|
|
KẾ TOÁN - THUẾ - DOANH NGHIỆP - LAO ĐỘNG |
|
|
|
|
BỘ
TÀI
CHÍNH CỘNG
HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Số:
133/2016/TT-BTC Hà
Nội, ngày 26
tháng 8
năm 2016 THÔNG
TƯ HƯỚNG
DẪN CHẾ ĐỘ KẾ TOÁN DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA Căn
cứ Luật Kế toán số 88/2015/QH13 ngày 20 tháng 11 năm 2015; Căn
cứ Nghị định số 215/2013/NĐ-CP ngày 13 tháng 12 năm 2013 của Chính phủ quy định
chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính; Theo
đề nghị của Vụ trưởng Vụ Chế độ kế toán và kiểm toán, Bộ
trưởng Bộ Tài chính ban hành Thông tư hướng dẫn Chế độ kế toán doanh nghiệp nhỏ
và vừa. Chương
I QUY
ĐỊNH CHUNG Điều
1. Phạm vi điều chỉnh Thông
tư này hướng dẫn nguyên tắc ghi sổ kế toán, lập và trình bày Báo cáo tài chính
của doanh nghiệp nhỏ và vừa, không áp dụng cho việc xác định nghĩa vụ thuế của
doanh nghiệp đối với ngân sách Nhà nước. Điều
2. Đối tượng áp dụng 1.
Thông tư này áp dụng đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa (bao gồm cả doanh
nghiệp siêu nhỏ) thuộc mọi lĩnh vực, mọi thành phần kinh tế theo quy định của
pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa trừ doanh nghiệp Nhà nước, doanh
nghiệp do Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ, công ty đại chúng theo quy định
của pháp luật về chứng khoán, các hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã theo quy định
tại Luật Hợp tác xã. 2.
Doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa thuộc lĩnh vực đặc thù như điện lực, dầu khí,
bảo hiểm, chứng khoán ... đã được Bộ Tài chính ban hành hoặc chấp thuận áp dụng
chế độ kế toán đặc thù. Điều
3. Nguyên tắc chung 1.
Doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể lựa chọn áp dụng Chế độ kế toán doanh nghiệp ban
hành theo Thông tư số 200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014 của Bộ Tài chính và các
văn bản sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế nhưng phải thông báo cho cơ
quan
thuế quản lý doanh nghiệp và phải thực hiện nhất quán trong năm tài chính.
Trường hợp chuyển đổi trở lại áp dụng chế độ kế toán doanh nghiệp nhỏ và vừa
theo Thông tư này thì phải thực hiện từ đầu năm tài chính và phải thông báo lại
cho cơ quan Thuế. 2.
Doanh nghiệp vừa và nhỏ căn cứ vào nguyên tắc kế toán, nội dung và kết cấu của
các tài khoản kế toán quy định tại Thông tư này để phản ánh và hạch toán các
giao dịch kinh tế phát sinh phù hợp với đặc điểm hoạt động và yêu cầu quản lý
của đơn vị. 3.
Trường hợp trong năm tài chính doanh nghiệp có những thay đổi dẫn đến không còn
thuộc đối tượng áp dụng theo quy định tại Điều 2 Thông tư này thì được áp dụng
Thông tư này cho đến hết năm tài chính hiện tại và phải áp dụng Chế độ kế toán
phù hợp với quy định của pháp luật kể từ năm tài chính kế tiếp. Điều
4. Áp dụng chuẩn mực kế toán Doanh
nghiệp nhỏ và vừa thực hiện Chế độ kế toán ban hành theo Thông tư này và các
Chuẩn mực kế toán Việt Nam có liên quan, ngoại trừ các Chuẩn mực kế toán Việt
Nam sau: STT Số
hiệu và tên chuẩn mực 1 CM
số 11 - Hợp nhất kinh doanh 2 CM
số 19 - Hợp đồng bảo hiểm 3 CM
số 22 - Trình bày bổ sung báo cáo tài chính của các ngân hàng và tổ chức
tài chính tương tự 4 CM
số 25 - Báo cáo tài chính hợp nhất và kế toán khoản đầu tư vào công ty
con 5 CM
số 27 - Báo cáo tài chính giữa niên độ 6 CM
số 28 - Báo cáo bộ phận 7 CM
số 30 - Lãi trên cổ phiếu Điều
5. Đơn vị tiền tệ trong kế toán “Đơn
vị tiền tệ trong kế toán” là Đồng Việt Nam (ký hiệu quốc gia là “đ”; ký hiệu
quốc tế là “VND”) được dùng để ghi sổ kế toán, lập và trình bày Báo cáo tài
chính của doanh nghiệp. Trường hợp đơn vị kế toán chủ yếu thu, chi bằng ngoại
tệ, đáp ứng được các tiêu chuẩn quy định tại Điều 6 Thông tư này thì được chọn
một loại ngoại tệ làm đơn vị tiền tệ để ghi sổ kế toán. Điều
6. Lựa chọn đơn vị tiền tệ trong kế toán 1.
Doanh nghiệp có nghiệp vụ thu, chi chủ yếu bằng ngoại tệ căn cứ vào quy định của
Luật Kế toán, để xem xét, quyết định lựa chọn đơn vị tiền tệ trong kế toán và
chịu trách nhiệm về quyết định đó trước pháp luật. Khi lựa chọn đơn vị tiền
tệ
trong
kế toán, doanh nghiệp phải thông báo cho cơ quan thuế quản lý trực
tiếp. 2.
Đơn vị tiền tệ trong kế toán là đơn vị tiền tệ: a)
Được sử dụng chủ yếu trong các giao dịch bán hàng, cung cấp dịch vụ của đơn vị,
có ảnh hưởng lớn đến giá bán hàng hóa và cung cấp dịch vụ, thông thường chính là
đơn vị tiền tệ dùng để niêm yết giá bán và được thanh toán; và b)
Được sử dụng chủ yếu trong việc mua hàng hóa, dịch vụ, có ảnh hưởng lớn đến chi
phí nhân công, nguyên vật liệu và các chi phí sản xuất, kinh doanh khác, thông
thường chính là đơn vị tiền tệ dùng để thanh toán cho các chi phí
đó. 3.
Các yếu tố sau đây cũng được xem xét và cung cấp bằng chứng về đơn vị tiền tệ
trong kế toán của đơn vị: a)
Đơn vị tiền tệ sử dụng để huy động các nguồn lực tài chính (như phát hành cổ
phiếu, trái phiếu); b)
Đơn vị tiền tệ thường xuyên thu được từ các hoạt động kinh doanh và được tích
trữ lại. 4.
Đơn vị tiền tệ trong kế toán phản ánh các giao dịch, sự kiện, điều kiện liên
quan đến hoạt động của đơn vị. Sau khi xác định được đơn vị tiền tệ trong kế
toán thì đơn vị không được thay đổi trừ khi có sự thay đổi trọng yếu trong các
giao dịch, sự kiện và điều kiện đó. Điều
7. Chuyển đổi Báo cáo tài chính sang Đồng Việt Nam 1.
Doanh nghiệp sử dụng đồng tiền khác với Đồng Việt Nam làm đơn vị tiền tệ trong
kế toán thì Báo cáo tài chính mang tính pháp lý để công bố ra công chúng và nộp
cho các cơ quan có thẩm quyền tại Việt Nam là Báo cáo tài chính được trình bày
bằng Đồng Việt Nam. Trường hợp doanh nghiệp thuộc đối tượng bắt buộc phải kiểm
toán báo cáo tài chính thì Báo cáo tài chính nộp cho cơ quan quản lý Nhà nước và
công bố ra công chúng phải được kiểm toán. 2.
Việc chuyển đổi Báo cáo tài chính sang Đồng Việt Nam được thực hiện theo quy
định tại Điều 78 Thông tư này. 3.
Khi chuyển đổi Báo cáo tài chính sang Đồng Việt Nam, doanh nghiệp phải trình bày
rõ trên Bản thuyết minh Báo cáo tài chính những ảnh hưởng (nếu có) đối với Báo
cáo tài chính do việc chuyển đổi Báo cáo tài chính sang Đồng Việt Nam.
Điều
8. Thay đổi đơn vị tiền tệ trong kế toán Khi
có sự thay đổi lớn về hoạt động quản lý và kinh doanh dẫn đến đơn vị tiền tệ kế
toán được sử dụng trong các giao dịch kinh tế không còn thỏa mãn các tiêu chuẩn
tại khoản 2, 3 Điều 6 Thông tư này thì doanh nghiệp được thay đổi đơn vị tiền tệ
trong kế toán. Việc thay đổi từ một đơn vị tiền tệ ghi sổ kế toán này sang một
đơn vị tiền tệ ghi sổ kế toán khác chỉ được thực hiện tại thời điểm bắt đầu niên
độ kế toán mới. Doanh
nghiệp phải thông báo cho cơ quan thuế quản lý trực tiếp về việc thay đổi đơn vị
tiền tệ trong kế toán chậm nhất là sau 10 ngày làm việc kể từ ngày thay đổi đơn
vị tiền tệ. Điều
9. Quyền và trách nhiệm của doanh nghiệp đối với việc tổ chức kế toán tại các
đơn vị trực thuộc không có tư cách pháp nhân hạch toán phụ thuộc (gọi tắt là đơn
vị hạch toán phụ thuộc) 1.
Doanh nghiệp có trách nhiệm tổ chức bộ máy kế toán và phân cấp hạch toán ở các
đơn vị hạch toán phụ thuộc phù hợp với đặc điểm hoạt động, yêu cầu quản lý của
mình và không trái với quy định của pháp luật. 2.
Doanh nghiệp quyết định việc kế toán tại đơn vị hạch toán phụ thuộc có tổ chức
bộ máy kế toán riêng đối với: a)
Việc ghi nhận khoản vốn kinh doanh được doanh nghiệp cấp: Doanh nghiệp quyết
định đơn vị hạch toán phụ thuộc ghi nhận là nợ phải trả hoặc vốn chủ sở
hữu; b)
Đối với các giao dịch mua, bán, điều chuyển sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ nội bộ,
việc ghi nhận doanh thu, giá vốn tại từng đơn vị hạch toán phụ thuộc do doanh
nghiệp quyết định, không phụ thuộc vào hình thức của chứng từ kế toán (hóa đơn
hay chứng từ luân chuyển nội bộ). Trường
hợp sự luân chuyển sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ giữa các khâu trong nội bộ về bản
chất tạo ra giá trị gia tăng trong sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ thì doanh nghiệp
nên ghi nhận doanh thu, giá vốn tại các đơn vị hạch toán phụ thuộc. c)
Việc phân cấp kế toán tại đơn vị hạch toán phụ thuộc: Tùy thuộc mô hình tổ chức
kế toán tập trung hay phân tán, doanh nghiệp có thể giao đơn vị hạch toán phụ
thuộc phản ánh đến lợi nhuận sau thuế chưa phân phối hoặc chỉ phản ánh đến doanh
thu, chi phí. Điều
10. Đăng ký sửa đổi Chế độ kế toán 1.
Đối với hệ thống tài khoản kế toán a)
Trường hợp doanh nghiệp cần bổ sung tài khoản cấp 1, cấp 2 hoặc sửa đổi tài
khoản cấp 1, cấp 2 về tên, ký hiệu, nội dung và phương pháp hạch toán các nghiệp
vụ kinh tế phát sinh đặc thù phải được sự chấp thuận bằng văn bản của Bộ Tài
chính trước khi thực hiện. b)
Doanh nghiệp có thể mở thêm các tài khoản cấp 2 và các tài khoản cấp 3 đối với
những tài khoản không có qui định tài khoản cấp 2, tài khoản cấp 3 tại danh mục
Hệ thống tài khoản kế toán doanh nghiệp quy định tại Phụ lục 1 ban hành kèm theo
Thông tư này nhằm phục vụ yêu cầu quản lý của doanh nghiệp mà không phải đề nghị
Bộ Tài chính chấp thuận. 2.
Đối
với Báo cáo tài chính a)
Doanh
nghiệp nhỏ và vừa căn cứ biểu mẫu và nội dung của các chỉ tiêu của Báo cáo tài
chính tại Phụ lục 2 ban hành kèm theo Thông tư này để chi tiết các chỉ tiêu (có
sẵn) của hệ thống Báo cáo tài chính phù hợp với đặc điểm sản xuất, kinh doanh,
yêu cầu quản lý của từng đơn vị. b)
Trường hợp doanh nghiệp cần bổ sung mới hoặc sửa đổi biểu mẫu, tên và nội dung
các chỉ tiêu của Báo cáo tài chính phải được sự chấp thuận bằng văn bản của Bộ
Tài chính trước khi thực hiện. 3.
Đối
với chứng từ và sổ kế toán a)
Các chứng từ kế toán đều thuộc loại hướng dẫn (không bắt buộc), doanh nghiệp
được tự thiết kế mẫu chứng từ kế toán phù hợp với đặc điểm hoạt động và yêu cầu
quản lý của đơn vị nhưng phải đảm bảo các nội dung chủ yếu và phải đảm bảo cung
cấp những thông tin theo quy định của Luật Kế toán và các văn bản hướng dẫn Luật
Kế toán. b)
Tất cả các biểu mẫu sổ kế toán (kể cả các loại Sổ Cái, sổ Nhật ký) đều thuộc
loại hướng dẫn (không bắt buộc). Doanh nghiệp phải tuân thủ quy định của Luật Kế
toán và các văn bản hướng dẫn Luật Kế toán. Doanh nghiệp được tự thiết kế biểu
mẫu sổ, thẻ kế toán phù hợp với đặc điểm hoạt động và yêu cầu quản lý nhưng phải
đảm bảo trình bày thông tin đầy đủ, rõ ràng, dễ kiểm tra, kiểm
soát. TÀI
KHOẢN KẾ
TOÁN Điều
11. Nguyên tắc kế toán tiền 1.
Kế toán phải mở sổ kế toán ghi chép hàng ngày liên tục theo trình tự phát sinh
các khoản thu, chi, nhập, xuất các loại tiền và tính ra số tồn tại quỹ và từng
tài khoản ở Ngân hàng tại mọi thời điểm để tiện cho việc kiểm tra, đối
chiếu. 2.
Các khoản tiền do tổ chức và cá nhân ký cược, ký quỹ tại doanh nghiệp được quản
lý và hạch toán như tiền của doanh nghiệp. 3.
Khi thu, chi tiền mặt phải có phiếu thu, phiếu chi và có đủ chữ ký theo quy định
về chứng từ kế toán. Khi hạch toán tiền gửi ngân hàng phải có giấy báo Nợ, giấy
báo Có hoặc bảng sao kê của ngân hàng. 4.
Kế toán phải theo dõi chi tiết tiền theo nguyên tệ. Khi phát sinh các giao dịch
bằng ngoại tệ, kế toán phải quy đổi ngoại tệ ra đồng tiền ghi sổ kế toán (đơn vị
tiền tệ kế toán) theo nguyên tắc: -
Bên Nợ các tài khoản tiền áp dụng tỷ giá giao dịch thực tế; -
Bên Có các tài khoản tiền được lựa chọn áp dụng tỷ giá ghi sổ bình quân gia
quyền hoặc tỷ giá giao dịch thực tế. Việc
xác định tỷ giá ghi sổ bình quân gia quyền, tỷ giá giao dịch thực tế thực hiện
theo quy định tại Điều 52 Thông tư này. 5.
Trường hợp doanh nghiệp sử dụng tỷ giá giao dịch thực tế để hạch toán bên Có các
tài khoản tiền, khoản chênh lệch tỷ giá hối đoái phát sinh trong kỳ được ghi
nhận đồng thời tại thời điểm chi tiền hoặc ghi nhận định kỳ tùy theo đặc điểm
hoạt động kinh doanh và yêu cầu quản lý của doanh nghiệp. Đồng thời, nếu tại
thời điểm cuối kỳ kế toán: -
Các TK tiền không còn số dư nguyên tệ thì doanh nghiệp phải kết chuyển toàn bộ
chênh lệch tỷ giá hối đoái phát sinh trong kỳ vào doanh thu hoạt động tài chính
hoặc chi phí tài chính của kỳ báo cáo. -
Các TK tiền còn số dư nguyên tệ thì doanh nghiệp phải đánh giá lại theo quy định
tại Điều 52 Thông tư này. 6.
Tại thời điểm lập Báo cáo tài chính theo quy định của pháp luật doanh nghiệp
phải đánh giá lại số dư ngoại tệ theo tỷ giá chuyển khoản trung bình cuối kỳ của
ngân hàng thương mại nơi doanh nghiệp thường xuyên có giao
dịch. Việc
xác định tỷ giá chuyển khoản trung bình và xử lý chênh lệch tỷ giá do đánh giá
lại các TK tiền bằng ngoại tệ được thực hiện theo quy định tại Điều 52 Thông tư
này. Điều
12. Tài khoản 111 - Tiền mặt 1.
Nguyên
tắc kế toán a)
Tài khoản này dùng để phản ánh tình hình thu, chi, tồn tiền mặt tại quỹ của
doanh nghiệp bao gồm: Tiền Việt Nam, ngoại tệ. Chỉ phản ánh vào TK 111 “Tiền
mặt” số tiền Việt Nam, ngoại tệ thực tế nhập, xuất, tồn quỹ. b)
Khi tiến hành nhập, xuất quỹ tiền mặt phải có phiếu thu, phiếu chi và có đủ chữ
ký của người nhận, người giao, người có thẩm quyền cho phép nhập, xuất quỹ,...
theo quy định về chứng từ kế toán. Một số trường hợp đặc biệt phải có lệnh nhập
quỹ, xuất quỹ đính kèm. c)
Kế toán quỹ tiền mặt phải có trách nhiệm mở sổ kế toán quỹ tiền mặt, ghi chép
hàng ngày liên tục theo trình tự phát sinh các khoản thu, chi, nhập, xuất quỹ
tiền mặt và tính ra số tồn quỹ tại mọi thời điểm. d)
Thủ quỹ chịu trách nhiệm quản lý và nhập, xuất quỹ tiền mặt. Hàng ngày thủ quỹ
phải kiểm kê số tồn quỹ tiền mặt thực tế, đối chiếu số liệu sổ quỹ tiền mặt và
sổ kế toán tiền mặt. Nếu có chênh lệch, kế toán và thủ quỹ phải kiểm tra lại để
xác định nguyên nhân và kiến nghị biện pháp xử lý chênh
lệch. 2.
Kết
cấu và nội dung phản ánh của Tài khoản 111 - Tiền mặt Bên
Nợ: -
Các khoản tiền Việt Nam, ngoại tệ nhập quỹ; -
Số tiền Việt Nam, ngoại tệ thừa ở quỹ phát hiện khi kiểm kê; -
Chênh lệch tỷ giá hối đoái do đánh giá lại số dư tiền mặt là ngoại tệ tại thời
điểm báo cáo (trường hợp tỷ giá ngoại tệ tăng so với tỷ giá ghi sổ kế
toán). Bên
Có: -
Các khoản tiền Việt Nam, ngoại tệ xuất quỹ; -
Số tiền Việt Nam, ngoại tệ thiếu hụt quỹ phát hiện khi kiểm kê; -
Chênh lệch tỷ giá hối đoái do đánh giá lại số dư tiền mặt là ngoại tệ tại thời
điểm báo cáo (trường hợp tỷ giá ngoại tệ giảm so với tỷ giá ghi sổ kế
toán). Số
dư bên Nợ: Các
khoản tiền Việt Nam, ngoại tệ còn tồn quỹ tiền mặt tại thời điểm báo
cáo. Tài
khoản 111 - Tiền mặt, có 2 tài khoản cấp 2: -
Tài khoản 1111 - Tiền Việt Nam:
Phản ánh tình hình thu, chi, tồn quỹ tiền Việt Nam tại quỹ tiền
mặt. -
Tài
khoản 1112 - Ngoại tệ:
Phản ánh tình hình thu, chi, chênh lệch tỷ giá và số dư ngoại tệ tại quỹ tiền
mặt theo giá trị quy đổi ra đồng tiền ghi sổ kế toán. Điều
13. Tài khoản 112 - Tiền gửi ngân hàng 1.
Nguyên
tắc kế toán a)
Tài khoản này dùng để phản ánh số hiện có và tình hình biến động tăng, giảm các
khoản tiền gửi không kỳ hạn tại ngân hàng của doanh nghiệp. Căn cứ để hạch toán
trên Tài khoản 112 - Tiền gửi ngân hàng là các giấy báo Có, báo Nợ hoặc bản sao
kê của ngân hàng kèm theo các chứng từ gốc (ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, séc
chuyển khoản, séc bảo chi,…). b)
Khi nhận được chứng từ của ngân hàng gửi đến, kế toán phải kiểm tra, đối chiếu
với chứng từ gốc kèm theo. Nếu có sự chênh lệch giữa số liệu trên sổ kế toán của
doanh nghiệp, số liệu ở chứng từ gốc với số liệu trên chứng từ của ngân hàng thì
doanh nghiệp phải thông báo cho ngân hàng để cùng đối chiếu, xác minh và xử lý
kịp thời. Cuối tháng, chưa xác định được nguyên nhân chênh lệch thì kế toán ghi
sổ theo số liệu của ngân hàng trên giấy báo Nợ, báo Có hoặc bản sao kê. Số chênh
lệch (nếu có) ghi vào bên Nợ TK 138 “Phải thu khác” (1381) (nếu số liệu của kế
toán lớn hơn số liệu của ngân hàng) hoặc ghi vào bên Có TK 338 “Phải trả, phải
nộp khác” (3381) (nếu số liệu của kế toán nhỏ hơn số liệu của ngân hàng). Sang
tháng sau, tiếp tục kiểm tra, đối chiếu, xác định nguyên nhân để điều chỉnh số
liệu ghi sổ. c)
Phải tổ chức hạch toán chi tiết số tiền gửi theo từng tài khoản ở từng ngân hàng
để tiện cho việc kiểm tra, đối chiếu. d)
Khoản thấu chi ngân hàng không được ghi âm trên tài khoản tiền gửi ngân hàng mà
được phản ánh tương tự như khoản vay ngân hàng. 2.
Kết
cấu và nội dung phản ánh của Tài khoản 112 - Tiền gửi ngân
hàng Bên
Nợ: -
Các
khoản tiền Việt Nam, ngoại tệ gửi vào ngân hàng; -
Chênh lệch tỷ giá hối đoái do đánh giá lại số dư tiền gửi ngân hàng là ngoại tệ
tại thời điểm báo cáo (trường hợp tỷ giá ngoại tệ tăng so với tỷ giá ghi sổ kế
toán). Bên
Có: -
Các khoản tiền Việt Nam, ngoại tệ rút ra từ ngân hàng; -
Chênh lệch tỷ giá hối đoái do đánh giá lại số dư tiền gửi ngân hàng là ngoại tệ
tại thời điểm báo cáo (trường hợp tỷ giá ngoại tệ giảm so với tỷ giá ghi sổ kế
toán). Số
dư bên Nợ: Số
tiền Việt Nam, ngoại tệ hiện còn gửi tại ngân hàng tại thời điểm báo
cáo. Tài
khoản 112 - Tiền gửi Ngân hàng, có 2 tài khoản cấp
2: -
Tài
khoản 1121
- Tiền Việt Nam:
Phản ánh số tiền gửi vào, rút ra và hiện đang gửi tại ngân hàng bằng Đồng Việt
Nam. -
Tài
khoản 1122
- Ngoại tệ:
Phản ánh số tiền gửi vào, rút ra và hiện đang gửi tại ngân hàng bằng ngoại tệ
các loại đã quy đổi ra đồng tiền ghi sổ kế toán. Điều
14. Tài khoản 121 - Chứng khoán kinh doanh 1.
Nguyên
tắc kế toán a)
Tài khoản này dùng để phản ánh tình hình mua, bán và thanh toán các loại chứng
khoán theo quy định của pháp luật nắm giữ vì mục đích kinh doanh (kể cả chứng
khoán có thời gian đáo hạn trên 12 tháng mua vào, bán ra để kiếm lời). Chứng
khoán kinh doanh bao gồm: -
Cổ phiếu, trái phiếu niêm yết trên thị trường chứng khoán; -
Các loại chứng khoán và công cụ tài chính khác. Tài
khoản này không phản ánh các khoản đầu tư nắm giữ đến ngày đáo hạn, như: Các
khoản cho vay theo khế ước giữa 2 bên, tiền gửi ngân hàng, trái phiếu, thương
phiếu, tín phiếu, kỳ phiếu,... nắm giữ đến ngày đáo hạn. b)
Chứng khoán kinh doanh phải được ghi sổ kế toán theo giá gốc, bao gồm: Giá mua
cộng (+) các chi phí mua (nếu có) như chi phí môi giới, giao dịch, cung cấp
thông tin, thuế, lệ phí và phí ngân hàng. Giá gốc của chứng khoán kinh doanh
được xác định theo giá trị hợp lý của các khoản thanh toán tại thời điểm giao
dịch phát sinh. Thời điểm ghi nhận các khoản chứng khoán kinh doanh là thời điểm
nhà đầu tư có quyền sở hữu, cụ thể như sau: -
Chứng khoán niêm yết được ghi nhận tại thời điểm khớp lệnh (T+0); -
Chứng khoán chưa niêm yết được ghi nhận tại thời điểm chính thức có quyền sở hữu
theo quy định của pháp luật. c)
Cuối niên độ kế toán, nếu giá trị thị trường của chứng khoán kinh
doanh
bị
giảm xuống thấp hơn giá gốc, kế toán được lập dự phòng giảm giá chứng khoán kinh
doanh. d)
Doanh nghiệp phải hạch toán đầy đủ, kịp thời các khoản thu nhập từ hoạt động đầu
tư chứng khoán kinh doanh. Trường hợp nhận lãi đầu tư bao gồm cả khoản lãi đầu
tư dồn tích trước khi mua lại khoản đầu tư đó thì phải phân bổ số tiền lãi này.
Chỉ ghi nhận là doanh thu hoạt động tài chính phần tiền lãi của các kỳ sau khi
doanh nghiệp mua khoản đầu tư này. Khoản tiền lãi dồn tích trước khi doanh
nghiệp mua lại khoản đầu tư được ghi giảm giá trị của chính khoản đầu tư
đó. Khi
nhà đầu tư nhận được thêm cổ phiếu mà không phải trả tiền do công ty cổ phần sử
dụng thặng dư vốn cổ phần, các quỹ thuộc vốn chủ sở hữu và lợi nhuận sau thuế
chưa phân phối (chia cổ tức bằng cổ phiếu) để phát hành thêm cổ phiếu, nhà đầu
tư chỉ theo dõi số lượng cổ phiếu tăng thêm trên thuyết minh Báo cáo tài chính,
không ghi nhận giá trị cổ phiếu được nhận, không ghi nhận doanh thu hoạt động
tài chính và không ghi nhận tăng giá trị khoản đầu tư vào công ty cổ
phần. đ)
Mọi trường hợp hoán đổi cổ phiếu đều phải xác định giá trị cổ phiếu theo giá trị
hợp lý tại ngày trao đổi. Phần chênh lệch (nếu có) giữa giá trị hợp lý của cổ
phiếu nhận về và giá trị ghi sổ của cổ phiếu mang đi trao đổi được kế toán là
doanh thu hoạt động tài chính (nếu lãi) hoặc chi phí tài chính (nếu lỗ). Việc
xác định giá trị hợp lý của cổ phiếu được thực hiện như
sau: -
Đối với cổ phiếu của công ty niêm yết, giá trị hợp lý của cổ phiếu là giá đóng
cửa niêm yết trên thị trường chứng khoán tại ngày trao đổi. Trường hợp tại ngày
trao đổi thị trường chứng khoán không giao dịch thì giá trị hợp lý của cổ phiếu
là giá đóng cửa phiên giao dịch trước liền kề với ngày trao
đổi. -
Đối với cổ phiếu chưa niêm yết được giao dịch trên sàn UPCOM, giá trị hợp lý của
cổ phiếu là giá giao dịch đóng cửa trên sàn UPCOM tại ngày trao đổi. Trường hợp
tại ngày trao đổi sàn UPCOM không giao dịch thì giá trị hợp lý của cổ phiếu là
giá đóng cửa phiên giao dịch trước liền kề với ngày trao đổi. -
Đối với cổ phiếu chưa niêm yết khác, giá trị hợp lý của cổ phiếu là giá do các
bên thỏa thuận theo hợp đồng hoặc giá trị sổ sách tại thời điểm trao
đổi. e)
Kế toán phải mở sổ chi tiết để theo dõi chi tiết từng mã, từng loại chứng khoán
kinh doanh mà doanh nghiệp đang nắm giữ (theo từng loại chứng khoán; theo từng
đối tượng, mệnh giá, giá mua thực tế, từng loại nguyên tệ sử dụng để đầu
tư…). g)
Khi thanh lý, nhượng bán chứng khoán kinh doanh (tính theo từng loại chứng
khoán) giá vốn chứng khoán kinh doanh được xác định theo phương pháp bình quân
gia quyền hoặc nhập trước xuất trước. Chi phí bán chứng khoán được phản ánh vào
chi phí tài chính trong kỳ. Khoản lãi hoặc lỗ khi thanh lý, nhượng bán chứng
khoán kinh doanh được phản ánh vào doanh thu hoạt động tài chính hoặc chi phí
tài chính trong kỳ báo cáo. h)
Cuối niên độ kế toán doanh nghiệp phải đánh giá lại tất cả các loại chứng khoán
kinh doanh là khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ theo tỷ giá chuyển khoản trung
bình cuối kỳ của ngân hàng thương mại nơi doanh nghiệp thường xuyên có giao
dịch. Việc xác định tỷ giá chuyển khoản trung bình và xử lý chênh lệch tỷ giá do
đánh giá lại chứng khoán kinh doanh là khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ được
thực hiện theo quy định tại Điều 52 Thông tư này. 2.
Kết
cấu và nội dung phản ánh của Tài khoản 121 - Chứng khoán kinh
doanh Bên
Nợ:
Giá trị chứng khoán kinh doanh mua vào. Bên
Có: Giá
trị ghi sổ chứng khoán kinh doanh khi bán. Số
dư bên Nợ: Giá
trị chứng khoán kinh doanh tại thời điểm báo cáo. Điều
15. Tài khoản 128 - Đầu tư nắm giữ đến ngày đáo hạn 1.
Nguyên
tắc kế toán a)
Tài khoản này dùng để phản ánh số hiện có và tình hình biến động tăng, giảm của
các khoản đầu tư nắm giữ đến ngày đáo hạn (ngoài các khoản chứng khoán kinh
doanh) như: Các khoản tiền gửi ngân hàng có kỳ hạn (bao gồm cả các loại trái
phiếu, tín phiếu, kỳ phiếu), các khoản cho vay nắm giữ đến ngày đáo hạn với mục
đích thu lãi hàng kỳ và các khoản đầu tư nắm giữ đến ngày đáo hạn
khác. Tài
khoản này không phản ánh các công cụ nợ nắm giữ vì mục đích mua bán để kiếm lời
(phản ánh trong Tài khoản 121 - Chứng khoán kinh doanh). b)
Khoản đầu tư nắm giữ đến ngày đáo hạn phải được ghi sổ kế toán theo giá gốc, bao
gồm: Giá mua cộng (+) các chi phí mua (nếu có) như chi phí môi giới, giao dịch,
cung cấp thông tin, thuế, lệ phí và phí ngân hàng. c)
Kế toán phải mở sổ chi tiết theo dõi từng khoản đầu tư nắm giữ đến ngày đáo hạn
theo từng kỳ hạn, từng đối tượng, từng loại nguyên tệ, từng số lượng... Khi lập
Báo cáo tài chính, kế toán căn cứ vào kỳ hạn còn lại (dưới 12 tháng hay từ 12
tháng trở lên kể từ thời điểm lập báo cáo) để trình bày là tài sản ngắn hạn hoặc
dài hạn. d)
Doanh nghiệp phải hạch toán đầy đủ, kịp thời doanh thu hoạt động tài chính phát
sinh từ các khoản đầu tư như lãi tiền gửi, lãi cho vay, lãi, lỗ khi thanh lý,
nhượng bán các khoản đầu tư nắm giữ đến ngày đáo hạn… đ)
Doanh nghiệp phải hạch toán đầy đủ, kịp thời các khoản thu nhập từ hoạt động đầu
tư nắm giữ đến ngày đáo hạn. Trường hợp nhận lãi đầu tư bao gồm cả khoản lãi đầu
tư dồn tích trước khi mua lại khoản đầu tư đó thì phải phân bổ số tiền lãi này.
Chỉ ghi nhận là doanh thu hoạt động tài chính phần tiền lãi của các kỳ sau khi
doanh nghiệp mua khoản đầu tư này. Khoản tiền lãi dồn tích trước khi doanh
nghiệp mua lại khoản đầu tư được ghi giảm giá trị của chính khoản đầu tư
đó. e)
Đối với các khoản đầu tư nắm giữ đến ngày đáo hạn khác ngoài khoản cho vay, kế
toán phải đánh giá khả năng thu hồi. Trường hợp có bằng chứng chắc chắn cho thấy
một phần hoặc toàn bộ khoản đầu tư có thể không thu hồi được, kế
toán
phải ghi nhận số tổn thất vào chi phí tài chính trong kỳ. Trường hợp số tổn thất
không thể xác định được một cách đáng tin cậy, kế toán có thể không ghi giảm
khoản đầu tư nhưng phải thuyết minh trên Báo cáo tài chính về khả năng thu hồi
của khoản đầu tư. g)
Tại thời điểm lập Báo cáo tài chính, kế toán phải đánh giá lại tất cả các khoản
đầu tư nắm giữ đến ngày đáo hạn được phân loại là các khoản mục tiền tệ có gốc
ngoại tệ theo tỷ giá chuyển khoản trung bình cuối kỳ của ngân hàng nơi doanh
nghiệp thường xuyên có giao dịch. Việc
xác định tỷ giá chuyển khoản trung bình và xử lý chênh lệch tỷ giá do đánh giá
lại khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ được thực hiện theo quy định tại Điều 52
Thông tư này. 2.
Kết
cấu và nội dung phản ánh của Tài khoản 128 - Đầu tư nắm giữ đến ngày đáo
hạn Bên
Nợ: Giá
trị các khoản đầu tư nắm giữ đến ngày đáo hạn tăng. Bên
Có: Giá
trị các khoản đầu tư nắm giữ đến ngày đáo hạn giảm. Số
dư bên Nợ: Giá
trị các khoản đầu tư nắm giữ đến ngày đáo hạn hiện có tại thời điểm báo
cáo. Tài
khoản 128 - Đầu tư nắm giữ đến ngày đáo hạn có 2 tài khoản cấp
2: -
Tài
khoản 1281 - Tiền gửi có kỳ hạn:
Phản ánh tình hình tăng, giảm và số
hiện
có của tiền gửi có kỳ hạn. -
Tài
khoản 1288 - Các khoản đầu tư khác nắm giữ đến ngày đáo hạn: Phản
ánh tình hình tăng, giảm và số hiện có của các khoản đầu tư khác nắm giữ đến
ngày đáo hạn như cổ phiếu ưu đãi bắt buộc bên bán phải mua lại tại một thời điểm
nhất định trong tương lai, thương phiếu, trái phiếu và các khoản cho vay nắm giữ
đến ngày đáo hạn. Điều
16. Nguyên tắc kế toán nợ phải thu 1.
Các khoản phải thu được theo dõi chi tiết theo kỳ hạn phải thu, đối tượng phải
thu, loại nguyên tệ phải thu và các yếu tố khác theo nhu cầu quản lý của doanh
nghiệp. 2.
Việc phân loại các khoản phải thu là phải thu của khách hàng, phải thu nội bộ,
phải thu khác được thực hiện theo nguyên tắc: a)
Phải thu của khách hàng gồm các khoản phải thu mang tính chất thương mại phát
sinh từ giao dịch có tính chất mua - bán, như: Phải thu về bán hàng, cung cấp
dịch vụ, thanh lý, nhượng bán tài sản (TSCĐ, BĐSĐT, các khoản đầu tư tài chính)
giữa doanh nghiệp và người mua (là đơn vị độc lập với người bán, gồm cả các đơn
vị mà doanh nghiệp đầu tư góp vốn vào). Khoản phải thu này gồm cả
các
khoản
phải thu về tiền bán hàng xuất khẩu của bên giao ủy thác với khách hàng thông
qua bên nhận ủy thác; b)
Phải thu nội bộ gồm các khoản phải thu giữa đơn vị cấp trên với đơn vị cấp dưới
trực thuộc không có tư cách pháp nhân hạch toán phụ thuộc (sau đây gọi là đơn vị
hạch toán phụ thuộc). c)
Phải thu khác gồm các khoản phải thu không có tính chất thương mại, không liên
quan đến giao dịch mua - bán, như: -
Các khoản phải thu tạo ra doanh thu hoạt động tài chính, như: khoản phải thu về
lãi cho vay, tiền gửi, cổ tức và lợi nhuận được chia; -
Các khoản chi hộ bên thứ ba được quyền nhận lại; Các khoản bên nhận ủy thác xuất
khẩu phải thu hộ cho bên giao ủy thác; -
Các khoản phải thu không mang tính thương mại như cho mượn tài sản phi tiền tệ,
phải thu về tiền phạt, bồi thường, tài sản thiếu chờ xử
lý… 3.
Khi lập Báo cáo tài chính, kế toán căn cứ kỳ hạn còn lại của các khoản phải thu
để phân loại là dài hạn hoặc ngắn hạn. Các chỉ tiêu phải thu của Báo cáo tình
hình tài chính còn bao gồm cả các khoản được phản ánh ở các tài khoản khác ngoài
các tài khoản phải thu, như: Khoản cho vay được phản ánh ở TK 1288; Khoản ký
quỹ, ký cược phản ánh ở TK 1386, khoản tạm ứng được phản ánh ở TK 141… Việc xác
định các khoản cần lập dự phòng phải thu khó đòi được căn cứ vào các khoản mục
được phân loại là phải thu ngắn hạn, dài hạn của Báo cáo tình hình tài
chính. 4.
Đối với các khoản phải thu bằng ngoại tệ, doanh nghiệp phải theo dõi chi tiết
các khoản nợ phải thu theo từng loại nguyên tệ, từng đối tượng công nợ và thực
hiện theo nguyên tắc: -
Khi phát sinh các khoản nợ phải thu (bên Nợ các TK phải thu), kế toán phải quy
đổi ra đồng tiền ghi sổ kế toán theo tỷ giá giao dịch thực tế tại thời điểm phát
sinh. Riêng
trường hợp nhận trước tiền của người mua bằng ngoại tệ thì khi đủ điều kiện ghi
nhận doanh thu, thu nhập, bên Nợ Tài khoản 131 tương ứng với số tiền nhận trước
được ghi nhận theo tỷ giá ghi sổ thực tế đích danh tại thời điểm nhận ứng
trước. -
Khi thu hồi nợ phải thu (bên Có Tài khoản phải thu), doanh nghiệp được lựa chọn
tỷ giá ghi sổ bình quân gia quyền của các khoản nợ phải thu đối với từng đối
tượng công nợ hoặc tỷ giá giao dịch thực tế tại thời điểm thu hồi
nợ. Riêng
trường hợp nhận trước của người mua thì bên Có Tài khoản 131 áp dụng tỷ giá giao
dịch thực tế tại thời điểm nhận ứng trước. 5.
