|
|
KẾ TOÁN - THUẾ - DOANH NGHIỆP - LAO ĐỘNG |
|
|
|
|
1.
Khi lập và trình bày Báo cáo tài chính, doanh nghiệp phải xem xét giả định về sự
hoạt động liên tục. Doanh nghiệp bị coi là không hoạt động liên tục nếu hết thời
hạn hoạt động mà không có hồ sơ xin gia hạn hoạt động, dự kiến chấm dứt hoạt
động (phải có văn bản cụ thể gửi cơ quan có thẩm quyền) hoặc bị cơ quan có thẩm
quyền yêu cầu giải thể, phá sản, chấm dứt hoạt động trong vòng không quá 12
tháng kể từ ngày lập Báo cáo tài chính. Đối với doanh nghiệp có chu kỳ sản xuất,
kinh doanh thông thường hơn 12 tháng thì không quá một chu kỳ sản xuất kinh
doanh thông thường. 2.
Trong một số trường hợp sau đơn vị vẫn được coi là hoạt động liên
tục: -
Việc cổ phần hóa một doanh nghiệp Nhà nước thành công ty cổ phần. Việc xử lý tài
chính khi cổ phần hóa là trường hợp đặc biệt, mặc dù phải tiến hành xác định lại
giá trị doanh nghiệp, đánh giá lại tài sản và nợ phải trả nhưng về bản chất
doanh nghiệp vẫn duy trì hoạt động sản xuất, kinh doanh như bình thường; -
Việc thay đổi hình thức sở hữu doanh nghiệp, ví dụ chuyển một công ty TNHH thành
công ty cổ phần hoặc ngược lại; -
Việc chuyển một đơn vị có tư cách pháp nhân hạch toán độc lập thành một đơn vị
không có tư cách pháp nhân hạch toán phụ thuộc hoặc ngược lại (ví dụ chuyển một
công ty con thành một chi nhánh hoặc ngược lại) vẫn được coi là hoạt động liên
tục. 3.
Khi không đáp ứng giả định hoạt động liên tục, doanh nghiệp vẫn phải trình bày
đủ các Báo cáo tài chính và ghi rõ là: -
Bảng cân đối kế toán áp dụng cho doanh nghiệp không đáp ứng giả định hoạt động
liên tục – Mẫu B01/CDHĐ – DNKLT và được trình bày theo mẫu
riêng; -
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh áp dụng cho doanh nghiệp không đáp ứng giả
định hoạt động liên tục – Mẫu B02/CDHĐ – DNKLT và được trình bày theo mẫu chung
tương tự doanh nghiệp hoạt động bình thường; -
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ áp dụng cho doanh nghiệp không đáp ứng giả định hoạt
động liên tục – Mẫu B03/CDHĐ – DNKLT và được trình bày theo mẫu chung tương tự
doanh nghiệp hoạt động bình thường; -
Thuyết minh Báo cáo tài chính áp dụng cho doanh nghiệp không đáp ứng giả định
hoạt động liên tục – Mẫu B09/CDHĐ – DNKLT và được trình bày theo mẫu
riêng. 4.
Trường hợp giả định về sự hoạt động liên tục không còn phù hợp tại thời điểm báo
cáo, doanh nghiệp phải tái phân loại tài sản dài hạn và nợ phải trả dài hạn
thành tài sản ngắn hạn và nợ phải trả ngắn hạn. 5.
Trường hợp giả định về sự hoạt động liên tục không còn phù hợp tại thời điểm báo
cáo, doanh nghiệp phải đánh giá lại toàn bộ tài sản và nợ phải trả trừ trường
hợp có một bên thứ ba kế thừa quyền đối với tài sản hoặc nghĩa vụ đối với nợ
phải trả theo giá trị sổ sách. Doanh nghiệp phải ghi nhận vào sổ kế toán theo
giá đánh giá lại trước khi lập Bảng Cân đối kế toán.
5.1.
Không phải đánh giá lại tài sản, nợ phải trả nếu bên thứ ba kế thừa quyền đối
với tài sản hoặc nghĩa vụ đối với nợ phải trả trong một số trường hợp cụ thể như
sau: a)
Trường hợp một đơn vị giải thể để sáp nhập vào đơn vị khác, nếu đơn vị nhận sáp
nhập cam kết kế thừa mọi quyền và nghĩa vụ của đơn vị bị giải thể theo giá trị
sổ sách; b)
Trường hợp một đơn vị giải thể để chia tách thành các đơn vị khác, nếu đơn vị
sau khi chia tách cam kết kế thừa mọi quyền và nghĩa vụ của đơn vị bị giải thể
theo giá trị sổ sách; c)
Từng khoản mục tài sản cụ thể được một bên khác cam kết, bảo lãnh thu hồi cho
đơn vị bị giải thể theo giá trị sổ sách và việc thu hồi diễn ra trước thời điểm
đơn vị chính thức ngừng hoạt động; d)
Từng khoản mục nợ phải trả cụ thể được một bên thứ ba cam kết, bảo lãnh thanh
toán cho đơn vị bị giải thể và đơn vị bị giải thể chỉ có nghĩa vụ thanh toán lại
cho bên thứ ba đó theo giá trị sổ sách; 5.2.
