|
|
KẾ TOÁN - THUẾ - DOANH NGHIỆP - LAO ĐỘNG |
|
|
|
|
CHÍNH
PHỦ CỘNG
HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Số:
100/2016/NĐ-CP Hà
Nội, ngày 01 tháng 7 năm 2016 ------------------- Căn
cứ Luật tổ chức Chính phủ ngày 19 tháng 6 năm 2015; Căn cứ Luật
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế giá trị gia tăng, Luật thuế tiêu thụ
đặc biệt và Luật quản lý thuế
ngày 06 tháng 4 năm 2016; Theo
đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài chính; Chính
phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết và
hướng dẫn thi
hành một số điều của
Luật sửa đổi, bổ
sung một số điều của
Luật thuế giá trị
gia tăng, Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật quản lý thuế, 1. Đoạn đầu Điều 3 và khoản 1 Điều 3 được
sửa đổi, bổ sung như sau: “Điều 3.
Đối tượng không chịu thuế Đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng thực hiện theo
quy định tại Điều 5 Luật thuế giá trị gia tăng, khoản 1 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
thuế giá trị gia tăng và khoản 1 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
thuế giá trị gia tăng, Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật quản lý
thuế. 1. Đối
với các sản phẩm quy định tại khoản 1 Điều 5 Luật thuế giá trị gia tăng đã được sửa
đổi, bổ sung tại khoản 1 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế
giá trị gia tăng, Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật quản lý
thuế qua sơ chế thông thường là sản phẩm mới được làm sạch,
phơi, sấy khô, bóc vỏ, tách hạt, cắt, ướp muối, bảo quản lạnh và các hình thức
bảo quản thông thường khác.” 2.
Khoản 3 Điều 3 được sửa đổi, bổ sung như sau: “3. Dịch vụ khám, chữa bệnh quy định tại khoản 1 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều
của Luật thuế giá trị gia tăng, Luật thuế tiêu thụ đặc biệt
và Luật quản lý thuế bao gồm cả vận chuyển, xét nghiệm, chiếu, chụp, máu và chế phẩm máu dùng cho người
bệnh. Dịch vụ chăm sóc người cao tuổi, người khuyết tật quy định tại khoản 1 Điều
1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế giá trị gia tăng, Luật thuế tiêu thụ đặc
biệt và Luật quản lý thuế bao gồm cả chăm sóc về y tế, dinh dưỡng và tổ chức các hoạt động văn hóa, thể thao,
giải trí, vật lý trị liệu, phục hồi chức năng cho người cao tuổi, người khuyết
tật.” 3.
Khoản 6 Điều 3 được sửa đổi, bổ sung như sau: “6. Vận chuyển hành khách công cộng quy định tại
khoản 16 Điều 5 Luật thuế giá trị gia tăng gồm vận chuyển hành khách
công cộng bằng xe buýt, xe điện (bao gồm cả tàu điện) theo các
tuyến trong nội tỉnh, trong đô thị và các tuyến lân cận ngoại
tỉnh theo quy định của pháp luật về giao thông.” 4.
Khoản 11 Điều 3 được sửa đổi, bổ sung như sau: “11. Sản phẩm xuất khẩu là tài nguyên, khoáng sản khai thác chưa chế biến thành sản phẩm khác
hoặc đã chế biến thành sản phẩm khác nhưng tổng trị giá tài nguyên, khoáng sản
cộng với chi phí năng lượng chiếm từ 51% giá thành sản xuất sản phẩm trở lên được chế biến
từ tài nguyên, khoáng sản; sản phẩm xuất khẩu là hàng hóa được chế biến từ tài
nguyên, khoáng sản có tổng trị giá tài nguyên, khoáng sản cộng với chi phí năng
lượng chiếm từ 51% giá thành sản xuất sản phẩm trở lên. Tài nguyên, khoáng sản quy định tại khoản này là tài nguyên, khoáng sản có nguồn gốc trong nước gồm:
Khoáng sản kim loại; khoáng sản không kim loại; dầu thô; khí thiên nhiên; khí
than. Trị giá tài nguyên, khoáng sản là giá vốn tài nguyên,
khoáng sản đưa vào chế biến; đối với tài nguyên, khoáng sản trực tiếp khai thác
là chi phí trực tiếp, gián tiếp khai thác ra tài nguyên khoáng sản;
đối với tài nguyên, khoáng sản mua để
chế biến là giá thực tế mua cộng chi phí đưa tài nguyên,
khoáng sản vào chế biến. Chi phí năng lượng gồm: Nhiên liệu, điện năng, nhiệt
năng. Việc xác định trị giá tài nguyên, khoáng sản và chi phí
năng lượng căn cứ vào quyết toán năm trước; trường hợp doanh nghiệp mới thành lập chưa có
báo cáo quyết toán năm trước thì căn cứ vào phương án đầu tư. Bộ Tài chính quy định chi tiết
khoản này.” 5.