Trường hợp doanh nghiệp sử dụng tỷ giá giao dịch thực tế để hạch toán bên Có các
tài khoản phải thu, khoản chênh lệch tỷ giá hối đoái phát sinh trong kỳ được ghi
nhận ngay tại thời điểm phát sinh giao dịch hoặc ghi nhận định kỳ tùy
theo
đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh và yêu cầu quản lý của doanh nghiệp. Đồng
thời, nếu tại thời điểm cuối kỳ kế toán: -
Các tài khoản phải thu không còn số dư nguyên tệ thì doanh nghiệp phải kết
chuyển toàn bộ chênh lệch tỷ giá hối đoái phát sinh trong kỳ vào doanh thu hoạt
động tài chính hoặc chi phí tài chính của kỳ báo cáo. -
Các tài khoản phải thu còn số dư nguyên tệ thì doanh nghiệp phải đánh giá lại
theo quy định tại Điều 52 Thông tư này. 6.
Tại thời điểm lập Báo cáo tài chính, doanh nghiệp phải đánh giá lại các khoản
phải thu là khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ theo tỷ giá chuyển khoản trung
bình cuối kỳ của ngân hàng thương mại nơi doanh nghiệp thường xuyên có giao
dịch. Việc
xác định tỷ giá chuyển khoản trung bình và xử lý chênh lệch tỷ giá do đánh giá
lại khoản nợ phải thu là khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ được thực hiện theo
quy định tại Điều 52 Thông tư này. 7.
Các khoản nợ phải thu là khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ nếu khó có khả năng
thu hồi tại thời điểm cuối kỳ thì vẫn phải lập dự phòng phải thu khó đòi theo
quy định. Điều
17. Tài khoản 131 - Phải thu của khách hàng 1.
Nguyên tắc kế toán a)
Tài khoản này dùng để phản ánh các khoản nợ phải thu và tình hình thanh toán các
khoản nợ phải thu của doanh nghiệp với khách hàng về tiền bán sản phẩm, hàng
hóa, BĐSĐT, TSCĐ, các khoản đầu tư tài chính, cung cấp dịch vụ. Tài khoản này
còn dùng để phản ánh các khoản phải thu của người nhận thầu XDCB với người giao
thầu về khối lượng công tác XDCB đã hoàn thành. Không phản ánh vào tài khoản này
các nghiệp vụ thu tiền ngay. b)
Khoản phải thu của khách hàng cần được hạch toán chi tiết cho từng đối tượng,
từng nội dung phải thu, theo dõi chi tiết kỳ hạn thu hồi (trên 12 tháng hay
không quá 12 tháng kể từ thời điểm lập báo cáo) và ghi chép theo từng lần thanh
toán. Đối tượng phải thu là các khách hàng có quan hệ kinh tế với doanh nghiệp
về mua sản phẩm, hàng hóa, nhận cung cấp dịch vụ, kể cả TSCĐ, bất động sản đầu
tư, các khoản đầu tư tài chính. c)
Bên giao ủy thác xuất khẩu ghi nhận trong tài khoản này đối với các khoản phải
thu từ bên nhận ủy thác xuất khẩu về tiền bán hàng xuất khẩu như các giao dịch
bán hàng, cung cấp dịch vụ thông thường. d)
Trong hạch toán chi tiết tài khoản này, kế toán phải tiến hành phân loại các
khoản nợ, loại nợ có thể trả đúng hạn, khoản nợ khó đòi hoặc có khả năng không
thu hồi được, để có căn cứ xác định số trích lập dự phòng phải thu khó đòi hoặc
có biện pháp xử lý đối với khoản nợ phải thu không đòi được. Khoản thiệt hại về
nợ phải thu khó đòi sau khi trừ dự phòng đã trích lập được ghi nhận vào chi phí
quản lý doanh nghiệp trong kỳ báo cáo. Khoản nợ khó đòi đã xử lý khi đòi được,
hạch toán vào thu nhập khác. đ)
Trong quan hệ bán sản phẩm, hàng hóa, cung cấp dịch vụ theo thỏa thuận giữa
doanh nghiệp với khách hàng, nếu sản phẩm, hàng hóa, TSCĐ, BĐSĐT đã giao, dịch
vụ đã cung cấp không đúng theo thỏa thuận trong hợp đồng kinh tế thì người mua
có thể yêu cầu doanh nghiệp giảm giá hàng bán hoặc trả lại số hàng đã
giao. 2.
Kết cấu và nội dung phản ánh của Tài khoản 131 - Phải thu của khách
hàng Bên
Nợ: -
Số tiền phải thu của khách hàng phát sinh trong kỳ khi bán sản phẩm, hàng hóa,
BĐSĐT, TSCĐ, dịch vụ, các khoản đầu tư tài chính; -
Số tiền thừa trả lại cho khách hàng; -
Đánh giá lại các khoản phải thu của khách hàng là khoản mục tiền tệ có gốc ngoại
tệ tại thời điểm lập BCTC (trường hợp tỷ giá ngoại tệ tăng so với tỷ giá ghi sổ
kế toán). Bên
Có: -
Số tiền khách hàng đã trả nợ; -
Số tiền đã nhận ứng trước, trả trước của khách hàng; -
Khoản giảm giá hàng bán trừ vào nợ phải thu của khách hàng; -
Doanh thu của số hàng đã bán bị người mua trả lại (có thuế GTGT hoặc không có
thuế GTGT); -
Số tiền chiết khấu thanh toán và chiết khấu thương mại cho người
mua; -
Đánh giá lại các khoản phải thu của khách hàng là khoản mục tiền tệ có gốc ngoại
tệ tại thời điểm lập BCTC (trường hợp tỷ giá ngoại tệ giảm so với tỷ giá ghi sổ
kế toán). Số
dư bên Nợ: Số
tiền còn phải thu của khách hàng. Tài
khoản này có thể có số dư bên Có:
Số dư bên Có phản ánh số tiền nhận trước hoặc số đã thu nhiều hơn số phải thu
của khách hàng chi tiết theo từng đối tượng cụ thể. Khi lập Báo cáo tình hình
tài chính, phải lấy số dư chi tiết theo từng đối tượng phải thu của tài khoản
này để ghi cả hai chỉ tiêu bên "Tài sản" và bên "Nguồn
vốn". Điều
18. Tài khoản 133 - Thuế GTGT được khấu trừ 1.
Nguyên tắc kế toán a)
Tài khoản này dùng để phản ánh số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ, đã khấu trừ
và còn được khấu trừ của doanh nghiệp. b)
Kế toán phải hạch toán riêng thuế GTGT đầu vào được khấu trừ và thuế GTGT đầu
vào không được khấu trừ. Trường hợp không thể hạch toán riêng được 15 thì số
thuế GTGT đầu vào được hạch toán vào Tài khoản 133. Cuối kỳ, kế toán phải xác
định số thuế GTGT được khấu trừ và không được khấu trừ theo quy định của pháp
luật về thuế GTGT. c)
Số thuế GTGT đầu vào không được khấu trừ được tính vào giá trị tài sản được mua,
giá vốn của hàng bán hoặc chi phí sản xuất, kinh doanh tùy theo từng trường hợp
cụ thể. d)
Việc xác định số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ, kê khai, quyết toán, nộp thuế
phải tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật về thuế
GTGT. 2.
Kết cấu và nội dung phản ánh của Tài khoản 133 - Thuế GTGT được khấu
trừ Bên
Nợ: Số
thuế GTGT đầu vào được khấu trừ. Bên
Có: -
Số thuế GTGT đầu vào đã khấu trừ; -
Kết chuyển số thuế GTGT đầu vào không được khấu trừ; -
Thuế GTGT đầu vào của vật tư, hàng hóa mua vào nhưng đã trả lại, được chiết
khấu, giảm giá; -
Số thuế GTGT đầu vào đã được hoàn lại. Số
dư bên Nợ: Số
thuế GTGT đầu vào còn được khấu trừ, số thuế GTGT đầu vào được hoàn lại nhưng
NSNN chưa hoàn trả. Tài
khoản 133 - Thuế GTGT được khấu trừ, có 2 tài khoản cấp
2: -
Tài khoản 1331 - Thuế GTGT được khấu trừ của hàng hóa, dịch vụ:
Phản ánh thuế GTGT đầu vào được khấu trừ của vật tư, hàng hóa, dịch vụ mua ngoài
dùng vào sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế GTGT
tính theo phương pháp khấu trừ thuế. -
Tài khoản 1332 - Thuế GTGT được khấu trừ của tài sản cố định:
Phản ánh thuế GTGT đầu vào của quá trình đầu tư, mua sắm tài sản cố định, bất
động sản đầu tư dùng vào hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thuộc
đối tượng chịu thuế GTGT tính theo phương pháp khấu trừ
thuế. Điều
19. Tài khoản 136 - Phải thu nội bộ 1.
Nguyên tắc kế toán: a)
Tài khoản này dùng để phản ánh các khoản nợ phải thu và tình hình thanh toán các
khoản nợ phải thu của doanh nghiệp (đơn vị cấp trên) với đơn vị hạch toán phụ
thuộc (đơn vị cấp dưới) hoặc giữa các đơn vị hạch toán phụ thuộc với nhau. Các
đơn vị cấp dưới là đơn vị hạch toán phụ thuộc nhưng có tổ chức công tác kế toán
như chi nhánh, xí nghiệp, nhà máy... b)
Nội dung các khoản phải thu nội bộ phản ánh vào tài khoản 136 bao gồm:
-
Ở đơn vị cấp trên: +
Vốn, quỹ hoặc kinh phí đã giao, đã cấp cho cấp dưới; +
Các khoản cấp dưới phải nộp lên cấp trên theo quy định; +
Các khoản nhờ cấp dưới thu hộ; +
Các khoản đã chi, đã trả hộ cấp dưới; +
Các khoản đã giao cho đơn vị cấp dưới để thực hiện khối lượng giao khoán nội bộ
và nhận lại giá trị giao khoán nội bộ; +
Các khoản phải thu vãng lai khác. -
Ở đơn vị cấp dưới hạch toán phụ thuộc: +
Các khoản được đơn vị cấp trên cấp nhưng chưa nhận được; +
Giá trị sản phẩm, hàng hóa dịch vụ chuyển cho đơn vị cấp trên hoặc các đơn vị
nội bộ khác để bán; +
Doanh thu bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ cho các đơn vị nội
bộ; +
Các khoản nhờ đơn vị cấp trên hoặc đơn vị nội bộ khác thu
hộ; +
Các khoản đã chi, đã trả hộ đơn vị cấp trên và đơn vị nội bộ
khác; +
Các khoản phải thu nội bộ vãng lai khác. c)
Tài khoản 136 phải hạch toán chi tiết theo từng đơn vị cấp dưới có quan hệ thanh
toán và theo dõi riêng từng khoản phải thu nội bộ. Doanh nghiệp cần có biện pháp
đôn đốc giải quyết dứt điểm các khoản nợ phải thu nội bộ trong kỳ kế
toán. d)
Cuối kỳ kế toán, phải kiểm tra, đối chiếu và xác nhận số phát sinh, số dư Tài
khoản 136 "Phải thu nội bộ", Tài khoản 336 "Phải trả nội bộ" với từng đơn vị cấp
dưới có quan hệ theo từng nội dung thanh toán. Tiến hành thanh toán bù trừ theo
từng khoản của từng đơn vị cấp dưới hạch toán phụ thuộc hoặc đơn vị nội bộ khác,
đồng thời hạch toán bù trừ trên 2 Tài khoản 136 “Phải thu nội bộ" và Tài khoản
336 "Phải trả nội bộ" (theo chi tiết từng đối tượng). Khi đối chiếu, nếu có
chênh lệch, phải tìm nguyên nhân và điều chỉnh kịp thời. 2.
Kết cấu và nội dung phản ánh của Tài khoản 136 - Phải thu nội
bộ Bên
Nợ: -
Số vốn kinh doanh đã giao cho đơn vị cấp dưới; -
Các khoản đã chi hộ, trả hộ đơn vị cấp trên hoặc các đơn vị nội bộ
khác; -
Số tiền đơn vị cấp trên phải thu về, các khoản đơn vị cấp dưới phải nộp
lên; -
Số tiền đơn vị cấp dưới phải thu về các khoản cấp trên phải giao
xuống; -
Số tiền phải thu về bán sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ giữa các đơn vị nội bộ với
nhau; -
Các khoản phải thu nội bộ khác. Bên
Có: -
Thu hồi vốn, quỹ ở đơn vị cấp dưới; -
Số tiền đã thu về các khoản phải thu trong nội bộ; -
Bù trừ phải thu với phải trả trong nội bộ với cùng một đối
tượng. Số
dư bên Nợ:
Số nợ còn phải thu ở các đơn vị nội bộ. Tài
khoản 136 - Phải thu nội bộ, có 2 tài khoản cấp 2: -
Tài khoản 1361 - Vốn kinh doanh ở đơn vị trực thuộc:
Tài khoản này chỉ mở ở đơn vị cấp trên để phản ánh số vốn kinh doanh hiện có ở
các đơn vị cấp dưới hạch toán phụ thuộc do đơn vị cấp trên
giao. -
Tài khoản 1368 - Phải thu nội bộ khác:
Phản ánh tất cả các khoản phải thu khác giữa các đơn vị nội bộ ngoài vốn kinh
doanh ở đơn vị trực thuộc. Điều
20. Tài khoản 138 - Phải thu khác 1.
Nguyên tắc kế toán 1.1.
Tài khoản này dùng để phản ánh các khoản nợ phải thu ngoài phạm vi đã phản ánh ở
Tài khoản 131 - Phải thu của khách hàng, Tài khoản 136 - Phải thu nội bộ và tình
hình thanh toán các khoản nợ phải thu này, gồm những nội dung chủ yếu
sau: -
Giá trị tài sản thiếu đã được phát hiện nhưng chưa xác định được nguyên nhân,
phải chờ xử lý; -
Các khoản phải thu về bồi thường vật chất do cá nhân, tập thể (trong và ngoài
doanh nghiệp) gây ra như mất mát, hư hỏng vật tư, hàng hóa, tiền vốn,... đã được
xử lý bắt bồi thường; -
Các khoản cho bên khác mượn bằng tài sản phi tiền tệ (nếu cho mượn bằng tiền thì
phải kế toán là cho vay trên TK 1288); -
Các khoản chi đầu tư XDCB, chi phí sản xuất, kinh doanh nhưng không được cấp có
thẩm quyền phê duyệt phải thu hồi; -
Các khoản chi hộ phải thu hồi, như các khoản bên nhận ủy thác xuất, nhập khẩu
chi hộ cho bên giao ủy thác xuất, nhập khẩu về phí ngân hàng, phí giám định hải
quan, phí vận chuyển, bốc vác, các khoản thuế, ... -
Tiền lãi cho vay, cổ tức, lợi nhuận phải thu từ các hoạt động đầu tư tài chính;
-
Số tiền hoặc giá trị tài sản mà doanh nghiệp đem đi cầm cố, thế chấp, ký quỹ, ký
cược tại các doanh nghiệp, tổ chức khác trong các quan hệ kinh tế theo quy định
của pháp luật; -
Các khoản phải thu khác ngoài các khoản trên. 1.2.
Nguyên tắc kế toán đối với các khoản cầm cố, thế chấp, ký quỹ, ký
cược: a)
Các khoản tiền, tài sản đem cầm cố, thế chấp ký quỹ, ký cược phải được theo dõi
chặt chẽ và kịp thời thu hồi khi hết thời hạn cầm cố, thế chấp, ký quỹ, ký cược.
Trường hợp các khoản ký quỹ, ký cược doanh nghiệp được quyền nhận lại nhưng quá
hạn thu hồi thì doanh nghiệp được trích lập dự phòng như đối với các khoản nợ
phải thu khó đòi. b)
Doanh nghiệp phải theo dõi chi tiết các khoản cầm cố, thế chấp ký cược, ký quỹ
theo từng loại, từng đối tượng, kỳ hạn, nguyên tệ. Khi lập Báo cáo tài chính,
những khoản có kỳ hạn còn lại dưới 12 tháng được phân loại là tài sản ngắn hạn;
Những khoản có kỳ hạn còn lại từ 12 tháng trở lên được phân loại là tài sản dài
hạn. c)
Đối với tài sản đưa đi cầm cố, thế chấp, ký quỹ, ký cược được phản ánh theo giá
đã ghi sổ kế toán của doanh nghiệp. Khi xuất tài sản phi tiền tệ mang đi cầm cố
ghi theo giá nào thì khi thu về ghi theo giá đó. Các tài sản thế chấp bằng giấy
chứng nhận quyền sở hữu (như bất động sản) thì không ghi giảm tài sản mà theo
dõi chi tiết trên sổ kế toán (chi tiết tài sản đang thế chấp) và thuyết minh
trên Báo cáo tài chính. d)
Trường hợp có các khoản ký cược, ký quỹ bằng tiền hoặc tương đương tiền được
quyền nhận lại bằng ngoại tệ thì phải đánh giá lại theo tỷ giá chuyển khoản
trung bình cuối kỳ của ngân hàng thương mại nơi doanh nghiệp thường xuyên có
giao dịch. 1.3.
Về nguyên tắc trong mọi trường hợp phát hiện thiếu tài sản, phải truy tìm nguyên
nhân và người phạm lỗi để có biện pháp xử lý cụ thể. Chỉ hạch toán vào Tài khoản
1381 trường hợp chưa xác định được nguyên nhân về thiếu, mất mát, hư hỏng tài
sản của doanh nghiệp phải chờ xử lý. Trường hợp tài sản thiếu đã xác định được
nguyên nhân và đã có biên bản xử lý ngay trong kỳ thì ghi vào các tài khoản liên
quan, không hạch toán qua Tài khoản 1381. Giá
trị hàng tồn kho bị hao hụt, mất mát (trừ hao hụt trong định mức trong quá trình
thu mua được hạch toán vào giá trị hàng tồn kho) sau khi trừ số thu bồi thường
được hạch toán vào giá vốn hàng bán. Giá
trị tài sản thiếu chờ xử lý đối với phần giá trị còn lại của TSCĐ thiếu qua kiểm
kê sau khi trừ đi phần bồi thường của các tổ chức, cá nhân có liên quan được
hạch toán vào chi phí khác của doanh nghiệp. 1.4.
Khoản tổn thất về nợ phải thu khác khó đòi sau khi trừ số dự phòng đã trích lập
được hạch toán vào chi phí quản lý doanh nghiệp. 2.
Kết cấu và nội dung phản ánh của Tài khoản 138 - Phải thu
khác Bên
Nợ: -
Giá trị tài sản thiếu chờ giải quyết; -
Phải thu của cá nhân, tập thể (trong và ngoài doanh nghiệp) đối với tài sản
thiếu đã xác định rõ nguyên nhân và có biên bản xử lý
ngay; -
Phải thu về tiền lãi cho vay, lãi tiền gửi, cổ tức, lợi nhuận được chia từ các
hoạt động đầu tư tài chính; -
Các khoản chi hộ bên thứ ba phải thu hồi, các khoản nợ phải thu
khác; -
Giá trị tài sản mang đi cầm cố hoặc số tiền đã ký quỹ, ký
cược; -
Đánh giá lại các khoản phải thu khác là khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ
(trường hợp tỷ giá ngoại tệ tăng so với tỷ giá ghi sổ kế
toán). Bên
Có: -
Kết chuyển giá trị tài sản thiếu vào các tài khoản liên quan theo quyết định ghi
trong biên bản xử lý; -
Số tiền đã thu được về các khoản nợ phải thu khác; -
Giá trị tài sản cầm cố hoặc số tiền ký quỹ, ký cược đã nhận lại hoặc đã thanh
toán; -
Khoản khấu trừ (phạt) vào tiền ký quỹ, ký cược tính vào chi phí
khác; -
Đánh giá lại các khoản phải thu khác là khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ
(trường hợp tỷ giá ngoại tệ giảm so với tỷ giá ghi sổ kế toán). Số
dư bên Nợ: Các
khoản nợ phải thu khác chưa thu được. Tài
khoản này có thể có số dư bên Có:
Số dư bên Có phản ánh số đã thu nhiều hơn số phải thu (trường hợp cá biệt và
trong chi tiết của từng đối tượng cụ thể). Tài
khoản 138 - Phải thu khác, có 3 tài khoản cấp 2: -
Tài khoản 1381 - Tài sản thiếu chờ xử lý:
Phản ánh giá trị tài sản thiếu chưa xác định rõ nguyên nhân, còn chờ quyết định
xử lý. -
Tài khoản 1386 - Cầm cố, thế chấp, ký quỹ, ký cược:
Phản ánh số tiền hoặc giá trị tài sản mà doanh nghiệp đem đi cầm cố, ký quỹ, ký
cược tại các doanh nghiệp, tổ chức khác trong các quan hệ kinh tế theo quy định
của pháp luật. -
Tài khoản 1388 - Phải thu khác:
Phản ánh các khoản phải thu của doanh nghiệp ngoài phạm vi các khoản phải thu
phản ánh ở các TK 131, 133, 136, 1381, 1386 như: Phải thu các khoản cổ tức, lợi
nhuận, tiền lãi; Phải thu các khoản phải bồi thường do làm mất tiền, tài
sản;... Điều
21. Tài khoản 141 - Tạm ứng 1.
Nguyên tắc kế toán a)
Tài khoản này dùng để phản ánh các khoản tạm ứng của doanh nghiệp cho người lao
động trong doanh nghiệp và tình hình thanh toán các khoản tạm ứng
đó. b)
Khoản tạm ứng là một khoản tiền hoặc vật tư do doanh nghiệp giao cho người nhận
tạm ứng để thực hiện nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh hoặc giải quyết một công việc
nào đó được phê duyệt. Người nhận tạm ứng phải là người lao động làm việc tại
doanh nghiệp. Đối với người nhận tạm ứng thường xuyên (thuộc các bộ phận cung
ứng vật tư, quản trị, hành chính) phải được Giám đốc (Tổng giám đốc) chỉ định
bằng văn bản. c)
Người nhận tạm ứng (có tư cách cá nhân hay tập thể) phải chịu trách nhiệm với
doanh nghiệp về số đã nhận tạm ứng và chỉ được sử dụng tạm ứng theo đúng mục
đích và nội dung công việc đã được phê duyệt. Nếu số tiền nhận tạm ứng không sử
dụng hoặc không sử dụng hết phải nộp lại quỹ. Người nhận tạm ứng không được
chuyển số tiền tạm ứng cho người khác sử dụng. Khi
hoàn thành, kết thúc công việc được giao, người nhận tạm ứng phải lập bảng thanh
toán tạm ứng (kèm theo chứng từ gốc) để thanh toán toàn bộ, dứt điểm (theo từng
lần, từng khoản) số tạm ứng đã nhận, số tạm ứng đã sử dụng và khoản chênh lệch
giữa số đã nhận tạm ứng với số đã sử dụng (nếu có). Khoản tạm ứng sử dụng không
hết nếu không nộp lại quỹ thì phải tính trừ vào lương của người nhận tạm ứng.
Trường hợp chi quá số nhận tạm ứng thì doanh nghiệp sẽ chi bổ sung số còn
thiếu. d)
Phải thanh toán dứt điểm khoản tạm ứng kỳ trước mới được nhận tạm ứng kỳ sau. Kế
toán phải mở sổ kế toán chi tiết theo dõi cho từng người nhận tạm ứng và ghi
chép đầy đủ tình hình nhận, thanh toán tạm ứng theo từng lần tạm
ứng. 2.
Kết cấu và nội dung phản ánh của Tài khoản 141 - Tạm
ứng Bên
Nợ: Các
khoản tiền, vật tư đã tạm ứng cho người lao động của doanh
nghiệp. Bên
Có: -
Các khoản tạm ứng đã được thanh toán; -
Số tiền tạm ứng dùng không hết nhập lại quỹ hoặc tính trừ vào
lương; -
Các khoản vật tư đã tạm ứng sử dụng không hết nhập lại
kho. Số
dư bên Nợ: Số
tạm ứng chưa thanh toán. Điều
22. Nguyên tắc kế toán hàng tồn kho 1.
Nhóm tài khoản hàng tồn kho được dùng để phản ánh trị giá hiện có và tình hình
biến động hàng tồn kho của doanh nghiệp (nếu doanh nghiệp thực hiện kế toán hàng
tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên) hoặc được dùng để phản ánh giá
trị hàng tồn kho đầu kỳ và cuối kỳ kế toán của doanh nghiệp (nếu doanh nghiệp
thực hiện kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kiểm kê định
kỳ). 2.
Hàng tồn kho của doanh nghiệp là những tài sản được mua vào để sản xuất hoặc để
bán trong kỳ sản xuất, kinh doanh bình thường, gồm: -
Hàng mua đang đi trên đường; -
Nguyên liệu, vật liệu; -
Công cụ, dụng cụ; -
Sản phẩm dở dang; -
Thành phẩm; -
Hàng hóa; -
Hàng gửi bán. 3.
Các loại sản phẩm, hàng hóa, vật tư, tài sản nhận giữ hộ, nhận ký gửi, nhận ủy
thác xuất nhập khẩu, nhận gia công... không thuộc quyền sở hữu và kiểm soát của
doanh nghiệp thì không được phản ánh là hàng tồn kho. 4.
Kế toán hàng tồn kho phải được thực hiện theo quy định của Chuẩn mực kế toán
“Hàng tồn kho” khi xác định giá gốc hàng tồn kho, phương pháp tính giá trị hàng
tồn kho, xác định giá trị thuần có thể thực hiện được, lập dự phòng giảm giá
hàng tồn kho và ghi nhận chi phí. 5.
Nguyên tắc xác định giá gốc hàng tồn kho được quy định cụ thể cho từng loại vật
tư, hàng hóa, theo nguồn hình thành và thời điểm tính giá. 6.
Các khoản thuế không được hoàn lại được tính vào giá trị hàng tồn kho như: Thuế
GTGT đầu vào của hàng tồn kho không được khấu trừ, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế
nhập khẩu, thuế bảo vệ môi trường phải nộp khi mua hàng tồn
kho. -
Các khoản chiết khấu thương mại, giảm giá nhận được sau khi mua hàng tồn kho (kể
cả khoản vi phạm hợp đồng kinh tế) phải được phân bổ cho số hàng tồn kho trong
kho, hàng đã bán, đã sử dụng cho sản xuất kinh doanh, xây dựng cơ bản để hạch
toán cho phù hợp: +
Nếu hàng tồn kho còn tồn trong kho ghi giảm giá trị hàng tồn
kho; +
Nếu hàng tồn kho đã bán thì ghi giảm giá vốn hàng bán; +
Nếu hàng tồn kho đã sử dụng cho hoạt động xây dựng cơ bản thì ghi giảm chi phí
xây dựng cơ bản. -
Khoản chiết khấu thanh toán khi mua hàng tồn kho được hạch toán vào doanh thu
hoạt động tài chính. 7.
Khi bán hàng tồn kho, giá gốc của hàng tồn kho đã bán được ghi nhận là chi phí
sản xuất, kinh doanh trong kỳ phù hợp với doanh thu liên quan đến chúng được ghi
nhận và phù hợp với bản chất giao dịch. Trường hợp xuất hàng tồn kho để khuyến
mại, quảng cáo thì thực hiện theo nguyên tắc: a)
Trường hợp xuất hàng tồn kho để khuyến mại, quảng cáo không thu tiền, không kèm
theo các điều kiện khác như phải mua sản phẩm, hàng hóa...., kế toán ghi nhận
giá trị hàng tồn kho vào chi phí bán hàng (chi tiết hàng khuyến mại, quảng
cáo); b)
Trường hợp xuất hàng tồn kho để khuyến mại, quảng cáo nhưng khách hàng chỉ được
nhận hàng khuyến mại, quảng cáo kèm theo các điều kiện khác như phải mua sản
phẩm, hàng hóa (ví dụ như mua 2 sản phẩm được tặng 1 sản phẩm....) thì kế toán
phải phân bổ số tiền thu được để tính doanh thu cho cả hàng khuyến mại, giá trị
hàng khuyến mại được tính vào giá vốn (trường hợp này bản chất giao dịch là giảm
giá hàng bán). c)
Trường hợp dùng hàng tồn kho biếu tặng cho người lao động được trang trải bằng
quỹ khen thưởng, phúc lợi hoặc trả lương cho người lao động thì kế toán ghi nhận
doanh thu, giá vốn như giao dịch bán hàng thông thường. Giá trị hàng tồn kho
biếu tặng được ghi giảm quỹ khen thưởng, phúc lợi. d)
Khoản chiết khấu thanh toán cho khách hàng khi bán hàng tồn kho hạch toán vào
chi phí tài chính. 8.
Khi xác định giá trị hàng tồn kho xuất trong kỳ, doanh nghiệp áp dụng theo một
trong các phương pháp sau: a)
Phương pháp tính theo giá đích danh: Phương pháp tính theo giá đích danh được áp
dụng dựa trên giá trị thực tế của từng lần nhập hàng hóa mua vào, từng thứ sản
phẩm sản xuất ra nên chỉ áp dụng cho các doanh nghiệp có ít mặt hàng hoặc mặt
hàng ổn định và nhận diện được chi tiết về giá nhập của từng lô hàng tồn
kho. b)
Phương pháp bình quân gia quyền: Theo phương pháp bình quân gia quyền, giá trị
của từng loại hàng tồn kho được tính theo giá trị trung bình của từng loại hàng
tồn kho đầu kỳ và giá trị từng loại hàng tồn kho được mua hoặc sản xuất trong
kỳ. Giá trị trung bình có thể được tính theo từng kỳ hoặc sau từng lô hàng nhập
về, phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của mỗi doanh nghiệp. c)
Phương pháp nhập trước, xuất trước (FIFO): Phương pháp nhập trước, xuất trước áp
dụng dựa trên giả định là giá trị hàng tồn kho được mua hoặc được sản xuất trước
thì được xuất trước và giá trị hàng tồn kho còn lại cuối kỳ là giá trị hàng tồn
kho được mua hoặc sản xuất gần thời điểm cuối kỳ. Theo phương pháp này thì giá
trị hàng xuất kho được tính theo giá của lô hàng nhập kho ở thời điểm đầu kỳ
hoặc gần đầu kỳ, giá trị của hàng tồn kho cuối kỳ được tính theo giá của hàng
nhập kho ở thời điểm cuối kỳ hoặc gần cuối kỳ còn tồn kho. Mỗi
phương pháp tính giá trị hàng tồn kho đều có những ưu, nhược điểm nhất định. Mức
độ chính xác và độ tin cậy của mỗi phương pháp tùy thuộc vào yêu cầu quản lý,
trình độ, năng lực nghiệp vụ và trình độ trang bị công cụ tính toán, phương tiện
xử lý thông tin của doanh nghiệp. Đồng thời cũng tùy thuộc vào yêu cầu bảo quản,
tính phức tạp về chủng loại, quy cách và sự biến động của vật tư, hàng hóa ở
doanh nghiệp. 9.
Đối với hàng tồn kho mua vào bằng ngoại tệ, giá mua hàng tồn kho phải căn cứ vào
tỷ giá giao dịch thực tế phát sinh để ghi nhận. Trường hợp doanh nghiệp ứng
trước tiền cho người bán thì phần giá trị hàng tồn kho tương ứng với số tiền ứng
trước được ghi nhận theo tỷ giá giao dịch thực tế tại thời điểm ứng trước, phần
giá trị hàng tồn kho tương ứng với số tiền còn lại được ghi nhận theo tỷ giá
giao dịch thực tế tại thời điểm ghi nhận hàng tồn kho. Kế
toán hàng tồn kho liên quan đến các giao dịch bằng ngoại tệ và xử lý chênh lệch
tỷ giá được thực hiện theo quy định tại Điều 52 Thông tư
này. 10.
Đến cuối niên độ kế toán, nếu xét thấy giá trị hàng tồn kho không thu hồi đủ do
bị hư hỏng, lỗi thời, giá bán bị giảm hoặc chi phí hoàn thiện, chi phí bán hàng
tăng lên thì phải ghi giảm giá gốc hàng tồn kho cho bằng giá trị thuần có thể
thực hiện được của hàng tồn kho. Giá trị thuần có thể thực hiện được là giá bán
ước tính của hàng tồn kho trong kỳ sản xuất, kinh doanh bình thường trừ (-) chi
phí ước tính để hoàn thiện sản phẩm và chi phí ước tính cần thiết cho việc tiêu
thụ chúng. Việc
ghi giảm giá gốc hàng tồn kho cho bằng giá trị thuần có thể thực hiện được được
thực hiện bằng cách lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho. Số dự phòng giảm giá
hàng tồn kho được lập là số chênh lệch giữa giá gốc của hàng tồn kho lớn hơn giá
trị thuần có thể thực hiện được của chúng. Khoản
tổn thất hoặc thiệt hại về hàng tồn kho do hư hỏng, lỗi thời không có khả năng
thu hồi được sau khi trừ số dự phòng giảm giá hàng tồn kho đã trích lập (nếu có)
được ghi vào giá vốn hàng bán trong kỳ. Tất
cả các khoản chênh lệch giữa khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho phải lập ở
cuối kỳ kế toán này lớn hơn khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho đã lập ở cuối
kỳ kế toán trước, các khoản hao hụt, mất mát của hàng tồn kho, sau khi đã trừ
(-) phần bồi thường do trách nhiệm cá nhân gây ra và chi phí sản xuất chung
không phân bổ được ghi nhận vào giá vốn hàng bán trong kỳ. Trường hợp khoản dự
phòng giảm giá hàng tồn kho được lập ở cuối kỳ kế toán này nhỏ hơn khoản dự
phòng giảm giá hàng tồn kho đã lập ở cuối kỳ kế toán trước thì số chênh lệch nhỏ
hơn phải được hoàn nhập ghi giảm giá vốn hàng bán trong
kỳ. 11.
Kế toán hàng tồn kho phải đồng thời kế toán chi tiết cả về giá trị và hiện vật
theo từng thứ, từng loại, quy cách vật tư, hàng hóa theo từng địa điểm quản lý
và sử dụng, luôn phải đảm bảo sự khớp, đúng cả về giá trị và hiện vật giữa thực
tế về vật tư, hàng hóa với sổ kế toán tổng hợp và sổ kế toán chi
tiết. Trường
hợp hàng tồn kho thừa phát hiện khi kiểm kê nếu xác định được là của doanh
nghiệp khác thì không ghi tăng hàng tồn kho tương ứng với khoản phải trả
khác. 12.
Trong một doanh nghiệp chỉ được áp dụng một trong hai phương pháp kế toán hàng
tồn kho: Phương pháp kê khai thường xuyên hoặc phương pháp kiểm kê định kỳ. Việc
lựa chọn phương pháp kế toán hàng tồn kho áp dụng tại doanh nghiệp phải căn cứ
vào đặc điểm, tính chất, số lượng, chủng loại vật tư, hàng hóa và yêu cầu quản
lý để có sự vận dụng thích hợp và phải được thực hiện nhất quán trong niên độ kế
toán. Các
phương pháp kế toán hàng tồn kho. a)
Phương pháp kê khai thường xuyên: Phương pháp kê khai thường xuyên là phương
pháp theo dõi và phản ánh thường xuyên, liên tục, có hệ thống tình hình nhập,
xuất, tồn vật tư, hàng hóa trên sổ kế toán. Trong trường hợp áp dụng phương pháp
kê khai thường xuyên, các tài khoản kế toán hàng tồn kho được dùng để phản ánh
số hiện có, tình hình biến động tăng, giảm của vật tư, hàng hóa. Vì vậy, giá trị
hàng tồn kho trên sổ kế toán có thể được xác định ở bất kỳ thời điểm nào trong
kỳ kế toán. Cuối
kỳ kế toán, căn cứ vào số liệu kiểm kê thực tế hàng tồn kho, so sánh, đối chiếu
với số liệu hàng tồn kho trên sổ kế toán. Về nguyên tắc số tồn kho thực tế phải
luôn phù hợp với số tồn kho trên sổ kế toán. Nếu có chênh lệch phải truy tìm
nguyên nhân và có giải pháp xử lý kịp thời. Phương pháp kê khai thường xuyên
thường áp dụng cho các doanh nghiệp sản xuất (công nghiệp, xây lắp...) và các
doanh nghiệp thương mại kinh doanh các mặt hàng có giá trị lớn như máy móc,
thiết bị, hàng có kỹ thuật, chất lượng cao... b)
Phương pháp kiểm kê định kỳ: -
Phương pháp kiểm kê định kỳ là phương pháp hạch toán căn cứ vào kết quả kiểm kê
thực tế để phản ánh giá trị tồn kho cuối kỳ vật tư, hàng hóa trên sổ kế toán
tổng hợp và từ đó tính giá trị của hàng hóa, vật tư đã xuất trong kỳ theo công
thức: Trị
giá hàng xuất kho trong kỳ = Trị
giá hàng tồn kho đầu kỳ + Tổng
trị giá hàng nhập kho trong kỳ - Trị
giá hàng tồn kho cuối kỳ -
Theo phương pháp kiểm kê định kỳ, mọi biến động của vật tư, hàng hóa (nhập kho,
xuất kho) không theo dõi, phản ánh trên các tài khoản kế toán hàng tồn kho. Giá
trị của vật tư, hàng hóa mua và nhập kho trong kỳ được theo dõi, phản ánh trên
Tài khoản 611 “Mua hàng”. -
Công tác kiểm kê vật tư, hàng hóa được tiến hành cuối mỗi kỳ kế toán để xác định
trị giá vật tư, hàng hóa tồn kho thực tế, trị giá vật tư, hàng hóa xuất kho
trong kỳ (tiêu dùng cho sản xuất hoặc xuất bán) làm căn cứ ghi sổ kế toán của
Tài khoản 611 “Mua hàng”. Như vậy, khi áp dụng phương pháp kiểm kê định kỳ, các
tài khoản kế toán hàng tồn kho chỉ sử dụng ở đầu kỳ kế toán (để kết chuyển số dư
đầu kỳ) và cuối kỳ kế toán (để phản ánh giá trị thực tế hàng tồn kho cuối
kỳ). -
Phương pháp kiểm kê định kỳ thường áp dụng ở các doanh nghiệp có nhiều chủng
loại hàng hóa, vật tư với quy cách, mẫu mã rất khác nhau, giá trị thấp, hàng
hóa, vật tư xuất dùng hoặc xuất bán thường xuyên (cửa hàng bán lẻ...). Phương
pháp kiểm kê định kỳ hàng tồn kho có ưu điểm là đơn giản, giảm nhẹ khối lượng
công việc hạch toán. Nhưng độ chính xác về giá trị vật tư, hàng hóa xuất dùng,
xuất bán bị ảnh hưởng của chất lượng công tác quản lý tại kho, quầy, bến
bãi. 13.