Việc đánh giá lại được thực hiện đối với từng loại tài sản và nợ phải trả theo
nguyên tắc: (a)
Đối với tài sản: -
Hàng tồn kho, chi phí sản xuất, kinh doanh dở dang dài hạn, thiết bị, vật tư,
phụ tùng thay thế dài hạn được đánh giá thấp hơn giữa giá gốc và giá trị thuần
có thể thực hiện được tại thời điểm báo cáo; - TSCĐ hữu hình, TSCĐ vô hình,
bất động sản đầu tư được đánh giá theo giá thấp hơn giữa giá trị còn lại và giá
trị có thể thu hồi tại thời điểm báo cáo (là giá thanh lý trừ các chi phí thanh
lý ước tính). Đối với TSCĐ thuê tài chính
nếu có điều khoản bắt buộc phải mua lại thì đánh giá lại tương tự như TSCĐ của
doanh nghiệp, nếu được trả lại cho bên cho thuê thì đánh giá lại theo số nợ thuê
tài chính còn phải trả cho bên cho thuê; - Chi phí xây dựng cơ bản
dở dang được đánh giá theo giá thấp hơn giữa giá trị ghi sổ và giá trị có thể
thu hồi tại thời điểm báo cáo (là giá thanh lý trừ chi phí thanh lý ước
tính); - Chứng khoán kinh doanh
được đánh giá theo giá trị hợp lý. Giá trị hợp lý của chứng khoán niêm yết hoặc
chứng khoán trên sàn UPCOM được xác định là giá đóng cửa của phiên giao dịch tại
ngày báo cáo (hoặc phiên trước liền kề nếu thị trường không giao dịch vào ngày
báo cáo); - Các khoản đầu tư vào công
ty con, công ty liên doanh, liên kết và đơn vị khác được ghi nhận theo giá thấp
hơn giữa giá trị ghi sổ và giá trị có thể thu hồi tại thời điểm báo cáo (giá có
thể bán trừ chi phí bán ước tính); -
Các khoản đầu tư nắm giữ đến ngày đáo hạn, các khoản phải thu được đánh giá theo
số thực tế có thể thu hồi. b)
Đối với nợ phải trả: Trường hợp có sự thỏa thuận giữa các bên bằng văn bản về số
phải trả thì đánh giá lại theo số thỏa thuận. Trường hợp không có thỏa thuận cụ
thể thực hiện như sau: - Nợ
phải trả bằng tiền được đánh giá lại theo giá cao hơn giữa giá trị ghi sổ khoản
nợ phải trả và giá trị khoản nợ trả trước thời hạn theo quy định của hợp
đồng; - Nợ
phải trả bằng tài sản tài chính được đánh giá lại theo giá cao hơn giữa giá trị
ghi sổ của khoản nợ phải trả và giá trị hợp lý của tài sản tài chính đó tại thời
điểm báo cáo; - Nợ
phải trả bằng hàng tồn kho được đánh giá lại theo giá cao hơn giữa giá trị ghi
sổ khoản nợ phải trả và giá mua (cộng các chi phí liên quan trực tiếp) hoặc giá
thành sản xuất hàng tồn kho tại thời điểm báo cáo; - Nợ
phải trả bằng TSCĐ được đánh giá lại theo giá cao hơn giữa giá trị ghi sổ nợ
phải trả và giá mua (cộng các chi phí liên quan trực tiếp) hoặc giá trị còn lại
của TSCĐ tại thời điểm báo cáo. c)
Các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ được đánh giá lại theo tỷ giá thực tế tại
thời điểm báo cáo như bình thường. 6.
Phương pháp kế toán một số khoản mục tài sản khi doanh nghiệp không đáp ứng giả
định hoạt động liên tục: a)
Việc trích lập dự phòng hoặc đánh giá tổn thất tài sản được ghi giảm trực tiếp
vào giá trị ghi sổ của tài sản, không thực hiện trích lập dự phòng trên TK 229 –
“Dự phòng tổn thất tài sản”; b)
Việc tính khấu hao hoặc ghi nhận tổn thất của TSCĐ, Bất động sản đầu tư được ghi
giảm trực tiếp vào giá trị ghi sổ của tài sản, không sử dụng TK 214 để phản ánh
hao mòn lũy kế. 7.