Điểm đ khoản 1 Điều 6 được sửa đổi như sau: “đ) Các trường hợp không áp dụng mức thuế suất thuế giá trị
gia tăng 0% gồm: -
Chuyển giao công nghệ, chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ
ra nước ngoài; -
Dịch vụ tái bảo hiểm ra nước ngoài; -
Dịch vụ cấp tín dụng ra nước ngoài; -
Chuyển nhượng vốn ra nước ngoài; -
Đầu tư chứng khoán ra nước ngoài; -
Dịch vụ tài chính phái sinh; -
Dịch vụ bưu chính, viễn thông; -
Sản phẩm xuất khẩu quy định tại khoản 11 Điều 3 Nghị định này; -
Hàng hóa, dịch vụ cung cấp cho cá nhân không đăng ký kinh
doanh trong khu phi thuế quan; -
Thuốc lá, rượu, bia nhập khẩu sau đó xuất
khẩu.” 6.
Điều 10 được sửa đổi, bổ sung như sau: “Điều 10. Hoàn thuế giá trị gia tăng 1.
Cơ sở kinh doanh nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp
khấu trừ thuế nếu có số thuế giá trị gia tăng đầu vào chưa được khấu trừ hết
trong tháng (đối với trường hợp kê khai theo tháng) hoặc trong quý (đối với
trường hợp kê khai theo quý) thì được khấu trừ vào kỳ tiếp
theo. 2.
Cơ sở kinh doanh được hoàn thuế đối với dự án đầu tư như
sau: a)
Cơ sở kinh doanh mới thành lập từ dự án đầu tư đã đăng ký
kinh doanh, đăng ký nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ, hoặc dự
án tìm kiếm thăm dò và phát triển mỏ dầu khí đang trong giai đoạn đầu tư, chưa đi vào hoạt động,
nếu thời gian đầu tư từ 01 năm trở lên thì được hoàn thuế giá trị gia tăng của
hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho đầu tư theo từng năm, trừ trường hợp quy định tại
điểm c khoản này. Trường hợp, nếu số thuế giá trị gia tăng lũy
kế của hàng hóa, dịch vụ mua vào sử dụng cho đầu tư từ 300
triệu đồng trở lên thì được hoàn thuế giá trị gia tăng. Trường hợp dự án đầu tư của cơ sở kinh doanh đã được cơ
quan nhà nước có thẩm quyền thanh tra, kiểm tra, kiểm toán thì cơ quan thuế có
thể sử dụng kết quả thanh tra, kiểm tra, kiểm toán để quyết định việc hoàn thuế
giá trị gia tăng và phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình. b)
Cơ sở kinh doanh đang hoạt động thuộc đối tượng nộp thuế
giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ có dự án đầu tư mới (trừ dự án đầu tư
xây dựng nhà để bán) tại địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khác với
tỉnh, thành phố nơi đóng trụ sở chính, đang trong giai đoạn đầu tư chưa đi vào
hoạt động, chưa đăng ký kinh doanh, chưa đăng ký thuế thì số thuế giá trị gia
tăng đầu vào bù trừ với số thuế giá trị gia tăng phải nộp của hoạt động sản xuất
kinh doanh tại trụ sở chính, sau khi bù trừ nếu số thuế giá trị gia tăng của
hàng hóa, dịch vụ mua vào sử dụng cho đầu tư còn lại từ 300 triệu đồng trở lên
thì được hoàn thuế giá trị gia tăng cho dự án đầu tư, trừ trường hợp quy định
tại điểm c khoản này. Cơ sở kinh doanh phải kê khai, lập hồ sơ hoàn thuế
riêng đối với dự án đầu tư. c)
Cơ sở kinh doanh không được hoàn thuế giá trị gia tăng mà
