làm nhà ở công vụ cũng phải được lập
thành dự án để trình các cơ quan có thẩm quyền lập, thẩm định phê duyệt theo quy
định;
- Quy định về loại nhà và tiêu chuẩn diện tích nhà ở công vụ (Điều 31)
theo đó, giao cho Thủ tướng Chính phủ quy định tiêu chuẩn diện tích nhà ở công
vụ thay vì quy định cụ thể trong Luật để phù hợp với từng thời kỳ phát triển của
đất nước;
- Mục 4. Phát
triển nhà ở tái định cư Luật nhà ở năm 2005 chưa có quy định điều chỉnh
hoặc có quy định nhưng vẫn còn chung chung nên trong thời gian vừa qua,
việc phát triển nhà ở tái định cư đều do các địa phương thực hiện, dẫn
đến không có sự thống nhất trong chính sách về đầu tư, xây dựng đối với
loại nhà ở này. Do thiếu cơ sở pháp lý nên việc quản lý đầu tư xây dựng
loại nhà ở này đã không được triển khai thực hiện tốt, dẫn đến chất
lượng của nhiều khu tái định cư còn kém, chưa đạt yêu cầu, nhà ở còn
thiếu cơ sở hạ tầng, đặc biệt là hạ tầng xã hội, tiện nghi sinh
hoạt chưa đầy đủ nên không khuyến khích người dân vào ở các khu tái
định cư, đối với những trường hợp đã vào sử dụng thì xuất hiện các
khiếu kiện do nhà ở không bảo đảm chất lượng, cơ sở hạ tầng không
đồng bộ, gây mất lòng tin của người dân vào loại nhà ở
này. Vì vậy, Luật nhà ở năm 2014 đã pháp điển hóa các quy định
của Nghị định số 84/2013/NĐ-CP năm 2013 về phát triển nhà ở tái định
cư để bảo đảm hiệu lực pháp lý cao. Một số quy định mới của Mục này như sau:
- Quy định về nguyên tắc phát triển nhà ở tái định cư (Điều 35), theo đó
quy định một số nguyên tắc như: Nhà nước phải chủ động chuẩn bị quỹ đất hoặc quỹ
nhà để phục vụ tái định cư; việc phát triển nhà ở để phục vụ tái định cư phải
bảo đảm đồng bộ về hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội...
- Quy định về hình thức bố trí nhà ở để phục vụ tái định cư (Điều
36) bao gồm: Mua
nhà ở thương mại được xây dựng theo dự án để cho thuê, cho thuê mua,
bán cho người được tái định cư; nhà nước trực tiếp đầu tư; sử
dụng nhà ở xã hội được xây dựng theo dự án để bán, cho thuê, cho thuê mua cho
người được tái định cư...
- Quy định về quỹ đất để xây dựng nhà ở tái định cư (Điều 37) theo
đó quy định diện tích đất xây dựng nhà ở để phục vụ tái định cư được
xác định cụ thể trong quy hoạch xây dựng được cơ quan nhà nước có
thẩm quyền phê duyệt.
- Quy
định về loại nhà và tiêu chuẩn diện tích nhà ở để phục vụ tái định cư (Điều 39)
theo đó nhà tái định cư tại khu vực đô thị phải là nhà ở chung cư hoặc nhà ở
riêng lẻ và bảo đảm phục vụ sinh hoạt cho hộ gia đình, cá nhân tái định cư; nếu
là nhà chung cư thì được xây dựng theo quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng; nếu là
nhà ở riêng lẻ thì phải được xây dựng theo quy hoạch chi tiết xây dựng, thiết kế
được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt và phải bảo đảm tiêu chuẩn hạn mức đất ở
tối thiểu theo quy định của pháp Luật đất đai; - Quy định quản lý chất lượng nhà ở để phục vụ tái định cư
(Điều 40) theo đó quy định nhà ở tái định cư chỉ được bố trí sau khi đã được
nghiệm thu chất lượng theo quy định của pháp luật xây dựng cũng như quy định cơ
quan chịu trách nhiệm về chất lượng.