Việc phân loại hàng tồn kho là vật tư hay thiết bị, phụ tùng thay thế tùy thuộc
vào đặc điểm kinh doanh của doanh nghiệp. 14.
Chi phí vận chuyển, bảo quản hàng tồn kho phát sinh trong quá trình mua hàng
hoặc tiếp tục quá trình sản xuất, chế biến thì được ghi nhận vào giá gốc hàng
tồn kho. Chi phí vận chuyển, bảo quản hàng tồn kho liên quan đến việc tiêu thụ
hàng tồn kho thì được tính vào chi phí bán hàng. Điều
23. Tài khoản 151 - Hàng mua đang đi đường 1.
Nguyên tắc kế toán a)
Tài khoản này dùng để phản ánh trị giá của các loại hàng hóa, vật tư (nguyên
liệu, vật liệu; công cụ, dụng cụ; hàng hóa) mua ngoài đã thuộc quyền sở hữu của
doanh nghiệp nhưng đến cuối kỳ vẫn còn đang trên đường vận chuyển, ở bến cảng,
bến bãi hoặc đã về đến doanh nghiệp nhưng đang chờ kiểm nhận nhập
kho. b)
Hàng hóa, vật tư được coi là thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp nhưng chưa nhập
kho, bao gồm: -
Hàng hóa, vật tư mua ngoài đã thanh toán tiền hoặc đã chấp nhận thanh toán nhưng
còn để ở kho người bán, ở bến cảng, bến bãi hoặc đang trên đường vận
chuyển; -
Hàng hóa, vật tư mua ngoài đã về đến doanh nghiệp nhưng đang chờ kiểm nghiệm,
kiểm nhận nhập kho. c)
Kế toán hàng mua đang đi đường được ghi nhận trên Tài khoản 151 theo nguyên tắc
giá gốc. d)
Hàng ngày, khi nhận được hóa đơn mua hàng nhưng hàng chưa về nhập kho, kế toán
chưa ghi sổ mà tiến hành đối chiếu với hợp đồng kinh tế và lưu hóa đơn vào tập
hồ sơ riêng: “Hàng mua đang đi đường”. Trong
kỳ, nếu hàng về nhập kho, kế toán căn cứ vào phiếu nhập kho và hóa đơn mua hàng
ghi sổ trực tiếp vào các Tài khoản 152 “Nguyên liệu, vật liệu”, Tài khoản 153
“Công cụ, dụng cụ”, Tài khoản 156 “Hàng hóa”. đ)
Nếu cuối kỳ hàng vẫn chưa về thì căn cứ hóa đơn mua hàng ghi vào Tài khoản 151
“Hàng mua đang đi đường”. Kế toán phải mở chi tiết để theo dõi hàng mua đang đi
đường theo từng chủng loại hàng hóa, vật tư, từng lô hàng, từng hợp đồng kinh
tế. 2.
Kết cấu và nội dung phản ánh của Tài khoản 151 - Hàng mua đang đi
đường Bên
Nợ: -
Trị giá hàng hóa, vật tư đã mua đang đi đường; -
Kết chuyển trị giá thực tế của hàng hóa, vật tư mua đang đi đường cuối kỳ
(trường hợp doanh nghiệp hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kiểm kê định 26
kỳ). Bên
Có: -
Trị giá hàng hóa, vật tư đã mua đang đi đường đã về nhập kho hoặc đã chuyển giao
thẳng cho khách hàng; -
Kết chuyển trị giá thực tế của hàng hóa, vật tư đã mua đang đi đường đầu kỳ
(trường hợp doanh nghiệp hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kiểm kê định
kỳ). Số
dư bên Nợ: Trị
giá hàng hóa, vật tư đã mua nhưng còn đang đi đường (chưa về nhập kho doanh
nghiệp). Điều
24. Tài khoản 152 - Nguyên liệu, vật liệu 1.
Nguyên tắc kế toán a)
Tài khoản này dùng để phản ánh trị giá hiện có và tình hình biến động tăng, giảm
của các loại nguyên liệu, vật liệu trong kho của doanh nghiệp. Nguyên liệu, vật
liệu của doanh nghiệp là những đối tượng lao động mua ngoài hoặc tự chế biến
dùng cho mục đích sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Nguyên liệu, vật liệu
phản ánh vào tài khoản này được phân loại như sau: -
Nguyên liệu, vật liệu chính:
Là những loại nguyên liệu và vật liệu khi tham gia vào quá trình sản xuất thì
cấu thành thực thể vật chất, thực thể chính của sản phẩm. Vì vậy khái niệm
nguyên liệu, vật liệu chính gắn liền với từng doanh nghiệp sản xuất cụ thể.
Trong các doanh nghiệp kinh doanh thương mại, dịch vụ... không đặt ra khái niệm
vật liệu chính, vật liệu phụ. Nguyên liệu, vật liệu chính cũng bao gồm cả nửa
thành phẩm mua ngoài với mục đích tiếp tục quá trình sản xuất, chế tạo ra thành
phẩm. -
Vật liệu phụ:
Là những loại vật liệu khi tham gia vào quá trình sản xuất, không cấu thành thực
thể chính của sản phẩm nhưng có thể kết hợp với vật liệu chính làm thay đổi màu
sắc, mùi vị, hình dáng bề ngoài, tăng thêm chất lượng của sản phẩm hoặc tạo điều
kiện cho quá trình chế tạo sản phẩm được thực hiện bình thường, hoặc phục vụ cho
nhu cầu công nghệ, kỹ thuật, bảo quản đóng gói; phục vụ cho quá trình lao
động. -
Nhiên liệu:
Là những thứ có tác dụng cung cấp nhiệt lượng trong quá trình sản xuất, kinh
doanh tạo điều kiện cho quá trình chế tạo sản phẩm diễn ra bình thường. Nhiên
liệu có thể tồn tại ở thể lỏng, thể rắn và thể khí. -
Vật tư thay thế:
Là những vật tư dùng để thay thế, sửa chữa máy móc thiết bị, phương tiện vận
tải, công cụ, dụng cụ sản xuất... -
Vật liệu và thiết bị xây dựng cơ bản:
Là những loại vật liệu và thiết bị được sử dụng cho công việc xây dựng cơ bản.
Đối với thiết bị xây dựng cơ bản bao gồm cả thiết bị cần lắp, không cần lắp,
công cụ, khí cụ và vật kết cấu dùng để lắp đặt vào công trình xây dựng cơ
bản. b)
Kế toán nhập, xuất, tồn kho nguyên liệu, vật liệu trên Tài khoản 152 phải được
thực hiện theo nguyên tắc giá gốc. Nội dung giá gốc của nguyên liệu, vật liệu
được xác định tùy theo từng nguồn nhập. -
Giá gốc của nguyên liệu, vật liệu mua ngoài, bao gồm:
Giá mua ghi trên hóa đơn, các khoản thuế không được hoàn lại, chi phí vận
chuyển, bốc xếp, bảo quản, phân loại, bảo hiểm,... nguyên liệu, vật liệu từ nơi
mua về đến kho của doanh nghiệp, công tác phí của cán bộ thu mua, chi phí của bộ
phận thu mua độc lập, các chi phí khác có liên quan trực tiếp đến việc thu mua
nguyên vật liệu và số hao hụt tự nhiên trong định mức (nếu
có): +
Trường hợp thuế GTGT hàng nhập khẩu được khấu trừ thì giá trị của nguyên liệu,
vật liệu mua vào được phản ánh theo giá mua chưa có thuế
GTGT. +
Trường hợp thuế GTGT hàng nhập khẩu không được khấu trừ thì giá trị của nguyên
liệu, vật liệu mua vào bao gồm cả thuế GTGT. -
Giá gốc của nguyên liệu, vật liệu tự chế biến, bao gồm:
Giá thực tế của nguyên liệu xuất chế biến và chi phí chế
biến. -
Giá gốc của nguyên liệu, vật liệu thuê ngoài gia công chế biến, bao
gồm:
Giá thực tế của nguyên liệu, vật liệu xuất thuê ngoài gia công chế biến, chi phí
vận chuyển vật liệu đến nơi chế biến và từ nơi chế biến về doanh nghiệp, tiền
thuê ngoài gia công chế biến. -
Giá gốc của nguyên liệu nhận góp vốn liên doanh, cổ phần
là giá trị được các bên tham gia góp vốn liên doanh thống nhất đánh giá chấp
thuận. c)
Việc tính trị giá của nguyên liệu, vật liệu xuất kho trong kỳ, được thực hiện
theo một trong các phương pháp sau: -
Phương pháp giá thực tế đích danh; -
Phương pháp bình quân gia quyền sau mỗi lần nhập hoặc cuối
kỳ; -
Phương pháp nhập trước, xuất trước. Doanh
nghiệp lựa chọn phương pháp tính giá nào thì phải đảm bảo tính nhất quán trong
cả niên độ kế toán. d)
Kế toán chi tiết nguyên liệu, vật liệu phải thực hiện theo từng kho, từng loại,
từng nhóm, thứ nguyên liệu, vật liệu. Trường hợp doanh nghiệp sử dụng giá hạch
toán trong kế toán chi tiết nhập, xuất nguyên liệu, vật liệu, thì cuối kỳ kế
toán phải tính hệ số chênh lệch giữa giá thực tế và giá hạch toán của nguyên
liệu, vật liệu để tính giá thực tế của nguyên liệu, vật liệu xuất dùng trong kỳ
theo công thức: Hệ
số chênh lệch giữa giá thực tế và giá hạch toán của NVL
(1) = Giá
thực tế của NVL tồn kho đầu kỳ + Giá
thực tế của NVL nhập kho trong kỳ Giá
hạch toán của NVL tồn kho đầu kỳ + Giá
hạch toán của NVL nhập kho trong
kỳ Giá
thực tế của NVL xuất dùng trong kỳ = Giá
hạch toán của NVL xuất dùng trong kỳ x Hệ
số chênh lệch giữa giá thực tế và giá hạch toán của NVL
(1) đ)
Không phản ánh vào tài khoản này đối với nguyên vật liệu không thuộc quyền sở
hữu của doanh nghiệp như nguyên vật liệu nhận giữ hộ, nguyên vật liệu nhận để
gia công, nguyên vật liệu nhận từ bên giao ủy thác xuất nhập
khẩu... 2.
Kết cấu và nội dung phản ánh của Tài khoản 152 - Nguyên liệu, vật
liệu Bên
Nợ: -
Trị giá thực tế của nguyên liệu, vật liệu nhập kho do mua ngoài, tự chế, thuê
ngoài gia công, chế biến, nhận góp vốn hoặc từ các nguồn
khác; -
Trị giá nguyên liệu, vật liệu thừa phát hiện khi kiểm kê; -
Kết chuyển trị giá thực tế của nguyên liệu, vật liệu tồn kho cuối kỳ (trường hợp
doanh nghiệp kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kiểm kê định
kỳ). Bên
Có: -
Trị giá thực tế của nguyên liệu, vật liệu xuất kho dùng vào sản xuất, kinh
doanh, để bán, thuê ngoài gia công chế biến hoặc đưa đi góp
vốn; -
Trị giá nguyên liệu, vật liệu trả lại người bán hoặc được giảm giá hàng
mua; -
Chiết khấu thương mại được hưởng khi mua nguyên liệu, vật
liệu; -
Trị giá nguyên liệu, vật liệu hao hụt, mất mát phát hiện khi kiểm
kê; -
Kết chuyển trị giá thực tế của nguyên liệu, vật liệu tồn kho đầu kỳ (trường hợp
doanh nghiệp kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kiểm kê định
kỳ). Số
dư bên Nợ: Trị
giá thực tế của nguyên liệu, vật liệu tồn kho cuối kỳ. Điều
25. Tài khoản 153 - Công cụ, dụng cụ 1.
Nguyên tắc kế toán a)
Tài khoản này dùng để phản ánh trị giá hiện có và tình hình biến động tăng, giảm
các loại công cụ, dụng cụ của doanh nghiệp. Công cụ, dụng cụ là những tư liệu
lao động không có đủ các tiêu chuẩn về giá trị và thời gian sử dụng quy định đối
với TSCĐ. Vì vậy công cụ, dụng cụ được quản lý và hạch toán như nguyên liệu, vật
liệu. Theo quy định hiện hành, những tư liệu lao động sau đây nếu không đủ tiêu
chuẩn ghi nhận TSCĐ thì được ghi nhận là công cụ, dụng cụ: -
Các đà giáo, ván khuôn, công cụ, dụng cụ gá lắp chuyên dùng cho sản xuất xây
lắp; -
Các loại bao bì bán kèm theo hàng hóa có tính tiền riêng, nhưng trong quá trình
bảo quản hàng hóa vận chuyển trên đường và dự trữ trong kho có tính giá trị hao
mòn để trừ dần giá trị của bao bì; -
Những dụng cụ, đồ nghề bằng thủy tinh, sành, sứ; -
Phương tiện quản lý, đồ dùng văn phòng; -
Quần áo, giày dép chuyên dùng để làm việc,... b)
Kế toán nhập, xuất, tồn kho công cụ, dụng cụ trên Tài khoản 153 được thực hiện
theo giá gốc. Nguyên tắc xác định giá gốc nhập kho công cụ, dụng cụ được thực
hiện như quy định đối với nguyên liệu, vật liệu (xem giải thích ở TK
152). c)
Việc tính giá trị công cụ, dụng cụ xuất kho cũng được thực hiện theo một trong
ba phương pháp sau: -
Phương pháp Nhập trước - Xuất trước; -
Phương pháp giá thực tế đích danh; -
Phương pháp bình quân gia quyền sau mỗi lần nhập hoặc cuối
kỳ. d)
Kế toán chi tiết công cụ, dụng cụ phải thực hiện theo từng kho, từng loại, từng
nhóm, từng thứ công cụ, dụng cụ. Công cụ, dụng cụ xuất dùng cho sản xuất, kinh
doanh, cho thuê phải được theo dõi về hiện vật và giá trị trên sổ kế toán chi
tiết theo nơi sử dụng, theo đối tượng thuê và người chịu trách nhiệm vật chất.
Đối với công cụ, dụng cụ có giá trị lớn, quý hiếm phải có thể thức bảo quản đặc
biệt. đ)
Đối với các công cụ, dụng cụ có giá trị nhỏ khi xuất dùng cho sản xuất, kinh
doanh phải ghi nhận toàn bộ một lần vào chi phí sản xuất, kinh
doanh. e)
Trường hợp công cụ, dụng cụ, bao bì luân chuyển, đồ dùng cho thuê xuất dùng hoặc
cho thuê liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh trong nhiều kỳ kế toán thì
được ghi nhận vào Tài khoản 242 “Chi phí trả trước” và phân bổ dần vào giá vốn
hàng bán hoặc chi phí sản xuất kinh doanh theo từng bộ phận sử
dụng. 2.
Kết cấu và nội dung phản ánh của Tài khoản 153 - Công cụ, dụng
cụ Bên
Nợ: -
Trị giá thực tế của công cụ, dụng cụ nhập kho do mua ngoài, tự chế, thuê ngoài
gia công chế biến, nhận góp vốn; -
Trị giá công cụ, dụng cụ cho thuê nhập lại kho; -
Trị giá thực tế của công cụ, dụng cụ thừa phát hiện khi kiểm
kê; -
Kết chuyển trị giá thực tế của công cụ, dụng cụ tồn kho cuối kỳ (trường hợp
doanh nghiệp kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kiểm kê định
kỳ). Bên
Có: -
Trị giá thực tế của công cụ, dụng cụ xuất kho sử dụng cho sản xuất, kinh doanh,
cho thuê hoặc góp vốn; -
Chiết khấu thương mại được hưởng khi mua công cụ, dụng cụ; -
Trị giá công cụ, dụng cụ trả lại cho người bán hoặc được người bán giảm
giá; -
Trị giá công cụ, dụng cụ thiếu phát hiện khi kiểm kê; -
Kết chuyển trị giá thực tế của công cụ, dụng cụ tồn kho đầu kỳ (trường hợp doanh
nghiệp kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kiểm kê định
kỳ). Số
dư bên Nợ: Trị
giá thực tế của công cụ, dụng cụ tồn kho cuối kỳ. Điều
26. Tài khoản 154 - Chi phí sản xuất, kinh doanh dở
dang 1.
Nguyên tắc kế toán a)
Tài khoản này dùng để phản ánh tổng hợp chi phí sản xuất, kinh doanh phục vụ cho
việc tính giá thành sản phẩm, dịch vụ ở doanh nghiệp hạch toán hàng tồn kho theo
phương pháp kê khai thường xuyên. Ở những doanh nghiệp hạch toán hàng tồn kho
theo phương pháp kiểm kê định kỳ, Tài khoản 154 chỉ phản ánh giá trị thực tế của
sản phẩm, dịch vụ dở dang đầu kỳ và cuối kỳ. b)
Tài khoản 154 "Chi phí sản xuất, kinh doanh dở dang" phản ánh chi phí sản xuất,
kinh doanh phát sinh trong kỳ; chi phí sản xuất, kinh doanh của khối lượng sản
phẩm, dịch vụ hoàn thành trong kỳ; chi phí sản xuất, kinh doanh dở dang đầu kỳ,
cuối kỳ của các hoạt động sản xuất, kinh doanh chính, phụ và thuê ngoài gia công
chế biến ở các doanh nghiệp sản xuất hoặc ở các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ.
Tài khoản 154 cũng phản ánh chi phí sản xuất, kinh doanh của các hoạt động sản
xuất, gia công chế biến, hoặc cung cấp dịch vụ của các doanh nghiệp thương mại,
nếu có tổ chức các loại hình hoạt động này. c)
Chi phí sản xuất, kinh doanh hạch toán trên Tài khoản 154 phải được chi tiết
theo địa điểm phát sinh chi phí (phân xưởng, bộ phận sản xuất, đội sản xuất,
công trường,...); theo loại, nhóm sản phẩm, hoặc chi tiết, bộ phận sản phẩm;
theo từng loại dịch vụ hoặc theo từng công đoạn dịch vụ. d)
Chi phí sản xuất, kinh doanh phản ánh trên Tài khoản 154 gồm những chi phí
sau: -
Chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp; -
Chi phí nhân công trực tiếp; -
Chi phí sử dụng máy thi công (đối với hoạt động xây lắp); -
Chi phí sản xuất chung. đ)
Chi phí nguyên liệu, vật liệu, chi phí nhân công vượt trên mức bình thường và
chi phí sản xuất chung cố định không phân bổ thì không được tính vào giá trị
hàng tồn kho mà phải tính vào giá vốn hàng bán của kỳ kế
toán. e)
Cuối kỳ, phân bổ chi phí sản xuất chung cố định và chi phí sản xuất chung biến
đổi vào chi phí chế biến cho mỗi đơn vị sản phẩm theo chi phí thực tế phát
sinh. g)
Không hạch toán vào Tài khoản 154 những chi phí sau: -
Chi phí bán hàng; -
Chi phí quản lý doanh nghiệp; -
Chi phí tài chính; -
Chi phí khác; -
Chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp; -
Chi đầu tư xây dựng cơ bản; -
Các khoản chi được trang trải bằng nguồn khác. 2.
Phương pháp vận dụng Tài khoản 154 trong ngành công
nghiệp a)
Tài khoản 154 “Chi phí sản xuất, kinh doanh dở dang" áp dụng trong ngành công
nghiệp dùng để tập hợp, tổng hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm của
các phân xưởng, hoặc bộ phận sản xuất, chế tạo sản phẩm. Đối với các doanh
nghiệp sản xuất có thuê ngoài gia công, chế biến, cung cấp lao vụ, dịch vụ cho
bên ngoài hoặc phục vụ cho việc sản xuất sản phẩm thì chi phí của những hoạt
động này cũng được tập hợp vào Tài khoản 154. b)
Chỉ được phản ánh vào Tài khoản 154 những nội dung chi phí
sau: -
Chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp cho việc sản xuất, chế tạo sản
phẩm; -
Chi phí nhân công trực tiếp cho việc sản xuất, chế tạo sản
phẩm; -
Chi phí sản xuất chung phục vụ trực tiếp cho việc sản xuất, chế tạo sản
phẩm. c)
Tài khoản 154 ở các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp được hạch toán chi tiết
theo địa điểm phát sinh chi phí (phân xưởng, bộ phận sản xuất), theo loại, nhóm
sản phẩm, sản phẩm, hoặc chi tiết bộ phận sản phẩm. d)
Phần chênh lệch giữa chi phí sản xuất thử và số thu hồi từ việc thanh lý, nhượng
bán sản phẩm sản xuất thử được hạch toán tăng hoặc giảm giá trị xây dựng cơ
bản. 3.
Phương pháp vận dụng Tài khoản 154 trong ngành nông
nghiệp a)
Tài khoản 154 "Chi phí sản xuất, kinh doanh dở dang" áp dụng trong ngành nông
nghiệp dùng để tập hợp tổng chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm của các
hoạt động nuôi trồng, chế biến sản phẩm hoặc dịch vụ nông nghiệp. Tài khoản này
phải được hạch toán chi tiết theo ngành kinh doanh nông nghiệp (trồng trọt, chăn
nuôi, chế biến,...), theo địa điểm phát sinh chi phí (phân xưởng, đội sản
xuất,...), chi tiết theo từng loại cây con và từng loại sản phẩm, từng sản phẩm
hoặc dịch vụ. b)
Giá thành sản xuất thực tế của sản phẩm nông nghiệp được xác định vào cuối vụ
thu hoạch hoặc cuối năm. Sản phẩm thu hoạch năm nào thì tính giá thành trong năm
đó nghĩa là chi phí chi ra trong năm nay nhưng năm sau mới thu hoạch sản phẩm
thì năm sau mới tính giá thành. c)
Đối với ngành trồng trọt, chi phí phải được hạch toán chi tiết theo 3 loại
cây: -
Cây ngắn ngày (lúa, khoai, sắn,...); -
Cây trồng một lần thu hoạch nhiều lần (dứa, chuối,...); -
Cây lâu năm (chè, cà phê, cao su, hồ tiêu, cây ăn
quả,...). Đối
với các loại cây trồng 2, 3 vụ trong một năm, hoặc trồng năm nay, năm sau mới
thu hoạch, hoặc loại cây vừa có diện tích trồng mới, vừa có diện tích chăm sóc
thu hoạch trong cùng một năm,... thì phải căn cứ vào tình hình thực tế để ghi
chép, phản ánh rõ ràng chi phí của vụ này với vụ khác, của diện tích này với
diện tích khác, của năm trước với năm nay và năm sau,... d)
Không phản ánh vào tài khoản này chi phí khai hoang, trồng mới và chăm sóc cây
lâu năm đang trong thời kỳ XDCB, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp,
chi phí hoạt động tài chính và chi phí khác. đ)
Về nguyên tắc, chi phí sản xuất ngành trồng trọt được hạch toán chi tiết vào bên
Nợ Tài khoản 154 "Chi phí sản xuất, kinh doanh dở dang" theo từng đối tượng tập
hợp chi phí. Đối với một số loại chi phí có liên quan đến nhiều đối tượng hạch
toán, hoặc liên quan đến nhiều vụ, nhiều thời kỳ thì phải phản ánh trên các tài
khoản riêng, sau đó phân bổ vào giá thành của các loại sản phẩm liên quan như:
Chi phí tưới tiêu nước, chi phí chuẩn bị đất và trồng mới năm đầu của những cây
trồng một lần, thu hoạch nhiều lần (chi phí này không thuộc vốn đầu tư XDCB),...
e)
Trên cùng một diện tích canh tác, nếu trồng xen từ hai loại cây nông nghiệp ngắn
ngày trở lên thì những chi phí phát sinh có liên quan trực tiếp đến loại cây nào
thì tập hợp riêng cho loại cây đó (như: Hạt giống, chi phí gieo trồng, thu
hoạch,...), chi phí phát sinh chung cho nhiều loại cây (chi phí cày bừa, tưới
tiêu nước,...) thì được tập hợp riêng và phân bổ cho từng loại cây theo diện
tích gieo trồng, hoặc theo một tiêu thức phù hợp. g)
Đối với cây lâu năm, quá trình từ khi làm đất, gieo trồng, chăm sóc đến khi bắt
đầu có sản phẩm (thu, bói) thì được hạch toán như quá trình đầu tư XDCB để hình
thành nên TSCĐ được tập hợp chi phí ở TK 241 “XDCB dở dang". Chi phí cho vườn
cây lâu năm trong quá trình sản xuất, kinh doanh bao gồm các chi phí cho khâu
chăm sóc, khâu thu hoạch. h)
Khi hạch toán chi phí ngành chăn nuôi trên Tài khoản 154 cần chú ý một số điểm
sau: -
Hạch toán chi phí chăn nuôi phải chi tiết cho từng loại hoạt động chăn nuôi (như
chăn nuôi trâu bò, chăn nuôi lợn,...), theo từng nhóm hoặc từng loại gia súc,
gia cầm; -
Súc vật con của đàn súc vật cơ bản hay nuôi béo đẻ ra sau khi tách mẹ được mở sổ
chi tiết theo dõi riêng theo giá thành thực tế; -
Đối với súc vật cơ bản khi đào thải chuyển thành súc vật nuôi lớn, nuôi béo được
hạch toán vào Tài khoản 154 theo giá trị còn lại của súc vật cơ
bản; -
Đối tượng tính giá thành trong ngành chăn nuôi là: 1 kg sữa tươi, 1 con bò con
tiêu chuẩn, giá thành 1 kg thịt tăng, giá thành 1 kg thịt hơi, giá thành 1
ngày/con chăn nuôi,... i)
Phần chi phí nguyên vật liệu, chi phí nhân công trực tiếp vượt trên mức bình
thường, chi phí sản xuất chung cố định không phân bổ thì không được tính vào giá
thành sản phẩm mà được hạch toán vào giá vốn hàng bán của kỳ kế
toán. 4.
Phương pháp vận dụng Tài khoản 154 trong ngành dịch vụ a)
Tài khoản 154 “Chi phí sản xuất, kinh doanh dở dang" áp dụng trong các doanh
nghiệp kinh doanh dịch vụ như: Giao thông vận tải, bưu điện, du lịch, dịch
vụ,... Tài khoản này dùng để tập hợp chi phí (nguyên liệu, vật liệu trực tiếp,
nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung) và tính giá thành của khối lượng
dịch vụ đã thực hiện. b)
Đối với ngành giao thông vận tải, tài khoản này dùng để tập hợp chi phí và tính
giá thành về vận tải đường bộ (ô tô, tàu điện, vận tải bằng phương tiện thô sơ
khác...) vận tải đường sắt, đường thủy, đường hàng không, vận tải đường ống,...
Tài khoản 154 áp dụng cho ngành giao thông vận tải phải được mở chi tiết cho
từng loại hoạt động (vận tải hành khách, vận tải hàng hóa,...) theo từng doanh
nghiệp hoặc bộ phận kinh doanh dịch vụ. c)
Trong quá trình vận tải, săm lốp bị hao mòn với mức độ nhanh hơn mức khấu hao
đầu xe nên thường phải thay thế nhiều lần nhưng giá trị săm lốp thay thế không
tính vào giá thành vận tải ngay một lúc khi xuất dùng thay thế mà phải phân bổ
dần theo từng kỳ. Vì vậy, hàng kỳ các doanh nghiệp vận tải ôtô được trích trước
chi phí săm lốp vào giá thành vận tải (chi phí phải trả) theo quy định của chế
độ tài chính hiện hành. d)
Phần chi phí nguyên liệu, vật liệu, chi phí nhân công trực tiếp vượt trên mức
bình thường và phần chi phí sản xuất chung cố định không phân bổ thì không được
tính vào giá thành sản phẩm mà được hạch toán vào giá vốn hàng bán của kỳ kế
toán. đ)
Đối với hoạt động kinh doanh du lịch, tài khoản này được mở chi tiết theo từng
loại hoạt động như: Hướng dẫn du lịch, kinh doanh khách sạn, kinh doanh vận tải
du lịch,... e)
Trong hoạt động kinh doanh khách sạn, Tài khoản 154 phải mở chi tiết theo từng
loại dịch vụ như: dịch vụ ăn uống, dịch vụ buồng nghỉ, dịch vụ vui chơi giải
trí, phục vụ khác (giặt, là, cắt tóc, điện tín, thể
thao,...). 5.
Phương pháp vận dụng Tài khoản 154 trong ngành xây
dựng a)
Đối với hoạt động kinh doanh xây lắp quy định chỉ áp dụng phương pháp hạch toán
hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên, không áp dụng phương pháp
hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kiểm kê định kỳ nên Tài khoản 154 dùng
để tập hợp chi phí sản xuất, kinh doanh, phục vụ cho việc tính giá thành sản
xuất sản phẩm xây lắp công nghiệp, dịch vụ của doanh nghiệp xây
lắp. b)
Phần chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp vượt
trên mức bình thường không được tính vào giá thành công trình xây lắp mà được
hạch toán vào giá vốn hàng bán của kỳ kế toán. c)
Tài khoản này trong ngành Xây lắp có thể theo dõi chi tiết theo các hoạt động
sau: -
Xây lắp:
Dùng để tập hợp chi phí, tính giá thành sản xuất sản phẩm xây lắp và phản ánh
giá trị sản phẩm xây lắp dở dang cuối kỳ; -
Sản phẩm khác:
Dùng để tập hợp chi phí, tính giá thành sản xuất sản phẩm khác và phản ánh giá
trị sản phẩm khác dở dang cuối kỳ (thành phẩm, cấu kiện xây
lắp,...); -
Dịch vụ:
Dùng để tập hợp chi phí, tính giá thành dịch vụ và phản ánh chi phí dịch vụ dở
dang cuối kỳ; -
Chi phí bảo hành xây lắp:
Dùng để tập hợp chi phí bảo hành công trình xây dựng, lắp đặt thực tế phát sinh
trong kỳ và giá trị công trình bảo hành xây lắp còn dở dang cuối
kỳ. d)
Việc tập hợp chi phí sản xuất, tính giá thành sản phẩm xây lắp phải theo từng
công trình, hạng mục công trình và theo khoản mục giá thành quy định trong giá
trị dự toán xây lắp, gồm: -
Chi phí vật liệu; -
Chi phí nhân công; -
Chi phí sử dụng máy thi công; -
Chi phí chung. Riêng
chi phí chung được tập hợp chi phí "Xây lắp": Chỉ bao gồm chi phí chung phát
sinh ở đội nhận thầu hoặc công trường xây lắp. Còn chi phí quản lý doanh nghiệp
xây lắp (là một bộ phận của chi phí chung) được tập hợp bên Nợ Tài khoản 642
"Chi phí quản lý kinh doanh". Chi phí này sẽ được kết chuyển vào bên Nợ Tài
khoản 911 "Xác định kết quả kinh doanh" tham gia vào giá thành toàn bộ sản phẩm
xây lắp hoàn thành và bán ra trong kỳ. đ)
Chủ đầu tư xây dựng bất động sản sử dụng tài khoản này để tập hợp chi phí xây
dựng thành phẩm bất động sản. Trường hợp bất động sản xây dựng sử dụng cho nhiều
mục đích (làm văn phòng, cho thuê hoặc để bán, ví dụ như tòa nhà chung cư hỗn
hợp) thì thực hiện theo nguyên tắc: -
Nếu đủ căn cứ để hạch toán riêng hoặc xác định được tỷ trọng của phần chi phí
xây dựng bất động sản để bán (thành phẩm bất động sản) và phần chi phí xây dựng
bất động sản để cho thuê hoặc làm văn phòng (TSCĐ hoặc bất động sản đầu tư) thì
phải hạch toán riêng trên TK 154 phần chi phí xây dựng thành phẩm bất động sản.
Phần chi phí xây dựng TSCĐ hoặc bất động sản đầu tư được phản ánh riêng trên TK
241 - Xây dựng cơ bản dở dang. -
Trường hợp không hạch toán riêng hoặc xác định được tỷ trọng chi phí xây dựng
cho các cấu phần thành phẩm bất động sản, TSCĐ hoặc bất động sản đầu tư thì kế
toán tập hợp chi phí phát sinh liên quan trực tiếp tới việc đầu tư xây dựng trên
TK 241. Khi công trình, dự án hoàn thành bàn giao đưa vào sử dụng, kế toán căn
cứ cách thức sử dụng tài sản trong thực tế để kết chuyển chi phí đầu tư xây dựng
phù hợp với bản chất của từng loại tài sản. e)
Khoản dự phòng chi phí bảo hành công trình xây lắp được hạch toán vào chi phí
sản xuất kinh doanh từng kỳ, hết thời hạn bảo hành nếu số bảo hành đã trích lập
lớn hơn chi phí thực tế đã phát sinh thì ghi tăng thu nhập khác trong kỳ. Trường
hợp ngược lại thì hạch toán vào giá vốn hàng bán trong kỳ. g)
Các khoản chi phí của hợp đồng xây lắp không thể thu hồi (ví dụ: Không đủ tính
thực thi về mặt pháp lý như có sự nghi ngờ về hiệu lực của nó, hoặc hợp đồng mà
khách hàng không thể thực thi nghĩa vụ của mình...) phải được ghi nhận ngay là
giá vốn hàng bán trong kỳ. h)
Các khoản thu từ việc bán nguyên liệu, vật liệu thừa và thanh lý máy móc, thiết
bị thi công khi kết thúc hợp đồng xây dựng được ghi giảm chi phí sản xuất kinh
doanh. i)
Hạch toán khoản mục nguyên liệu, vật liệu trực tiếp: -
Khoản mục chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp bao gồm: Giá trị thực tế của
vật liệu chính, vật liệu phụ, các cấu kiện hoặc các bộ phận rời, vật liệu luân
chuyển tham gia cấu thành thực thể sản phẩm xây, lắp hoặc giúp cho việc thực
hiện và hoàn thành khối lượng xây, lắp (không kể vật liệu phụ cho máy móc,
phương tiện thi công và những vật liệu tính trong chi phí
chung). -
Nguyên tắc hạch toán khoản mục nguyên liệu, vật liệu trực tiếp: Nguyên liệu, vật
liệu sử dụng cho xây dựng hạng mục công trình nào phải tính trực tiếp cho sản
phẩm hạng mục công trình đó trên cơ sở chứng từ gốc theo số lượng thực tế đã sử
dụng và theo giá thực tế xuất kho (giá bình quân gia quyền; Giá nhập trước, xuất
trước, thực tế đích danh). -
Cuối kỳ hạch toán hoặc khi công trình hoàn thành, tiến hành kiểm kê số vật liệu
còn lại tại nơi sản xuất (nếu có) để ghi giảm trừ chi phí nguyên liệu, vật liệu
trực tiếp xuất sử dụng cho công trình. -
Trong điều kiện thực tế sản xuất xây lắp không cho phép tính chi phí nguyên
liệu, vật liệu trực tiếp cho từng công trình, hạng mục công trình thì doanh
nghiệp có thể áp dụng phương pháp phân bổ vật liệu cho đối tượng sử dụng theo
tiêu thức hợp lý (tỷ lệ với định mức tiêu hao nguyên liệu, vật
liệu,...). k)
Hạch toán khoản mục chi phí sử dụng máy thi công: -
Khoản mục chi phí sử dụng máy thi công bao gồm: Chi phí cho các máy thi công
nhằm thực hiện khối lượng công tác xây lắp bằng máy. Máy móc thi công là loại
máy trực tiếp phục vụ xây lắp công trình. Đó là những máy móc chuyển động bằng
động cơ hơi nước, diezen, xăng, điện,... (kể cả loại máy phục vụ xây,
lắp). -
Chi phí sử dụng máy thi công bao gồm: Chi phí thường xuyên và chi phí tạm thời.
Chi phí thường xuyên cho hoạt động của máy thi công, gồm: Chi phí nhân công điều
khiển máy, phục vụ máy,...; Chi phí vật liệu; Chi phí công cụ, dụng cụ; Chi phí
khấu hao TSCĐ; Chi phí dịch vụ mua ngoài (chi phí sửa chữa nhỏ, điện, nước, bảo
hiểm xe, máy,...); Chi phí khác bằng tiền. -
Chi phí tạm thời cho hoạt động của máy thi công, gồm: Chi phí sửa chữa lớn máy
thi công (đại tu, trung tu,...) không đủ điều kiện ghi tăng nguyên giá máy thi
công; Chi phí công trình tạm thời cho máy thi công (lều, lán, bệ, đường ray chạy
máy,...). Chi phí tạm thời của máy có thể phát sinh trước (được hạch toán vào
bên Nợ Tài khoản 242) sau đó sẽ phân bổ dần vào Nợ Tài khoản 154 "Chi phí sản
xuất kinh doanh dở dang"; Hoặc phát sinh sau, nhưng phải tính trước vào chi phí
sản xuất xây lắp trong kỳ (do liên quan tới việc sử dụng thực tế máy móc thi
công trong kỳ). Trường hợp này phải tiến hành trích trước chi phí, ghi Có Tài
khoản 352 "Dự phòng phải trả", Nợ Tài khoản 154 chi tiết chi phí sử dụng máy thi
công. l)
Hạch toán khoản mục chi phí sản xuất chung: Chi
phí sản xuất chung phản ánh chi phí sản xuất của đội, công trường xây dựng gồm:
Lương nhân viên quản lý phân xưởng, tổ, đội xây dựng; Khoản trích bảo hiểm xã
hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, kinh phí
công đoàn được tính theo tỉ lệ quy định trên tiền lương phải trả của nhân viên
sử dụng máy thi công và nhân viên quản lý phân xưởng, tổ, đội; Khấu hao tài sản
cố định dùng chung cho hoạt động của đội và những chi phí khác liên quan đến
hoạt động của đội,... 6.