được kết chuyển số thuế chưa được khấu trừ của dự án đầu tư theo pháp luật về
đầu tư sang kỳ tiếp theo đối với các trường hợp: -
Dự án đầu tư của cơ sở kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh
doanh có điều kiện khi chưa đủ các điều kiện kinh doanh theo quy định của Luật đầu tư quy định tại
điểm a khoản 1 Điều 13 Luật thuế giá
trị gia tăng đã được sửa đổi, bổ sung tại Luật sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật thuế giá trị gia tăng, Luật thuế tiêu thụ đặc
biệt và Luật quản lý thuế là dự án đầu tư của cơ sở kinh doanh ngành, nghề đầu
tư kinh doanh có điều kiện nhưng cơ sở kinh doanh chưa được cấp giấy phép kinh
doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện; chưa được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có
điều kiện; chưa có văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
cho phép đầu tư kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện; hoặc chưa đáp ứng được điều kiện để thực hiện đầu tư kinh doanh có điều kiện mà không cần phải có xác nhận, chấp thuận dưới hình
thức văn bản theo quy định của pháp luật về đầu tư. Dự án đầu tư của cơ sở kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh
doanh có điều kiện không bảo đảm duy trì đủ điều kiện kinh doanh trong quá trình hoạt động quy định tại
điểm a khoản 1 Điều 13 Luật thuế giá trị gia tăng đã được sửa đổi, bổ sung tại
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế giá trị gia tăng, Luật thuế tiêu thụ đặc
biệt và Luật quản lý thuế là dự án đầu tư của cơ sở kinh doanh ngành, nghề đầu
tư kinh doanh có điều kiện nhưng trong quá trình hoạt động cơ sở kinh doanh bị
thu hồi giấy phép kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện; bị thu hồi giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có
điều kiện; bị thu hồi văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm
quyền về đầu tư kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện; hoặc trong quá trình hoạt động cơ sở kinh doanh
không đáp ứng được điều
kiện để thực hiện đầu tư kinh doanh có điều kiện theo quy định của pháp luật về đầu tư thì thời
điểm không hoàn thuế giá trị gia tăng được tính từ thời
điểm cơ sở kinh doanh bị thu hồi một trong các loại giấy tờ nêu
trên hoặc từ thời điểm cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiểm tra, phát hiện cơ sở
kinh doanh không đáp ứng được các điều kiện về đầu tư kinh doanh có điều kiện. -
Dự án đầu tư khai thác tài nguyên, khoáng sản được cấp phép
từ ngày 01 tháng 7 năm 2016 hoặc dự án đầu tư sản xuất sản phẩm hàng hóa mà tổng
trị giá tài nguyên, khoáng sản cộng với chi phí năng lượng chiếm từ 51% giá thành sản phẩm trở lên theo dự án đầu
tư. Việc xác định tài nguyên, khoáng sản; trị giá tài nguyên,
khoáng sản và thời điểm xác định trị giá tài nguyên, khoáng sản và chi phí năng
lượng thực hiện theo quy định tại khoản 11 Điều 3 Nghị định này. 3.