- Quy định mua nhà ở thương mại và sử dụng nhà ở xã hội để làm nhà ở tái
định cư (Điều 41), theo đó quy định việc mua nhà ở thương mại hoặc nhà ở xã hội
có sẵn với đầy đủ hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, đảm bảo chất lượng làm nhà ở
tái định cư được thực hiện theo hợp đồng mua bán hoặc hợp đồng đặt hàng.
Mục 5. Phát triển nhà ở của hộ gia đình, cá nhân
Các quy định của mục này đã được thể hiện trong Luật nhà ở 2005.
Luật nhà ở năm 2014 bổ sung thêm một số nội dung mới
như: quy định về việc xây dựng nhà ở nhiều tầng, có nhiều căn hộ
khép kín dạng nhà chung cư để bán, cho thuê, quản lý chất lượng đối với
loại nhà ở này để các địa phương có cơ sở thực hiện quản lý và công
nhận quyền sở hữu về nhà ở cho các trường hợp này (Điều 46).
4. Chương 4. Chính sách về nhà ở xã hội
Đây là Chương mới của Luật nhà ở 2014, bao gồm các nội dung sau:
Mục 1. Những quy định chung
Mục này quy định một số nội dung sau:
- Quy định đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở (Điều 49),
theo đó có 10 nhóm đối tượng được hỗ trợ cải thiện về nhà ở như: người có công
với cách mạng, cán bộ, công chức viên chức; sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp;
người thu nhập thấp, hộ nghèo; người khuyết tật, người già cô đơn....
- Quy định các hình thức thực hiện chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội
(Điều 50) tùy thuộc vào các đối tượng cụ thể mà có các hình thức hỗ trợ tương
ứng như: hỗ trợ thông qua các chương trình, mục tiêu về nhà ở; giao đất ở có
miễn, giảm tiền sử dụng đất; hỗ trợ vay vốn với lãi suất ưu đãi....
- Quy định về nguyên tắc thực hiện chính sách hỗ trợ về nhà ở (Điều 52),
theo đó quy định việc hỗ trợ cải thiện nhà ở là trách nhiệm của Nhà nước và cộng
đồng, người được hỗ trợ; việc hỗ trợ về nhà ở phải bảo đảm công khai, minh bạch,
đúng đối tượng...
Mục 2. Chính sách phát triển và quản lý nhà ở xã hội để cho thuê, cho
thuê mua, bán
- Quy định về các hình thức phát triển nhà ở xã hội (Điều 53), có 3 hình
thức phát triển nhà ở xã hội: Do Nhà nước đầu tư từ ngân sách; các tổ chức thuộc
các thành phần kinh tế đầu tư và hộ gia đình cá nhân đầu tư xây dựng;
- Quy định cụ thể các yêu cầu về phát triển nhà ở xã hội (Điều 54) theo
hướng việc phát triển nhà ở xã hội phải theo quy hoạch, kế hoạch cũng như bảo
đảm quản lý chặt chẽ trong quá trình đầu tư xây dựng và xét duyệt đối tượng; đặc
biệt Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phải có trách nhiệm quy hoạch khu vực riêng để đầu
tư xây dựng nhà ở xã hội để cho thuê;
- Quy định loại nhà và tiêu chuẩn diện tích nhà ở xã hội (Điều 55), theo
hướng quy định nhà ở xã hội (nhà riêng lẻ, chung cư) phải bảo đảm tiêu chuẩn,
quy chuẩn xây dựng.;
- Quy định về quỹ đất để phát triển nhà ở xã hội (Điều 56) theo hướng
giao trách nhiệm cho chính quyền địa phương khi phê duyệt quy hoạch sử dụng đất
phải dành quỹ đất để xây dựng nhà ở xã hội, công bố công khai thông tin về khu
vực, vị trí phát triển nhà ở xã hội trên website cơ quan quản lý nhà cấp tỉnh.