Kết cấu và nội dung phản ánh của Tài khoản 154 - Chi phí sản xuất, kinh doanh dở
dang Bên
Nợ: -
Các chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi
phí sử dụng máy thi công, chi phí sản xuất chung phát sinh trong kỳ liên quan
đến sản xuất sản phẩm và chi phí thực hiện dịch vụ; -
Các chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi
phí sử dụng máy thi công, chi phí sản xuất chung phát sinh trong kỳ liên quan
đến giá thành sản phẩm xây lắp công trình hoặc giá thành xây lắp theo giá khoán
nội bộ; -
Kết chuyển chi phí sản xuất, kinh doanh dở dang cuối kỳ (trường hợp doanh nghiệp
hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kiểm kê định kỳ). Bên
Có: -
Giá thành sản xuất thực tế của sản phẩm đã chế tạo xong nhập kho, chuyển đi bán,
tiêu dùng nội bộ ngay hoặc sử dụng ngay vào hoạt động
XDCB; -
Giá thành sản xuất sản phẩm xây lắp hoàn thành bàn giao từng phần, hoặc toàn bộ
tiêu thụ trong kỳ; hoặc bàn giao cho doanh nghiệp nhận thầu chính xây lắp (cấp
trên hoặc nội bộ); hoặc giá thành sản phẩm xây lắp hoàn thành chờ tiêu
thụ; -
Chi phí thực tế của khối lượng dịch vụ đã hoàn thành cung cấp cho khách
hàng; -
Trị giá phế liệu thu hồi, giá trị sản phẩm hỏng không sửa chữa
được; -
Trị giá nguyên liệu, vật liệu, hàng hóa gia công xong nhập lại
kho; -
Phản ánh chi phí nguyên vật liệu, chi phí nhân công vượt trên mức bình thường
không được tính vào trị giá hàng tồn kho mà phải tính vào giá vốn hàng bán của
kỳ kế toán. Đối với doanh nghiệp sản xuất theo đơn đặt hàng, hoặc doanh nghiệp
có chu kỳ sản xuất sản phẩm dài mà hàng kỳ kế toán đã phản ánh chi phí sản xuất
chung cố định vào TK 154 đến khi sản phẩm hoàn thành mới xác định được chi phí
sản xuất chung cố định không được tính vào trị giá hàng tồn kho thì phải hạch
toán vào giá vốn hàng bán (Có TK 154, Nợ TK 632); -
Kết chuyển chi phí sản xuất, kinh doanh dở dang đầu kỳ (trường hợp doanh nghiệp
hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kiểm kê định kỳ). Số
dư bên Nợ:
Chi phí sản xuất, kinh doanh còn dở dang cuối kỳ. Điều
27. Tài khoản 155 - Thành phẩm 1.
Nguyên tắc kế toán a)
Tài khoản này dùng để phản ánh giá trị hiện có và tình hình biến động của các
loại thành phẩm của doanh nghiệp. Thành phẩm là những sản phẩm đã kết thúc quá
trình chế biến do các bộ phận sản xuất của doanh nghiệp sản xuất hoặc thuê ngoài
gia công xong đã được kiểm nghiệm phù hợp với tiêu chuẩn kỹ thuật và nhập
kho. Trong
giao dịch xuất khẩu ủy thác, tài khoản này chỉ sử dụng tại bên giao ủy thác,
không sử dụng tại bên nhận ủy thác (bên nhận giữ hộ). b)
Thành phẩm do các bộ phận sản xuất chính và sản xuất phụ của doanh nghiệp sản
xuất ra phải được đánh giá theo giá thành sản xuất (giá gốc), bao gồm: Chi phí
nguyên liệu, vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất
chung và những chi phí khác có liên quan trực tiếp đến việc sản xuất sản
phẩm. c)
Không được tính vào giá gốc thành phẩm các chi phí sau: -
Chi phí nguyên liệu, vật liệu, chi phí nhân công và các chi phí sản xuất, kinh
doanh khác phát sinh trên mức bình thường; -
Chi phí vận chuyển, bảo quản hàng tồn kho trừ các khoản chi phí vận chuyển, bảo
quản hàng tồn kho cần thiết cho quá trình sản xuất tiếp theo và chi phí bảo quản
trong quá trình mua hàng; -
Chi phí bán hàng; -
Chi phí quản lý doanh nghiệp. d)
Thành phẩm thuê ngoài gia công chế biến được đánh giá theo giá thành thực tế gia
công chế biến bao gồm: Chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp, chi phí thuê gia
công và các chi phí khác có liên quan trực tiếp đến quá trình gia
công. đ)
Việc tính giá trị thành phẩm xuất kho được thực hiện theo một trong ba phương
pháp: Phương pháp giá thực tế đích danh; Phương pháp bình quân gia quyền sau mỗi
lần nhập hoặc cuối kỳ; Phương pháp Nhập trước - Xuất
trước. e)
Trường hợp doanh nghiệp kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường
xuyên, nếu kế toán chi tiết nhập, xuất kho thành phẩm hàng ngày được ghi sổ theo
giá hạch toán (có thể là giá thành kế hoạch hoặc giá nhập kho được quy định
thống nhất). Cuối kỳ, kế toán phải tính giá thành thực tế của thành phẩm nhập
kho và xác định hệ số chênh lệch giữa giá thành thực tế và giá hạch toán của
thành phẩm (tính cả số chênh lệch của thành phẩm đầu kỳ) làm cơ sở xác định giá
thành thực tế của thành phẩm nhập, xuất kho trong kỳ (sử dụng công thức tính đã
nêu ở phần giải thích Tài khoản 152 “Nguyên liệu, vật
liệu”). g)
Kế toán chi tiết thành phẩm phải thực hiện theo từng kho, từng loại, nhóm, thứ
thành phẩm. 2.
Kết cấu và nội dung phản ánh của Tài khoản 155 - Thành
phẩm Bên
Nợ: -
Trị giá của thành phẩm nhập kho; -
Trị giá của thành phẩm thừa khi kiểm kê; -
Kết chuyển trị giá thực tế của thành phẩm tồn kho cuối kỳ (trường hợp doanh
nghiệp hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kiểm kê định
kỳ). Bên
Có: -
Trị giá thực tế của thành phẩm xuất kho; -
Trị giá của thành phẩm thiếu hụt khi kiểm kê; -
Kết chuyển trị giá thực tế của thành phẩm tồn kho đầu kỳ (trường hợp doanh
nghiệp hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kiểm kê định
kỳ). Số
dư bên Nợ: Trị
giá thực tế của thành phẩm tồn kho cuối kỳ. Điều
28. Tài khoản 156 - Hàng hóa 1.
Nguyên tắc kế toán a)
Tài khoản này dùng để phản ánh trị giá hiện có và tình hình biến động tăng, giảm
các loại hàng hóa của doanh nghiệp bao gồm hàng hóa tại các kho hàng, quầy hàng,
hàng hóa bất động sản. Hàng hóa là các loại vật tư, sản phẩm do doanh nghiệp mua
về với mục đích để bán (bán buôn và bán lẻ). Trường hợp hàng hóa mua về vừa dùng
để bán, vừa dùng để sản xuất, kinh doanh không phân biệt rõ ràng giữa hai mục
đích bán lại hay để sử dụng thì vẫn phản ánh vào Tài khoản 156 “Hàng
hóa”. Trong
giao dịch xuất nhập khẩu ủy thác, tài khoản này chỉ sử dụng tại bên giao ủy
thác, không sử dụng tại bên nhận ủy thác (bên nhận giữ
hộ). b)
Những trường hợp sau đây không phản ánh vào Tài khoản 156 “Hàng
hóa”: -
Hàng hóa nhận bán hộ, nhận giữ hộ cho các doanh nghiệp
khác; -
Nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ mua về dùng cho hoạt động sản xuất, kinh doanh
(ghi vào các Tài khoản 152 “Nguyên liệu, vật liệu”, hoặc Tài khoản 153 “Công cụ,
dụng cụ”); -
Thành phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra (ghi vào Tài khoản 155 “Thành
phẩm”). c)
Kế toán nhập, xuất, tồn kho hàng hóa trên Tài khoản 156 được phản ánh theo
nguyên tắc giá gốc. Giá gốc hàng hóa mua vào, bao gồm: Giá mua, chi phí thu mua
(vận chuyển, bốc xếp, bảo quản hàng từ nơi mua về kho doanh nghiệp, chi phí bảo
hiểm,...), thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế bảo vệ môi trường (nếu
có), thuế GTGT hàng nhập khẩu (nếu không được khấu trừ). Trường hợp doanh nghiệp
mua hàng hóa về để bán lại nhưng vì lý do nào đó cần phải gia công, sơ chế, tân
trang, phân loại chọn lọc để làm tăng thêm giá trị hoặc khả năng bán của hàng
hóa thì trị giá hàng mua gồm cả chi phí gia công, sơ chế. -
Giá gốc của hàng hóa mua vào được tính theo từng nguồn
nhập. -
Để tính giá trị hàng hóa xuất kho, kế toán có thể áp dụng một trong các phương
pháp sau: +
Phương pháp nhập trước - xuất trước; +
Phương pháp giá thực tế đích danh; +
Phương pháp bình quân gia quyền sau mỗi lần nhập hoặc cuối
kỳ. -
Một số đơn vị có đặc thù (ví dụ như các đơn vị kinh doanh siêu thị hoặc tương
tự) có thể áp dụng kỹ thuật xác định giá trị hàng tồn kho cuối kỳ theo phương
pháp giá bán lẻ. Theo phương pháp này, giá trị xuất kho của hàng hóa được xác
định căn cứ vào giá bán của hàng tồn kho trừ đi lợi nhuận biên (do doanh nghiệp
tự xác định) theo tỷ lệ phần trăm hợp lý. Tỷ lệ phần trăm này có tính việc các
mặt hàng có thể bị hạ giá xuống thấp hơn giá bán ban đầu. Thông thường mỗi bộ
phận bán lẻ sẽ sử dụng một tỷ lệ phần trăm bình quân
riêng. -
Chi phí thu mua hàng hóa trong kỳ có thể được hạch toán trực tiếp vào giá gốc
hàng tồn kho hoặc được phân bổ cho hàng hóa tiêu thụ trong kỳ và hàng hóa tồn
kho cuối kỳ. Việc lựa chọn tiêu thức phân bổ chi phí thu mua hàng hóa tùy thuộc
tình hình cụ thể của từng doanh nghiệp nhưng phải thực hiện theo nguyên tắc nhất
quán. d)
Trường hợp mua hàng hóa được nhận kèm theo sản phẩm, hàng hóa, phụ tùng thay thế
(đề phòng hỏng hóc), kế toán phải xác định và ghi nhận riêng sản phẩm, hàng hóa,
phụ tùng thay thế theo giá trị hợp lý. Giá trị hàng hóa nhập kho là giá đã trừ
giá trị sản phẩm, hàng hóa, thiết bị, phụ tùng thay thế. đ)
Kế toán chi tiết hàng hóa phải thực hiện theo từng kho, từng loại, từng nhóm
hàng hóa. e)
Trường hợp doanh nghiệp là nhà phân phối hoạt động thương mại được nhận hàng hóa
(không phải trả tiền) từ nhà sản xuất để quảng cáo, khuyến mại cho khách hàng
mua hàng của nhà sản xuất, nhà phân phối -
Khi nhận hàng của nhà sản xuất (không phải trả tiền) dùng để khuyến mại, quảng
cáo cho khách hàng, doanh nghiệp phải theo dõi chi tiết số lượng hàng trong hệ
thống quản trị nội bộ của mình và thuyết minh trên Bản thuyết minh Báo cáo tài
chính đối với hàng nhận được và số hàng đã dùng để khuyến mại cho người
mua. -
Khi hết chương trình khuyến mại, nếu không phải trả lại nhà sản xuất số hàng
khuyến mại chưa sử dụng hết, kế toán ghi nhận giá trị số hàng khuyến mại không
phải trả lại là thu nhập khác. 2.
Kết cấu và nội dung phản ánh của Tài khoản 156 - Hàng
hóa Bên
Nợ: -
Trị giá mua vào của hàng hóa theo hóa đơn mua hàng (bao gồm các loại thuế không
được hoàn lại); -
Chi phí thu mua hàng hóa; -
Trị giá của hàng hóa thuê ngoài gia công (gồm giá mua vào và chi phí gia
công); -
Trị giá hàng hóa đã bán bị người mua trả lại; -
Trị giá hàng hóa phát hiện thừa khi kiểm kê; -
Trị giá hàng hóa bất động sản mua vào hoặc chuyển từ bất động sản đầu tư
sang; -
Kết chuyển giá trị hàng hóa tồn kho cuối kỳ (trường hợp doanh nghiệp kế toán
hàng tồn kho theo phương pháp kiểm kê định kỳ). Bên
Có: -
Trị giá của hàng hóa xuất kho để bán, giao đại lý, giao cho đơn vị hạch toán phụ
thuộc; thuê ngoài gia công hoặc sử dụng cho sản xuất, kinh
doanh; -
Chi phí thu mua phân bổ cho hàng hóa đã bán trong kỳ; -
Chiết khấu thương mại hàng mua được hưởng; -
Các khoản giảm giá hàng mua được hưởng; -
Trị giá hàng hóa trả lại cho người bán; -
Trị giá hàng hóa phát hiện thiếu khi kiểm kê; -
Trị giá hàng hóa bất động sản đã bán hoặc chuyển thành bất động sản đầu tư, bất
động sản chủ sở hữu sử dụng hoặc tài sản cố định; -
Kết chuyển giá trị hàng hóa tồn kho đầu kỳ (trường hợp doanh nghiệp kế toán hàng
tồn kho theo phương pháp kiểm kê định kỳ). Số
dư bên Nợ: Giá
gốc của hàng hóa tồn kho. Điều
29. Tài khoản 157 - Hàng gửi đi bán 1.
Nguyên tắc kế toán a)
Hàng gửi đi bán phản ánh trên Tài khoản 157 được thực hiện theo nguyên tắc giá
gốc. Chỉ phản ánh vào Tài khoản 157 “Hàng gửi đi bán” trị giá của hàng hóa,
thành phẩm đã gửi đi cho khách hàng, gửi bán đại lý, ký gửi, dịch vụ đã hoàn
thành bàn giao cho khách hàng theo hợp đồng kinh tế hoặc đơn đặt hàng, nhưng
chưa được xác định là đã bán (chưa được tính là doanh thu bán hàng trong kỳ đối
với số hàng hóa, thành phẩm đã gửi đi, dịch vụ đã cung cấp cho khách
hàng). b)
Hàng hóa, thành phẩm phản ánh trên tài khoản này vẫn thuộc quyền sở hữu của
doanh nghiệp, kế toán phải mở sổ chi tiết theo dõi từng loại hàng hóa, thành
phẩm, từng lần gửi hàng từ khi gửi đi cho đến khi được xác định là đã
bán. c)
Không phản ánh vào tài khoản này chi phí vận chuyển, bốc xếp,... chi hộ khách
hàng. Tài khoản 157 có thể mở chi tiết để theo dõi từng loại hàng hóa, thành
phẩm gửi đi bán, dịch vụ đã cung cấp cho từng khách hàng, cho từng cơ sở nhận
đại lý. 2.
Kết cấu và nội dung phản ánh của Tài khoản 157 - Hàng gửi đi
bán Bên
Nợ: -
Trị giá hàng hóa, thành phẩm đã gửi cho khách hàng, gửi bán đại lý, ký
gửi; -
Trị giá dịch vụ đã cung cấp cho khách hàng nhưng chưa được xác định là đã
bán; -
Cuối kỳ kết chuyển trị giá hàng hóa, thành phẩm đã gửi đi bán chưa được xác định
là đã bán cuối kỳ (trường hợp doanh nghiệp kế toán hàng tồn kho theo phương pháp
kiểm kê định kỳ). Bên
Có: -
Trị giá hàng hóa, thành phẩm gửi đi bán, dịch vụ đã cung cấp được xác định là đã
bán; -
Trị giá hàng hóa, thành phẩm, dịch vụ đã gửi đi bị khách hàng trả
lại; -
Đầu kỳ kết chuyển trị giá hàng hóa, thành phẩm đã gửi đi bán, dịch vụ đã cung
cấp chưa được xác định là đã bán đầu kỳ (trường hợp doanh nghiệp kế toán hàng
tồn kho theo phương pháp kiểm kê định kỳ). Số
dư bên Nợ: Trị
giá hàng hóa, thành phẩm đã gửi đi, dịch vụ đã cung cấp chưa được xác định là đã
bán trong kỳ. Điều
30. Nguyên tắc kế toán tài sản cố định, bất động sản đầu tư và chi phí đầu tư
xây dựng cơ bản dở dang 1.
Tài sản cố định, bất động sản đầu tư và chi phí đầu tư xây dựng cơ bản dở dang
phải được theo dõi, quyết toán, quản lý và sử dụng theo đúng quy định của pháp
luật hiện hành. 2.
Kế toán phải theo dõi chi tiết nguồn hình thành TSCĐ để phân bổ hao mòn một cách
phù hợp theo nguyên tắc: -
Đối với TSCĐ hình thành từ nguồn vốn vay hoặc vốn chủ sở hữu phục vụ cho sản
xuất, kinh doanh thì hao mòn được tính vào chi phí sản xuất, kinh
doanh; -
Đối với TSCĐ hình thành từ các Quỹ phúc lợi, Quỹ phát triển khoa học và công
nghệ thì hao mòn được ghi giảm các quỹ đó. 3.
Kế toán phân loại TSCĐ và BĐSĐT theo mục đích sử dụng. Trường hợp một tài sản
được sử dụng cho nhiều mục đích, ví dụ một tòa nhà hỗn hợp vừa dùng để làm văn
phòng làm việc vừa để cho thuê và một phần để bán thì kế toán phải thực hiện ước
tính giá trị hợp lý của từng bộ phận để ghi nhận một cách phù hợp với mục đích
sử dụng. -
Trường hợp một bộ phận trọng yếu của tài sản được sử dụng cho một mục đích cụ
thể nào đó khác với mục đích sử dụng của các bộ phận còn lại thì kế toán căn cứ
vào mức độ trọng yếu có thể phân loại toàn bộ tài sản theo bộ phận trọng yếu
đó; -
Trường hợp có sự thay đổi về chức năng sử dụng của các bộ phận của tài sản thì
kế toán được tái phân loại tài sản theo mục đích sử dụng theo quy định về từng
tài sản có liên quan. 4.
Kế toán TSCĐ, BĐSĐT và chi phí đầu tư XDCB liên quan đến ngoại tệ được thực hiện
theo quy định tại Điều 52 Thông tư này. Điều
31. Tài khoản 211 - Tài sản cố định 1.
Nguyên tắc kế toán: Tài
khoản này dùng để phản ánh giá trị hiện có và tình hình biến động tăng, giảm
nguyên giá của toàn bộ tài sản cố định hữu hình, tài sản cố định vô hình thuộc
quyền sở hữu của doanh nghiệp và TSCĐ thuê tài chính. 1.1.
Tài sản cố định là những tư liệu lao động được biểu hiện dưới hình thái vật chất
hoặc phi vật chất, có đủ tiêu chuẩn TSCĐ theo qui định (Trừ trường hợp có qui
định riêng đối với 1 số tài sản đặc thù). a)
Tài sản cố định hữu hình là những tài sản có hình thái vật chất do doanh nghiệp
nắm giữ để sử dụng cho hoạt động sản xuất, kinh doanh hoặc hoạt động khác phù
hợp với tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ hữu hình. Những
tài sản hữu hình có kết cấu độc lập hoặc nhiều bộ phận tài sản riêng lẻ liên kết
với nhau thành một hệ thống để cùng thực hiện một hay một số chức năng nhất
định, nếu thiếu bất kỳ một bộ phận nào trong đó thì cả hệ thống không thể hoạt
động được, nếu thỏa mãn đồng thời cả bốn tiêu chuẩn dưới đây thì được coi là tài
sản cố định: -
Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản
đó; -
Nguyên giá tài sản phải được xác định một cách tin cậy; -
Có thời gian sử dụng từ 1 năm trở lên; -
Có giá trị theo quy định hiện hành. Trường
hợp một hệ thống gồm nhiều bộ phận tài sản riêng lẻ liên kết với nhau, trong đó
mỗi bộ phận cấu thành có thời gian sử dụng khác nhau và nếu thiếu một bộ phận
nào đó mà cả hệ thống vẫn thực hiện được chức năng hoạt động chính của nó nhưng
do yêu cầu quản lý, sử dụng tài sản cố định đòi hỏi phải quản lý riêng từng bộ
phận tài sản và mỗi bộ phận tài sản đó nếu cùng thỏa mãn đồng thời bốn tiêu
chuẩn của tài sản cố định thì được coi là một tài sản cố định hữu hình độc
lập. Đối
với súc vật làm việc hoặc cho sản phẩm, nếu từng con súc vật thỏa mãn đồng thời
bốn tiêu chuẩn của tài sản cố định đều được coi là một tài sản cố định hữu
hình. Đối
với vườn cây lâu năm, nếu từng mảnh vườn cây, hoặc cây thỏa mãn đồng thời bốn
tiêu chuẩn của tài sản cố định thì cũng được coi là một tài sản cố định hữu
hình. b)
TSCĐ vô hình là những tài sản không có hình thái vật chất nhưng xác định được
giá trị, do doanh nghiệp nắm giữ sử dụng trong sản xuất, kinh doanh, cung cấp
dịch vụ hoặc cho các đối tượng khác thuê và phù hợp với tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ
vô hình. Khi
một tài sản vô hình được thỏa mãn đồng thời 4 tiêu chuẩn quy định tại điểm a nêu
trên thì được coi là TSCĐVH. c)
TSCĐ thuê tài chính -
Thuê tài chính: Là hình thức thuê tài sản mà bên cho thuê có sự chuyển giao phần
lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu tài sản cho bên thuê. Quyền sở
hữu tài sản có thể chuyển giao vào cuối thời hạn thuê. -
Các trường hợp thường dẫn đến hợp đồng thuê tài chính là: +
Bên cho thuê chuyển giao quyền sở hữu tài sản cho bên thuê khi hết thời hạn
thuê; +
Tại thời điểm khởi đầu thuê tài sản, bên thuê có quyền lựa chọn mua lại tài sản
thuê với mức giá ước tính thấp hơn giá trị hợp lý vào cuối thời hạn
thuê; +
Thời hạn thuê tài sản tối thiểu phải chiếm phần lớn thời gian sử dụng kinh tế
của tài sản cho dù không có sự chuyển giao quyền sở hữu; +
Tại thời điểm khởi đầu thuê tài sản, giá trị hiện tại của khoản thanh toán tiền
thuê tối thiểu chiếm phần lớn (tương đương) giá trị hợp lý của tài sản
thuê; +
Tài sản thuê thuộc loại chuyên dùng mà chỉ có bên thuê có khả năng sử dụng không
cần có sự thay đổi, sửa chữa lớn nào. -
Hợp đồng thuê tài sản được coi là hợp đồng thuê tài chính nếu thỏa mãn ít nhất
một trong ba (3) điều kiện sau: +
Nếu bên thuê hủy hợp đồng và đền bù tổn thất phát sinh liên quan đến việc hủy
hợp đồng cho bên cho thuê; +
Thu nhập hoặc tổn thất do sự thay đổi giá trị hợp lý của giá trị còn lại của tài
sản thuê gắn với bên thuê; +
Bên thuê có khả năng tiếp tục thuê lại tài sản sau khi hết hạn hợp đồng thuê với
tiền thuê thấp hơn giá thuê thị trường. Riêng trường hợp thuê tài sản là quyền
sử dụng đất thì thường được phân loại là thuê hoạt động. -
TSCĐ thuê tài chính là những TSCĐ chưa thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp nhưng
doanh nghiệp có nghĩa vụ và trách nhiệm quản lý và sử dụng như tài sản của doanh
nghiệp. 1.2.
Giá trị TSCĐ phản ánh trên TK 211 theo nguyên giá. Kế toán phải theo dõi chi
tiết nguyên giá của từng loại và từng TSCĐ. Tùy thuộc vào nguồn hình thành,
nguyên giá TSCĐ được xác định như sau: 1.2.1.
TSCĐ hữu hình a)
Nguyên giá TSCĐ hữu hình do mua sắm bao gồm: Giá mua (trừ các khoản được chiết
khấu thương mại, giảm giá), các khoản thuế (không bao gồm các khoản thuế được
hoàn lại) và các chi phí liên quan trực tiếp đến việc đưa tài sản vào trạng thái
sẵn sàng sử dụng như chi phí chuẩn bị mặt bằng, chi phí vận chuyển và bốc xếp
ban đầu, chi phí lắp đặt, chạy thử (trừ (-) các khoản thu hồi về sản phẩm, phế
liệu do chạy thử), chi phí chuyên gia và các chi phí liên quan trực tiếp khác.
Chi phí lãi vay phát sinh khi mua sắm TSCĐ đã hoàn thiện (TSCĐ sử dụng được ngay
mà không cần qua quá trình lắp đặt, chạy thử đầu tư xây dựng) không được vốn hóa
vào nguyên giá TSCĐ. -
Nguyên giá TSCĐ hữu hình mua sắm được thanh toán theo phương thức trả chậm: Là
giá mua trả tiền ngay tại thời điểm mua cộng các chi phí liên quan trực tiếp
tính đến thời điểm đưa tài sản vào trạng thái sẵn sàng sử dụng (không bao gồm
các khoản thuế được hoàn lại). Khoản chênh lệch giữa giá mua trả chậm và giá mua
trả tiền ngay được phân bổ dần vào chi phí sản xuất, kinh doanh theo kỳ hạn
thanh toán. -
Nguyên giá TSCĐ là bất động sản: Khi mua sắm bất động sản, đơn vị phải tách
riêng giá trị quyền sử dụng đất và tài sản trên đất theo quy định của pháp luật.
Phần giá trị tài sản trên đất được ghi nhận là TSCĐ hữu hình; Giá trị quyền sử
dụng đất được hạch toán là TSCĐ vô hình hoặc chi phí trả trước tùy từng trường
hợp theo quy định của pháp luật. b)
Nguyên giá TSCĐ hữu hình hình thành do đầu tư xây dựng cơ bản hoàn
thành -
Nguyên giá TSCĐ theo phương thức giao thầu: Là giá quyết toán công trình xây
dựng theo quy định, các chi phí khác có liên quan trực tiếp và lệ phí trước bạ
(nếu có). Đối với tài sản cố định là con súc vật làm việc hoặc cho sản phẩm,
vườn cây lâu năm thì nguyên giá là toàn bộ các chi phí thực tế đã chi ra cho con
súc vật, vườn cây đó từ lúc hình thành cho tới khi đưa vào khai thác, sử dụng và
các chi phí khác trực tiếp có liên quan. -
TSCĐ hữu hình tự xây dựng hoặc tự sản xuất: Nguyên
giá TSCĐ hữu hình tự xây dựng là giá trị quyết toán công trình khi đưa vào sử
dụng. Trường hợp TSCĐ đã đưa vào sử dụng nhưng chưa thực hiện quyết toán thì
doanh nghiệp căn cứ vào chi phí đầu tư xây dựng thực tế để hạch toán tăng nguyên
giá TSCĐ theo giá tạm tính. Sau khi quyết toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản được
duyệt, nếu có chênh lệch so với giá trị TSCĐ đã tạm tính thì kế toán điều chỉnh
tăng, giảm vào nguyên giá TSCĐ. Nguyên
giá TSCĐ hữu hình tự sản xuất là giá thành thực tế của TSCĐ hữu hình cộng (+)
các chi phí trực tiếp liên quan đến việc đưa TSCĐ vào trạng thái sẵn sàng sử
dụng. -
Trong cả hai trường hợp trên, nguyên giá TSCĐ bao gồm cả chi phí lắp đặt, chạy
thử trừ giá trị sản phẩm thu hồi trong quá trình chạy thử, sản xuất thử. Doanh
nghiệp không được tính vào nguyên giá TSCĐ hữu hình các khoản lãi nội bộ và các
khoản chi phí không hợp lý như nguyên liệu, vật liệu lãng phí, lao động hoặc các
khoản chi phí khác sử dụng vượt quá mức bình thường trong quá trình tự xây dựng
hoặc tự sản xuất. c)
Nguyên giá TSCĐ hữu hình mua dưới hình thức trao đổi với một TSCĐ hữu hình không
tương tự hoặc tài sản khác, được xác định theo giá trị hợp lý của TSCĐ hữu hình
nhận về hoặc giá trị hợp lý của tài sản đem trao đổi, sau khi điều chỉnh các
khoản tiền hoặc tương đương tiền trả thêm hoặc thu về cộng các chi phí liên quan
trực tiếp đến việc đưa tài sản vào trạng thái sẵn sàng sử dụng (không bao gồm
các khoản thuế được hoàn lại). Nguyên
giá TSCĐ hữu hình mua dưới hình thức trao đổi với một TSCĐ hữu hình tương tự,
hoặc có thể hình thành do được bán để đổi lấy quyền sở hữu một tài sản tương tự
(tài sản tương tự là tài sản có công dụng tương tự, trong cùng lĩnh vực kinh
doanh và có giá trị tương đương). Trong trường hợp này không có bất kỳ khoản lãi
hay lỗ nào được ghi nhận trong quá trình trao đổi. Nguyên giá TSCĐ nhận về được
tính bằng giá trị còn lại của TSCĐ đem trao đổi. d)
Nguyên giá TSCĐ hữu hình được cấp, được điều chuyển đến bao gồm: Giá trị còn lại
trên sổ kế toán tài sản cố định ở doanh nghiệp cấp, doanh nghiệp điều chuyển
hoặc giá trị theo đánh giá thực tế của Hội đồng giao nhận hoặc tổ chức định giá
chuyên nghiệp theo quy định của pháp luật và các chi phí liên quan trực tiếp như
vận chuyển, bốc dỡ, chi phí nâng cấp, lắp đặt, chạy thử, lệ phí trước bạ (nếu
có)... mà bên nhận tài sản phải chi ra tính đến thời điểm đưa TSCĐ vào trạng
thái sẵn sàng sử dụng. đ)
Nguyên giá tài sản cố định hữu hình nhận góp vốn, nhận lại vốn góp là giá trị do
các thành viên, cổ đông sáng lập định giá nhất trí hoặc doanh nghiệp và người
góp vốn thỏa thuận hoặc do tổ chức chuyên nghiệp định giá theo quy định của pháp
luật và được các thành viên, cổ đông sáng lập chấp thuận. e)
Nguyên giá tài sản cố định do phát hiện thừa, được tài trợ, biếu, tặng: Là giá
trị theo đánh giá thực tế của Hội đồng giao nhận hoặc tổ chức định giá chuyên
nghiệp; Các chi phí mà bên nhận phải chi ra tính đến thời điểm đưa TSCĐ vào
trạng thái sẵn sàng sử dụng như: Chi phí vận chuyển, bốc dỡ, lắp đặt, chạy thử,
lệ phí trước bạ (nếu có). 1.2.2.
Tài sản cố định thuê tài chính a)
Nguyên giá của TSCĐ thuê tài chính được ghi nhận bằng giá trị hợp lý của tài sản
thuê hoặc là giá trị hiện tại của khoản thanh toán tiền thuê tối thiểu (trường
hợp giá trị hợp lý cao hơn giá trị hiện tại của khoản thanh toán tiền thuê tối
thiểu) cộng với các chi phí trực tiếp phát sinh ban đầu liên quan đến hoạt động
thuê tài chính. Nếu thuế GTGT đầu vào được khấu trừ thì giá trị hiện tại của
khoản thanh toán tiền thuê tối thiểu không bao gồm số thuế GTGT phải trả cho bên
cho thuê. Khi
tính giá trị hiện tại của khoản thanh toán tiền thuê tối thiểu cho việc thuê tài
sản, doanh nghiệp có thể sử dụng tỷ lệ lãi suất ngầm định, tỷ lệ lãi suất được
ghi trong hợp đồng thuê hoặc tỷ lệ lãi suất biên đi vay của bên
thuê. b)
Số thuế GTGT đầu vào của tài sản thuê tài chính không được khấu trừ được hạch
toán như sau: -
Nếu thuế GTGT đầu vào được thanh toán một lần ngay tại thời điểm ghi nhận tài
sản thuê thì nguyên giá tài sản thuê bao gồm cả thuế GTGT; -
Nếu thuế GTGT đầu vào được thanh toán từng kỳ thì được ghi vào chi phí SXKD
trong kỳ phù hợp với khoản mục chi phí khấu hao của tài sản thuê tài
chính. c)
Khoản nợ thuê tài chính phản ánh trên TK 3412 không bao gồm thuế GTGT đầu
vào. d)
Không phản ánh vào tài khoản này giá trị của TSCĐ thuê hoạt
động. 1.2.3.
TSCĐ vô hình Nguyên
giá của TSCĐ vô hình là toàn bộ các chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra để có
được TSCĐ vô hình tính đến thời điểm đưa tài sản đó vào sử dụng theo dự
kiến. a)
Nguyên giá của TSCĐ vô hình do mua sắm trả tiền ngay, mua dưới hình thức thanh
toán trả chậm, trả góp, mua dưới hình thức trao đổi, TSCĐ vô hình được cho, được
biếu, tặng, nhận vốn góp liên doanh, nhận lại vốn góp, do phát hiện thừa....
được xác định như quy định tại điểm 1.2.1 TSCĐ hữu hình. b)
TSCĐ vô hình hình thành từ việc trao đổi, thanh toán bằng chứng từ liên quan đến
quyền sở hữu vốn của đơn vị, thì nguyên giá TSCĐ của nó là giá trị hợp lý của
các công cụ được phát hành liên quan đến quyền sở hữu vốn của đơn
vị. c)
Nguyên giá TSCĐ vô hình là quyền sử dụng đất là số tiền đã trả để có được quyền
sử dụng đất hợp pháp (gồm chi phí đã trả cho tổ chức, cá nhân chuyển nhượng hoặc
chi phí đền bù, giải phóng mặt bằng, san lấp mặt bằng, lệ phí trước bạ...) hoặc
theo thỏa thuận của các bên khi góp vốn. Việc xác định TSCĐ vô hình là quyền sử
dụng đất phải tuân thủ các quy định của pháp luật có liên
quan. d)
Đối với chi phí thực tế phát sinh liên quan đến giai đoạn triển khai TSCĐ vô
hình: Trường hợp xét thấy kết quả triển khai thỏa mãn được định nghĩa và tiêu
chuẩn ghi nhận TSCĐ vô hình thì các chi phí giai đoạn triển khai được tập hợp
vào TK 241 "Xây dựng cơ bản dở dang" (2412). Khi kết thúc giai đoạn triển khai
các chi phí hình thành nguyên giá TSCĐ vô hình trong giai đoạn triển khai phải
được kết chuyển vào bên Nợ tài khoản 2113 “TSCĐ vô hình", nếu không đủ điều kiện
ghi nhận là TSCĐ vô hình thì toàn bộ chi phí thực tế phát sinh được kết chuyển
vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ hoặc được phân bổ theo quy định của
pháp luật. đ)
Chi phí phát sinh đem lại lợi ích kinh tế trong tương lai cho doanh nghiệp gồm:
chi phí thành lập doanh nghiệp, chi phí đào tạo nhân viên, chi phí quảng cáo
phát sinh trong giai đoạn trước hoạt động của doanh nghiệp mới thành lập, chi
phí chuyển dịch địa điểm được ghi nhận là chi phí SXKD trong kỳ theo quy định
hiện hành. e)
Chi phí liên quan đến tài sản vô hình đã được doanh nghiệp ghi nhận là chi phí
để xác định kết quả hoạt động kinh doanh trong kỳ trước đó thì không được tái
ghi nhận vào nguyên giá TSCĐ vô hình. g)
Các nhãn hiệu, tên thương mại, quyền phát hành, danh sách khách hàng và các
khoản mục tương tự được hình thành trong nội bộ doanh nghiệp không được ghi nhận
là TSCĐ vô hình. 1.3.
Việc tính và trích khấu hao tài sản cố định được thực hiện theo quy định của
pháp luật hiện hành. Đối
với TSCĐ thuê tài chính, định kỳ, bên thuê có trách nhiệm tính, trích khấu hao
tài sản cố định vào chi phí sản xuất, kinh doanh tùy theo bộ phận sử dụng tài
sản cố định trên cơ sở áp dụng chính sách khấu hao nhất quán với chính sách khấu
hao của tài sản cùng loại thuộc sở hữu của mình. Nếu không chắc chắn là bên thuê
sẽ có quyền sở hữu tài sản thuê khi hết hạn hợp đồng thuê thì tài sản thuê sẽ
được khấu hao theo thời hạn thuê nếu thời hạn thuê ngắn hơn thời gian sử dụng
hữu ích của tài sản thuê. 1.4.
Chi phí liên quan đến TSCĐ vô hình phát sinh sau khi ghi nhận ban đầu phải được
ghi nhận là chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ, trừ khi thỏa mãn đồng thời 2
điều kiện sau thì được ghi tăng nguyên giá TSCĐ vô hình: -
Chi phí phát sinh có khả năng làm cho TSCĐ tạo ra lợi ích kinh tế trong tương
lai nhiều hơn mức hoạt động được đánh giá ban đầu; -
Chi phí được xác định một cách chắc chắn và gắn liền với TSCĐ vô hình cụ
thể. Riêng
đối với chi phí phát sinh sau ghi nhận ban đầu liên quan đến các tài sản mua
ngoài là nhãn hiệu hàng hóa, quyền phát hành, danh sách khách hàng và các khoản
mục tương tự về bản chất luôn được ghi nhận là chi phí sản xuất, kinh doanh
trong kỳ. 1.5.
Trường hợp mua TSCĐ gồm có nhà cửa, vật kiến trúc gắn liền với quyền sử dụng đất
thì phải xác định tách biệt giá trị nhà cửa, vật kiến trúc để ghi nhận vào
nguyên giá TSCĐ hữu hình (TK 2111) và giá trị quyền sử dụng đất để ghi nhận vào
nguyên giá TSCĐ vô hình (TK 2113) 1.6.
Doanh nghiệp chỉ thay đổi nguyên giá TSCĐ theo quy định của cơ chế tài chính
hiện hành. 1.7.
Mọi trường hợp tăng, giảm TSCĐ đều phải lập biên bản giao nhận, biên bản thanh
lý TSCĐ và phải thực hiện các thủ tục quy định. 1.8.
TSCĐ phải được theo dõi chi tiết cho từng đối tượng ghi TSCĐ, theo từng loại
TSCĐ và địa điểm bảo quản, sử dụng, quản lý TSCĐ trên “Sổ Tài sản cố định”, cụ
thể: -
TSCĐ hữu hình, gồm: Nhà cửa, vật kiến trúc, máy móc, thiết bị, phương tiện
truyền tải, truyền dẫn, thiết bị dụng cụ quản lý, cây lâu năm, súc vật làm việc
và cho sản phẩm, các TSCĐ hữu hình khác. -
TSCĐ vô hình, gồm: Quyền phát hành; Bản quyền, bằng sáng chế; Nhãn hiệu hàng
hóa; Phần mềm máy tính; Giấy phép và giấy phép nhượng quyền; TSCĐ vô hình
khác. 1.9.