Khi giả định hoạt động liên tục không còn phù hợp, doanh nghiệp phải xử lý một
số vấn đề tài chính sau: -
Thực hiện trích trước vào chi phí để xác định kết quả kinh doanh đối với các
khoản lỗ dự kiến phát sinh trong tương lai nếu khả năng phát sinh khoản lỗ là
tương đối chắc chắn và giá trị khoản lỗ được ước tính một cách đáng tin cậy; Ghi
nhận nghĩa vụ hiện tại đối với các khoản phải trả kể cả trong trường hợp chưa có
đầy đủ hồ sơ tài liệu (như biên bản nghiệm thu khối lượng của nhà thầu..) nhưng
chắc chắn phải thanh toán; -
Đối với khoản chênh lệch đánh giá lại tài sản luỹ kế thuộc phần vốn chủ sở hữu,
sau khi xử lý TSCĐ hữu hình, vô hình, BĐSĐT, phần còn lại được kết chuyển vào
thu nhập khác (nếu lãi) hoặc chi phí khác (nếu lỗ); -
Đối với khoản chênh lệch tỷ giá đang phản ánh luỹ kế trên Bảng cân đối kế toán
(như chênh lệch tỷ giá phát sinh từ việc chuyển đổi báo cáo tài chính), doanh
nghiệp kết chuyển toàn bộ vào doanh thu tài chính (nếu lãi) hoặc chi phí tài
chính (nếu lỗ); -
Các khoản chi phí trả trước chưa phân bổ hết như lợi thế thương mại phát sinh từ
hợp nhất kinh doanh không dẫn đến quan hệ cong ty mẹ-công ty con, lợi thế kinh
doanh khi cổ phần hóa, công cụ dụng cụ xuất dùng, chi phí thành lập doanh
nghiệp, chi phí trong giai đoạn triển khai… được ghi giảm toàn bộ để tính vào
chi phí trong kỳ. Riêng chi phí trả trước liên quan đến việc thuê tài sản, trả
trước lãi vay được tính toán và phân bổ để phù hợp với thời gian trả trước thực
tế còn lại cho đến khi chính thức dừng hoạt động; -
Công ty mẹ dừng ghi nhận lợi thế thương mại trên Báo cáo tài chính hợp nhất,
phần lợi thế thương mại chưa phân bổ hết được tính ngay vào chi phí quản lý
doanh nghiệp; -
Các khoản chênh lệch lãi, lỗ khi đánh giá lại tài sản và nợ phải trả sau khi bù
trừ với số dự phòng đã trích lập (nếu có) được ghi nhận vào doanh thu hoạt động
tài chính, thu nhập khác hoặc chi phí tài chính, chi phí khác tùy từng khoản mục
cụ thể tương tự như việc ghi nhận của doanh nghiệp đang hoạt động liên
tục. 8.
Trường hợp giả định về sự hoạt động liên tục không còn phù hợp tại thời điểm báo
cáo, doanh nghiệp phải thuyết minh chi tiết về khả năng tạo tiền và thanh toán
nợ phải trả, vốn chủ sở hữu cho các cổ đông và giải thích lý do về sự không so
sánh được giữa thông tin của kỳ báo cáo và thông tin kỳ so sánh, cụ
thể: - Số
tiền có khả năng thu hồi từ việc thanh lý, nhượng bán tài sản, thu hồi nợ phải
thu; -
Khả năng thanh toán nợ phải trả theo thứ tự ưu tiên, như khả năng trả nợ ngân
sách Nhà nước, trả nợ người lao động, trả nợ vay, nợ nhà cung
cấp; - Khả
năng thanh toán cho chủ sở hữu, đối với công ty cổ phần cần
công bố rõ khả năng mỗi cổ phiếu sẽ nhận được bao nhiều
tiền; -
Thời gian tiến hành thanh toán các khoản nợ phải trả và vốn chủ sở
hữu. - Lý
do không so sánh được thông tin kỳ báo cáo và kỳ so sánh: Do kỳ trước doanh
nghiệp trình bày Báo cáo tài chính theo nguyên tắc của doanh nghiệp hoạt động
liên tục; Kỳ báo cáo vì doanh nghiệp chuẩn bị giải thể, phá sản, chấm dứt hoạt
động theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền (ghi rõ tên cơ quan, số quyết
định) hoặc do Ban giám đốc có dự định theo văn bản (số, ngày, tháng, năm) nên
trình bày Báo cáo tài chính theo nguyên tắc
khác. |
ĐƠN VỊ HỖ TRỢ
|