Cơ sở kinh doanh trong tháng (đối với trường hợp kê khai
theo tháng), quý (đối với trường hợp kê khai theo quý) có hàng hóa, dịch vụ xuất
khẩu có số thuế giá trị gia tăng đầu vào chưa được khấu trừ từ 300 triệu đồng
trở lên thì được hoàn thuế giá trị gia tăng theo tháng, quý; trường hợp trong
tháng, quý số thuế giá trị gia tăng đầu vào chưa được khấu trừ chưa đủ 300 triệu
đồng thì được khấu trừ vào tháng, quý tiếp theo; trường hợp vừa có hàng hóa,
dịch vụ xuất khẩu, vừa có hàng hóa, dịch vụ tiêu thụ nội địa nếu sau khi bù trừ với số thuế phải nộp, số thuế giá trị gia
tăng đầu vào chưa được khấu trừ của hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu còn lại từ 300 triệu
đồng trở lên thì cơ sở kinh doanh được hoàn thuế. Cơ sở kinh doanh phải hạch
toán riêng số thuế
giá trị gia tăng đầu vào sử dụng cho sản xuất kinh doanh
hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu, trường hợp không hạch toán riêng được thì số thuế
giá trị gia tăng đầu vào xác định theo tỷ lệ giữa doanh thu của hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu trên tổng doanh
thu hàng hóa, dịch vụ của các kỳ khai thuế
giá trị gia tăng tính từ kỳ khai thuế
tiếp theo kỳ hoàn thuế liền trước đến kỳ đề nghị hoàn
thuế hiện tại. Cơ sở kinh doanh không được hoàn thuế đối với trường hợp
hàng hóa nhập khẩu sau đó xuất khẩu, hàng hóa xuất khẩu không thực hiện việc
xuất khẩu tại địa bàn hoạt động hải quan theo quy định của Luật hải quan và các
văn bản hướng dẫn. Cơ quan thuế thực hiện hoàn thuế trước, kiểm tra sau đối
với người nộp thuế sản xuất hàng hóa xuất khẩu không bị xử lý đối với hành vi
buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới, trốn thuế, gian lận
thuế, gian lận thương mại trong thời gian hai năm liên tục;
người nộp thuế không thuộc đối tượng rủi ro cao theo quy định của Luật quản lý thuế và
các văn bản hướng dẫn thi hành. 4.
Cơ sở kinh doanh nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp
khấu trừ thuế được hoàn thuế giá trị gia tăng khi chuyển đổi sở hữu, chuyển đổi doanh nghiệp, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, giải thể,
phá sản, chấm dứt hoạt động có số thuế giá trị gia tăng nộp thừa hoặc
số thuế giá trị gia tăng đầu vào chưa được khấu trừ hết. Cơ sở kinh doanh trong giai đoạn đầu tư chưa đi vào hoạt
động sản xuất kinh doanh nhưng phải giải thể, phá sản hoặc chấm dứt hoạt động
chưa phát sinh thuế giá trị gia tăng đầu ra của hoạt động kinh doanh chính theo
dự án đầu tư thì chưa phải điều chỉnh lại số thuế giá trị gia tăng đã kê khai,
khấu trừ hoặc đã được hoàn. Việc kê khai, tính nộp thuế trong
trường hợp chuyển nhượng dự án đầu tư, bán tài sản của dự án đầu tư hoặc
chuyển đổi mục đích sản xuất, kinh doanh của dự án đầu tư thực hiện theo
hướng dẫn của Bộ Tài chính. 5.
Việc hoàn thuế giá trị gia tăng đối với các chương trình;
dự án sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) không hoàn lại hoặc
viện trợ không hoàn lại, viện trợ nhân đạo được quy định như sau: a)
Chủ chương trình, dự án hoặc nhà thầu chính, tổ chức do
phía nhà tài trợ nước ngoài chỉ định việc quản lý chương trình, dự án sử dụng
vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) không hoàn lại được
hoàn số thuế giá trị gia tăng đã trả cho hàng hóa, dịch vụ mua tại Việt
Nam để phục vụ cho chương trình, dự án; b)
Tổ chức ở Việt Nam sử dụng tiền viện trợ không hoàn lại,
tiền viện trợ nhân đạo của tổ chức, cá nhân nước ngoài để mua hàng hóa, dịch vụ
phục vụ cho chương trình, dự án viện trợ không hoàn lại, viện trợ nhân đạo tại Việt Nam thì được
hoàn số thuế giá trị gia tăng đã trả cho hàng hóa, dịch vụ đó. 6.