Tài sản cố định của doanh nghiệp giảm, do nhượng bán, thanh lý, mất mát, phát
hiện thiếu khi kiểm kê, điều chuyển cho doanh nghiệp khác, tháo dỡ một hoặc một
số bộ phận... Trong mọi trường hợp giảm TSCĐ, kế toán phải làm đầy đủ thủ tục,
xác định đúng những khoản thiệt hại và thu nhập (nếu có). Căn cứ các chứng từ
liên quan, kế toán ghi sổ theo từng trường hợp cụ thể như
sau: -
Trường hợp nhượng bán TSCĐ dùng vào sản xuất, kinh doanh: TSCĐ nhượng bán thường
là những TSCĐ không cần dùng hoặc xét thấy sử dụng không có hiệu quả. Khi nhượng
bán TSCĐ phải làm đầy đủ các thủ tục cần thiết theo quy định của pháp
luật. -
TSCĐ thanh lý là những TSCĐ hư hỏng không thể tiếp tục sử dụng được, những TSCĐ
lạc hậu về kỹ thuật hoặc không phù hợp với yêu cầu sản xuất, kinh doanh. Khi có
TSCĐ thanh lý, doanh nghiệp phải ra quyết định thanh lý, thành lập Hội đồng
thanh lý TSCĐ. Hội đồng thanh lý TSCĐ có nhiệm vụ tổ chức thực hiện việc thanh
lý TSCĐ theo đúng trình tự, thủ tục quy định và lập “Biên bản thanh lý
TSCĐ". Căn
cứ vào Biên bản thanh lý và các chứng từ có liên quan đến các khoản thu, chi
thanh lý TSCĐ,... kế toán ghi sổ như trường hợp nhượng bán
TSCĐ. 1.10.
Mọi trường hợp phát hiện thừa hoặc thiếu TSCĐ đều phải truy tìm nguyên nhân. Căn
cứ vào "Biên bản kiểm kê TSCĐ" và kết luận của Hội đồng kiểm kê để hạch toán
chính xác, kịp thời, theo từng nguyên nhân cụ thể: a)
TSCĐ phát hiện thừa: -
Nếu TSCĐ phát hiện thừa do để ngoài sổ sách (chưa ghi sổ), kế toán phải căn cứ
vào hồ sơ TSCĐ để ghi tăng TSCĐ theo từng trường hợp cụ
thể. -
Nếu TSCĐ phát hiện thừa được xác định là TSCĐ của doanh nghiệp khác thì phải báo
ngay cho doanh nghiệp chủ tài sản đó biết. Trong thời gian chờ xử lý, kế toán
phải căn cứ vào tài liệu kiểm kê, tạm thời theo dõi và giữ
hộ. -
Nếu TSCĐ thừa không xác định được chủ sở hữu thì ghi tăng thu nhập khác theo giá
trị hợp lý của tài sản. b)
TSCĐ phát hiện thiếu phải được truy cứu nguyên nhân, xác định người chịu trách
nhiệm và xử lý theo quy định. Căn
cứ "Biên bản xử lý TSCĐ thiếu" đã được duyệt và hồ sơ TSCĐ, kế toán phải xác
định nguyên giá, giá trị hao mòn của TSCĐ đó làm căn cứ ghi giảm TSCĐ và xử lý
vật chất phần giá trị còn lại của TSCĐ. Tùy thuộc vào quyết định xử lý để hạch
toán vào các tài khoản có liên quan. 2.
Kết cấu và nội dung phản ánh của Tài khoản 211 - Tài sản cố
định Bên
Nợ: -
Nguyên giá của TSCĐ tăng do mua sắm, do trao đổi TSCĐ, do XDCB hoàn thành bàn
giao đưa vào sử dụng, do các đơn vị tham gia liên doanh góp vốn, do được tặng
biếu, viện trợ... -
Điều chỉnh tăng nguyên giá của TSCĐ do xây lắp, trang bị thêm hoặc do cải tạo
nâng cấp, do đánh giá lại. Bên
Có: -
Nguyên giá của TSCĐ giảm do điều chuyển cho đơn vị khác, do đem đi trao đổi để
lấy TSCĐ, do nhượng bán, thanh lý hoặc đem đi góp vốn vào đơn vị khác
... -
Nguyên giá của TSCĐ giảm do tháo bớt một hoặc một số bộ phận do đánh giá lại
giảm nguyên giá. Số
dư bên Nợ: Nguyên
giá TSCĐ hiện có cuối kỳ ở doanh nghiệp. Tài
khoản 211 - Tài sản cố định có 3 tài khoản cấp 2: -
Tài khoản 2111 - TSCĐ hữu hình:
Dùng để phản ánh giá trị hiện có và tình hình biến động của toàn bộ TSCĐ hữu
hình thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp theo nguyên giá. -
Tài khoản 2112 - TSCĐ thuê tài chính:
Dùng để phản ánh nguyên giá TSCĐ doanh nghiệp đi thuê dài hạn theo phương thức
thuê tài chính. -
Tài khoản 2113 - TSCĐ vô hình: Dùng
để phản ánh giá trị hiện có và tình hình biến động của toàn bộ TSCĐ vô hình
thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp theo nguyên giá. Điều
32. Tài khoản 214 - Hao mòn tài sản cố định 1.
Nguyên tắc kế toán a)
Tài khoản này dùng để phản ánh tình hình tăng, giảm giá trị hao mòn và giá trị
hao mòn lũy kế của các loại TSCĐ và bất động sản đầu tư (BĐSĐT) trong quá trình
sử dụng do trích khấu hao TSCĐ, BĐSĐT và những khoản tăng, giảm hao mòn khác của
TSCĐ, BĐSĐT. b)
Về nguyên tắc, mọi TSCĐ, BĐSĐT dùng để cho thuê của doanh nghiệp có liên quan
đến sản xuất, kinh doanh (gồm cả tài sản chưa dùng, không cần dùng, chờ thanh
lý) đều phải trích khấu hao theo quy định hiện hành. Khấu hao TSCĐ dùng trong
sản xuất, kinh doanh và khấu hao BĐSĐT được hạch toán vào chi phí sản xuất, kinh
doanh trong kỳ; khấu hao TSCĐ, BĐSĐT chưa dùng, không cần dùng, chờ thanh lý
thực hiện theo quy định của pháp luật hiện hành. Đối với TSCĐ dùng cho mục đích
phúc lợi thì không phải trích khấu hao tính vào chi phí sản xuất, kinh doanh mà
chỉ tính hao mòn TSCĐ và hạch toán giảm nguồn hình thành TSCĐ
đó. c)
Căn cứ vào quy định của pháp luật và yêu cầu quản lý của doanh nghiệp để lựa
chọn 1 trong các phương pháp tính, trích khấu hao theo quy định của pháp luật
phù hợp cho từng TSCĐ, BĐSĐT nhằm kích thích sự phát triển sản xuất, kinh doanh,
đảm bảo việc thu hồi vốn nhanh, đầy đủ và phù hợp với khả năng trang trải chi
phí của doanh nghiệp. Phương
pháp khấu hao được áp dụng cho từng TSCĐ, BĐSĐT phải được thực hiện nhất quán và
có thể được thay đổi khi có sự thay đổi đáng kể cách thức thu hồi lợi ích kinh
tế của TSCĐ và BĐSĐT. d)
Thời gian khấu hao và phương pháp khấu hao TSCĐ phải được xem xét lại ít nhất là
vào cuối mỗi năm tài chính. Nếu thời gian sử dụng hữu ích ước tính của tài sản
khác biệt lớn so với các ước tính trước đó thì thời gian khấu hao phải được thay
đổi tương ứng. Phương pháp khấu hao TSCĐ được thay đổi khi có sự thay đổi đáng
kể cách thức ước tính thu hồi lợi ích kinh tế của TSCĐ. Trường hợp này, phải
điều chỉnh chi phí khấu hao cho năm hiện hành, các năm tiếp theo và phải thuyết
minh trong Báo cáo tài chính. đ)
Đối với các TSCĐ đã khấu hao hết (đã thu hồi đủ vốn) nhưng vẫn còn sử dụng vào
hoạt động sản xuất, kinh doanh thì không được tiếp tục trích khấu hao. Các TSCĐ
chưa tính đủ khấu hao (chưa thu hồi đủ vốn) mà đã hư hỏng, cần thanh lý thì phải
xác định nguyên nhân, trách nhiệm của tập thể, cá nhân để xử lý bồi thường và
phần giá trị còn lại của TSCĐ chưa thu hồi, không được bồi thường phải được bù
đắp bằng số thu do thanh lý của chính TSCĐ đó, số tiền bồi thường do lãnh đạo
doanh nghiệp quyết định. Nếu số thu thanh lý và số thu bồi thường không đủ bù
đắp phần giá trị còn lại của TSCĐ chưa thu hồi, hoặc giá trị TSCĐ bị mất thì
chênh lệch còn lại được coi là lỗ về thanh lý TSCĐ và kế toán vào chi phí
khác. e)
Đối với TSCĐ vô hình, phải tùy thời gian phát huy hiệu quả để trích khấu hao
tính từ khi TSCĐ được đưa vào sử dụng (theo hợp đồng, cam kết hoặc theo quyết
định của cấp có thẩm quyền). g)
Đối với TSCĐ thuê tài chính, trong quá trình sử dụng bên đi thuê phải trích khấu
hao trong thời gian thuê theo hợp đồng tính vào chi phí sản xuất, kinh doanh,
đảm bảo thu hồi đủ vốn. h)
Đối với BĐSĐT cho thuê hoạt động phải trích khấu hao và ghi nhận vào giá vốn
hàng bán trong kỳ. Doanh nghiệp có thể dựa vào các BĐS chủ sở hữu sử dụng (TSCĐ)
cùng loại để ước tính thời gian trích khấu hao và xác định phương pháp khấu hao
BĐSĐT. Trường hợp BĐSĐT nắm giữ chờ tăng giá, doanh nghiệp không trích khấu hao
mà xác định tổn thất do giảm giá trị. Khi có bằng chứng chắc chắn cho thấy BĐSĐT
tăng giá trở lại thì doanh nghiệp được điều chỉnh tăng nguyên giá BĐSĐT nhưng
tối đa không vượt quá nguyên giá ban đầu của BĐSĐT. 2.
Kết cấu và nội dung phản ánh của tài khoản 214 - Hao mòn
TSCĐ Bên
Nợ: Giá
trị hao mòn TSCĐ, BĐSĐT giảm do TSCĐ, BĐSĐT thanh lý, nhượng bán, điều động cho
đơn vị hạch toán phụ thuộc, góp vốn đầu tư vào đơn vị
khác,... Bên
Có:
Giá trị hao mòn TSCĐ, BĐSĐT tăng do trích khấu hao TSCĐ, BĐSĐT,...
Số
dư bên Có:
Giá trị hao mòn lũy kế của TSCĐ, BĐSĐT hiện có cuối kỳ ở doanh
nghiệp. Tài
khoản 214 - Hao mòn TSCĐ, có 4 tài khoản cấp 2: -
Tài khoản 2141 - Hao mòn TSCĐ hữu hình:
Phản ánh giá trị hao mòn của TSCĐ hữu hình trong quá trình sử dụng do trích khấu
hao TSCĐ và những khoản tăng, giảm hao mòn khác của TSCĐ hữu
hình. -
Tài khoản 2142 - Hao mòn TSCĐ thuê tài chính: Phản
ánh giá trị hao mòn của TSCĐ thuê tài chính trong quá trình sử dụng do trích
khấu hao TSCĐ thuê tài chính và những khoản tăng, giảm hao mòn khác của TSCĐ
thuê tài chính. -
Tài khoản 2143 - Hao mòn TSCĐ vô hình: Phản
ánh giá trị hao mòn của TSCĐ vô hình trong quá trình sử dụng do trích khấu hao
TSCĐ vô hình và những khoản làm tăng, giảm hao mòn khác của TSCĐ vô
hình. -
Tài khoản 2147 - Hao mòn BĐSĐT:
Tài khoản này phản ánh giá trị hao mòn BĐSĐT trong quá trình cho thuê hoạt động
và những khoản làm tăng, giảm hao mòn khác của BĐSĐT. Điều
33. Tài khoản 217 - Bất động sản đầu tư 1.
Nguyên tắc kế toán 1.1.
Tài khoản này dùng để phản ánh số hiện có và tình hình biến động tăng, giảm bất
động sản đầu tư (BĐSĐT) của doanh nghiệp theo nguyên giá, được theo dõi chi tiết
theo từng đối tượng tương tự như TSCĐ. BĐSĐT gồm: Quyền sử dụng đất, nhà hoặc
một phần của nhà hoặc cả nhà và đất, cơ sở hạ tầng do người chủ sở hữu hoặc
người đi thuê tài sản theo hợp đồng thuê tài chính nắm giữ nhằm mục đích thu lợi
từ việc cho thuê hoặc chờ tăng giá mà không phải để: -
Sử dụng trong sản xuất, cung cấp hàng hóa, dịch vụ hoặc sử dụng cho các mục đích
quản lý; hoặc -
Bán trong kỳ sản xuất, kinh doanh thông thường. 1.2.
Tài khoản này dùng để phản ánh giá trị BĐS đủ tiêu chuẩn ghi nhận là BĐSĐT.
Không phản ánh vào tài khoản này giá trị bất động sản mua về để bán trong kỳ
hoạt động kinh doanh bình thường hoặc xây dựng để bán trong tương lai gần, bất
động sản chủ sở hữu sử dụng, bất động sản trong quá trình xây dựng chưa hoàn
thành với mục đích để sử dụng trong tương lai dưới dạng
BĐSĐT. Bất
động sản đầu tư được ghi nhận là tài sản phải thỏa mãn đồng thời hai điều kiện
sau: -
Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai; -
Nguyên giá phải được xác định một cách đáng tin cậy. 1.3.
Bất động sản đầu tư được ghi nhận trên tài khoản này theo nguyên giá. Nguyên giá
của BĐSĐT là toàn bộ các chi phí (tiền hoặc tương đương tiền) mà doanh nghiệp bỏ
ra hoặc giá trị hợp lý của các khoản khác đưa đi trao đổi để có được BĐSĐT tính
đến thời điểm mua hoặc xây dựng hoàn thành BĐSĐT đó. -
Tùy thuộc vào từng trường hợp, nguyên giá của BĐSĐT được xác định như
sau: +
Nguyên giá của BĐSĐT được mua bao gồm giá mua và các chi phí liên quan trực tiếp
đến việc mua, như: Phí dịch vụ tư vấn, lệ phí trước bạ và chi phí giao dịch liên
quan khác,... +
Trường hợp mua BĐSĐT thanh toán theo phương thức trả chậm, nguyên giá của BĐSĐT
được phản ánh theo giá mua trả tiền ngay tại thời điểm mua. Khoản chênh lệch
giữa giá mua trả chậm và giá mua trả tiền ngay được hạch toán vào chi phí tài
chính theo kỳ hạn thanh toán, trừ khi số chênh lệch đó được tính vào nguyên giá
BĐSĐT; +
Nguyên giá của BĐSĐT tự xây dựng là giá thành thực tế và các chi phí liên quan
trực tiếp của BĐSĐT tính đến ngày hoàn thành công việc xây
dựng; -
Các chi phí sau không được tính vào nguyên giá của BĐSĐT: +
Chi phí phát sinh ban đầu (trừ trường hợp các chi phí này là cần thiết để đưa
BĐSĐT vào trạng thái sẵn sàng sử dụng); +
Các chi phí khi mới đưa BĐSĐT vào hoạt động lần đầu trước khi BĐSĐT đạt tới
trạng thái hoạt động bình thường theo dự kiến. 1.4.
Các chi phí liên quan đến BĐSĐT phát sinh sau ghi nhận ban đầu phải được ghi
nhận là chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ, trừ khi chi phí này có khả năng
chắc chắn làm cho BĐSĐT tạo ra lợi ích kinh tế trong tương lai nhiều hơn mức
hoạt động được đánh giá ban đầu thì được ghi tăng nguyên giá
BĐSĐT. 1.5.
Trong quá trình cho thuê hoạt động phải tiến hành trích khấu hao BĐSĐT và ghi
nhận vào giá vốn hàng bán trong kỳ (kể cả trong thời gian ngừng cho thuê). Doanh
nghiệp có thể dựa vào các bất động sản chủ sở hữu sử dụng cùng loại để ước tính
thời gian trích khấu hao và xác định phương pháp khấu hao của
BĐSĐT. -
Trường hợp doanh nghiệp ghi nhận doanh thu đối với toàn bộ số tiền nhận trước từ
việc cho thuê BĐSĐT, kế toán phải ước tính đầy đủ giá vốn tương ứng với doanh
thu được ghi nhận (bao gồm cả số khấu hao được tính
trước). -
Giá vốn của BĐSĐT cho thuê bao gồm: Chi phí khấu hao BĐSĐT và các chi phí liên
quan trực tiếp khác tới việc cho thuê, như: Chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí
tiền lương nhân viên trực tiếp quản lý bất động sản cho thuê, chi phí khấu hao
các công trình phụ trợ phục vụ việc cho thuê BĐSĐT. 1.6.
Doanh nghiệp không trích khấu hao đối với BĐSĐT nắm giữ chờ tăng giá. Trường hợp
có bằng chứng chắc chắn cho thấy BĐSĐT bị giảm giá so với giá thị trường và
khoản giảm giá được xác định một cách đáng tin cậy thì doanh nghiệp được đánh
giá giảm nguyên giá BĐSĐT và ghi nhận khoản tổn thất vào giá vốn hàng bán (tương
tự như việc lập dự phòng đối với hàng hóa bất động sản). 1.7.
Đối với những BĐSĐT được mua vào nhưng phải tiến hành xây dựng, cải tạo, nâng
cấp trước khi sử dụng cho mục đích đầu tư thì giá trị bất động sản, chi phí mua
sắm và chi phí cho quá trình xây dựng, cải tạo, nâng cấp BĐSĐT được phản ánh
trên TK 241 “Xây dựng cơ bản dở dang”. Khi quá trình xây dựng, cải tạo, nâng cấp
hoàn thành phải xác định nguyên giá BĐSĐT hoàn thành để kết chuyển vào TK 217
“Bất động sản đầu tư”. 1.8.
Việc chuyển từ bất động sản chủ sở hữu sử dụng thành BĐSĐT hoặc từ BĐSĐT sang
bất động sản chủ sở hữu sử dụng hay hàng tồn kho chỉ khi có sự thay đổi về mục
đích sử dụng như các trường hợp sau: -
BĐSĐT chuyển thành bất động sản chủ sở hữu sử dụng khi chủ sở hữu bắt đầu sử
dụng tài sản này; -
BĐSĐT chuyển thành hàng tồn kho khi chủ sở hữu bắt đầu triển khai cho mục đích
bán; -
Bất động sản chủ sở hữu sử dụng chuyển thành BĐSĐT khi chủ sở hữu kết thúc sử
dụng tài sản đó và khi bên khác thuê hoạt động; -
Hàng tồn kho chuyển thành BĐSĐT khi chủ sở hữu bắt đầu cho bên khác thuê hoạt
động; -
Bất động sản xây dựng chuyển thành BĐSĐT khi kết thúc giai đoạn xây dựng, bàn
giao đưa vào đầu tư. Việc
chuyển đổi mục đích sử dụng giữa BĐSĐT với bất động sản chủ sở hữu sử dụng hoặc
hàng tồn kho không làm thay đổi giá trị ghi sổ của tài sản được chuyển đổi và
không làm thay đổi nguyên giá của bất động sản trong việc xác định giá trị hay
để lập Báo cáo tài chính. 1.9.
Khi doanh nghiệp quyết định bán một BĐSĐT mà không có giai đoạn sửa chữa, cải
tạo nâng cấp thì doanh nghiệp vẫn tiếp tục ghi nhận là BĐSĐT trên TK 217 "Bất
động sản đầu tư" cho đến khi BĐSĐT đó được bán mà không chuyển thành hàng tồn
kho. 1.10.
Doanh thu từ việc bán BĐSĐT được ghi nhận là giá bán chưa có thuế GTGT (đối với
trường hợp doanh nghiệp nộp thuế GTGT tính theo phương pháp khấu trừ) hoặc tổng
giá thanh toán (đối với trường hợp doanh nghiệp nộp thuế GTGT theo phương pháp
trực tiếp). Trường hợp bán theo phương thức trả chậm thì doanh thu được xác định
ban đầu theo giá bán trả tiền ngay. Khoản chênh lệch giữa tổng số tiền phải
thanh toán và giá bán trả tiền ngay được ghi nhận là doanh thu tiền lãi chưa
thực hiện. 1.11.
Ghi giảm BĐSĐT trong các trường hợp: -
Chuyển đổi mục đích sử dụng từ BĐSĐT sang hàng tồn kho hoặc bất động sản chủ sở
hữu sử dụng; -
Bán, thanh lý BĐSĐT; -
Hết thời hạn thuê tài chính trả lại BĐSĐT cho bên cho
thuê. 1.12.
Doanh nghiệp xây dựng danh mục BĐSĐT nắm giữ cho thuê hoặc chờ tăng giá và thực
hiện chính sách khấu hao hoặc xác định tổn thất một cách nhất quán trong năm tài
chính. 2.
Kết cấu và nội dung phản ánh của Tài khoản 217 - Bất động sản đầu
tư Bên
Nợ:
Nguyên giá BĐSĐT tăng trong kỳ. Bên
Có:
Nguyên giá BĐSĐT giảm trong kỳ. Số
dư bên Nợ:
Nguyên giá BĐSĐT hiện có cuối kỳ. Điều
34. Tài khoản 228 - Đầu tư góp vốn vào đơn vị khác 1.
Nguyên tắc kế toán 1.1.
Tài khoản này dùng để phản ánh các khoản đầu tư góp vốn vào đơn vị khác và tình
hình thu hồi các khoản đầu tư góp vốn vào đơn vị khác của doanh
nghiệp. Các
khoản đầu tư góp vốn vào đơn vị khác của doanh nghiệp gồm: a)
Các khoản vốn góp liên doanh, liên kết: -
Tài khoản này dùng để phản ánh toàn bộ vốn góp vào công ty liên doanh và công ty
liên kết; tình hình thu hồi vốn đầu tư liên doanh, liên kết. Tài khoản này không
phản ánh các giao dịch dưới hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh không thành
lập pháp nhân. -
Công ty liên doanh được thành lập bởi các bên góp vốn liên doanh có quyền đồng
kiểm soát các chính sách tài chính và hoạt động, là đơn vị có tư cách pháp nhân
hạch toán độc lập. Công ty liên doanh phải tổ chức thực hiện công tác kế toán
riêng theo quy định của pháp luật hiện hành về kế toán, chịu trách nhiệm kiểm
soát tài sản, các khoản nợ phải trả, doanh thu, thu nhập khác và chi phí phát
sinh tại đơn vị mình. Mỗi bên góp vốn liên doanh được hưởng một phần kết quả
hoạt động của công ty liên doanh theo thỏa thuận của hợp đồng liên
doanh. -
Khoản đầu tư được phân loại là đầu tư vào công ty liên kết khi nhà đầu tư nắm
giữ trực tiếp hoặc gián tiếp từ 20% đến dưới 50% quyền biểu quyết của bên nhận
đầu tư mà không có thỏa thuận khác hoặc nhà đầu tư có ảnh hưởng đáng kể với bên
được đầu tư. -
Khi nhà đầu tư không còn quyền đồng kiểm soát thì phải ghi giảm khoản đầu tư vào
công ty liên doanh; Khi không còn ảnh hưởng đáng kể hoặc tỷ lệ nắm giữ quyền
biểu quyết đối với bên nhận đầu tư không đảm bảo theo tỷ lệ quy định nêu trên
thì phải ghi giảm khoản đầu tư vào công ty liên kết. -
Các khoản chi phí liên quan trực tiếp tới hoạt động bán hoặc thanh lý khoản đầu
tư vào công ty liên doanh, liên kết được ghi nhận là chi phí tài chính trong kỳ
phát sinh. -
Khi thanh lý, nhượng bán, thu hồi vốn góp liên doanh, liên kết, căn cứ vào giá
trị tài sản thu hồi được kế toán ghi giảm số vốn đã góp. Phần chênh lệch giữa
giá trị hợp lý của khoản thu hồi được so với giá trị ghi sổ của khoản đầu tư
được ghi nhận là doanh thu hoạt động tài chính (nếu lãi) hoặc chi phí tài chính
(nếu lỗ). b)
Đầu tư khác: Bao gồm các khoản đầu tư vào công cụ vốn của đơn vị khác nhưng
không có quyền đồng kiểm soát, không có ảnh hưởng đáng kể đối với bên được đầu
tư và các khoản đầu tư khác như vàng, bạc, kim khí quý, đá quý không được phân
loại là hàng tồn kho. 1.2.
Giá phí các khoản đầu tư được phản ánh theo giá gốc, bao gồm giá mua cộng (+)
các chi phí liên quan trực tiếp đến việc đầu tư (nếu có), như: Chi phí giao
dịch, môi giới, tư vấn, kiểm toán, lệ phí, thuế và phí ngân hàng... Trường hợp
đầu tư bằng tài sản phi tiền tệ, giá phí khoản đầu tư được ghi nhận theo giá trị
hợp lý của tài sản phi tiền tệ tại thời điểm phát sinh. 1.3.
Trường hợp nhà đầu tư mua lại phần vốn góp tại công ty liên doanh, liên kết: Tại
ngày mua, nhà đầu tư xác định và phản ánh giá phí khoản đầu tư vào công ty liên
doanh, liên kết bao gồm: Giá trị hợp lý tại ngày diễn ra trao đổi của các tài
sản đem trao đổi, các khoản nợ phải trả đã phát sinh hoặc đã thừa nhận và các
công cụ vốn do bên mua phát hành để đổi lấy quyền đồng kiểm soát tại công ty
liên doanh và ảnh hưởng đáng kể tại công ty liên kết cộng (+) các chi phí liên
quan trực tiếp đến việc mua lại phần vốn góp tại công ty liên doanh, liên
kết. 1.4.
Việc đầu tư có thể thực hiện dưới các hình thức: a)
Đầu tư dưới hình thức góp vốn vào đơn vị khác (do bên được đầu tư huy động vốn):
Theo hình thức này, tài sản của bên góp vốn được ghi nhận vào Báo cáo tình hình
tài chính của bên nhận vốn góp. b)
Đầu tư dưới hình thức mua lại phần vốn góp tại đơn vị khác (mua lại phần vốn của
chủ sở hữu): Theo hình thức này, tài sản của bên mua (bên đầu tư, nhận chuyển
nhượng vốn góp) được chuyển cho bên bán (bên chuyển nhượng vốn góp) mà không
được ghi nhận vào Báo cáo tình hình tài chính của đơn vị phát hành công cụ vốn
(bên được đầu tư). 1.5.
Khi thực hiện đầu tư bằng tài sản phi tiền tệ, nhà đầu tư phải căn cứ vào hình
thức đầu tư để áp dụng phương pháp kế toán một cách phù hợp, cụ
thể: a)
Nếu đầu tư dưới hình thức góp vốn bằng tài sản phi tiền tệ, nhà đầu tư phải đánh
giá lại tài sản mang đi góp vốn trên cơ sở thỏa thuận. Phần chênh lệch giữa giá
trị ghi sổ hoặc giá trị còn lại và giá trị đánh giá lại của tài sản mang đi góp
vốn được kế toán là thu nhập khác hoặc chi phí khác. b)
Nếu đầu tư dưới hình thức mua lại phần vốn góp của đơn vị khác và thanh toán cho
bên chuyển nhượng vốn bằng tài sản phi tiền tệ: -
Nếu tài sản phi tiền tệ dùng để thanh toán là hàng tồn kho, nhà đầu tư phải kế
toán như giao dịch bán hàng tồn kho dưới hình thức hàng đổi hàng (ghi nhận doanh
thu, giá vốn của hàng tồn kho mang đi trao đổi lấy phần vốn được
mua); -
Nếu tài sản phi tiền tệ dùng để thanh toán là TSCĐ, BĐSĐT, nhà đầu tư phải kế
toán như giao dịch nhượng bán TSCĐ, BĐSĐT (ghi nhận doanh thu, thu nhập khác,
giá vốn, chi phí khác....); -
Nếu tài sản phi tiền tệ dùng để thanh toán là các khoản đầu tư vào công cụ vốn
(cổ phiếu) hoặc công cụ nợ (trái phiếu, các khoản phải thu...) của đơn vị khác,
nhà đầu tư phải kế toán như giao dịch thanh lý, nhượng bán các khoản đầu tư (ghi
nhận lãi, lỗ vào doanh thu hoạt động tài chính hoặc chi phí tài
chính). 1.6.
Kế toán phải mở sổ chi tiết theo dõi từng khoản đầu tư vào đơn vị khác theo từng
đối tượng. Thời điểm ghi nhận các khoản đầu tư góp vốn vào đơn vị khác là thời
điểm nhà đầu tư chính thức có quyền sở hữu, cụ thể như
sau: -
Chứng khoán niêm yết được ghi nhận tại thời điểm khớp lệnh
(T+0); -
Chứng khoán chưa niêm yết, các khoản đầu tư dưới hình thức khác được ghi nhận
tại thời điểm chính thức có quyền sở hữu theo quy định của pháp
luật. 1.7.
Nhà đầu tư phải hạch toán đầy đủ, kịp thời các khoản cổ tức, lợi nhuận được chia
vào Báo cáo tài chính riêng tại thời điểm được quyền nhận. Cổ tức, lợi nhuận
được chia trong một số trường hợp được hạch toán như sau: a)
Cổ tức, lợi nhuận được chia bằng tiền hoặc tài sản phi tiền tệ cho giai đoạn sau
ngày đầu tư được hạch toán vào doanh thu hoạt động tài chính theo giá trị hợp lý
tại ngày được quyền nhận; b)
Cổ tức, lợi nhuận được chia bằng tiền hoặc tài sản phi tiền tệ cho giai đoạn
trước ngày đầu tư không hạch toán vào doanh thu hoạt động tài chính mà hạch toán
giảm giá trị khoản đầu tư. c)
Trường hợp nhận cổ tức bằng cổ phiếu thì thực hiện theo nguyên tắc: chỉ theo dõi
số lượng cổ phiếu được nhận trên thuyết minh Báo cáo tài chính, không ghi nhận
tăng giá trị khoản đầu tư và doanh thu hoạt động tài
chính. 1.8.
Giá vốn các khoản đầu tư tài chính khi thanh lý, nhượng bán được xác định theo
phương pháp bình quân gia quyền tính cho các khoản đầu tư tại từng đối
tượng. 1.9.
Khi lập Báo cáo tài chính, doanh nghiệp phải xác định giá trị khoản đầu tư bị
tổn thất để trích lập dự phòng tổn thất đầu tư vào đơn vị
khác. 2.
Kết cấu và nội dung phản ánh của Tài khoản 228 - Đầu tư góp vốn vào đơn vị
khác: Bên
Nợ: -
Số vốn góp liên doanh đã góp vào cơ sở kinh doanh đồng kiểm soát
tăng; -
Giá gốc khoản đầu tư vào công ty liên kết tăng; -
Giá trị các khoản đầu tư khác tăng. Bên
Có: -
Số vốn góp liên doanh vào cơ sở kinh doanh đồng kiểm soát giảm do đã thu hồi,
chuyển nhượng dẫn đến không còn quyền đồng kiểm soát đối với bên được đầu
tư; -
Giá gốc khoản đầu tư vào công ty liên kết giảm do nhận lại vốn đầu tư hoặc thu
được các khoản lợi ích ngoài lợi nhuận được chia; -
Giá gốc khoản đầu tư vào công ty liên kết giảm do bán, thanh lý toàn bộ hoặc một
phần khoản đầu tư và không còn ảnh hưởng đáng kể đối với bên được đầu
tư; -
Giá trị các khoản đầu tư khác giảm. Số
dư bên Nợ: -
Số vốn góp liên doanh vào cơ sở kinh doanh đồng kiểm soát hiện còn cuối
kỳ; -
Giá gốc khoản đầu tư vào công ty liên kết hiện đang nắm giữ cuối
kỳ; -
Giá trị khoản đầu tư khác hiện có cuối kỳ. Tài
khoản 228 - Đầu tư góp vốn vào đơn vị khác, có 2 tài khoản cấp
2: -
Tài khoản 2281 - Đầu tư vào công ty liên doanh, liên kết:
Phản ánh toàn bộ vốn góp vào công ty liên doanh, liên kết; tình hình thu hồi vốn
đầu tư vào công ty liên doanh, liên kết. -
Tài khoản 2288 - Đầu tư khác: Phản
ánh giá trị hiện có và tình hình biến động tăng, giảm các loại đầu tư vào công
cụ vốn của đơn vị khác nhưng không có quyền kiểm soát hoặc đồng kiểm soát, không
có ảnh hưởng đáng kể đối với bên được đầu tư và các khoản đầu tư khác như vàng,
bạc, kim khí quý… không được phân loại là hàng tồn kho. Điều
35. Kế toán giao dịch hợp đồng hợp tác kinh doanh 1.
Nguyên tắc kế toán 1.1.
Hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC) là thỏa thuận bằng hợp đồng của hai hoặc nhiều
bên để cùng thực hiện hoạt động kinh tế nhưng không hình thành pháp nhân độc
lập. Hoạt động này có thể được đồng kiểm soát bởi các bên góp vốn theo thỏa
thuận liên doanh hoặc kiểm soát bởi một trong số các bên tham
gia. 1.2.
BCC có thể được thực hiện dưới hình thức cùng nhau xây dựng tài sản hoặc hợp tác
trong một số hoạt động kinh doanh. Các bên tham gia trong BCC có thể thỏa thuận
chia doanh thu, chia sản phẩm hoặc chia lợi nhuận sau
thuế. 1.3.
Trong mọi trường hợp, khi nhận tiền, tài sản của các bên khác đóng góp cho hoạt
động BCC, bên nhận phải kế toán là nợ phải trả, không được ghi nhận vào vốn chủ
sở hữu. 1.4.
Đối với BCC theo hình thức tài sản đồng kiểm soát a)
Tài sản đồng kiểm soát bởi các bên tham gia liên doanh là tài sản được các bên
tham gia liên doanh mua, xây dựng, được sử dụng cho mục đích của liên doanh và
mang lại lợi ích cho các bên tham gia liên doanh theo quy định của Hợp đồng liên
doanh. Các bên tham gia liên doanh được ghi nhận phần giá trị tài sản đồng kiểm
soát mà mình được hưởng là tài sản trên Báo cáo tài chính của
mình. b)
Mỗi bên tham gia liên doanh được nhận sản phẩm hoặc doanh thu từ việc sử dụng và
khai thác tài sản đồng kiểm soát và chịu một phần chi phí phát sinh theo thỏa
thuận trong hợp đồng. c)
Các bên tham gia liên doanh phải mở sổ kế toán chi tiết trên cùng hệ thống sổ kế
toán của mình để ghi chép và phản ánh trong Báo cáo tài chính của mình những nội
dung sau đây: -
Phần vốn góp vào tài sản đồng kiểm soát, được phân loại theo tính chất của tài
sản; -
Các khoản nợ phải trả phát sinh riêng của mỗi bên tham gia góp vốn liên
doanh; -
Phần nợ phải trả phát sinh chung phải gánh chịu cùng với các bên tham gia góp
vốn liên doanh khác từ hoạt động của liên doanh; -
Các khoản thu nhập từ việc bán hoặc sử dụng phần sản phẩm được chia từ liên
doanh cùng với phần chi phí phát sinh được phân chia từ hoạt động của liên
doanh; -
Các khoản chi phí phát sinh liên quan đến việc góp vốn liên
doanh. Đối
với TSCĐ, BĐSĐT khi mang đi góp vốn vào BCC và không chuyển quyền sở hữu từ bên
góp vốn thành sở hữu chung của các bên thì bên nhận tài sản theo dõi như tài sản
nhận giữ hộ, không hạch toán tăng tài sản và vốn góp của chủ sở hữu; Bên góp tài
sản không ghi giảm tài sản trên sổ kế toán mà chỉ theo dõi chi tiết địa điểm, vị
trí, nơi đặt tài sản. Đối
với TSCĐ, BĐSĐT mang đi góp vốn có sự chuyển quyền sở hữu từ bên góp vốn thành
quyền sở hữu chung, trong quá trình đang xây dựng tài sản đồng kiểm soát, bên
mang tài sản đi góp phải ghi giảm tài sản trên sổ kế toán và ghi nhận giá trị
tài sản vào chi phí xây dựng cơ bản dở dang. Sau khi tài sản đồng kiểm soát hoàn
thành, bàn giao, đưa vào sử dụng, căn cứ vào giá trị tài sản được chia, các bên
ghi nhận tăng tài sản của mình phù hợp với mục đích sử
dụng. 1.5.
Đối với BCC dưới hình thức hoạt động kinh doanh đồng kiểm
soát a)
Hợp đồng hợp tác kinh doanh dưới hình thức hoạt động kinh doanh đồng kiểm soát
là hoạt động liên doanh không thành lập một cơ sở kinh doanh mới. Các bên liên
doanh có nghĩa vụ và được hưởng quyền lợi theo thỏa thuận trong hợp đồng. Hoạt
động của hợp đồng liên doanh được các bên góp vốn thực hiện cùng với các hoạt
động kinh doanh thông thường khác của từng bên. b)
Hợp đồng hợp tác kinh doanh quy định các khoản chi phí phát sinh riêng cho hoạt
động kinh doanh đồng kiểm soát do mỗi bên liên doanh bỏ ra thì bên đó phải gánh
chịu. Đối với các khoản chi phí chung (nếu có) thì căn cứ vào các thỏa thuận
trong hợp đồng để phân chia cho các bên góp vốn. c)
Các bên tham gia liên doanh phải mở sổ kế toán để ghi chép và phản ánh trong Báo
cáo tài chính của mình các nội dung sau đây: -
Tài sản góp vốn liên doanh và chịu sự kiểm soát của bên góp vốn liên
doanh; -
Các khoản nợ phải trả phải gánh chịu; -
Doanh thu được chia từ việc bán hàng hoặc cung cấp dịch vụ của liên
doanh; -
Chi phí phải gánh chịu. d)
Khi bên liên doanh có phát sinh chi phí chung phải mở sổ kế toán để ghi chép,
tập hợp toàn bộ các chi phí chung đó. Định kỳ căn cứ vào các thỏa thuận trong
hợp đồng liên doanh về việc phân bổ các chi phí chung, kế toán lập Bảng phân bổ
chi phí chung, được các bên liên doanh xác nhận, giao cho mỗi bên giữ một bản
(bản chính). Bảng phân bổ chi phí chung kèm theo các chứng từ gốc hợp pháp là
căn cứ để mỗi bên liên doanh kế toán chi phí chung được phân bổ từ hợp
đồng. đ)
Trường hợp hợp đồng liên doanh quy định chia sản phẩm, định kỳ theo thỏa thuận
trong hợp đồng liên doanh, các bên liên doanh phải lập Bảng phân chia sản phẩm
cho các bên góp vốn và được các bên xác nhận số lượng, quy cách sản phẩm được
chia từ hợp đồng, giao cho mỗi bên giữ một bản (bản chính). Mỗi khi thực giao
sản phẩm, các bên liên doanh phải lập Phiếu giao nhận sản phẩm (hoặc phiếu xuất
kho). Phiếu giao nhận sản phẩm là căn cứ để các bên liên doanh ghi sổ kế toán,
theo dõi và là căn cứ thanh lý hợp đồng. e)
Trường hợp BCC phát sinh các chi phí, doanh thu chung mà các bên tham gia hợp
đồng phải gánh chịu hoặc được hưởng thì các bên tham gia liên doanh phải thực
hiện các quy định về kế toán như đối với trường hợp hoạt động kinh doanh đồng
kiểm soát. 1.6.