- Quy định về ưu đãi chủ đầu tư xây dựng nhà ở xã hội (Điều 58) theo đó
Nhà nước thực hiện các ưu đãi về tài chính, thuế, miễn giảm tiền sử dụng
đất…nhằm tạo nguồn cung nhà ở xã hội để đáp ứng các nhu cầu về nhà ở cho các đối
tượng xã hội có khó khăn về nhà ở…
Mục 3. Chính sách nhà ở xã hội cho hộ gia đình, cá nhân tự xây dựng hoặc
sửa chữa cải tạo để ở
Luật nhà ở năm 2014 đã quy định chính sách hỗ trợ về nhà ở cho hộ gia
đình cá nhân tự xây dựng, sửa chữa nhà ở hoặc thông qua các chương trình mục
tiêu về nhà ở (Điều 65) cũng như quy định hình thức thực hiện chính sách hỗ
trợ.
5. Chương 5. Tài chính cho phát triển nhà ở
Đây là nội dung mới của Luật nhà ở năm 2014, theo
đó, để có nguồn vốn hợp pháp cho việc phát triển nhà ở, Luật đã
quy định cụ thể các nguyên tắc và hình thức huy động vốn cho phát
triển nhà ở, quy định cụ thể các nguồn vốn được huy động để phát
triển đối với từng loại nhà ở (nhà ở thương mại, nhà ở xã hội, nhà ở tái
định cư, nhà ở công vụ), trong đó quy định Nhà nước có trách nhiệm cấp
vốn cho việc thực hiện chính sách nhà ở xã hội thông qua việc cấp
vốn trực tiếp hoặc hỗ trợ vay vốn với lãi suất thấp để xây dựng
nhà ở xã hội. Căn cứ vào quy định này, Chính phủ sẽ ban hành Nghị
định để quy định chi tiết việc huy động vốn để tránh tình trạng
chiếm dụng vốn hoặc sử dụng vốn sai mục đích, gây rủi ro cho khách
hàng như thời gian vừa qua. 6. Chương 6. Quản lý, sử dụng nhà ở
Mục 1. Quy định chung về quản lý việc sử dụng nhà ở
Nội dung cơ bản tại mục này như:
- Quy định Nội dung quản lý việc sử dụng nhà ở (Điều 75) bao gồm: lập
lưu trữ hồ sơ, bảo hiểm nhà ở, bảo hành, bảo trì cải tạo, phá dỡ nhà ở…
- Quy định lập hồ sơ nhà ở (Điều 76) theo đó quy định trách nhiệm lập hồ
sơ nhà ở cũng như thành phần của hồ sơ nhà ở.
- Quy định lưu trữ và quản lý hồ sơ nhà ở (Điều 77) theo đó quy định
trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân, cơ quan nhà nước trong việc lưu trữ hồ sơ
nhà ở.
Ngoài ra, tại mục này bổ sung quy định mới về quản lý, sử dụng nhà ở có
giá trị văn hóa, nghệ thuật lịch sử (Điều 79) để quản lý các loại nhà ở này
tránh việc sửa chữa, cải tạo tùy tiện làm mất giá trị lịch sử, văn hóa, kiến
trúc thẩm mỹ của các loại nhà ở này.
Mục 2. Quản lý, sử dụng nhà ở thuộc sở hữu nhà nước
Nội dung chính của mục này bao gồm:
- Quy định các loại nhà ở thuộc sở hữu nhà nước (Điều 80) theo đó, có 4
loại nhà ở thuộc sở hữu nhà nước gồm: nhà ở công vụ; nhà ở xã hội đầu tư bằng
vốn ngân sách; nhà ở tái định cư do nhà nước đầu tư xây dựng và nhà ở cũ được
đầu tư xây dựng từ vốn ngân sách nhà nước hoặc có nguồn gốc từ ngân sách;
- Quy định về quản lý, sử dụng nhà ở thuộc sở hữu nhà nước (Điều 81) theo
đó, việc quản lý phải được sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả, tránh thất thoát,
lãng phí, phân giao trách nhiệm rõ ràng giữa các cơ quan có liên quan nhằm giúp
các cơ quan chức năng quản lý tốt quỹ nhà ở này tránh thất thoát, lãng phí và
bảo đảm mọi hành vi vi phạm phải được xử lý kịp thời;
- Quy định cụ thể về đối tượng, điều kiện được mua, thuê, thuê mua nhà ở
thuộc sở hữu nhà nước (Điều 82), theo từng loại đối tượng khác nhau;
- Quy định việc bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước
(Điều 83) như về trình tự, thủ tục, hợp đồng.... để bảo đảm sự quản lý của nhà
nước đối với loại nhà ở này;
- Quy định các trường hợp thu hồi nhà ở thuộc sở hữu nhà nước (Điều 84),
để bảo đảm sự kiểm soát, quản lý của nhà nước khi các tổ chức, cá nhân có liên
quan vi phạm các quy định về quản lý, sử dụng đối với loại nhà ở này.