Đối tượng được hưởng quyền ưu đãi miễn trừ ngoại giao theo
quy định của pháp luật về ưu đãi miễn trừ ngoại giao mua hàng hóa, dịch vụ tại Việt Nam để
sử dụng được hoàn số thuế giá trị gia tăng đã trả ghi trên hóa đơn giá trị gia
tăng hoặc trên chứng từ thanh toán ghi giá thanh toán đã có thuế giá trị gia
tăng. 7.
Người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài mang
hộ chiếu hoặc giấy tờ nhập cảnh do cơ quan có thẩm quyền nước ngoài cấp được
hoàn thuế đối với hàng hóa mua tại Việt Nam mang theo người khi xuất
cảnh. 8.
Cơ sở kinh doanh có quyết định hoàn thuế giá trị gia tăng
của cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật và trường hợp hoàn thuế
giá trị gia tăng theo điều
ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành
viên.” 1.
Khoản 1 Điều 4 được sửa đổi như sau: “1. Đối với hàng hóa sản xuất trong nước, hàng hóa nhập
khẩu là giá do cơ sở sản xuất, cơ sở nhập khẩu bán ra. Trường
hợp giá bán của cơ sở sản xuất, cơ sở nhập khẩu bán ra không theo giá giao dịch
thông thường trên thị trường thì cơ quan thuế thực hiện ấn định thuế theo quy
định của Luật quản lý thuế. Giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt được xác định như
sau: Giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt = Giá bán chưa có thuế giá trị gia tăng - Thuế bảo vệ môi trường (nếu có) 1
+ Thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt Trong đó, giá bán chưa có thuế giá trị gia tăng được xác
định theo quy định của pháp luật về thuế giá trị gia tăng. a)
Trường hợp cơ sở sản xuất, cơ sở nhập khẩu hàng hóa chịu
thuế tiêu thụ đặc biệt bán hàng qua các cơ sở trực thuộc hạch toán phụ thuộc thì
giá làm căn cứ tính thuế tiêu thụ đặc biệt là giá do cơ sở hạch toán phụ thuộc
bán ra. Cơ sở sản xuất, cơ sở nhập khẩu bán hàng thông qua đại lý bán đúng giá
do cơ sở sản xuất, cơ sở nhập khẩu quy định và chỉ hưởng hoa hồng thì giá bán
làm căn cứ xác định giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt là giá do cơ sở sản xuất, cơ
sở nhập khẩu quy định chưa trừ hoa hồng. b)
Trường hợp hàng hóa chịu thuế tiêu thụ đặc biệt được bán
cho các cơ sở kinh doanh thương mại là cơ sở có quan hệ công ty mẹ, công ty con
hoặc các công ty con trong cùng công ty mẹ với cơ sở sản xuất, cơ sở nhập
khẩu hoặc cơ sở kinh doanh thương mại là cơ sở có mối quan hệ
liên kết thì giá bán làm căn cứ xác định giá tính thuế
tiêu thụ đặc biệt không được thấp hơn tỷ lệ 7% so với giá bình quân của các cơ sở kinh
doanh thương mại mua trực tiếp của cơ sở sản xuất, nhập khẩu bán ra. Trường hợp cơ sở
sản xuất, cơ sở nhập khẩu thành lập nhiều cơ sở thương mại trung gian có quan hệ
công ty mẹ, công ty con hoặc các công ty con trong cùng công ty mẹ hoặc có mối
quan hệ liên kết thì giá bán làm căn cứ xác định giá tính thuế
tiêu thụ đặc biệt không được thấp hơn tỷ lệ 7% so với giá
bình quân của các cơ sở thương mại này bán cho cơ sở kinh doanh thương mại không
có quan hệ công ty mẹ, công ty con, hoặc các công ty con trong cùng công ty mẹ,
hoặc có mối quan hệ liên kết với cơ sở sản xuất, cơ sở nhập khẩu. Riêng mặt hàng
xe ôtô giá bán bình quân của cơ sở kinh doanh thương mại để so sánh là giá bán
xe ôtô chưa bao gồm các lựa chọn về trang thiết bị, phụ tùng mà cơ sở kinh doanh
thương mại lắp đặt thêm theo yêu cầu của khách hàng. Cơ sở sản xuất, cơ sở nhập khẩu và cơ sở kinh doanh thương
mại có mối quan hệ liên kết theo quy định tại điểm này khi: Một doanh nghiệp nắm giữ trực tiếp hoặc gián tiếp ít nhất 20% vốn đầu tư của
chủ sở hữu của doanh nghiệp kia. Trường hợp giá bán làm căn cứ xác định giá tính thuế tiêu
thụ đặc biệt của cơ sở sản xuất, cơ sở nhập khẩu hàng hóa chịu thuế
tiêu thụ đặc biệt thấp hơn tỷ lệ 7% so với giá bình quân
của cơ sở kinh doanh thương mại bán ra thì giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt là
giá do cơ quan thuế
ấn định theo quy định của pháp luật về quản lý
thuế.” 2.