Trường hợp BCC chia lợi nhuận sau thuế a)
BCC chia lợi nhuận sau thuế thường là BCC dưới hình thức hoạt động đồng kiểm
soát hoặc do một bên kiểm soát. Trường hợp BCC chia lợi nhuận sau thuế, các bên
phải cử ra một bên để kế toán toàn bộ các giao dịch của BCC, ghi nhận doanh thu,
chi phí, theo dõi riêng kết quả kinh doanh của BCC và quyết toán thuế. Khi quyết
định ký kết BCC theo hình thức này, các bên phải cân nhắc về rủi ro có thể phải
gánh chịu do: -
Một số khoản chi phí không được tính đầy đủ là chi phí tính thuế do không có sự
chuyển giao tài sản giữa các bên, ví dụ: +
Chi phí khấu hao của một số TSCĐ sẽ không được cơ quan thuế chấp nhận do bên
tham gia BCC không làm thủ tục chuyển quyền sở hữu cho bên thực hiện kế toán và
quyết toán thuế cho BCC; +
Một số khoản chi phí của các bên tham gia không được cơ quan thuế chấp nhận do
hóa đơn đầu vào không mang tên bên kế toán và quyết toán thuế của
BCC; +
Một số chi phí phát sinh tại bên tham gia BCC không thể chuyển cho bên kế toán
và quyết toán thuế do các rào cản của pháp luật, ví dụ bên tham gia BCC có hóa
đơn nộp tiền sử dụng đất nhưng pháp luật không cho phép bên phát sinh chi phí
tiền sử dụng đất cho bên kế toán và quyết toán thuế thuê lại đất nên chi phí
thuê đất không được tính vào chi phí của BCC. -
Rủi ro về chính sách: +
Bên kế toán và quyết toán thuế cho BCC có thể phát sinh lỗ lũy kế, tuy nhiên
riêng kết quả của hoạt động BCC thì có lãi. Trường hợp này thay vì được bù trừ
số lãi từ BCC với số lỗ các hoạt động khác, doanh nghiệp vẫn phải nộp thuế TNDN
đối với BCC; Nếu BCC lỗ nhưng các hoạt động khác có lãi, doanh nghiệp có thể
không được bù trừ phần lỗ tương ứng với phần được chia trong
BCC; +
Đối với các bên khác nếu đưa TSCĐ vào dùng cho hoạt động của BCC thì có thể sẽ
không được tính chi phí khấu hao là chi phí được trừ tại doanh nghiệp do không
sử dụng cho hoạt động sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp (không phù hợp với
doanh thu của các hoạt động khác). b)
Trường hợp BCC quy định chia lợi nhuận sau thuế, bên thực hiện kế toán và quyết
toán thuế phải căn cứ vào bản chất của hợp đồng để kế toán một cách phù hợp theo
nguyên tắc: -
Trường hợp BCC quy định các bên khác tham gia BCC được hưởng một khoản lợi nhuận
cố định mà không phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của hợp đồng thì mặc dù hình
thức pháp lý của hợp đồng là BCC nhưng bản chất của hợp đồng là thuê tài sản.
Trong trường hợp này, bên kế toán và quyết toán thuế thực chất là bên có quyền
điều hành và chi phối hoạt động của BCC, phải áp dụng phương pháp kế toán thuê
tài sản cho hợp đồng, ghi nhận khoản phải trả cho các bên khác là chi phí để xác
định kết quả kinh doanh trong kỳ, cụ thể: +
Ghi nhận toàn bộ doanh thu, chi phí và lợi nhuận sau thuế của BCC trên Báo cáo
kết quả hoạt động kinh doanh của mình; +
Ghi nhận toàn bộ Lợi nhuận sau thuế của BCC vào chỉ tiêu “Lợi nhuận sau thuế
chưa phân phối” của Báo cáo tình hình tài chính. +
Các bên khác ghi nhận doanh thu cho thuê tài sản đối với khoản được chia từ
BCC. -
Trường hợp BCC quy định các bên khác trong BCC chỉ được phân chia lợi nhuận nếu
kết quả hoạt động của BCC có lãi, đồng thời phải gánh chịu lỗ, thì mặc dù hình
thức pháp lý của BCC là chia lợi nhuận sau thuế nhưng bản chất của BCC là chia
doanh thu, chi phí, các bên thường phải có quyền, điều kiện, khả năng để đồng
kiểm soát hoạt động cũng như dòng tiền của BCC. Bên kế toán và quyết toán thuế
phải áp dụng phương pháp kế toán BCC chia doanh thu để ghi nhận doanh thu, chi
phí và kết quả kinh doanh trong kỳ, đồng thời cung cấp bằng chứng về việc quyết
toán thuế cho các bên khác, cụ thể: +
Ghi nhận trên Báo cáo kết quả kinh doanh phần doanh thu, chi phí và lợi nhuận
tương ứng với phần được chia theo thỏa thuận của BCC; Bên quyết toán thuế cung
cấp bản sao các hồ sơ, tài liệu về việc đã thực hiện nghĩa vụ với NSNN của BCC
cho các bên trong BCC để phục vụ việc quyết toán thuế của các bên khác trong
BCC; +
Lợi nhuận sau thuế chưa phân phối của Báo cáo tình hình tài chính chỉ bao gồm
phần lợi nhuận sau thuế tương ứng của từng bên được hưởng. +
Các bên khác được ghi nhận trên Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh phần doanh
thu, chi phí tương ứng với phần mình được chia từ BCC, báo cáo cơ quan thuế về
việc khoản doanh thu, chi phí này đã được thực hiện nghĩa vụ thuế làm căn cứ
điều chỉnh số thuế TNDN phải nộp. 1.7.
Khoản chênh lệch giữa giá trị vốn đã góp và giá trị hợp lý của tài sản nhận về
được phản ánh vào thu nhập khác hoặc chi phí khác. Điều
36. Tài khoản 229 - Dự phòng tổn thất tài sản 1.
Nguyên tắc kế toán 1.1.
Tài khoản này dùng để phản ánh số hiện có và tình hình biến động tăng, giảm các
khoản dự phòng tổn thất tài sản, gồm: a)
Dự phòng giảm giá chứng khoán kinh doanh: Là dự phòng phần giá trị bị tổn thất
có thể xảy ra do giảm giá các loại chứng khoán doanh nghiệp đang nắm giữ vì mục
đích kinh doanh. b)
Dự phòng tổn thất đầu tư vào đơn vị khác: Là khoản dự phòng tổn thất do doanh
nghiệp nhận vốn góp đầu tư bị lỗ dẫn đến nhà đầu tư có khả năng mất vốn hoặc
khoản dự phòng do suy giảm giá trị các khoản đầu tư. -
Đối với khoản đầu tư vào công ty liên doanh, liên kết, nhà đầu tư chỉ trích lập
dự phòng khi công ty liên doanh, liên kết bị lỗ dẫn đến nhà đầu tư có khả năng
mất vốn theo quy định hiện hành. -
Đối với khoản đầu tư mà nhà đầu tư nắm giữ lâu dài (không phân loại là chứng
khoán kinh doanh) và nhà đầu tư không nắm quyền kiểm soát, không có ảnh hưởng
đáng kể đối với bên được đầu tư, việc lập dự phòng được thực hiện như
sau: +
Đối với khoản đầu tư vào cổ phiếu niêm yết hoặc giá trị hợp lý khoản đầu tư được
xác định tin cậy, việc lập dự phòng dựa trên giá trị thị trường của cổ phiếu
(tương tự như dự phòng giảm giá chứng khoán kinh doanh); +
Đối với khoản đầu tư không xác định được giá trị hợp lý tại thời điểm báo cáo,
việc lập dự phòng được thực hiện căn cứ vào khoản lỗ của bên được đầu tư (dự
phòng tổn thất đầu tư vào đơn vị khác). c)
Dự phòng phải thu khó đòi: Là khoản dự phòng phần giá trị các khoản nợ phải thu
và các khoản có tính chất tương tự các khoản phải thu mà khó có khả năng thu
hồi. d)
Dự phòng giảm giá hàng tồn kho: Là khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho khi có
sự suy giảm của giá trị thuần có thể thực hiện được so với giá gốc của hàng tồn
kho. 1.2.
Nguyên tắc kế toán dự phòng giảm giá chứng khoán kinh
doanh a)
Doanh nghiệp được trích lập dự phòng đối với phần giá trị bị tổn thất có thể xảy
ra khi có bằng chứng chắc chắn cho thấy giá trị thị trường của các loại chứng
khoán doanh nghiệp đang nắm giữ vì mục đích kinh doanh bị giảm so với giá trị
ghi sổ. b)
Điều kiện, căn cứ và mức trích lập hoặc hoàn nhập dự phòng thực hiện theo các
quy định của pháp luật. c)
Việc trích lập hoặc hoàn nhập khoản dự phòng giảm giá chứng khoán kinh doanh
được thực hiện ở thời điểm lập Báo cáo tài chính: -
Nếu số dự phòng phải lập năm nay cao hơn số dư dự phòng đang ghi trên sổ kế toán
thì doanh nghiệp trích lập bổ sung số chênh lệch đó và ghi nhận vào chi phí tài
chính trong kỳ. -
Nếu số dự phòng phải lập năm nay thấp hơn số dư dự phòng đã lập năm trước chưa
sử dụng hết thì doanh nghiệp hoàn nhập số chênh lệch đó và ghi giảm chi phí tài
chính. 1.3.
Nguyên tắc kế toán dự phòng tổn thất đầu tư vào đơn vị
khác a)
Đối với đơn vị được đầu tư là công ty mẹ, căn cứ để nhà đầu tư trích lập dự
phòng tổn thất đầu tư vào đơn vị khác là BCTC hợp nhất của công ty mẹ đó. Đối
với các đơn vị được đầu tư là doanh nghiệp độc lập không có công ty con, căn cứ
để nhà đầu tư trích lập dự phòng tổn thất đầu tư vào đơn vị khác là Báo cáo tài
chính của bên được đầu tư đó. b)
Việc trích lập và hoàn nhập khoản dự phòng tổn thất đầu tư vào đơn vị khác được
thực hiện ở thời điểm lập Báo cáo tài chính cho từng khoản đầu tư theo nguyên
tắc: -
Nếu số dự phòng phải lập năm nay cao hơn số dư dự phòng đang ghi trên sổ kế toán
thì doanh nghiệp trích lập bổ sung số chênh lệch đó và ghi nhận vào chi phí tài
chính trong kỳ. -
Nếu số dự phòng phải lập năm nay thấp hơn số dư dự phòng đã lập năm trước chưa
sử dụng hết thì doanh nghiệp hoàn nhập số chênh lệch đó và ghi giảm chi phí tài
chính. c)
Giá trị tổn thất các khoản đầu tư vào đơn vị khác sau khi bù trừ với số dự phòng
đã trích lập được phản ánh vào chi phí tài chính trong kỳ báo
cáo. 1.4.
Nguyên tắc kế toán dự phòng nợ phải thu khó đòi: a)
Khi lập Báo cáo tài chính, doanh nghiệp xác định các khoản nợ phải thu khó đòi
và các khoản khác có bản chất tương tự các khoản phải thu mà có khả năng không
đòi được để trích lập hoặc hoàn nhập khoản dự phòng phải thu khó
đòi. b)
Doanh nghiệp trích lập dự phòng phải thu khó đòi khi: -
Nợ phải thu quá hạn thanh toán ghi trong hợp đồng kinh tế, các khế ước vay nợ,
bản cam kết hợp đồng hoặc cam kết nợ, doanh nghiệp đã đòi nhiều lần nhưng vẫn
chưa thu được, kể cả trường hợp không có biên bản đối chiếu công nợ hoặc đối
tượng nợ không ký xác nhận công nợ hoặc bỏ trốn, mất tích. Việc xác định thời
gian quá hạn của khoản nợ phải thu được xác định là khó đòi phải trích lập dự
phòng được căn cứ vào thời gian trả nợ gốc theo hợp đồng mua, bán ban đầu, không
tính đến việc gia hạn nợ giữa các bên. -
Nợ phải thu chưa đến thời hạn thanh toán nhưng đối tượng nợ đã lâm vào tình
trạng phá sản hoặc đang làm thủ tục giải thể, mất tích, bỏ
trốn. c)
Điều kiện, căn cứ trích lập dự phòng nợ phải thu khó đòi: Thực hiện theo quy
định của pháp luật hiện hành. d)
Việc trích lập hoặc hoàn nhập khoản dự phòng phải thu khó đòi được thực hiện ở
thời điểm lập Báo cáo tài chính. -
Trường hợp khoản dự phòng phải thu khó đòi phải lập ở cuối kỳ kế toán này lớn
hơn số dư khoản dự phòng phải thu khó đòi đang ghi trên sổ kế toán thì số chênh
lệch lớn hơn được ghi tăng dự phòng và ghi tăng chi phí quản lý doanh
nghiệp. -
Trường hợp khoản dự phòng phải thu khó đòi phải lập ở cuối kỳ kế toán này nhỏ
hơn số dư khoản dự phòng phải thu khó đòi đang ghi trên sổ kế toán thì số chênh
lệch nhỏ hơn được hoàn nhập ghi giảm dự phòng và ghi giảm chi phí quản lý doanh
nghiệp. e)
Đối với những khoản phải thu khó đòi kéo dài trong nhiều năm, doanh nghiệp đã cố
gắng dùng mọi biện pháp để thu nợ nhưng vẫn không thu được nợ và xác định đối
tượng nợ thực sự không có khả năng thanh toán thì doanh nghiệp xóa những khoản
nợ phải thu khó đòi trên sổ kế toán. Việc xóa các khoản nợ phải thu khó đòi phải
thực hiện theo quy định của pháp luật và điều lệ doanh nghiệp. Số nợ này được
theo dõi trong hệ thống quản trị của doanh nghiệp và trình bày trong thuyết minh
Báo cáo tài chính. Nếu sau khi đã xóa nợ, doanh nghiệp lại đòi được nợ đã xử lý
thì số nợ thu được sẽ hạch toán vào tài khoản 711 "Thu nhập
khác". g)
Đối với khoản tổn thất về nợ phải thu nếu đã được trích lập dự phòng nợ phải thu
khó đòi thì doanh nghiệp sử dụng số dự phòng nợ phải thu khó đòi đã trích lập để
bù đắp, trường hợp số dự phòng đã trích lập không đủ bù đắp tổn thất thì số tổn
thất còn lại được tính vào chi phí quản lý doanh nghiệp. 1.5.
Nguyên tắc kế toán dự phòng giảm giá hàng tồn kho a)
Doanh nghiệp phải trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho khi có những bằng
chứng tin cậy về sự suy giảm của giá trị thuần có thể thực hiện được so với giá
gốc của hàng tồn kho. Dự phòng là khoản dự tính trước để đưa vào chi phí sản
xuất, kinh doanh phần giá trị bị giảm xuống thấp hơn giá trị đã ghi sổ kế toán
của hàng tồn kho và nhằm bù đắp các khoản thiệt hại thực tế xảy ra do vật tư,
sản phẩm, hàng hóa tồn kho bị giảm giá. b)
Dự phòng giảm giá hàng tồn kho được lập vào thời điểm lập Báo cáo tài chính.
Việc lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho phải được thực hiện theo quy định hiện
hành. c)
Việc lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho phải tính theo từng loại vật tư, hàng
hóa, sản phẩm tồn kho. Đối với dịch vụ cung cấp dở dang, việc lập dự phòng giảm
giá hàng tồn kho phải được tính theo từng loại dịch vụ có mức giá riêng
biệt. d)
Giá trị thuần có thể thực hiện được của hàng tồn kho là giá bán ước tính của
hàng tồn kho trong kỳ sản xuất, kinh doanh bình thường trừ (-) chi phí ước tính
để hoàn thành sản phẩm và chi phí ước tính cần thiết cho việc bán
chúng. đ)
Khi lập Báo cáo tài chính, căn cứ vào số lượng, giá gốc, giá trị thuần có thể
thực hiện được của từng loại vật tư, hàng hóa, từng loại dịch vụ cung cấp dở
dang, xác định khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho phải
lập: -
Trường hợp khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho phải lập ở cuối kỳ kế toán này
lớn hơn khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho đang ghi trên sổ kế toán thì số
chênh lệch lớn hơn được ghi tăng dự phòng và ghi tăng giá vốn hàng
bán. -
Trường hợp khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho phải lập ở cuối kỳ kế toán này
nhỏ hơn khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho đang ghi trên sổ kế toán thì số
chênh lệch nhỏ hơn được hoàn nhập ghi giảm dự phòng và ghi giảm giá vốn hàng
bán. e)
Đối với khoản tổn thất hàng tồn kho nếu đã được trích lập dự phòng giảm giá hàng
tồn kho thì doanh nghiệp sử dụng số dự phòng giảm giá hàng tồn kho đã trích lập
để bù đắp, trường hợp số dự phòng đã trích lập không đủ bù đắp tổn thất thì số
tổn thất còn lại được tính vào giá vốn hàng bán. g)
Doanh nghiệp không trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho đối với nguyên vật
liệu, công cụ dụng cụ dùng cho đầu tư xây dựng cơ bản, dùng cho sản xuất sản
phẩm nếu sản phẩm do chúng góp phần cấu tạo nên sẽ được bán với giá bằng hoặc
cao hơn giá thành sản xuất của sản phẩm. 2.
Kết cấu và nội dung phản ánh của Tài khoản 229 - Dự phòng tổn thất tài
sản Bên
Nợ: -
Hoàn nhập chênh lệch giữa số dự phòng tổn thất tài sản phải lập kỳ này nhỏ hơn
số dự phòng đã trích lập kỳ trước chưa sử dụng hết; -
Bù đắp phần giá trị tổn thất của tài sản từ số dự phòng đã trích
lập. Bên
Có: Trích
lập các khoản dự phòng tổn thất tài sản tại thời điểm lập Báo cáo tài
chính. Số
dư bên Có:
Số dự phòng tổn thất tài sản hiện có cuối kỳ. Tài
khoản 229 - Dự phòng tổn thất tài sản có 4 tài khoản cấp
2 Tài
khoản 2291 - Dự phòng giảm giá chứng khoán kinh doanh:
Tài khoản này phản ánh tình hình trích lập hoặc hoàn nhập khoản dự phòng giảm
giá chứng khoán kinh doanh. Tài
khoản 2292 - Dự phòng tổn thất đầu tư vào đơn vị khác: Tài
khoản này phản ánh tình hình trích lập hoặc hoàn nhập khoản dự phòng do doanh
nghiệp nhận vốn góp đầu tư bị lỗ dẫn đến nhà đầu tư có khả năng mất vốn hoặc
khoản dự phòng do suy giảm giá trị các khoản đầu tư. Tài
khoản 2293 - Dự phòng phải thu khó đòi:
Tài khoản này phản ánh tình hình trích lập hoặc hoàn nhập khoản dự phòng các
khoản phải thu và các khoản có bản chất tương tự các khoản phải thu mà có khả
năng không thu hồi được. Tài
khoản 2294 - Dự phòng giảm giá hàng tồn kho:
Tài khoản này phản ánh tình hình trích lập hoặc hoàn nhập dự phòng giảm giá hàng
tồn kho. Điều
37. Tài khoản 241 - Xây dựng cơ bản dở dang 1.
Nguyên tắc kế toán a)
Tài khoản này phản ánh chi phí thực hiện các dự án đầu tư XDCB (bao gồm chi phí
mua sắm mới TSCĐ, xây dựng mới hoặc sửa chữa, cải tạo, mở rộng hay trang bị lại
kỹ thuật công trình) và tình hình quyết toán dự án đầu tư XDCB ở các doanh
nghiệp có tiến hành công tác mua sắm TSCĐ, đầu tư XDCB, sửa chữa lớn TSCĐ.
Công
tác đầu tư XDCB và sửa chữa lớn TSCĐ của doanh nghiệp có thể được thực hiện theo
phương thức giao thầu hoặc tự làm. Ở các doanh nghiệp tiến hành đầu tư XDCB theo
phương thức tự làm thì tài khoản này phản ánh cả chi phí phát sinh trong quá
trình xây lắp, sửa chữa. b)
Chi phí thực hiện các dự án đầu tư XDCB là toàn bộ chi phí cần thiết để xây dựng
mới hoặc sửa chữa, cải tạo, mở rộng hay trang bị lại kỹ thuật công trình được
xác định theo quy định hiện hành, đồng thời phải phù hợp những yếu tố khách quan
của thị trường trong từng thời kỳ và được thực hiện theo quy chế về quản lý đầu
tư XDCB. Chi phí đầu tư XDCB, bao gồm: -
Chi phí xây dựng; -
Chi phí thiết bị; -
Chi phí bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; -
Chi phí quản lý dự án; -
Chi phí tư vấn đầu tư xây dựng; -
Chi phí khác. Tài
khoản 241 được mở chi tiết theo từng công trình, hạng mục công trình và ở mỗi
hạng mục công trình phải được hạch toán chi tiết từng nội dung chi phí đầu tư
XDCB và được theo dõi lũy kế kể từ khi khởi công đến khi công trình, hạng mục
công trình hoàn thành bàn giao đưa vào sử dụng. c)
Khi đầu tư XDCB các chi phí xây lắp, chi phí thiết bị thường tính trực tiếp cho
từng công trình; Các chi phí quản lý dự án và chi phí khác thường được chi
chung. Chủ đầu tư phải tiến hành tính toán, phân bổ chi phí quản lý dự án và chi
phí khác cho từng công trình theo nguyên tắc: -
Nếu xác định được riêng các chi phí quản lý dự án và chi phí khác liên quan trực
tiếp đến từng công trình thì tính trực tiếp cho công trình
đó; -
Các chi phí quản lý dự án và chi phí chung có liên quan đến nhiều công trình mà
không tính trực tiếp được cho từng công trình thì đơn vị được quyền phân bổ theo
những tiêu thức phù hợp nhất với từng công trình. d)
Chi phí sửa chữa, bảo dưỡng, duy trì cho TSCĐ hoạt động bình thường được hạch
toán trực tiếp vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ. Đối với các TSCĐ theo
yêu cầu kỹ thuật phải sửa chữa, bảo trì, duy tu định kỳ mà không làm tăng giá
trị tài sản, doanh nghiệp được trích lập dự phòng phải trả và tính trước vào chi
phí sản xuất, kinh doanh để có nguồn trang trải hoặc được phân bổ dần theo quy
định khi việc sửa chữa, bảo trì phát sinh. đ)
Chủ đầu tư xây dựng bất động sản sử dụng tài khoản này để tập hợp chi phí xây
dựng TSCĐ hoặc bất động sản đầu tư. Trường hợp bất động sản xây dựng sử dụng cho
nhiều mục đích (làm văn phòng, cho thuê hoặc để bán, ví dụ như tòa nhà chung cư
hỗn hợp) thì kế toán vẫn tập hợp chi phí phát sinh liên quan trực tiếp tới việc
đầu tư xây dựng trên TK 241. Khi công trình, dự án hoàn thành bàn giao đưa vào
sử dụng, kế toán căn cứ cách thức sử dụng tài sản trong thực tế để kết chuyển
chi phí đầu tư xây dựng phù hợp với bản chất của từng loại tài sản.
e)
Đối với hoạt động XDCB dở dang mà phải thanh toán cho nhà thầu bằng ngoại tệ:
Chi phí XDCB dở dang được ghi nhận theo tỷ giá giao dịch thực tế tại thời điểm
công trình XDCB hoàn thành, nghiệm thu đưa vào sử dụng. Trường hợp doanh nghiệp
ứng trước cho nhà thầu bằng ngoại tệ thì chi phí XDCB dở dang tương ứng với số
tiền ứng trước được ghi nhận theo tỷ giá giao dịch thực tế tại thời điểm ứng
trước, chi phí XDCB dở dang tương ứng với số tiền còn lại được ghi nhận theo tỷ
giá giao dịch thực tế tại thời điểm công trình XDCB hoàn thành, nghiệm thu đưa
vào sử dụng. g)
Chênh lệch tỷ giá hối đoái phát sinh từ quá trình đầu tư xây dựng cơ bản trong
giai đoạn trước hoạt động hoặc khi doanh nghiệp đã đi vào hoạt động (kể cả việc
đầu tư mới hoặc đầu tư mở rộng) đều được tính ngay vào doanh thu hoạt động tài
chính (nếu lãi) hoặc chi phí tài chính (nếu lỗ) tại thời điểm phát sinh.
h)
Trường hợp dự án đầu tư bị hủy bỏ, doanh nghiệp phải tiến hành thanh lý và thu
hồi các chi phí đã phát sinh của dự án. Phần chênh lệch giữa chi phí đầu tư thực
tế phát sinh và số thu từ việc thanh lý được ghi nhận vào chi phí khác hoặc xác
định trách nhiệm bồi thường của tổ chức, cá nhân để thu hồi.
i)
Các chi phí khác phát sinh như chi phí lãi vay được vốn hóa, chi phí đấu thầu
(sau khi bù trừ với số tiền thu từ việc bán hồ sơ thầu), chi phí tháo dỡ hoàn
trả mặt bằng (sau khi bù trừ với số phế liệu có thể thu hồi) được hạch toán vào
chi phí xây dựng cơ bản dở dang. k)
Trường hợp hoạt động sản xuất thử không tạo ra sản phẩm thì toàn bộ chi phí chạy
thử được hạch toán vào chi phí xây dựng cơ bản dở dang; Trường hợp hoạt động sản
xuất thử tạo ra sản phẩm sản xuất thử thì toàn bộ chi phí chạy thử có tải để sản
xuất ra sản phẩm sản xuất thử được tập hợp trên TK 154 - Chi phí sản xuất, kinh
doanh dở dang, phần chênh lệch giữa chi phí sản xuất thử với số thu từ việc bán
sản phẩm sản xuất thử được hạch toán vào chi phí xây dựng cơ bản dở dang.
Tài
khoản 241 - Xây dựng cơ bản dở dang, có 3 tài khoản cấp 2:
-
Tài khoản 2411 - Mua sắm TSCĐ: Phản
ánh chi phí mua sắm TSCĐ và tình hình quyết toán chi phí mua sắm TSCĐ trong
trường hợp phải qua lắp đặt, chạy thử trước khi đưa vào sử dụng (kể cả mua TSCĐ
mới hoặc đã qua sử dụng). Nếu mua sắm TSCĐ về phải đầu tư, trang bị thêm mới sử
dụng được thì mọi chi phí mua sắm, lắp đặt và trang bị thêm cũng được phản ánh
vào tài khoản này. -
Tài khoản 2412 - Xây dựng cơ bản:
Phản ánh chi phí đầu tư XDCB và tình hình quyết toán vốn đầu tư XDCB. Tài khoản
này được mở chi tiết cho từng công trình, hạng mục công trình (theo từng đối
tượng tài sản hình thành qua đầu tư) và ở mỗi đối tượng tài sản phải theo dõi
chi tiết từng nội dung chi phí đầu tư XDCB. -
Tài khoản 2413 - Sửa chữa lớn TSCĐ: Phản
ánh chi phí sửa chữa lớn TSCĐ và tình hình quyết toán chi phí sửa chữa lớn TSCĐ.
Trường hợp sửa chữa thường xuyên TSCĐ thì không hạch toán vào tài khoản này mà
tính thẳng vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ. 2.
Kết cấu và nội dung phản ánh của Tài khoản 241 - Xây dựng cơ bản dở
dang Bên
Nợ: -
Chi phí đầu tư XDCB, mua sắm, sửa chữa lớn TSCĐ phát sinh (TSCĐ hữu hình và TSCĐ
vô hình); -
Chi phí mua sắm bất động sản đầu tư (trường hợp cần có giai đoạn đầu tư xây
dựng); -
Chi phí đầu tư XDCB bất động sản đầu tư; -
Chi phí cải tạo, nâng cấp, sửa chữa lớn TSCĐ, BĐSĐT. Bên
Có: -
Giá trị TSCĐ hình thành qua đầu tư XDCB, mua sắm đã hoàn thành đưa vào sử
dụng; -
Giá trị bất động sản đầu tư hình thành qua đầu tư XDCB đã hoàn
thành; -
Giá trị công trình bị loại bỏ và các khoản chi phí duyệt bỏ khác kết chuyển khi
quyết toán được duyệt; -
Kết chuyển chi phí cải tạo, nâng cấp, sửa chữa lớn TSCĐ, BĐSĐT phát sinh sau ghi
nhận ban đầu vào các tài khoản có liên quan khi quyết toán được duyệt.
Số
dư Nợ: -
Chi phí dự án đầu tư xây dựng và sửa chữa lớn TSCĐ, BĐSĐT dở
dang; -
Giá trị công trình xây dựng và sửa chữa lớn TSCĐ, BĐSĐTT đã hoàn thành nhưng
chưa bàn giao đưa vào sử dụng hoặc quyết toán chưa được
duyệt; -
Giá trị bất động sản đầu tư đang đầu tư xây dựng dở dang. Điều
38. Tài khoản 242 - Chi phí trả trước 1.
Nguyên tắc kế toán a)
Tài khoản này dùng để phản ánh các chi phí thực tế đã phát sinh nhưng có liên
quan đến kết quả hoạt động SXKD của nhiều kỳ kế toán và việc kết chuyển các
khoản chi phí này vào chi phí SXKD của các kỳ kế toán sau.
b)
Các nội dung được phản ánh là chi phí trả trước, gồm: -
Chi phí trả trước về thuê cơ sở hạ tầng, thuê hoạt động TSCĐ (quyền sử
dụng đất, nhà xưởng, kho bãi, văn phòng làm việc, cửa hàng và TSCĐ khác)
phục vụ cho sản xuất, kinh doanh nhiều kỳ kế toán. -
Chi phí thành lập doanh nghiệp, chi phí đào tạo, quảng cáo phát sinh trong giai
đoạn trước hoạt động có giá trị lớn được phân bổ theo quy định của pháp luật
hiện hành; -
Chi phí mua bảo hiểm (bảo hiểm cháy, nổ, bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ phương
tiện vận tải, bảo hiểm thân xe, bảo hiểm tài sản,...) và các loại lệ phí mà
doanh nghiệp mua và trả một lần cho nhiều kỳ kế toán; -
Công cụ, dụng cụ, bao bì luân chuyển, đồ dùng cho thuê liên quan đến hoạt động
kinh doanh trong nhiều kỳ kế toán; -
Lãi tiền vay trả trước cho nhiều kỳ kế toán; -
Chi phí sửa chữa TSCĐ phát sinh một lần có giá trị lớn doanh nghiệp không thực
hiện trích trước chi phí sửa chữa lớn TSCĐ phân bổ theo quy định của pháp luật
hiện hành; -
Chi phí nghiên cứu và chi phí cho giai đoạn triển khai không đủ tiêu chuẩn ghi
nhận là TSCĐ vô hình nếu được phân bổ dần theo quy định của pháp luật hiện hành;
-
Các khoản chi phí trả trước khác phục vụ cho hoạt động kinh doanh của nhiều kỳ
kế toán. c)
Việc tính và phân bổ chi phí trả trước vào chi phí SXKD từng kỳ kế toán phải căn
cứ vào tính chất, mức độ từng loại chi phí để lựa chọn phương pháp và tiêu thức
hợp lý. d)
Kế toán phải theo dõi chi tiết từng khoản chi phí trả trước theo từng kỳ hạn trả
trước đã phát sinh, đã phân bổ vào các đối tượng chịu chi phí của từng kỳ kế
toán và số còn lại chưa phân bổ vào chi phí. đ)
Đối với các khoản chi phí trả trước bằng ngoại tệ, trường hợp tại thời điểm lập
báo cáo có bằng chứng chắc chắn về việc người bán không thể cung cấp hàng hóa,
dịch vụ và doanh nghiệp sẽ chắc chắn nhận lại các khoản trả trước bằng ngoại tệ
thì được coi là các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ và phải đánh giá lại theo
tỷ giá chuyển khoản trung bình của ngân hàng thương mại nơi doanh nghiệp thường
xuyên có giao dịch tại thời điểm báo cáo. Việc
xác định tỷ giá chuyển khoản trung bình và xử lý chênh lệch tỷ giá do đánh giá
lại chi phí trả trước là khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ được thực hiện theo
quy định tại Điều 52 Thông tư này. 2.
Kết cấu và nội dung phản ánh của Tài khoản 242 - Chi phí trả
trước Bên
Nợ:
Các khoản chi phí trả trước phát sinh trong kỳ. Bên
Có:
Các khoản chi phí trả trước đã tính vào chi phí SXKD trong
kỳ. Số
dư bên Nợ:
Các khoản chi phí trả trước chưa tính vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ.
Điều
39. Nguyên tắc kế toán nợ phải trả
1.
Các khoản nợ phải trả được theo dõi chi tiết theo kỳ hạn phải trả, đối tượng
phải trả, loại nguyên tệ phải trả và các yếu tố khác theo nhu cầu quản lý của
doanh nghiệp. 2.
Việc phân loại các khoản phải trả là phải trả người bán, phải trả nội bộ, phải
trả khác được thực hiện theo nguyên tắc: a)
Phải trả người bán gồm các khoản phải trả mang tính chất thương mại phát sinh từ
giao dịch mua hàng hóa, dịch vụ, tài sản. Khoản phải trả này gồm cả các khoản
phải trả khi nhập khẩu thông qua người nhận ủy thác (trong giao dịch nhập khẩu
ủy thác); b)
Phải trả nội bộ gồm các khoản phải trả giữa đơn vị cấp trên và đơn vị cấp dưới
trực thuộc hạch toán phụ thuộc; c)
Phải trả khác gồm các khoản phải trả không có tính thương mại, không liên quan
đến giao dịch mua, bán, cung cấp hàng hóa dịch vụ: -
Các khoản phải trả liên quan đến chi phí tài chính, như: khoản phải trả về lãi
vay, cổ tức và lợi nhuận phải trả, chi phí hoạt động đầu tư tài chính phải
trả; -
Các khoản phải trả do bên thứ ba chi hộ; Các khoản tiền bên nhận ủy thác nhận
của các bên liên quan để thanh toán theo chỉ định trong giao dịch ủy thác xuất
nhập khẩu; -
Các khoản phải trả không mang tính thương mại như phải trả do mượn tài sản phi
tiền tệ, phải trả về tiền phạt, bồi thường, tài sản thừa chờ xử lý, phải trả về
các khoản BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ, KPCĐ… 3.
Khi lập Báo cáo tài chính, kế toán căn cứ kỳ hạn còn lại của các khoản phải trả
để phân loại là dài hạn hoặc ngắn hạn. 4.
Đối với các khoản phải trả bằng ngoại tệ, doanh nghiệp phải theo dõi chi tiết
các khoản nợ phải trả theo từng loại nguyên tệ, từng đối tượng thanh toán và
thực hiện theo nguyên tắc: -
Khi phát sinh các khoản nợ phải trả (bên Có các Tài khoản phải trả), kế toán
phải quy đổi ra đồng tiền ghi sổ kế toán theo tỷ giá giao dịch thực tế tại thời
điểm phát sinh. Riêng
trường hợp ứng trước tiền cho người bán bằng ngoại tệ thì khi ghi nhận giá trị
tài sản mua về hoặc chi phí phát sinh, bên Có Tài khoản 331 tương ứng với số
tiền ứng trước được ghi nhận theo tỷ giá ghi sổ thực tế đích danh tại thời điểm
ứng trước. -
Khi thanh toán nợ phải trả (bên Nợ các Tài khoản phải trả), doanh nghiệp được
lựa chọn tỷ giá ghi sổ bình quân gia quyền cho từng đối tượng phải trả hoặc tỷ
giá giao dịch thực tế tại thời điểm trả nợ. Riêng
trường hợp ứng trước tiền cho người bán thì bên Nợ Tài khoản 331 áp dụng tỷ giá
giao dịch thực tế tại thời điểm ứng trước. -
Trường hợp doanh nghiệp sử dụng tỷ giá giao dịch thực tế để hạch toán bên Nợ các
tài khoản phải trả, khoản chênh lệch tỷ giá hối đoái phát sinh trong kỳ được ghi
nhận ngay tại thời điểm phát sinh giao dịch hoặc ghi nhận định kỳ tùy theo đặc
điểm hoạt động sản xuất kinh doanh và yêu cầu quản lý của doanh nghiệp.
-
Tại thời điểm lập Báo cáo tài chính, doanh nghiệp phải đánh giá lại các khoản
phải trả là khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ theo tỷ giá chuyển khoản trung
bình cuối kỳ của ngân hàng thương mại nơi doanh nghiệp thường xuyên có giao
dịch. Việc
xác định tỷ giá chuyển khoản trung bình và xử lý chênh lệch tỷ giá do đánh giá
lại khoản nợ phải trả là khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ được thực hiện theo
quy định tại Điều 52 Thông tư này. Điều
40. Tài khoản 331 - Phải trả người bán 1.
Nguyên tắc kế toán a)
Tài khoản này dùng để phản ánh tình hình thanh toán về các khoản nợ phải trả của
doanh nghiệp cho người bán vật tư, hàng hóa, người cung cấp dịch vụ, người bán
TSCĐ, BĐSĐT, các khoản đầu tư tài chính theo hợp đồng kinh tế đã ký kết. Tài
khoản này cũng được dùng để phản ánh tình hình thanh toán về các khoản nợ phải
trả cho người nhận thầu xây lắp chính, phụ. Không phản ánh vào tài khoản này các
nghiệp vụ mua trả tiền ngay. b)
Nợ phải trả cho người bán, người cung cấp, người nhận thầu xây lắp cần được hạch
toán chi tiết cho từng đối tượng phải trả. Trong chi tiết từng đối tượng phải
trả, tài khoản này phản ánh cả số tiền đã ứng trước cho người bán, người cung
cấp, người nhận thầu xây lắp nhưng chưa nhận được sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ,
khối lượng xây lắp hoàn thành bàn giao. c)
Bên giao nhập khẩu ủy thác ghi nhận trên tài khoản này số tiền phải trả người
bán về hàng nhập khẩu thông qua bên nhận nhập khẩu ủy thác như khoản phải trả
người bán thông thường. d)
Những vật tư, hàng hóa, dịch vụ đã nhận, nhập kho nhưng đến cuối kỳ vẫn chưa có
hóa đơn thì sử dụng giá tạm tính để ghi sổ và phải điều chỉnh về giá thực tế khi
nhận được hóa đơn hoặc thông báo giá chính thức của người
bán. đ)
Khi hạch toán chi tiết các khoản này, kế toán phải hạch toán rõ ràng, rành mạch
các khoản chiết khấu thanh toán, chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán của
người bán, người cung cấp nếu chưa được phản ánh trong hóa đơn mua
hàng. 2.