Mục 3. Bảo hành, bảo trì, cải tạo nhà ở
Nội dung của mục này bao gồm các quy định về Bảo hành, bảo trì, cải tạo
nhà ở cũng như quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu khi thực hiện các hành vi bảo
hành, bảo trì, cải tạo nhà ở.
Mục 4. Phá dỡ nhà ở
Nội dung của mục này gồm: quy định về các trường hợp phải phá dỡ nhà ở;
trách nhiệm phá dỡ; yêu cầu phá dỡ; thẩm quyền cưỡng chế phá dỡ nhà ở…
7. Chương 7. Quản lý, sử dụng nhà chung cư
Mục 1. Quản lý, sử dụng, bảo trì nhà chung cư
Mục này quy định môt số nội dung chính sau:
- Quy định về phân hạng nhà chung cư (Điều 98) theo đó, nhà
chung cư được phân thành nhiều hạng khác nhau để xác định giá trị của
nhà chung cư khi thực hiện quản lý hoặc giao dịch trên thị trường và giao Bộ
Xây dựng có hướng
dẫn cụ thể. - Quy định về thời hạn sử dụng nhà chung cư (Điều 99), theo
đó nhà chung cư có thời hạn sử dụng theo cấp công trình xây dựng và kết luận
kiểm định của Sở Xây dựng theo quy định của pháp luật về xây dựng để tạo cơ sở pháp
lý cho việc cải tạo, xây dựng lại các chung cư cũ khi hết niên hạn sử
dụng mà bị xuống cấp hoặc hư hỏng nặng, không bảo đảm an toàn cho
người sử dụng;
- Quy định về phần sở hữu riêng, sở hữu chung trong nhà chung cư (Điều 100) theo đó
quy định cụ thể về sở hữu chung, sở hữu riêng, chỗ để xe để tránh các tranh
chấp, khiếu kiện như thời gian vừa qua.
- Quy định về Hội nghị nhà chung cư (Điều 102) như: quyền hạn của Hội
nghị nhà chung cư... để thực hiện các nội dung trong việc quản lý, sử
dụng nhà chung cư được rõ ràng và minh bạch.
- Quy định về Ban quản trị nhà chung cư và trách nhiệm của Ban quản trị
nhà chung cư (Điều 103, Điều 104) với một số nội dung mới như:
+ Việc thành lập hoặc không thành lập Ban quản trị được căn cứ trên số
lượng căn hộ của nhà chung cư (nhà chung cư có dưới 20 căn hộ và nhà chung cư có
từ 20 căn hộ trở lên) để tạo cơ sở chủ động cho các chủ sở hữu nhà chung cư;
+ Quy định về thành phần của Ban Quản trị, theo đó thì tùy theo nhà chung
cư có nhiều chủ sở hữu hoặc nhà chung cư có một chủ sở hữu thì thành phần Ban
Quản trị là khác nhau;
+ Quy định cụ thể các quyền hạn và trách nhiệm của Ban quản trị trong
việc quản lý vận hành nhà chung cư như: báo cáo Hội nghị nhà chung cư danh sách
các doanh nghiệp quản lý vận hành để Hội nghị nhà chung cư quyết định; ký hợp
đồng và giám sát hoạt động của doanh nghiệp quản lý vận hành; giám sát quản lý
việc thu chi phần kinh phí bảo trì sở hữu chung....
- Quy định quản lý, vận hành nhà chung cư (Điều 105), theo hướng: đối với
nhà chung cư có thang máy thì việc quản lý vận hành nhà chung cư phải do đơn vị
có năng lực chuyên môn đảm nhận; quy định về điều kiện của doanh nghiệp, hợp tác
xã khi quản lý vận hành nhà chung cư...