Khoản 4, khoản 5 Điều 4 được sửa đổi như sau: “4. Đối với hàng hóa gia công thuộc diện chịu thuế tiêu thụ
đặc biệt là giá bán hàng hóa của cơ sở giao gia công bán ra hoặc giá bán của sản
phẩm cùng loại hoặc tương đương tại thời điểm bán. Trường hợp cơ sở giao gia công bán hàng cho cơ sở kinh
doanh thương mại là cơ sở có quan hệ công ty mẹ, công ty con hoặc các công ty
con trong cùng công ty mẹ với cơ sở sản xuất, cơ sở nhập khẩu hoặc cơ sở kinh
doanh thương mại là cơ sở có mối quan hệ liên kết thì giá tính thuế
được xác định theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều này. 5.
Đối với hàng hóa sản xuất dưới hình thức hợp tác kinh doanh
giữa cơ sở sản xuất và cơ sở sử dụng hoặc sở hữu thương hiệu (nhãn hiệu) hàng
hóa, công nghệ sản xuất thì giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt là giá bán ra của cơ
sở sử dụng hoặc sở hữu thương hiệu hàng hóa, công nghệ sản xuất. Trường hợp cơ
sở sản xuất theo giấy phép nhượng quyền và chuyển giao hàng hóa cho chi nhánh hoặc đại diện của công ty
nước ngoài tại Việt Nam để
tiêu thụ sản phẩm thì giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt là
giá bán ra của chi nhánh, đại diện công ty nước ngoài tại Việt Nam. Trường hợp các cơ sở này bán hàng cho cơ sở kinh doanh
thương mại là cơ sở có quan hệ công ty mẹ, công ty con hoặc các công ty con
trong cùng công ty mẹ với cơ sở sản xuất, cơ sở nhập khẩu hoặc cơ sở kinh doanh
thương mại là cơ sở có mối quan hệ liên kết thì giá tính thuế
được xác định theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều này.” 1.
Sửa đổi khoản 1
Điều 28a như sau: “1. Người nộp thuế chậm nộp tiền thuế so với thời hạn quy
định, thời hạn gia hạn nộp thuế, thời hạn ghi trong thông báo của cơ quan quản
lý thuế, thời hạn trong quyết định xử lý của cơ quan quản lý
thuế thì phải nộp đủ tiền thuế và tiền chậm nộp theo mức bằng 0,03%/ngày tính trên
số tiền thuế
chậm nộp. Đối với các khoản nợ tiền thuế phát sinh trước ngày 01 tháng 7 năm 2016 mà
người nộp thuế chưa nộp vào ngân sách nhà nước, kể
cả khoản tiền nợ thuế được truy thu qua kết quả thanh tra, kiểm tra
của cơ quan có thẩm quyền thì được chuyển sang áp dụng mức tính tiền chậm nộp
theo tỷ lệ quy định tại khoản này từ ngày 01 tháng 7 năm 2016. Trường hợp người nộp thuế cung ứng hàng hóa, dịch vụ được
thanh toán bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước nhưng chưa được thanh toán nên
không nộp thuế đúng thời hạn dẫn đến nợ thuế thì không thực hiện cưỡng chế thuế
và không phải nộp tiền chậm nộp tính trên số tiền thuế
còn nợ nhưng không vượt quá số tiền ngân sách nhà nước chưa
thanh toán phát sinh trong thời gian ngân sách nhà nước chưa thanh
toán.” 2.