Kết cấu và nội dung phản ánh của Tài khoản 331 - Phải trả cho người
bán Bên
Nợ: -
Số tiền đã trả cho người bán vật tư, hàng hóa, người cung cấp dịch vụ, người
nhận thầu xây lắp; -
Số tiền ứng trước cho người bán, người cung cấp, người nhận thầu xây lắp nhưng
chưa nhận được vật tư, hàng hóa, dịch vụ, khối lượng sản phẩm xây lắp hoàn thành
bàn giao; -
Số tiền người bán chấp thuận giảm giá hàng hóa hoặc dịch vụ đã giao theo hợp
đồng; -
Chiết khấu thanh toán và chiết khấu thương mại được người bán chấp thuận cho
doanh nghiệp giảm trừ vào khoản nợ phải trả cho người bán; -
Giá trị vật tư, hàng hóa thiếu hụt, kém phẩm chất khi kiểm nhận và trả lại người
bán; -
Điều chỉnh số chênh lệch giữa giá tạm tính lớn hơn giá thực tế của số vật tư,
hàng hóa, dịch vụ đã nhận, khi có hóa đơn hoặc thông báo giá chính
thức; -
Đánh giá lại các khoản phải trả cho người bán là khoản mục tiền tệ có gốc ngoại
tệ (trường hợp tỷ giá ngoại tệ giảm so với tỷ giá ghi sổ kế
toán). Bên
Có: -
Số tiền phải trả cho người bán vật tư, hàng hóa, người cung cấp dịch vụ và người
nhận thầu xây lắp; -
Điều chỉnh số chênh lệch giữa giá tạm tính nhỏ hơn giá thực tế của số vật tư,
hàng hóa, dịch vụ đã nhận, khi có hóa đơn hoặc thông báo giá chính
thức; -
Đánh giá lại các khoản phải trả cho người bán là khoản mục tiền tệ có gốc ngoại
tệ (trường hợp tỷ giá ngoại tệ tăng so với tỷ giá ghi sổ kế
toán). Số
dư bên Có:
Số tiền còn phải trả cho người bán hàng, người cung cấp dịch vụ, người nhận thầu
xây lắp. Tài
khoản này có thể có số dư bên Nợ:
Số dư bên Nợ (nếu có) phản ánh số tiền đã ứng trước cho người bán hoặc số tiền
đã trả nhiều hơn số phải trả cho người bán theo chi tiết của từng đối tượng cụ
thể. Khi lập Báo cáo tình hình tài chính, phải lấy số dư chi tiết của từng đối
tượng phản ánh ở tài khoản này để ghi 2 chỉ tiêu bên “Tài sản” và bên “Nguồn
vốn”. Điều
41. Tài khoản 333 - Thuế và các khoản phải nộp nhà
nước 1.
Nguyên tắc kế toán 1.1.
Tài khoản này dùng để phản ánh quan hệ giữa doanh nghiệp với Nhà nước về các
khoản thuế, phí, lệ phí và các khoản khác phải nộp, đã nộp, còn phải nộp vào
Ngân sách Nhà nước trong kỳ kế toán năm. 1.2.
Doanh nghiệp chủ động tính, xác định và kê khai số thuế, phí, lệ phí và các
khoản phải nộp cho Nhà nước theo luật định; Kịp thời phản ánh vào sổ kế toán số
thuế phải nộp, đã nộp, được khấu trừ, được hoàn... 1.3.
Các khoản thuế gián thu như thuế GTGT (kể cả theo phương pháp khấu trừ hay
phương pháp trực tiếp), thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu, thuế bảo vệ môi
trường và các loại thuế gián thu khác về bản chất là khoản thu hộ bên thứ ba. Vì
vậy các khoản thuế gián thu được loại trừ ra khỏi số liệu về doanh thu gộp trên
Báo cáo tài chính hoặc các báo cáo khác. Doanh
nghiệp có thể lựa chọn việc ghi nhận doanh thu và số thuế gián thu phải nộp trên
sổ kế toán bằng một trong 2 phương pháp: -
Tách và ghi nhận riêng số thuế gián thu phải nộp (kể cả thuế GTGT phải nộp theo
phương pháp trực tiếp) ngay tại thời điểm ghi nhận doanh thu. Theo phương pháp
này doanh thu ghi trên sổ kế toán không bao gồm số thuế gián thu phải nộp, phù
hợp với số liệu về doanh thu gộp trên Báo cáo tài chính và phản ánh đúng bản
chất giao dịch; -
Ghi nhận số thuế gián thu phải nộp bằng cách ghi giảm số doanh thu đã ghi chép
trên sổ kế toán. Theo phương pháp này, định kỳ mới ghi giảm doanh thu đối với số
thuế gián thu phải nộp, số liệu về doanh thu trên sổ kế toán có sự khác biệt so
với doanh thu gộp trên Báo cáo tài chính. Trong
mọi trường hợp, chỉ tiêu “Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ” và chỉ tiêu
“Các khoản giảm trừ doanh thu” của báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh đều
không bao gồm các khoản thuế gián thu phải nộp. 1.4.
Các doanh nghiệp nhập khẩu hoặc mua nội địa hàng hóa, TSCĐ thuộc diện chịu thuế
NK, TTĐB, BVMT được ghi nhận số thuế phải nộp vào giá gốc hàng mua. Trường hợp
doanh nghiệp nhập khẩu hàng hộ nhưng không có quyền sở hữu hàng hóa, ví dụ giao
dịch tạm nhập - tái xuất hộ bên thứ ba thì số thuế NK, TTĐB, BVMT phải nộp không
được ghi nhận vào giá trị hàng hóa mà được ghi nhận là khoản phải thu
khác. Số
thuế tài nguyên phải nộp NSNN được hạch toán vào chi phí sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp. Tiền thuê đất, thuế nhà đất phải nộp được tính vào chi phí quản lý
doanh nghiệp. Thuế
GTGT, TTĐB, BVMT của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng nội bộ, cho, biếu,
tặng, khuyến mại, quảng cáo không thu tiền được hạch toán vào chi phí bán hàng
hoặc chi phí quản lý doanh nghiệp tùy theo từng trường hợp cụ
thể. 1.5.
Đối với các khoản thuế được hoàn, được giảm, kế toán phải phân biệt rõ số thuế
được hoàn, được giảm là số thuế đã nộp ở khâu mua hay phải nộp ở khâu bán và
thực hiện theo nguyên tắc: -
Thuế NK, TTĐB, BVMT đã nộp khi nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ, nếu được hoàn ghi
giảm giá vốn hàng bán (nếu xuất hàng để bán) hoặc giảm giá trị hàng tồn kho (nếu
xuất trả lại do vay, mượn…); -
Thuế NK, TTĐB, BVMT đã nộp khi nhập khẩu TSCĐ, nếu được hoàn ghi giảm chi phí
khác (nếu bán TSCĐ) hoặc giảm nguyên giá TSCĐ (nếu xuất trả
lại); -
Thuế NK, TTĐB, BVMT đã nộp khi nhập khẩu hàng hóa, TSCĐ nhưng đơn vị không có
quyền sở hữu, khi được hoàn ghi giảm khoản phải thu khác. -
Thuế XK, TTĐB, BVMT phải nộp khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ nhưng sau đó
được hoàn, được giảm thì kế toán ghi nhận vào thu nhập
khác. -
Thuế GTGT đầu vào được hoàn ghi giảm số thuế GTGT được khấu trừ. Số thuế GTGT
phải nộp được giảm ghi nhận vào thu nhập khác. 1.6.
Nghĩa vụ đối với NSNN trong giao dịch ủy thác xuất - nhập
khẩu: -
Trong giao dịch ủy thác xuất nhập khẩu (hoặc các giao dịch tương tự), nghĩa vụ
đối với NSNN được xác định là của bên giao ủy thác; -
Bên nhận ủy thác được xác định là bên cung cấp dịch vụ cho bên giao ủy thác
trong việc chuẩn bị hồ sơ, kê khai, thanh quyết toán với NSNN (người nộp thuế hộ
cho bên giao ủy thác). -
TK 333 chỉ sử dụng tại bên giao ủy thác, không sử dụng tại bên nhận ủy thác. Bên
nhận ủy thác với vai trò trung gian chỉ phản ánh số thuế phải nộp vào NSNN là
khoản chi hộ, trả hộ trên TK 3388 và phản ánh quyền được nhận lại số tiền đã chi
hộ, trả hộ cho bên giao ủy thác trên TK 138. Căn cứ để phản ánh tình hình thực
hiện nghĩa vụ với NSNN của bên giao ủy thác như sau: +
Khi nhận được thông báo về số thuế phải nộp, bên nhận ủy thác bàn giao lại cho
bên giao ủy thác toàn bộ hồ sơ, tài liệu, thông báo của cơ quan có thẩm quyền về
số thuế phải nộp làm căn cứ ghi nhận số thuế phải nộp trên TK
333. +
Căn cứ chứng từ nộp tiền vào NSNN của bên nhận ủy thác, bên giao ủy thác phản
ánh giảm số phải nộp NSNN. 1.7.
Kế toán phải mở sổ chi tiết theo dõi từng khoản thuế, phí, lệ phí và các khoản
phải nộp, đã nộp và còn phải nộp. 2.
Kết cấu và nội dung phản ánh của Tài khoản 333 - Thuế và các khoản phải nộp nhà
nước Bên
Nợ: -
Số thuế GTGT đã được khấu trừ trong kỳ; -
Số thuế, phí, lệ phí và các khoản khác đã nộp vào Ngân sách Nhà
nước; -
Số thuế được giảm trừ vào số thuế phải nộp; -
Số thuế GTGT của hàng bán bị trả lại, bị giảm giá. Bên
Có: -
Số thuế GTGT đầu ra và số thuế GTGT hàng nhập khẩu phải
nộp; -
Số thuế, phí, lệ phí và các khoản khác phải nộp vào Ngân sách Nhà
nước. Số
dư bên Có: Số
thuế, phí, lệ phí và các khoản khác còn phải nộp vào Ngân sách Nhà
nước. TK
333 có thể có số dư bên Nợ:
Số dư bên Nợ (nếu có) của TK 333 phản ánh số thuế và các khoản đã nộp lớn hơn số
thuế và các khoản phải nộp cho Nhà nước, hoặc có thể phản ánh số thuế đã nộp
được xét miễn, giảm hoặc cho thoái thu nhưng chưa thực hiện việc thoái thu.
Tài
khoản 333 - Thuế và các khoản phải nộp Nhà nước, có 9 tài khoản cấp
2: -
Tài khoản 3331 - Thuế giá trị gia tăng phải nộp:
Phản ánh số thuế GTGT đầu ra, số thuế GTGT của hàng nhập khẩu phải nộp, số thuế
GTGT đã được khấu trừ, số thuế GTGT đã nộp và còn phải nộp vào Ngân sách Nhà
nước. Tài
khoản 3331 có 2 tài khoản cấp 3:
+
Tài khoản 33311 - Thuế giá trị gia tăng đầu ra:
Dùng để phản ánh số thuế GTGT đầu ra, số thuế GTGT đầu vào đã khấu trừ, số thuế
GTGT của hàng bán bị trả lại, bị giảm giá, số thuế GTGT phải nộp, đã nộp, còn
phải nộp của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ tiêu thụ trong kỳ.
+
Tài khoản 33312 - Thuế GTGT hàng nhập khẩu: Dùng
để phản ánh số thuế GTGT của hàng nhập khẩu phải nộp, đã nộp, còn phải nộp vào
Ngân sách Nhà nước. -
Tài khoản 3332 - Thuế tiêu thụ đặc biệt:
Phản ánh số thuế tiêu thụ đặc biệt phải nộp, đã nộp và còn phải nộp vào Ngân
sách Nhà nước -
Tài khoản 3333 - Thuế xuất, nhập khẩu:
Phản ánh số thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu phải nộp, đã nộp và còn phải nộp vào
Ngân sách Nhà nước. -
Tài khoản 3334 - Thuế thu nhập doanh nghiệp:
Phản ánh số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp, đã nộp và còn phải nộp vào Ngân
sách Nhà nước. -
Tài khoản 3335 - Thuế thu nhập cá nhân:
Phản ánh số thuế thu nhập cá nhân phải nộp, đã nộp và còn phải nộp vào Ngân sách
Nhà nước. -
Tài khoản 3336 - Thuế tài nguyên:
Phản ánh số thuế tài nguyên phải nộp, đã nộp và còn phải nộp vào Ngân sách Nhà
nước. -
Tài khoản 3337 - Thuế nhà đất, tiền thuê đất:
Phản ánh số thuế nhà đất, tiền thuê đất phải nộp, đã nộp và còn phải nộp vào
Ngân sách Nhà nước. -
Tài khoản 3338 - Thuế bảo vệ môi trường và các loại thuế khác:
Phản ánh số phải nộp, đã nộp và còn phải nộp vào Ngân sách Nhà nước về thuế bảo
vệ môi trường và các loại thuế khác, như: Thuế môn bài, thuế nhà thầu nước
ngoài... TK
3338 có 2 tài khoản cấp 3: +
TK 33381: Thuế bảo vệ môi trường:
Phản ánh số thuế bảo vệ môi trường phải nộp, đã nộp và còn phải nộp vào
NSNN; +
TK 33382: Các loại thuế khác:
Phản ánh số phải nộp, đã nộp, còn phải nộp các loại thuế khác. Doanh nghiệp được
chủ động mở các TK cấp 4 chi tiết cho từng loại thuế phù hợp với yêu cầu quản
lý. -
Tài khoản 3339 - Phí, lệ phí và các khoản phải nộp khác:
Phản ánh số phải nộp, đã nộp và còn phải nộp về các khoản phí, lệ phí, các khoản
phải nộp khác cho Nhà nước ngoài các khoản đã phản ánh vào các tài khoản từ 3331
đến 3338. Tài khoản này còn phản ánh các khoản Nhà nước trợ cấp cho doanh nghiệp
(nếu có) như các khoản trợ cấp, trợ giá. Điều
42. Tài khoản 334 - Phải trả người lao động 1.
Nguyên tắc kế toán Tài
khoản này dùng để phản ánh các khoản phải trả và tình hình thanh toán các khoản
phải trả cho người lao động của doanh nghiệp về tiền lương, tiền công, tiền
thưởng, bảo hiểm xã hội và các khoản phải trả khác thuộc về thu nhập của người
lao động. 2.
Kết cấu và nội dung phản ánh của Tài khoản 334 - Phải trả người lao
động Bên
Nợ: -
Các khoản tiền lương, tiền công, tiền thưởng có tính chất lương, bảo hiểm xã hội
và các khoản khác đã trả, đã chi, đã ứng trước cho người lao
động; -
Các khoản khấu trừ vào tiền lương, tiền công của người lao
động. Bên
Có:
Các khoản tiền lương, tiền công, tiền thưởng có tính chất lương, bảo hiểm xã hội
và các khoản khác phải trả, phải chi cho người lao động; Số
dư bên Có: Các
khoản tiền lương, tiền công, tiền thưởng có tính chất lương và các khoản khác
còn phải trả cho người lao động. Tài
khoản 334 có thể có số dư bên Nợ. Số dư bên Nợ tài khoản 334 (nếu có) phản ánh
số tiền đã trả lớn hơn số phải trả về tiền lương, tiền công, tiền thưởng và các
khoản khác cho người lao động. Điều
43. Tài khoản 335 - Chi phí phải trả 1.
Nguyên tắc kế toán a)
Tài khoản này dùng để phản ánh các khoản phải trả cho hàng hóa, dịch vụ đã nhận
được từ người bán trong kỳ báo cáo nhưng thực tế chưa chi trả do chưa có hóa đơn
hoặc chưa đủ hồ sơ, tài liệu kế toán, được ghi nhận vào chi phí sản xuất, kinh
doanh của kỳ báo cáo. Tài
khoản này còn phản ánh cả các khoản phải trả cho người lao động trong kỳ như
phải trả về tiền lương nghỉ phép và các khoản chi phí sản xuất, kinh doanh của
kỳ báo cáo phải trích trước, như: -
Chi phí trong thời gian doanh nghiệp ngừng sản xuất theo mùa, vụ mà doanh nghiệp
có thể xây dựng được kế hoạch ngừng sản xuất. Kế toán tiến hành tính trước và
hạch toán vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ những chi phí sẽ phải chi
trong thời gian ngừng sản xuất, kinh doanh. -
Trích trước chi phí lãi tiền vay phải trả trong trường hợp vay trả lãi
sau. b)
Kế toán phải phân biệt các khoản chi phí phải trả (hay còn được gọi là chi phí
trích trước hoặc chi phí dồn tích) với các khoản dự phòng phải trả được phản ánh
trên tài khoản 352 để ghi nhận và trình bày Báo cáo tài chính phù hợp với bản
chất của từng khoản mục, cụ thể: -
Các khoản dự phòng phải trả là nghĩa vụ nợ hiện tại nhưng thường chưa xác định
được thời gian thanh toán cụ thể; Các khoản chi phí phải trả là nghĩa vụ nợ hiện
tại chắc chắn về thời gian phải thanh toán; -
Các khoản dự phòng phải trả thường được ước tính và có thể chưa xác định được
chắc chắn số sẽ phải trả (ví dụ khoản chi phí dự phòng bảo hành sản phẩm, hàng
hóa, công trình xây dựng); Các khoản chi phí phải trả xác định được chắc chắn số
sẽ phải trả; -
Trên Báo cáo tài chính, các khoản dự phòng phải trả được trình bày tách biệt với
các khoản phải trả thương mại và phải trả khác trong khi chi phí phải trả là một
phần của các khoản phải trả thương mại hoặc phải trả khác. -
Việc hạch toán các khoản chi phí phải trả vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong
kỳ phải thực hiện theo nguyên tắc phù hợp giữa doanh thu và chi phí phát sinh
trong kỳ. Các khoản phải trả chưa phát sinh do chưa nhận hàng hóa, dịch vụ nhưng
được tính trước vào chi phí sản xuất, kinh doanh kỳ này để đảm bảo khi phát sinh
thực tế không gây đột biến cho chi phí sản xuất, kinh doanh được phản ánh là dự
phòng phải trả. c)
Các khoản trích trước không được phản ánh vào tài khoản 335 mà được phản ánh là
dự phòng phải trả, như: -
Chi phí sửa chữa lớn của những TSCĐ đặc thù do việc sửa chữa lớn có tính chu kỳ,
doanh nghiệp được phép trích trước chi phí sửa chữa cho năm báo cáo hoặc một số
năm tiếp theo; -
Dự phòng bảo hành sản phẩm, hàng hóa, công trình xây dựng; -
Các khoản dự phòng phải trả khác (quy định trong TK 352). d)
Về nguyên tắc, các khoản chi phí phải trả phải được quyết toán với số chi phí
thực tế phát sinh. Số chênh lệch giữa số trích trước và chi phí thực tế phải
được hoàn nhập. đ)
Việc vốn hóa lãi vay trong một số trường hợp cụ thể như
sau: -
Đối với khoản vay riêng phục vụ việc xây dựng TSCĐ, BĐSĐT, lãi vay được vốn hóa
kể cả khi thời gian xây dựng dưới 12 tháng; -
Nhà thầu không vốn hóa lãi vay khi đi vay để phục vụ việc thi công, xây dựng
công trình, tài sản cho khách hàng, kể cả trường hợp đối với khoản vay riêng, ví
dụ: Nhà thầu xây lắp vay tiền để thi công xây dựng công trình cho khách hàng,
công ty đóng tàu theo hợp đồng cho chủ tàu... 2.
Kết cấu và nội dung phản ánh của Tài khoản 335 - Chi phí phải
trả Bên
Nợ: -
Các khoản chi trả thực tế phát sinh đã được tính vào chi phí phải
trả; -
Số chênh lệch về chi phí phải trả lớn hơn số chi phí thực tế được ghi giảm chi
phí. Bên
Có: Chi
phí phải trả dự tính trước và ghi nhận vào chi phí sản xuất, kinh
doanh. Số
dư bên Có: Chi
phí phải trả đã tính vào chi phí sản xuất, kinh doanh nhưng thực tế chưa phát
sinh. Điều
44. Tài khoản 336 - Phải trả nội bộ 1.
Nguyên tắc kế toán a)
Tài khoản này dùng để phản ánh tình hình thanh toán các khoản phải trả giữa
doanh nghiệp (đơn vị cấp trên) với các đơn vị trực thuộc hạch toán phụ thuộc có
tổ chức công tác kế toán (đơn vị cấp dưới); Giữa các đơn vị hạch toán phụ thuộc
của cùng một doanh nghiệp với nhau. Trong
doanh nghiệp, việc phân loại các đơn vị cấp dưới trực thuộc cho mục đích kế toán
được căn cứ vào bản chất của đơn vị (hạch toán độc lập hay hạch toán phụ thuộc,
có tư cách pháp nhân hay không, có người đại diện trước pháp luật hay không) mà
không phụ thuộc vào tên gọi của đơn vị đó (chi nhánh, xí nghiệp, tổ,
đội...). b)
Các khoản phải trả nội bộ phản ánh trên tài khoản 336 "Phải trả nội bộ" bao gồm
khoản phải trả về vốn kinh doanh và các khoản đơn vị hạch toán phụ thuộc phải
nộp doanh nghiệp, phải trả đơn vị hạch toán phụ thuộc khác; Các khoản doanh
nghiệp phải cấp cho đơn vị hạch toán phụ thuộc. Các khoản phải trả, phải nộp có
thể là quan hệ nhận tài sản, vốn, thanh toán vãng lai, chi hộ trả hộ,
...; c)
Tùy theo việc phân cấp quản lý và đặc điểm hoạt động, doanh nghiệp quyết định
đơn vị hạch toán phụ thuộc ghi nhận khoản vốn kinh doanh được doanh nghiệp cấp
vào TK 3361 - Phải trả nội bộ về vốn kinh doanh hoặc TK 411 - Vốn đầu tư của chủ
sở hữu. d)
Tài khoản 336 "Phải trả nội bộ" được hạch toán chi tiết cho từng đơn vị nội bộ
có quan hệ thanh toán, trong đó được theo dõi theo từng khoản phải nộp, phải
trả. đ)
Cuối kỳ, kế toán tiến hành kiểm tra, đối chiếu tài khoản 136, tài khoản 336 giữa
các đơn vị nội bộ theo từng nội dung thanh toán để lập biên bản thanh toán bù
trừ với từng đơn vị làm căn cứ hạch toán bù trừ trên 2 tài khoản này. Khi đối
chiếu, nếu có chênh lệch, phải tìm nguyên nhân và điều chỉnh kịp
thời. 2.
Kết cấu và nội dung phản ánh của Tài khoản 336 - Phải trả nội
bộ Bên
Nợ: -
Số tiền đã trả cho đơn vị hạch toán phụ thuộc; -
Số tiền đơn vị hạch toán phụ thuộc đã nộp doanh nghiệp; -
Số tiền đã trả các khoản mà các đơn vị nội bộ chi hộ, hoặc thu hộ đơn vị nội
bộ; -
Bù trừ các khoản phải thu với các khoản phải trả của cùng một đơn vị có quan hệ
thanh toán. Bên
Có: -
Số vốn kinh doanh của đơn vị hạch toán phụ thuộc được doanh nghiệp
cấp; -
Số tiền đơn vị hạch toán phụ thuộc phải nộp doanh nghiệp; -
Số tiền phải trả cho đơn vị hạch toán phụ thuộc; -
Số tiền phải trả cho các đơn vị khác trong nội bộ về các khoản đã được đơn vị
khác chi hộ và các khoản thu hộ đơn vị khác. Số
dư bên Có:
Số tiền còn phải trả, phải nộp cho doanh nghiệp và các đơn vị trong nội bộ doanh
nghiệp. Tài
khoản 336 - Phải trả nội bộ, có 2 tài khoản cấp 2: -
Tài khoản 3361 - Phải trả nội bộ về vốn kinh doanh: Tài
khoản này chỉ mở ở đơn vị cấp dưới hạch toán phụ thuộc để phản ánh số vốn kinh
doanh được đơn vị cấp trên giao. -
Tài khoản 3368 - Phải trả nội bộ khác: Phản
ánh tất cả các khoản phải trả khác giữa các đơn vị nội bộ trong cùng một doanh
nghiệp. Điều
45. Tài khoản 338 - Phải trả, phải nộp khác 1.
Nguyên tắc kế toán a)
Tài khoản này dùng để phản ánh tình hình thanh toán về các khoản phải trả, phải
nộp ngoài nội dung đã phản ánh ở các tài khoản khác thuộc nhóm TK 33 (từ TK 331
đến TK 336). Tài khoản này cũng được dùng để hạch toán doanh thu nhận trước về
các dịch vụ đã cung cấp cho khách hàng. b)
Nội dung và phạm vi phản ánh của tài khoản này gồm các nghiệp vụ chủ yếu
sau: -
Giá trị tài sản thừa chưa xác định rõ nguyên nhân, còn chờ quyết định xử lý của
cấp có thẩm quyền; Giá trị tài sản thừa phải trả cho cá nhân, tập thể (trong và
ngoài đơn vị) theo quyết định của cấp có thẩm quyền ghi trong biên bản xử lý,
nếu đã xác định được nguyên nhân; -
Số tiền trích và thanh toán bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất
nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động và kinh phí công đoàn; -
Các khoản khấu trừ vào tiền lương của công nhân viên theo quyết định của tòa
án; -
Các khoản lợi nhuận, cổ tức phải trả cho các chủ sở hữu; -
Vật tư, hàng hóa vay, mượn, các khoản nhận vốn góp hợp đồng hợp tác kinh doanh
(BCC) không hình thành pháp nhân mới; -
Các khoản thu hộ bên thứ ba phải trả lại, các khoản tiền bên nhận ủy thác nhận
từ bên giao ủy thác để nộp các loại thuế xuất, nhập khẩu, thuế GTGT hàng nhập
khẩu và để thanh toán hộ cho bên giao ủy thác; -
Số tiền thu trước của khách hàng trong nhiều kỳ kế toán về cho thuê tài sản, cơ
sở hạ tầng, khoản lãi nhận trước khi cho vay vốn hoặc mua các công cụ nợ (gọi là
doanh thu nhận trước); Các khoản doanh thu, thu nhập chưa thực
hiện. -
Khoản chênh lệch giữa giá bán trả chậm, trả góp theo cam kết với giá bán trả
ngay. -
Các khoản nhận cầm cố, ký cược, ký quỹ của tổ chức, cá nhân
khác. -
Các khoản phải trả, phải nộp khác như phải trả để mua bảo hiểm hưu trí tự
nguyện, bảo hiểm nhân thọ và các khoản hỗ trợ khác (ngoài lương) cho người lao
động... c)
Kế toán nhận ký quỹ, ký cược phải theo dõi chi tiết từng khoản tiền nhận ký quỹ,
ký cược của từng khách hàng theo kỳ hạn và theo từng loại nguyên tệ (nếu có).
Các khoản nhận ký cược, ký quỹ phải trả có kỳ hạn còn lại không quá 12 tháng
được trình bày là nợ ngắn hạn, các khoản có kỳ hạn trên 12 tháng được trình bày
là nợ dài hạn. 2.
Kết cấu và nội dung phản ánh của Tài khoản 338 - Phải trả, phải nộp
khác Bên
Nợ: -
Kết chuyển giá trị tài sản thừa vào các tài khoản liên quan theo quyết định ghi
trong biên bản xử lý; -
Kinh phí công đoàn chi tại đơn vị; -
Số BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ, KPCĐ đã nộp cho cơ quan quản lý quỹ bảo hiểm xã
hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và kinh phí công
đoàn; -
Doanh thu chưa thực hiện tính cho từng kỳ kế toán; trả lại tiền nhận trước cho
khách hàng khi không tiếp tục thực hiện việc cho thuê tài
sản; -
Số phân bổ khoản chênh lệch giữa giá bán trả chậm, trả góp theo cam kết với giá
bán trả tiền ngay (lãi trả chậm) vào doanh thu hoạt động tài
chính; -
Hoàn trả tiền nhận ký cược, ký quỹ; -
Các khoản đã trả và đã nộp khác; -
Đánh giá lại các khoản phải trả, phải nộp khác là khoản mục tiền tệ có gốc ngoại
tệ (trường hợp tỷ giá ngoại tệ giảm so với tỷ giá ghi sổ kế
toán). Bên
Có: -
Giá trị tài sản thừa chờ xử lý (chưa xác định rõ nguyên nhân); Giá trị tài sản
thừa phải trả cho cá nhân, tập thể (trong và ngoài đơn vị) theo quyết định ghi
trong biên bản xử lý do xác định ngay được nguyên nhân; -
Trích BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ, KPCĐ vào chi phí sản xuất, kinh doanh hoặc khấu
trừ vào lương của công nhân viên; -
Các khoản thanh toán với công nhân viên về tiền nhà, điện, nước ở tập
thể; -
Số BHXH đã chi trả công nhân viên khi được cơ quan BHXH thanh
toán; -
Doanh thu chưa thực hiện phát sinh trong kỳ; -
Số chênh lệch giữa giá bán trả chậm, trả góp theo cam kết với giá bán trả
ngay; -
Vật tư, hàng hóa vay, mượn, các khoản nhận vốn góp hợp đồng hợp tác kinh doanh
(BCC) không thành lập pháp nhân; -
Các khoản thu hộ đơn vị khác phải trả lại; -
Số tiền nhận cầm cố, ký cược, ký quỹ phát sinh trong kỳ; -
Các khoản phải trả khác; -
Đánh giá lại các khoản phải trả, phải nộp khác là khoản mục tiền tệ có gốc ngoại
tệ (trường hợp tỷ giá ngoại tệ tăng so với tỷ giá ghi sổ kế
toán). Số
dư bên Có: -
BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ, KPCĐ đã trích chưa nộp cho cơ quan quản lý hoặc kinh
phí công đoàn được để lại cho đơn vị chưa chi hết; -
Giá trị tài sản phát hiện thừa còn chờ giải quyết; -
Doanh thu chưa thực hiện ở thời điểm cuối kỳ kế toán; -
Các khoản còn phải trả, còn phải nộp khác; -
Số tiền nhận ký cược, ký quỹ chưa trả. Tài
khoản này có thể có số dư bên Nợ: Số
dư bên Nợ phản ánh số đã trả, đã nộp nhiều hơn số phải trả, phải nộp hoặc số bảo
hiểm xã hội đã chi trả công nhân viên chưa được thanh toán và kinh phí công đoàn
vượt chi chưa được cấp bù. Tài
khoản 338 - Phải trả, phải nộp khác, có 8 tài khoản cấp
2: -
Tài khoản 3381 - Tài sản thừa chờ giải quyết:
Phản ánh giá trị tài sản thừa chưa xác định rõ nguyên nhân, còn chờ quyết định
xử lý của cấp có thẩm quyền. Trường hợp giá trị tài sản thừa đã xác định được
nguyên nhân và có biên bản xử lý thì được ghi ngay vào các tài khoản liên quan,
không hạch toán qua tài khoản 338 (3381). -
Tài khoản 3382 - Kinh phí công đoàn:
Phản ánh tình hình trích và thanh toán kinh phí công đoàn ở đơn
vị. -
Tài khoản 3383 - Bảo hiểm xã hội:
Phản ánh tình hình trích và thanh toán bảo hiểm xã hội ở đơn
vị. -
Tài khoản 3384 - Bảo hiểm y tế:
Phản ánh tình hình trích và thanh toán bảo hiểm y tế ở đơn vị.
-
Tài khoản 3385 - Bảo hiểm thất nghiệp:
Phản ánh tình hình trích và thanh toán bảo hiểm thất nghiệp ở đơn
vị. -
Tài khoản 3386 - Nhận ký quỹ, ký cược:
Phản ánh số tiền nhận ký quỹ, ký cược của các đơn vị, cá nhân bên ngoài doanh
nghiệp. -
Tài khoản 3387 - Doanh thu chưa thực hiện:
Phản ánh số hiện có và tình hình tăng, giảm doanh thu chưa thực hiện của doanh
nghiệp trong kỳ kế toán. Doanh thu chưa thực hiện gồm doanh thu nhận trước như:
Số tiền của khách hàng đã trả trước cho một hoặc nhiều kỳ kế toán về cho thuê
tài sản; Khoản lãi nhận trước khi cho vay vốn; các khoản doanh thu chưa thực
hiện khác như: Khoản chênh lệch giữa giá bán hàng trả chậm, trả góp theo cam kết
với giá bán trả tiền ngay, khoản doanh thu tương ứng với giá trị hàng hóa, dịch
vụ. Không hạch toán vào tài khoản này các khoản: +
Tiền nhận trước của người mua mà doanh nghiệp chưa cung cấp sản phẩm, hàng hóa,
dịch vụ; +
Doanh thu chưa thu được tiền của hoạt động cho thuê tài sản, cung cấp dịch vụ
nhiều kỳ (doanh thu nhận trước chỉ được ghi nhận khi đã thực thu được tiền,
không được ghi doanh thu chưa thực hiện đối ứng với TK 131 - Phải thu của khách
hàng). -
Tài khoản 3388 - Phải trả, phải nộp khác: Phản
ánh các khoản phải trả khác của đơn vị ngoài nội dung các khoản phải trả đã phản
ánh trên các tài khoản khác từ TK 3381 đến TK 3387. Điều
46. Tài khoản 341 - Vay và nợ thuê tài chính 1.
Nguyên tắc kế toán a)
Tài khoản này dùng để phản ánh các khoản tiền vay (bao gồm cả vay dưới hình thức
phát hành trái phiếu), nợ thuê tài chính và tình hình thanh toán các khoản tiền
vay, nợ thuê tài chính của doanh nghiệp. b)
Doanh nghiệp phải theo dõi chi tiết kỳ hạn phải trả của các khoản vay, nợ thuê
tài chính. Các khoản có thời gian trả nợ hơn 12 tháng kể từ thời điểm lập Báo
cáo tài chính, kế toán trình bày là vay và nợ thuê tài chính dài hạn. Các khoản
đến hạn trả trong vòng 12 tháng tiếp theo kể từ thời điểm lập Báo cáo tài chính,
kế toán trình bày là vay và nợ thuê tài chính ngắn hạn để có kế hoạch chi
trả. c)
Khi doanh nghiệp đi vay dưới hình thức phát hành trái phiếu, có thể xảy ra 3
trường hợp: -
Phát hành trái phiếu ngang giá (giá phát hành bằng mệnh giá): Là phát hành trái
phiếu với giá đúng bằng mệnh giá của trái phiếu. -
Phát hành trái phiếu có chiết khấu (giá phát hành nhỏ hơn mệnh giá): Là phát
hành trái phiếu với giá nhỏ hơn mệnh giá của trái phiếu. Phần chênh lệch giữa
giá phát hành trái phiếu nhỏ hơn mệnh giá của trái phiếu gọi là chiết khấu trái
phiếu. Trường hợp này thường xảy ra khi lãi suất thị trường lớn hơn lãi suất
danh nghĩa của trái phiếu phát hành. -
Phát hành trái phiếu có phụ trội (giá phát hành lớn hơn mệnh giá): Là phát hành
trái phiếu với giá lớn hơn mệnh giá của trái phiếu. Phần chênh lệch giữa giá
phát hành trái phiếu lớn hơn mệnh giá của trái phiếu gọi là phụ trội trái
phiếu... Trường hợp này thường xảy ra khi lãi suất thị trường nhỏ hơn lãi suất
danh nghĩa (lãi ghi trên trái phiếu) của trái phiếu phát
hành. Khi
hạch toán trái phiếu phát hành, doanh nghiệp phải ghi nhận khoản chiết khấu hoặc
phụ trội trái phiếu tại thời điểm phát hành và theo dõi chi tiết thời hạn phát
hành trái phiếu, các nội dung có liên quan đến trái phiếu phát
hành: +
Mệnh giá trái phiếu; +
Chiết khấu trái phiếu; +
Phụ trội trái phiếu. -
Doanh nghiệp phải theo dõi chiết khấu và phụ trội cho từng loại trái phiếu phát
hành và tình hình phân bổ từng khoản chiết khấu, phụ trội khi xác định chi phí
đi vay tính vào chi phí tài chính hoặc vốn hóa theo từng kỳ, cụ
thể: +
Chiết khấu trái phiếu được phân bổ dần để tính vào chi phí đi vay từng kỳ trong
suốt thời hạn của trái phiếu; +
Phụ trội trái phiếu được phân bổ dần để giảm trừ chi phí đi vay từng kỳ trong
suốt thời hạn của trái phiếu; +
Trường hợp chi phí lãi vay của trái phiếu đủ điều kiện vốn hóa, các khoản lãi
tiền vay và khoản phân bổ chiết khấu hoặc phụ trội được vốn hóa trong từng kỳ
không được vượt quá số lãi vay thực tế phát sinh và số phân bổ chiết khấu hoặc
phụ trội trong kỳ đó; +
Khoản chiết khấu hoặc phụ trội được phân bổ trong suốt kỳ hạn của trái phiếu
theo phương pháp đường thẳng. -
Trường hợp trả lãi khi đáo hạn trái phiếu thì định kỳ doanh nghiệp phải tính lãi
trái phiếu phải trả từng kỳ để ghi nhận vào chi phí tài chính hoặc vốn hóa vào
giá trị của tài sản dở dang. -
Khi lập báo cáo tài chính, trên Báo cáo tình hình tài chính trong phần nợ phải
trả thì khoản trái phiếu phát hành được phản ánh trên cơ sở thuần (xác định bằng
trị giá trái phiếu theo mệnh giá trừ (-) chiết khấu trái phiếu cộng (+) phụ trội
trái phiếu). d)
Các chi phí đi vay liên quan trực tiếp đến khoản vay (ngoài lãi vay phải trả),
như chi phí thẩm định, kiểm toán, lập hồ sơ vay vốn, chi phí phát hành trái
phiếu... được hạch toán vào chi phí tài chính. Trường hợp các chi phí này phát
sinh từ khoản vay riêng cho mục đích đầu tư, xây dựng hoặc sản xuất tài sản dở
dang thì được vốn hóa. đ)
Đối với khoản nợ thuê tài chính, tổng số nợ thuê phản ánh vào bên Có của Tài
khoản 341 là tổng số tiền phải trả được tính bằng giá trị hiện tại của khoản
thanh toán tiền thuê tối thiểu hoặc giá trị hợp lý của tài sản
thuê. 2.