- Quy định giá dịch vụ quản lý nhà chung cư (Điều 106), theo đó để tránh
các tranh chấp có thể xảy ra liên quan đến giá dịch vụ nhà chung cư, Luật nhà ở
đã quy định phải công khai, minh bạch các yếu tố cấu thành giá dịch vụ, quy định
các trường hợp cụ thể như: khi chưa thành lập Ban quản trị thì phải ghi rõ giá
dịch vụ quản lý nhà chung cư trong hợp đồng mua bán, thuê mua nhà ở; quy định
trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phải ban hành khung giá dịch vụ quản lý
vận hành nhà chung cư để làm cơ sở cho các bên tham khảo và trong trường hợp các
bên không thỏa thuận được về giá dịch vụ thì áp dụng giá do Ủy ban nhân dân ban
hành. - Quy định về kinh phí bảo trì phần sở hữu chung nhà chung
cư (Điều 108) và Quản lý kinh phí bảo trì phần sở hữu chung nhà chung cư (Điều
109) theo đó, để khắc phục những tranh chấp, khiếu kiện trong thời gian vừa qua
giữa người dân và chủ đầu tư trong việc quản lý phần kinh phí bảo trì sở hữu
chung, Luật đã quy định trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày thu kinh phí
của người mua, thuê mua căn hộ hoặc diện tích khác trong nhà chung cư, chủ đầu
tư có trách nhiệm gửi vào tài khoản tiền gửi tiết kiệm mở tại tổ chức
tín dụng đang hoạt động tại Việt Nam để quản lý kinh phí này và thông
báo cho cơ quan quản lý nhà ở cấp tỉnh nơi có nhà chung cư biết và
phải chuyenr giao kinh phí này khi Ban quản trị được thành lập, nếu không chuyển
giao sẽ bị cưỡng chế. Luật cũng quy định trách nhiệm của thành viên Ban quản trị
nếu sử dụng sai mục đích kinh phí này sẽ phải bồi thường thiệt hại. Mục 2. Phá dỡ, cái tạo xây dựng lại nhà chung cư Trên thực tế việc cải tạo xây dựng lại
nhà chung cư cũ trong thời gian vừa qua không đạt được yêu cầu đề ra.
Nhiều khu nhà chung cư cũ tại các thành phố lớn như TP. Hà Nội, TP.
Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng…đã xuống cấp, thậm chí có những
chung cư xuống cấp nguy hiểm đến tính mạng của người sử dụng, cần
được cải tạo, xây dựng lại nhưng không thể thực hiện được do thiếu cơ
chế, chính sách. Vì vậy, Luật nhà ở năm 2014đã bổ sung một Mục mới hoàn toàn
để quy định các vấn đề liên quan đến việc cải tạo, xây dựng lại nhà chung cư, cụ
thể là: - Quy định các trường hợp phá dỡ để cải tạo xây dựng lại
nhà chung cư (Điều 110) như: nhà chung cư hư hỏng, xuống cấp, có nguy cơ sập
đổ.... - Quy định lập kế hoạch cải tạo, xây dựng lại nhà chung cư
(Điều 111) theo hướng xác định trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong
việc xây dựng kế hoạch cải tạo, xây dựng nhà chung cư lại trên địa bàn để có cơ
sở pháp lý thực hiện; - Quy định các yêu cầu đối với việc phá dỡ nhà chung cư để
cải tạo, xây dựng lại nhà chung cư (Điều 112) như: việc phá dỡ phải thuộc các
trường hợp phải phá dỡ; trước khi phá dỡ phải lập phương án tái định cư cho các
hộ gia đình, cá nhân có nhà ở bị phá dỡ và công khai trên các phương tiện thông
tin đại chúng..... - Quy định về các hình thức cải tạo, xây dựng lại nhà chung
cư (Điều 113) gồm: Nhà nước trực tiếp đầu tư cải tạo xây dựng lại nhà chung cư
bằng nguồn vốn ngân sách; doanh nghiệp kinh doanh bất động sản tự đầu tư vốn