Bãi bỏ Điều
38. 3.
Điểm a khoản 2 Điều 39 được sửa đổi, bổ sung như sau: “a) Trong thời gian nộp dần tiền thuế nợ, người nộp thuế
vẫn phải nộp tiền chậm nộp theo mức 0,03%/ngày trên số tiền thuế chậm nộp. Người
nộp thuế có trách nhiệm nộp đủ số tiền thuế, tiền chậm nộp đã cam kết.” 4.
Điểm a khoản 2 Điều 42 được sửa đổi, bổ sung như sau: “a) Miễn, giảm thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế tài nguyên,
thuế thu nhập cá nhân cho người nộp thuế bị thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn bất ngờ
không có khả năng nộp thuế theo quy định của pháp luật; miễn thuế sử dụng đất
phi nông nghiệp, thuế sử dụng đất nông nghiệp, tiền thuê đất, thuê mặt nước, lệ
phí trước bạ cho người nộp thuế theo quy định của pháp luật; miễn thuế đối với
hộ gia đình, cá nhân có số thuế sử dụng đất phi nông nghiệp phải nộp hàng năm từ
50.000 đồng trở xuống. Bộ Tài chính quy định cụ thể việc miễn, giảm thuế quy
định tại điểm này; Trường hợp miễn, giảm tiền sử dụng đất, cơ quan thuế căn cứ vào hồ sơ địa
chính kèm theo giấy tờ chứng minh thuộc đối tượng được miễn, giảm tiền sử dụng
đất và các văn bản liên quan để xác định số tiền sử dụng đất được
miễn, giảm, số tiền sử dụng đất phải nộp. Cơ quan thuế không ban hành quyết định
miễn, giảm thuế mà xác định rõ số tiền sử dụng đất được miễn, giảm
trên tờ thông báo nộp tiền sử dụng đất của cơ quan thuế.” Điều 4.
Sửa đổi khoản 3
Điều 13 Nghị định số 129/2013/NĐ-CP ngày 16 tháng 10 năm 2013 của Chính
phủ về xử phạt vi phạm hành chính về thuế và cưỡng chế thi hành quyết định hành
chính thuế như sau: “3. Bên bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ thuế phải nộp thay tiền
thuế, tiền chậm nộp tiền thuế, tiền phạt, tiền chậm nộp tiền phạt (nếu có) cho
người nộp thuế theo nội dung cam kết tại văn bản bảo lãnh trong trường hợp người
nộp thuế không nộp vào ngân sách nhà nước. Bên bảo lãnh nộp thay các khoản tiền thuế nợ, tiền chậm nộp tiền thuế, tiền phạt, tiền
chậm nộp tiền phạt (nếu có) cho người nộp thuế
theo văn bản bảo lãnh, nếu quá thời hạn theo quy định của
cơ quan thuế mà đối tượng nộp thuế chưa nộp hoặc chưa nộp đủ tiền thuế nợ, tiền
chậm nộp tiền thuế, tiền phạt, tiền chậm nộp tiền phạt mà bên bảo lãnh chưa thực
hiện nghĩa vụ bảo lãnh thì bên bảo lãnh phải trả tiền chậm nộp theo mức
0,03%/ngày tính trên số tiền thuế, tiền phạt chậm nộp và bị cưỡng chế
theo quy định tại khoản 3 Điều 18, Điều 19 Nghị định này. Trình tự, thủ tục thực hiện các biện
pháp cưỡng chế áp dụng như đối với người nộp thuế bị cưỡng chế.” Điều 5.
Hiệu lực và trách nhiệm thi hành 1.
Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm
2016, trừ quy định tại khoản 2 Điều này. 2.
Khoản 2 Điều
3 của Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 9
năm 2016. 3.
Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định này. 4.
Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ
quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương và các tổ chức, cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Nghị định
này./. Nơi nhận: TM.
CHÍNH PHỦ |
ĐƠN VỊ HỖ TRỢ
|
||||||||||||||