hoặc góp vốn cùng các chủ sở hữu nhà chung cư.... - Quy định phương án bố trí, tái định cư khi phá dỡ nhà
chung cư (Điều 115) theo hướng: người có nhà bị phá dỡ thì được ưu tiên mua,
thuê, thuê mua nhà ở xã hội; được bố trí nhà ở, đất ở tái định cư; được thanh
toán bằng tiền để tự lo chỗ ở... 8. Chương 8. Giao dịch về nhà ở
Về cơ bản, Luật nhà ở số 65/2014/QH14 vẫn giữ nguyên nhiều quy
định của Luật nhà ở 2005, Luật chỉ sửa đổi, bổ sung một số nội dung
như: bổ sung giao dịch góp vốn và giao dịch thế chấp dự án xây dựng
nhà ở, nhà ở hình thành trong tương lai; bổ sung quy định cho phép
người mua nhà ở thương mại của chủ đầu tư sau khi nhận bàn giao nhà ở
mà chưa nộp hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu thì
cũng được chuyển nhượng hợp đồng cho người khác. Trong một số giao
dịch thì không bắt buộc phải có giấy chứng nhận quyền sở hữu như:
mua bán, thế chấp nhà ở hình thành trong tương lai, mua bán, thuê mua
nhà ở xã hội, nhà ở phục vụ tái định cư, nhà ở của Nhà nước.
Đối với việc công chứng, chứng thực thì cũng được quy định lại
cho phù hợp với pháp luật về đất đai như: các giao dịch mua bán, tặng
cho, thế chấp, đổi, góp vốn nhà ở của cá nhân với cá nhân thì phải
công chứng hoặc chứng thực; đối với các giao dịch khác như tổ chức
tặng cho nhà ở, mua bán, thuê mua nhà ở xã hội, nhà ở phục vụ tái
định cư, nhà ở của Nhà nước thì không cần phải công chứng, chứng
thực… 9. Chương 9. Quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam của tổ chức,
cá nhân nước ngoài Chương này quy định một số nội dung như: - Quy định đối tượng, điều kiện của tổ chức, cá nhân nước
ngoài được quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam (Điều 159, Điều 160), theo đó quy
định cá nhân chỉ cần nhập cảnh vào Việt nam và không thuộc đối tượng miễn trừ
ngoại giao, lãnh sự là được mua nhà, đối với tổ chức thì phải có giấy chứng nhận
đầu tư hoặc giấy tờ chứng minh đang hoạt động tại Việt Nam. - Quy định về quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu (Điều 161,
Điều 162) theo hướng tổ chức, cá nhân nước ngoài có các quyền và nghĩa vụ như
công dân Việt Nam trong nước, trừ quy định đối với cá nhân nước ngoài khi cho
thuê nhà ở thì phải đăng ký với cơ quan quản lý nhà ở cấp tỉnh nơi có nhà ở để
theo dõi, quản lý và phải nộp thuế từ hoạt động cho thuê nhà ở đó; đối với tổ
chức thì không được sử dụng nhà ở đã mua để cho thuê hoặc làm văn phòng hoặc sử
dụng vào các mục đích khác; đối với cá nhân nước ngoài thì thời hạn sở hữu nhà ở
là tối đa không quá 50 năm kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận và có thể gia hạn
thêm nếu có nhu cầu, nếu là tổ chức thì thời hạn sở hữu nhà ở theo thỏa thuận
trong hợp đồng mua bán nhưng tối đa không vượt qua thời hạn trong Giấy chứng
nhận đầu tư kể cả thời hạn gia hạn thêm. Đồng thời cũng hạn chế chủ sở hữu bởi 1
số quy định như chỉ được mua nhà ở trong dự án nhà ở thương mại, nếu là chung cư
thì không quá 30% số lượng căn hộ trong 1 tòa nhà, nếu là nhà ở riêng lẻ thì
trên 1 phường không được mua quá 250 căn. 10. Chương 10. Hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu về nhà
ở Nhằm tạo cơ sở pháp lý cho việc thực hiện có hiệu quả
công tác quản lý nhà nước về nhà ở từ Trung ương xuống địa phương, đồng thời
giúp các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp tham gia kinh doanh đầu tư bất
động sản có nhiều thông tin để có chiến lược phát triển sản phẩm
đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng, Luật nhà ở đã quy định một số nội
dung sau: - Quy định về hệ thống thông tin về nhà ở (Điều 163) theo
đó hệ thống thông tin về nhà ở bao gồm: hạ tầng kỹ thuật công nghệ thông tin nhà
ở, hệ thống
phần mềm, hệ điều hành, cơ sở dữ liệu....; - Quy định về cơ sở dữ liệu về nhà ở (Điều 164), theo đó đã
quy định hệ thống cơ sở dữ liệu về nhà ở phải được xây dựng thống nhất từ Trung
ương đến địa phương; quy định về nội dung của cơ sở dữ liệu về nhà ở; quy định
về trách nhiệm của Nhà nước trong việc bố trí ngân sách để xây dựng cơ sở dữ
liệu nhà ở. - Quy định về quản lý, khai thác thông tin và cơ sở dữ liệu
nhà ở (Điều 166) theo đó, việc khai thác, quản lý cơ sở dữ liệu về nhà ở phải
tuân thủ đúng quy trình và hành vi phá hoại, làm sai lệch thông tin phải bị xử
lý; - Quy định thẩm quyền, trách nhiệm xây dựng hệ thống thông
tin và cơ sở dữ liệu về nhà ở (Điều 165) theo đó đã quy định rõ trách nhiệm của
các cơ quan nhà nước từ Trung ương đến địa phương trong việc xây dựng hệ thống
thông tin và cơ sở dữ liệu về nhà ở. 11. Chương 11. Quản lý nhà nước về nhà ở Nội dung chính của Chương này là: - Quy định về nội dung quản lý nhà nước về nhà ở (Điều
163); - Quy định xây dựng chiến lược phát triển nhà ở quốc gia
(Điều 168), theo đó, Bộ Xây dựng có trách nhiệm xây dựng và trình Thủ tướng
Chính phủ phê duyệt chiến lược phát triển nhà ở quốc gia cho từng thời kỳ tránh
tình trạng đầu tư tràn lan, theo phong trào, không theo quy hoạch, kế hoạch. - Quy định thông qua, phê duyệt chương trình, kế hoạch phát
triển nhà ở (Điều 169), theo đó quy định sự phối hợp của Bộ Xây dựng và Ủy ban
nhân dân tỉnh trong việc thông qua, phê duyệt chương trình, kế hoạch phát triển
nhà ở; - Quy định quyết định chủ trương đầu tư dự án xây dựng nhà
ở (Điều 170), cũng như hồ sơ đề nghị chấp thuận chủ trương đầu tư dự án xây dựng
nhà ở (Điều 171) để thực hiện chức năng quản lý, kiểm soát của nhà nước trong
việc phát triển nhà ở, tránh tình trạng đầu tư tràn lan, theo phong trào, không
theo quy hoạch, kế hoạch. 12. Chương 12. Giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo, xử
lý vi phạm pháp luật về nhà ở Chương này quy định về giải quyết các tranh chấp trong việc
quản lý, sử dụng, mua bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước và
quy định về giải quyết tranh chấp về giá dịch vụ nhà chung cư và kinh phí bảo
trì phần sở hữu chung trong nhà chung cư. 13. Chương 13. Điều khoản thi hành
Luật nhà ở số 65/2014/QH13 có hiệu lực thi hành kể từ ngày
01/7/2015 và thay thế cho Luật nhà ở năm 2005 được sửa đổi, bổ sung
theo Luật số 34/2009/QH12, Luật số 38/2009/QH12 và nghị quyết số
19/2008/QH12 về thí điểm cho tổ chức, cá nhân nước ngoài được mua và
sở hữu nhà ở tại Việt Nam.
Để xử lý chuyển tiếp, Luật Nhà ở năm 2014 cũng đã quy định
việc xử lý chuyển tiếp các trường hợp giao thoa giữa Luật Nhà ở năm
2005 với Luật Nhà ở này và giao cho Chính phủ quy định chi tiết nội
dung này. IV. VỀ VIỆC TỔ CHỨC TRIỂN KHAI THI HÀNH LUẬT NHÀ Ở SỐ
65/2014/QH13 1. Ban hành văn bản hướng dẫn thi hành Luật Để các địa phương có cơ sở thực hiện Luật số
65/2014/QH13, hiện nay Bộ Xây dựng đang làm thủ tục báo cáo Chính phủ
đề nghị ban hành 4 Nghị định quy định chi tiết, bao gồm: (1) Nghị định quy định chi tiết Luật Nhà ở (để thay
thế cho các Nghị định: số 71/2010/NĐ-CP năm 2010 về hướng dẫn thi hành
Luật Nhà ở năm 2005, số 51/2009/NĐ-CP năm 2009 về hướng dẫn thi hành
nghị quyết số 19/2008/QH12 về thí điểm cho tổ chức, cá nhân nước
ngoài được mua và sở hữu nhà ở tại Việt Nam, số 34/2014/NĐ-CP năm 2013
về quản lý, sử dụng nhà ở thuộc sở hữu nhà nước và Nghị định số
84/2013/NĐ-CP năm 2013 về phát triển và quản lý nhà ở tái định
cư); (2) Nghị định quy định chi tiết về phát triển và
quản lý nhà ở xã hội (để thay thế cho Nghị định số 188/2013/NĐ-CP năm
2013 về phát triển và quản lý nhà ở xã hội); (3) Nghị định quy định chi tiết về cải tạo, xây
dựng lại các nhà chung cư bị hư hỏng, xuống cấp (để thay thế cho Nghị
quyết số 34/2007/NQ-CP năm 2007 về cải tạo, xây dựng lại chung cư
cũ); (4) Nghị định về xây dựng cơ sở dữ liệu, hệ thống
thống tin về nhà ở và thị trường bất động sản.
Bộ Xây dựng đã có văn bản đề nghị các Bộ, ngành có liên quan
và một số địa phương góp ý cho dự thảo các nghị định nêu trên. Dự kiến
trong tháng 5/2015, Bộ Xây dựng sẽ trình Chính phủ ban hành các Nghị
định nêu trên để kịp thời hướng dẫn các quy định của Luật Nhà ở số
65/2014/QH13 theo nhiệm vụ mà Quốc hội giao.
Ngoài việc xây dựng các dự thảo Nghị định nêu trên, Bộ Xây dựng
cũng đang khẩn trương nghiên cứu, xây dựng các dự thảo Thông tư mà được
Quốc hội giao để quy định chi tiết và để hướng dẫn các Nghị định
này như: Thông tư quy định về phân hạng nhà chung cư, Thông tư quy định
về Quy chế quản lý nhà chung cư, Thông tư quy định về việc đào tạo
kiến thức chuyên môn về quản lý vận hành nhà chung cư…Dự kiến, Bộ sẽ
ban hành các Thông tư này sau khi Chính phủ ban hành các Nghị định
hướng dẫn nêu trên để thống nhất về hiệu lực thi hành, bảo đảm các
tổ chức, cá nhân không phải chờ văn bản hướng dẫn thi hành mới triển
khai thực hiện được Luật Nhà ở năm 2014. 2. Tổ chức tuyên truyền, phổ biến Luật - Tổ chức tập huấn, tuyên truyền các nội dung cơ bản của Luật
Nhà ở năm 2014 tại 3 miền Bắc, Trung, Nam cho các đối tượng là cán bộ, công chức
công tác tại các cơ quan quản lý nhà nước, các Sở Xây dựng, doanh nghiệp. - Thông qua các cơ quan thông tin đại chúng, các đài, báo ở
Trung ương và địa phương để quảng bá, tuyên truyền Luật nhà ở. - Phổ biến pháp luật về nhà ở cũng như giải đáp thắc mắc
của các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp thông qua các chương trình của Đài truyền
hình Trung ương, truyền hình Hà Nội, truyền hình kỹ thuật số, truyền hình
cáp. |
ĐƠN VỊ HỖ TRỢ
|