Kết cấu và nội dung phản ánh của Tài khoản 341 - Vay và nợ thuê tài
chính Bên
Nợ: -
Số tiền đã trả nợ gốc của các khoản vay, nợ thuê tài
chính; -
Số tiền gốc vay, nợ được giảm do được bên cho vay, chủ nợ chấp
thuận; -
Số phân bổ phụ trội trái phiếu phát hành; -
Chênh lệch tỷ giá hối đoái do đánh giá lại số dư vay, nợ thuê tài chính là khoản
mục tiền tệ có gốc ngoại tệ cuối kỳ (trường hợp tỷ giá ngoại tệ giảm so với tỷ
giá ghi sổ kế toán). Bên
Có: -
Số tiền vay, nợ thuê tài chính phát sinh trong kỳ; -
Số phân bổ chiết khấu trái phiếu phát hành; -
Chênh lệch tỷ giá hối đoái do đánh giá lại số dư vay, nợ thuê tài chính là khoản
mục tiền tệ có gốc ngoại tệ cuối kỳ (trường hợp tỷ giá ngoại tệ tăng so với tỷ
giá ghi sổ kế toán). Số
dư bên Có:
Số dư vay, nợ thuê tài chính chưa đến hạn trả. Tài
khoản 341 - Vay và nợ thuê tài chính có 2 tài khoản cấp
2: Tài
khoản 3411 - Các khoản đi vay:
Tài khoản này phản ánh giá trị các khoản tiền đi vay, tình hình thanh toán các
khoản tiền vay (kể cả đi vay dưới hình thức phát hành trái phiếu) của doanh
nghiệp và tình hình phân bổ chiết khấu, phụ trội trái
phiếu. Tài
khoản 3412 - Nợ thuê tài chính:
Tài khoản này phản ánh giá trị khoản nợ thuê tài chính và tình hình thanh toán
nợ thuê tài chính của doanh nghiệp. Điều
47. Tài khoản 352 - Dự phòng phải trả 1.
Nguyên tắc kế toán a)
Tài khoản này dùng để phản ánh các khoản dự phòng phải trả hiện có, tình hình
trích lập và sử dụng dự phòng phải trả của doanh nghiệp. b)
Dự phòng phải trả chỉ được ghi nhận khi thỏa mãn các điều kiện
sau: -
Doanh nghiệp có nghĩa vụ nợ hiện tại (nghĩa vụ pháp lý hoặc nghĩa vụ liên đới)
do kết quả từ một sự kiện đã xảy ra; -
Sự giảm sút về những lợi ích kinh tế có thể xảy ra dẫn đến việc yêu cầu phải
thanh toán nghĩa vụ nợ; -
Đưa ra được một ước tính đáng tin cậy về giá trị của nghĩa vụ nợ
đó. c)
Giá trị được ghi nhận của một khoản dự phòng phải trả là giá trị được ước tính
hợp lý nhất về khoản tiền sẽ phải chi để thanh toán nghĩa vụ nợ hiện tại tại
ngày kết thúc kỳ kế toán. d)
Khoản dự phòng phải trả được lập tại thời điểm lập Báo cáo tài chính. Trường hợp
số dự phòng phải trả cần lập ở kỳ kế toán này lớn hơn số dự phòng phải trả đã
lập ở kỳ kế toán trước chưa sử dụng hết thì số chênh lệch được ghi nhận vào chi
phí sản xuất, kinh doanh của kỳ kế toán đó. Trường hợp số dự phòng phải trả lập
ở kỳ kế toán này nhỏ hơn số dự phòng phải trả đã lập ở kỳ kế toán trước chưa sử
dụng hết thì số chênh lệch phải được hoàn nhập. Đối
với dự phòng phải trả về bảo hành công trình xây lắp thì dự phòng được lập cho
từng công trình xây lắp và được lập vào cuối kỳ kế toán. đ)
Chỉ những khoản chi phí liên quan đến khoản dự phòng phải trả đã lập ban đầu mới
được bù đắp bằng khoản dự phòng phải trả đó. e)
Không được ghi nhận khoản dự phòng cho các khoản lỗ hoạt động trong tương lai,
trừ khi chúng liên quan đến một hợp đồng có rủi ro lớn và thỏa mãn điều kiện ghi
nhận khoản dự phòng. Nếu doanh nghiệp có hợp đồng có rủi ro lớn, thì nghĩa vụ nợ
hiện tại theo hợp đồng phải được ghi nhận và đánh giá như một khoản dự phòng và
khoản dự phòng được lập riêng biệt cho từng hợp đồng có rủi ro
lớn. g)
Các khoản dự phòng phải trả thường bao gồm: -
Dự phòng phải trả bảo hành sản phẩm, hàng hóa; -
Dự phòng bảo hành công trình xây dựng; -
Dự phòng phải trả khác, bao gồm cả khoản dự phòng trợ cấp thôi việc theo quy
định của pháp luật, khoản dự phòng cho việc sửa chữa, bảo dưỡng TSCĐ định kỳ
(theo yêu cầu kỹ thuật), khoản dự phòng phải trả đối với hợp đồng có rủi ro lớn
mà trong đó những chi phí bắt buộc phải trả cho các nghĩa vụ liên quan đến hợp
đồng vượt quá những lợi ích kinh tế dự tính thu được từ hợp đồng
đó; h)
Khoản dự phòng phải trả về bảo hành sản phẩm, hàng hóa được ghi nhận vào chi phí
bán hàng, khoản dự phòng phải trả về chi phí bảo hành công trình xây lắp được
ghi nhận vào chi phí sản xuất kinh doanh dở dang, khoản dự phòng phải trả khác
được ghi nhận vào chi phí liên quan tùy theo nội dung chi
phí. i)
Số dự phòng phải trả về bảo hành công trình xây lắp đã lập lớn hơn chi phí thực
tế phát sinh thì số chênh lệch được hoàn nhập ghi vào TK 711 “Thu nhập khác”. Số
hoàn nhập dự phòng phải trả về bảo hành sản phẩm, hàng hóa được ghi giảm chi phí
bán hàng. Số hoàn nhập dự phòng phải trả khác được ghi giảm chi phí liên quan
tùy theo nội dung chi phí. k)
Khi doanh nghiệp nhận được khoản bồi hoàn của một bên thứ 3 để thanh toán một
phần hay toàn bộ chi phí cho khoản dự phòng thì khoản được bồi hoàn từ bên thứ 3
ghi nhận vào thu nhập khác. 2.
Kết cấu và nội dung phản ánh của Tài khoản 352 - Dự phòng phải
trả Bên
Nợ: -
Ghi giảm dự phòng phải trả khi phát sinh khoản chi phí liên quan đến khoản dự
phòng đã được lập ban đầu; -
Ghi giảm (hoàn nhập) dự phòng phải trả khi doanh nghiệp chắc chắn không còn phải
chịu sự giảm sút về kinh tế do không phải chi trả cho nghĩa vụ
nợ; -
Ghi giảm dự phòng phải trả về số chênh lệch giữa số dự phòng phải trả phải lập
năm nay nhỏ hơn số dự phòng phải trả đã lập năm trước chưa sử dụng
hết. Bên
Có:
Phản ánh số dự phòng phải trả trích lập tính vào chi phí. Số
dư bên Có:
Phản ánh số dự phòng phải trả hiện có cuối kỳ. Tài
khoản 352 có 3 tài khoản cấp 2 -
Tài khoản 3521 - Dự phòng bảo hành sản phẩm, hàng hóa:
Tài khoản này dùng để phản ánh số dự phòng bảo hành sản phẩm, hàng hóa cho số
lượng sản phẩm, hàng hóa đã xác định là tiêu thụ trong kỳ; -
Tài khoản 3522 - Dự phòng bảo hành công trình xây dựng:
Tài khoản này dùng để phản ánh số dự phòng bảo hành công trình xây dựng đối với
các công trình, hạng mục công trình hoàn thành, bàn giao trong
kỳ; -
Tài khoản 3524 - Dự phòng phải trả khác:
Tài khoản này phản ánh các khoản dự phòng phải trả khác theo quy định của pháp
luật ngoài các khoản dự phòng đã được phản ánh nêu trên, như: dự phòng trợ cấp
thôi việc theo quy định của Luật lao động, chi phí sửa chữa, bảo dưỡng, TSCĐ
định kỳ... Điều
48. Tài khoản 353 - Quỹ khen thưởng, phúc lợi 1.
Nguyên tắc kế toán a)
Tài khoản này dùng để phản ánh số hiện có, tình hình tăng, giảm quỹ khen thưởng,
quỹ phúc lợi và quỹ thưởng ban quản lý điều hành công ty của doanh nghiệp. Quỹ
khen thưởng, quỹ phúc lợi được trích từ lợi nhuận sau thuế TNDN của doanh nghiệp
để dùng cho công tác khen thưởng, khuyến khích lợi ích vật chất, phục vụ nhu cầu
phúc lợi công cộng, cải thiện và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người
lao động. b)
Việc trích lập và sử dụng quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi và quỹ thưởng ban quản
lý điều hành công ty phải theo chính sách tài chính hiện hành hoặc theo quyết
định của chủ sở hữu. c)
Quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi, quỹ thưởng ban quản lý điều hành công ty phải
được hạch toán chi tiết theo từng loại quỹ. d)
Đối với TSCĐ đầu tư, mua sắm bằng quỹ phúc lợi khi hoàn thành dùng vào sản xuất,
kinh doanh, kế toán ghi tăng TSCĐ đồng thời ghi tăng Vốn đầu tư của chủ sở hữu
và giảm quỹ phúc lợi. đ)
Đối với TSCĐ đầu tư, mua sắm bằng quỹ phúc lợi khi hoàn thành dùng cho nhu cầu
văn hóa, phúc lợi của doanh nghiệp, kế toán ghi tăng TSCĐ và đồng thời kết
chuyển từ Quỹ phúc lợi (TK 3532) sang Quỹ phúc lợi đã hình thành TSCĐ (TK 3533).
Những TSCĐ này hàng tháng không trích khấu hao TSCĐ vào chi phí mà cuối niên độ
kế toán tính hao mòn TSCĐ một lần/một năm để ghi giảm Quỹ phúc lợi đã hình thành
TSCĐ. 2.
Kết cấu và nội dung phản ánh của Tài khoản 353 - Quỹ khen thưởng, phúc
lợi Bên
Nợ: -
Các khoản chi tiêu quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi, quỹ thưởng ban quản lý điều
hành công ty; -
Giảm quỹ phúc lợi đã hình thành TSCĐ khi tính hao mòn TSCĐ hoặc do nhượng bán,
thanh lý, phát hiện thiếu khi kiểm kê TSCĐ; -
Đầu tư, mua sắm TSCĐ bằng quỹ phúc lợi khi hoàn thành phục vụ nhu cầu văn hóa,
phúc lợi; -
Cấp quỹ khen thưởng, phúc lợi cho cấp dưới. Bên
Có -
Trích lập quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi, quỹ thưởng ban quản lý điều hành công
ty từ lợi nhuận sau thuế TNDN; -
Quỹ khen thưởng, phúc lợi được cấp trên cấp; -
Quỹ phúc lợi đã hình thành TSCĐ tăng do đầu tư, mua sắm TSCĐ bằng quỹ phúc lợi
hoàn thành đưa vào sử dụng cho sản xuất, kinh doanh hoặc hoạt động văn hóa, phúc
lợi. Số
dư bên Có:
Số quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi hiện còn của doanh
nghiệp. Tài
khoản 353 - Quỹ khen thưởng, phúc lợi, có 4 tài khoản cấp 2: -
Tài khoản 3531 - Quỹ khen thưởng:
Phản ánh số hiện có, tình hình trích lập và chi tiêu quỹ khen thưởng của doanh
nghiệp. -
Tài khoản 3532 - Quỹ phúc lợi:
Phản ánh số hiện có, tình hình trích lập và chi tiêu quỹ phúc lợi của doanh
nghiệp. -
Tài khoản 3533 - Quỹ phúc lợi đã hình thành TSCĐ:
Phản ánh số hiện có, tình hình tăng, giảm quỹ phúc lợi đã hình thành TSCĐ của
doanh nghiệp. -
Tài khoản 3534 - Quỹ thưởng ban quản lý điều hành công ty:
Phản ánh số hiện có, tình hình trích lập và chi tiêu Quỹ thưởng ban quản lý điều
hành công ty. Điều
49. Tài khoản 356 - Quỹ phát triển khoa học và công
nghệ 1.
Nguyên tắc kế toán a)
Tài khoản này dùng để phản ánh số hiện có, tình hình tăng giảm Quỹ phát triển
khoa học và công nghệ (PTKH&CN) của doanh nghiệp. Quỹ PTKH&CN của doanh
nghiệp chỉ được sử dụng cho đầu tư khoa học, công nghệ tại Việt
Nam. b)
Quỹ PTKH&CN được hạch toán vào chi phí quản lý doanh nghiệp để xác định kết
quả kinh doanh trong kỳ. Việc trích lập và sử dụng Quỹ PTKH&CN của doanh
nghiệp phải tuân thủ theo các quy định của pháp luật. c)
Trường hợp doanh nghiệp sử dụng Quỹ PTKH&CN để tài trợ cho việc nghiên cứu,
sản xuất thử nghiệm, số tiền thu được khi bán sản phẩm sản xuất thử được bù trừ
với chi phí sản xuất thử theo nguyên tắc: -
Phần chênh lệch giữa số tiền thu từ bán sản phẩm sản xuất thử cao hơn chi phí
sản xuất thử được ghi tăng Quỹ PTKH&CN; -
Phần chênh lệch giữa số tiền thu từ bán sản phẩm sản xuất thử thấp hơn chi phí
sản xuất thử được ghi giảm Quỹ PTKH&CN. d)
Định kỳ, doanh nghiệp lập Báo cáo về mức trích, sử dụng, quyết toán Quỹ
PTKH&CN và nộp cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp
luật. 2.
Kết cấu và nội dung phản ánh của Tài khoản 356 - Quỹ phát triển khoa học và công
nghệ Bên
Nợ: -
Các khoản chi tiêu từ Quỹ phát triển khoa học và công
nghệ; -
Giảm Quỹ phát triển khoa học và công nghệ đã hình thành tài sản cố định (TSCĐ)
khi tính hao mòn TSCĐ; giá trị còn lại của TSCĐ khi nhượng bán, thanh lý; chi
phí thanh lý, nhượng bán TSCĐ hình thành từ Quỹ phát triển khoa học và công
nghệ; -
Giảm Quỹ phát triển khoa học và công nghệ đã hình thành TSCĐ khi TSCĐ hình thành
từ Quỹ phát triển khoa học và công nghệ chuyển sang phục vụ mục đích sản xuất,
kinh doanh. Bên
Có: -
Trích lập Quỹ phát triển khoa học và công nghệ vào chi phí quản lý doanh
nghiệp; -
Số thu từ việc thanh lý, nhượng bán TSCĐ hình thành từ Quỹ phát triển khoa học
và công nghệ đã hình thành TSCĐ. Số
dư bên Có:
Số quỹ phát triển khoa học và công nghệ hiện còn của doanh
nghiệp. Tài
khoản 356 - Quỹ phát triển khoa học và công nghệ có 2 tài khoản cấp
2: -
Tài khoản 3561 - Quỹ phát triển khoa học và công nghệ:
Phản ánh số hiện có và tình hình trích lập, chi tiêu quỹ phát triển khoa học và
công nghệ; -
Tài khoản 3562 - Quỹ phát triển khoa học và công nghệ đã hình thành
TSCĐ:
Phản ánh số hiện có, tình hình tăng, giảm quỹ phát triển khoa học và công nghệ
đã hình thành TSCĐ (Quỹ phát triển khoa học và công nghệ đã hình thành
TSCĐ). Điều
50. Nguyên tắc kế toán vốn chủ sở hữu 1.
Vốn chủ sở hữu là phần tài sản thuần của doanh nghiệp còn lại thuộc sở hữu của
các cổ đông, thành viên góp vốn (chủ sở hữu). Vốn chủ sở hữu được phản ánh theo
từng nguồn hình thành như: -
Vốn góp của chủ sở hữu; -
Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh; -
Các khoản khác được phép ghi tăng vốn chủ sở hữu. 2.
Kế toán không ghi nhận vốn góp theo vốn điều lệ trên giấy phép đăng ký kinh
doanh. Khoản vốn góp huy động, nhận từ các chủ sở hữu luôn được ghi nhận theo số
thực góp, tuyệt đối không ghi nhận theo số cam kết sẽ góp của các chủ sở hữu.
Trường hợp nhận vốn góp bằng tài sản phi tiền tệ thì kế toán phải ghi nhận theo
giá trị hợp lý của tài sản phi tiền tệ tại ngày góp vốn. 3.
Việc nhận vốn góp bằng các loại tài sản vô hình như bản quyền, quyền khai thác,
sử dụng tài sản, thương hiệu, nhãn hiệu… chỉ được thực hiện khi có quy định cụ
thể của pháp luật hoặc cơ quan có thẩm quyền cho phép. Khi pháp luật chưa có quy
định cụ thể về vấn đề này, các giao dịch góp vốn bằng nhãn hiệu, thương hiệu
được kế toán như việc đi thuê tài sản hoặc nhượng quyền thương mại, theo
đó: -
Đối với bên góp vốn bằng thương hiệu, nhãn hiệu, tên thương mại: Ghi nhận số
tiền thu được từ việc cho bên kia sử dụng nhãn hiệu, tên thương mại là doanh thu
cho thuê tài sản vô hình, nhượng quyền thương mại, không ghi nhận tăng giá trị
khoản đầu tư vào đơn vị khác và thu nhập hoặc vốn chủ sở hữu tương ứng với giá
trị khoản đầu tư; -
Đối với bên nhận vốn góp bằng thương hiệu, nhãn hiệu, tên thương mại: Không ghi
nhận giá trị thương hiệu, nhãn hiệu, tên thương mại và ghi tăng vốn chủ sở hữu
tương ứng với giá trị thương hiệu, nhãn hiệu, tên thương mại nhận vốn góp. Khoản
tiền trả cho việc sử dụng nhãn hiệu, thương hiệu, tên thương mại được ghi nhận
là chi phí thuê tài sản, chi phí nhượng quyền thương mại. 4.
Việc phân phối lợi nhuận chỉ thực hiện khi doanh nghiệp có lợi nhuận sau thuế
chưa phân phối. Mọi trường hợp trả cổ tức, lợi nhuận cho chủ sở hữu vượt quá số
lợi nhuận sau thuế chưa phân phối về bản chất đều là giảm vốn góp, doanh nghiệp
phải thực hiện đầy đủ các thủ tục theo quy định của pháp luật và điều chỉnh giấy
đăng ký kinh doanh. Điều
51. Tài khoản 411 - Vốn đầu tư của chủ sở hữu 1.
Nguyên tắc kế toán a)
Tài khoản này dùng để phản ánh vốn do chủ sở hữu đầu tư hiện có và tình hình
tăng, giảm vốn đầu tư của chủ sở hữu. b)
Vốn đầu tư của chủ sở hữu bao gồm: -
Vốn góp ban đầu, góp bổ sung của các chủ sở hữu; -
Thặng dư vốn cổ phần; -
Vốn khác. c)
Các doanh nghiệp chỉ hạch toán vào TK 4111 - “Vốn góp của chủ sở hữu” theo số
vốn thực tế chủ sở hữu đã góp, không được ghi nhận theo số cam kết, số phải thu
của các chủ sở hữu. d)
Doanh nghiệp phải tổ chức hạch toán chi tiết vốn đầu tư của chủ sở hữu theo từng
nguồn hình thành vốn (như vốn góp của chủ sở hữu, thặng dư vốn cổ phần, vốn
khác) và theo dõi chi tiết cho từng tổ chức, từng cá nhân tham gia góp
vốn. đ)
Doanh nghiệp ghi giảm vốn đầu tư của chủ sở hữu khi: -
Trả lại vốn cho các chủ sở hữu, hủy bỏ cổ phiếu quỹ theo quy định của pháp
luật; -
Giải thể, chấm dứt hoạt động theo quy định của pháp luật; -
Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật. e)
Xác định phần vốn góp của nhà đầu tư bằng ngoại tệ -
Khi giấy phép đầu tư quy định vốn điều lệ của doanh nghiệp được xác định bằng
ngoại tệ tương đương với một số lượng tiền Việt Nam đồng, việc xác định phần vốn
góp của nhà đầu tư bằng ngoại tệ (thừa, thiếu, đủ so với vốn điều lệ) được căn
cứ vào số lượng ngoại tệ đã thực góp, không xem xét đến việc quy đổi ngoại tệ ra
Việt Nam đồng theo giấy phép đầu tư. -
Trường hợp doanh nghiệp ghi sổ kế toán, lập và trình bày báo cáo tài chính bằng
đơn vị tiền tệ kế toán, khi nhà đầu tư góp vốn bằng ngoại tệ theo tiến độ, kế
toán phải áp dụng tỷ giá giao dịch thực tế tại từng thời điểm thực góp để quy
đổi ra đơn vị tiền tệ kế toán và ghi nhận vào vốn đầu tư của chủ sở hữu, thặng
dư vốn cổ phần (nếu có). -
Trong quá trình hoạt động, không được đánh giá lại số dư có Tài khoản 411 - Vốn
đầu tư của chủ sở hữu có gốc ngoại tệ. g)
Trường hợp nhận vốn góp bằng tài sản phải phản ánh tăng vốn đầu tư của chủ sở
hữu theo giá đánh giá lại của tài sản được các bên góp vốn chấp
nhận. h)
Đối với công ty cổ phần, vốn góp cổ phần của các cổ đông được ghi theo giá thực
tế phát hành cổ phiếu, nhưng được phản ánh chi tiết theo hai chỉ tiêu riêng: Vốn
góp của chủ sở hữu và thặng dư vốn cổ phần: -
Vốn góp của chủ sở hữu được phản ánh theo mệnh giá của cổ
phiếu; -
Thặng dư vốn cổ phần phản ánh khoản chênh lệch giữa mệnh giá và giá phát hành cổ
phiếu (kể cả các trường hợp tái phát hành cổ phiếu quỹ) và có thể là thặng dư
dương (nếu giá phát hành cao hơn mệnh giá) hoặc thặng dư âm (nếu giá phát hành
thấp hơn mệnh giá). 2.
Kết cấu và nội dung phản ánh của Tài khoản 411 - Vốn đầu tư của chủ sở
hữu Bên
Nợ:
Vốn đầu tư của chủ sở hữu giảm do: -
Hoàn trả vốn góp cho các chủ sở hữu vốn; -
Phát hành cổ phiếu thấp hơn mệnh giá; -
Giải thể, chấm dứt hoạt động doanh nghiệp; -
Bù lỗ kinh doanh theo quyết định của cấp có thẩm quyền; -
Hủy bỏ cổ phiếu quỹ (đối với công ty cổ phần). Bên
Có:
Vốn đầu tư của chủ sở hữu tăng do: -
Các chủ sở hữu góp vốn; -
Bổ sung vốn từ lợi nhuận kinh doanh, từ các quỹ thuộc vốn chủ sở
hữu; -
Phát hành cổ phiếu cao hơn mệnh giá; -
Giá trị quà tặng, biếu, tài trợ (sau khi trừ các khoản thuế phải nộp) được phép
ghi tăng Vốn đầu tư của chủ sở hữu theo quyết định của cấp có thẩm
quyền. Số
dư bên Có: Vốn
đầu tư của chủ sở hữu hiện có của doanh nghiệp. Tài
khoản 411 - Vốn đầu tư của chủ sở hữu, có 3 tài khoản cấp
2: -
TK 4111 - Vốn góp của chủ sở hữu:
Tài khoản này phản ánh khoản vốn thực đã đầu tư của chủ sở hữu theo Điều lệ công
ty của các chủ sở hữu vốn. Đối với các công ty cổ phần thì vốn góp từ phát hành
cổ phiếu được ghi vào tài khoản này theo mệnh giá. Tài khoản 4111 - Vốn góp của
chủ sở hữu tại công ty cổ phần có thể theo dõi chi tiết thành cổ phiếu
phổ
thông có quyền biểu quyết và cổ phiếu ưu đãi. -
TK 4112 - Thặng dư vốn cổ phần:
Tài khoản này phản ánh phần chênh lệch giữa giá phát hành và mệnh giá cổ phiếu;
Chênh lệch giữa giá mua lại cổ phiếu quỹ và giá tái phát hành cổ phiếu quỹ (đối
với các công ty cổ phần). Tài khoản này có thể có số dư Có hoặc số dư
Nợ. -
TK 4118 - Vốn khác: Tài
khoản này phản ánh số vốn kinh doanh được hình thành do bổ sung từ kết quả hoạt
động kinh doanh hoặc do được tặng, biếu, tài trợ, đánh giá lại tài sản (nếu các
khoản này được phép ghi tăng, giảm vốn đầu tư của chủ sở
hữu). Điều
52. Tài khoản 413 - Chênh lệch tỷ giá hối đoái 1.
Quy định chung về tỷ giá hối đoái và chênh lệch tỷ giá hối
đoái 1.1.
Chênh lệch tỷ giá hối đoái là chênh lệch phát sinh từ việc trao đổi thực tế hoặc
quy đổi cùng một số lượng ngoại tệ sang đơn vị tiền tệ kế toán theo tỷ giá hối
đoái khác nhau. Chênh lệch tỷ giá hối đoái chủ yếu phát sinh trong các trường
hợp: -
Thực tế mua bán, trao đổi, thanh toán các nghiệp vụ kinh tế phát sinh bằng ngoại
tệ trong kỳ; -
Đánh giá lại các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ tại thời điểm lập Báo cáo tài
chính; -
Chuyển đổi Báo cáo tài chính được lập bằng ngoại tệ sang Đồng Việt
Nam. 1.2.
Các loại tỷ giá hối đoái (sau đây gọi tắt là tỷ giá) sử dụng trong kế
toán Các
doanh nghiệp có nghiệp vụ kinh tế phát sinh bằng ngoại tệ phải thực hiện ghi sổ
kế toán và lập Báo cáo tài chính theo một đơn vị tiền tệ thống nhất là Đồng Việt
Nam hoặc đơn vị tiền tệ kế toán. Việc quy đổi đồng ngoại tệ ra đơn vị tiền tệ kế
toán phải căn cứ vào: -
Tỷ giá giao dịch thực tế; -
Tỷ giá ghi sổ kế toán. Khi
xác định nghĩa vụ thuế (kê khai, quyết toán và nộp thuế), doanh nghiệp thực hiện
theo các quy định của pháp luật về thuế. 1.3.
Nguyên tắc xác định tỷ giá ghi sổ: Tỷ
giá ghi sổ gồm tỷ giá ghi sổ thực tế đích danh hoặc tỷ giá ghi sổ bình quân gia
quyền (tỷ giá bình quân gia quyền sau mỗi lần nhập hoặc cuối
kỳ). -
Tỷ giá ghi sổ thực tế đích danh là tỷ giá được xác định liên quan đến giao dịch
đã phát sinh tại một thời điểm cụ thể. Tỷ giá ghi sổ thực tế đích danh được áp
dụng để ghi sổ kế toán cho bên Nợ các tài khoản phải thu đối với khoản tiền bằng
ngoại tệ đã nhận ứng trước của khách hàng hoặc cho bên Có các tài khoản phải trả
đối với khoản tiền bằng ngoại tệ đã ứng trước cho người
bán. -
Tỷ giá ghi sổ bình quân gia quyền là tỷ giá được xác định trên cơ sở lấy tổng
giá trị (theo đồng tiền ghi sổ kế toán) của từng khoản mục tiền tệ có gốc ngoại
tệ chia cho số lượng nguyên tệ thực có tại từng thời điểm. 1.4.
Nguyên tắc xác định tỷ giá hối đoái và xử lý chênh lệch tỷ giá hối
đoái: 1.4.1.
Đối với các giao dịch bằng ngoại tệ phát sinh trong kỳ: a)
Doanh nghiệp áp dụng tỷ giá giao dịch thực tế để quy đổi ra đồng tiền ghi sổ kế
toán theo nguyên tắc: -
Tỷ giá giao dịch thực tế khi mua, bán ngoại tệ (hợp đồng mua bán ngoại tệ giao
ngay, hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai, hợp đồng quyền chọn, hợp đồng hoán
đổi): Là tỷ giá ký kết trong hợp đồng mua, bán ngoại tệ giữa doanh nghiệp và
ngân hàng thương mại; -
Trường hợp hợp đồng không quy định cụ thể tỷ giá thanh toán thì doanh nghiệp sử
dụng tỷ giá giao dịch thực tế là tỷ giá xấp xỉ với tỷ giá chuyển khoản trung
bình của ngân hàng thương mại nơi doanh nghiệp thường xuyên có giao dịch để ghi
sổ kế toán. Tỷ
giá xấp xỉ này phải đảm bảo chênh lệch không vượt quá +/-1% so với tỷ giá chuyển
khoản trung bình của ngân hàng thương mại nơi doanh nghiệp thường xuyên có giao
dịch (ngân hàng này do doanh nghiệp tự lựa chọn). Tỷ giá chuyển khoản trung bình
có thể được xác định hàng ngày, hàng tuần hoặc hàng tháng trên cơ sở trung bình
cộng giữa tỷ giá mua và tỷ giá bán chuyển khoản hàng ngày của ngân hàng thương
mại. Doanh
nghiệp được áp dụng tỷ giá giao dịch thực tế là tỷ giá xấp xỉ để ghi sổ kế toán
đối với: +
Bên Nợ các TK tiền; Bên Nợ các TK phải thu (trừ trường hợp nhận ứng trước của
khách hàng bằng ngoại tệ thì bên Nợ tài khoản 131 áp dụng tỷ giá ghi sổ thực tế
đích danh đối với số tiền nhận ứng trước), Bên Nợ các TK phải trả khi ứng trước
tiền cho người bán. +
Bên Có các TK phải trả (trừ trường hợp ứng trước cho người bán bằng ngoại tệ thì
bên Có tài khoản 331 áp dụng tỷ giá ghi sổ thực tế đích danh đối với số tiền đã
ứng trước); Bên Có các TK phải thu khi nhận trước tiền của khách
hàng. +
Tài khoản loại vốn chủ sở hữu; +
Các tài khoản phản ánh doanh thu, thu nhập khác. Riêng
trường hợp bán sản phẩm, hàng hóa, cung cấp dịch vụ hoặc thu nhập phát sinh có
nhận trước tiền của người mua thì doanh thu, thu nhập tương ứng với số tiền nhận
trước được áp dụng tỷ giá giao dịch thực tế tại thời điểm nhận trước. Phần doanh
thu, thu nhập tương ứng với số tiền còn lại được ghi nhận theo tỷ giá giao dịch
thực tế tại thời điểm ghi nhận doanh thu, thu nhập. +
Các tài khoản phản ánh chi phí sản xuất, kinh doanh, chi phí
khác. Riêng
trường hợp phân bổ khoản chi phí trả trước vào chi phí sản xuất, kinh doanh
trong kỳ thì chi phí được ghi nhận theo tỷ giá giao dịch thực tế tại thời điểm
trả trước (không áp dụng theo tỷ giá giao dịch thực tế tại thời điểm phân bổ vào
chi phí). +
Các tài khoản phản ánh tài sản. Riêng
trường hợp mua tài sản có ứng trước tiền cho người bán thì giá trị tài sản tương
ứng với số tiền ứng trước được áp dụng tỷ giá giao dịch thực tế tại thời điểm
ứng trước, giá trị tài sản tương ứng với số tiền còn lại được ghi nhận theo tỷ
giá giao dịch thực tế tại thời điểm ghi nhận tài sản. Việc
sử dụng tỷ giá giao dịch thực tế là tỷ giá xấp xỉ nêu trên của doanh nghiệp phải
đảm bảo không làm ảnh hưởng trọng yếu đến tình hình tài chính và kết quả hoạt
động sản xuất kinh doanh của kỳ kế toán. b)
Doanh nghiệp được lựa chọn áp dụng tỷ giá ghi sổ để quy đổi ra đồng tiền ghi sổ
kế toán theo các trường hợp sau: -
Áp dụng tỷ giá ghi sổ bình quân gia quyền để hạch toán bên Có các tài khoản
tiền, bên Có các tài khoản phải thu (ngoại trừ giao dịch nhận trước tiền của
người mua), bên Nợ các tài khoản phải trả (ngoại trừ giao dịch trả trước tiền
cho người bán). +
Ngoài việc áp dụng tỷ giá ghi sổ bình quân gia quyền, các doanh nghiệp có thể
lựa chọn áp dụng tỷ giá giao dịch thực tế để ghi sổ kế toán đối với bên Có các
TK tiền, bên Có các TK phải thu, bên Nợ các TK phải trả. Khoản
chênh lệch tỷ giá hối đoái phát sinh trong kỳ được ghi nhận đồng thời tại thời
điểm phát sinh hoặc định kỳ vào doanh thu hoạt động tài chính hoặc chi phí tài
chính tùy theo đặc điểm hoạt động kinh doanh và yêu cầu quản lý của doanh
nghiệp. +
Trường hợp doanh nghiệp sử dụng tỷ giá giao dịch thực tế để hạch toán bên Có các
tài khoản tiền, bên Có các tài khoản nợ phải thu, bên Nợ các tài khoản phải trả
bằng ngoại tệ, nếu tại thời điểm cuối kỳ kế toán: (+)
Các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ không còn số dư nguyên tệ thì doanh nghiệp
phải kết chuyển toàn bộ chênh lệch tỷ giá hối đoái phát sinh trong kỳ vào doanh
thu hoạt động tài chính hoặc chi phí tài chính của kỳ báo
cáo. (+)
Các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ còn số dư nguyên tệ thì doanh nghiệp phải
đánh giá lại cuối kỳ theo tỷ giá ghi sổ bình quân gia quyền và toàn bộ chênh
lệch tỷ giá hối đoái do đánh giá lại các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ được
xử lý theo quy định tại khoản 1.4.2 Điều này. -
Áp dụng tỷ giá ghi sổ thực tế đích danh để hạch toán đối
với: +
Bên Nợ TK phải thu khi tất toán khoản tiền nhận trước của người mua khi chuyển
giao sản phẩm, hàng hóa, TSCĐ, cung cấp dịch vụ cho khách
hàng; +
Bên Có TK phải trả khi tất toán khoản tiền ứng trước cho người bán khi nhận được
sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, TSCĐ của người bán. 1.4.2.
Tỷ giá để đánh giá lại các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ là tỷ giá chuyển
khoản trung bình cuối kỳ của ngân hàng thương mại nơi doanh nghiệp thường xuyên
có giao dịch (do doanh nghiệp tự lựa chọn) tại thời điểm lập Báo cáo tài
chính. Toàn
bộ khoản chênh lệch tỷ giá hối đoái do đánh giá lại các khoản mục tiền tệ có gốc
ngoại tệ (theo số thuần sau khi bù trừ số phát sinh bên Nợ và bên Có TK 413)
được kết chuyển vào chi phí tài chính (nếu lỗ) hoặc doanh thu hoạt động tài
chính (nếu lãi) để xác định kết quả hoạt động kinh doanh. 1.4.3.
Xử lý chênh lệch tỷ giá hối đoái giai đoạn trước hoạt
động: -
Các doanh nghiệp chưa phân bổ hết khoản lỗ chênh lệch tỷ giá của giai đoạn trước
hoạt động (đang phản ánh trên tài khoản 242 trước thời điểm Thông tư này có hiệu
lực) phải kết chuyển toàn bộ số lỗ chênh lệch tỷ giá vào chi phí tài chính để
xác định kết quả kinh doanh trong kỳ. -
Các doanh nghiệp chưa phân bổ hết khoản lãi chênh lệch tỷ giá của giai đoạn
trước hoạt động (đang phản ánh trên tài khoản 3387 trước thời điểm Thông tư này
có hiệu lực) phải kết chuyển toàn bộ số lãi chênh lệch tỷ giá vào doanh thu hoạt
động tài chính để xác định kết quả kinh doanh trong kỳ. 1.5.
Nguyên tắc xác định các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ: Là các tài sản được
thu hồi bằng ngoại tệ hoặc các khoản nợ phải trả bằng ngoại tệ. Các khoản mục
tiền tệ có gốc ngoại tệ có thể bao gồm: a)
Tiền mặt, các khoản tương đương tiền, tiền gửi có kỳ hạn bằng ngoại
tệ; b)
Các khoản nợ phải thu, nợ phải trả có gốc ngoại tệ, ngoại
trừ: -
Các khoản trả trước cho người bán và các khoản chi phí trả trước bằng ngoại tệ.
Trường hợp tại thời điểm lập báo cáo tài chính có bằng chứng chắc chắn về việc
người bán không thể cung cấp hàng hóa, dịch vụ và doanh nghiệp sẽ phải nhận lại
các khoản trả trước bằng ngoại tệ thì các khoản này được coi là các khoản mục
tiền tệ có gốc ngoại tệ. -
Các khoản người mua trả tiền trước và các khoản doanh thu nhận trước bằng ngoại
tệ. Trường hợp tại thời điểm lập báo cáo tài chính có bằng chứng chắc chắn về
việc doanh nghiệp không thể cung cấp hàng hóa, dịch vụ và sẽ phải trả lại các
khoản nhận trước bằng ngoại tệ cho người mua thì các khoản này được coi là các
khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ. c)
Các khoản đi vay, cho vay dưới mọi hình thức được quyền thu hồi hoặc có nghĩa vụ
hoàn trả bằng ngoại tệ. d)
Các khoản đặt cọc, ký cược, ký quỹ được quyền nhận lại bằng ngoại
tệ; đ)
Các khoản nhận ký cược, ký quỹ phải hoàn trả bằng ngoại
tệ. 2.
Nguyên tắc kế toán chênh lệch tỷ giá a)
Doanh nghiệp đồng thời phải theo dõi nguyên tệ trên sổ kế toán chi tiết các tài
khoản: Tiền mặt, tiền gửi Ngân hàng, các khoản phải thu, các khoản phải trả, vốn
góp của chủ sở hữu. b)
Tất cả các khoản chênh lệch tỷ giá phát sinh trong kỳ đều được phản ánh ngay vào
doanh thu hoạt động tài chính (nếu lãi) hoặc chi phí tài chính (nếu lỗ) của kỳ
báo cáo. c)
Doanh nghiệp phải đánh giá lại các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ theo tỷ giá
chuyển khoản trung bình cuối kỳ của ngân hàng thương mại nơi doanh nghiệp thường
xuyên có giao dịch tại tất cả các thời điểm lập Báo cáo tài chính theo quy định
của pháp luật. d)
Doanh nghiệp không được vốn hóa các khoản chênh lệch tỷ giá vào giá trị tài sản
dở dang. 3.
Kết cấu và nội dung phản ánh của Tài khoản 413 - Chênh lệch tỷ giá hối
đoái Bên
Nợ: -
Lỗ tỷ giá hối đoái do đánh giá lại các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại
tệ; -
Kết chuyển lãi tỷ giá hối đoái vào doanh thu hoạt động tài
chính. Bên
Có: -
Lãi tỷ giá hối đoái do đánh giá lại các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại
tệ; -
Kết chuyển lỗ tỷ giá hối đoái vào chi phí tài chính. Tài
khoản 413 không có số dư. Điều
53. Tài khoản 418 - Các quỹ thuộc vốn chủ sở hữu 1.
Nguyên tắc kế toán Tài
khoản này dùng để phản ánh số hiện có và tình hình tăng, giảm các quỹ thuộc
nguồn vốn chủ sở hữu. Các quỹ này được hình thành từ lợi nhuận sau thuế TNDN.
Việc trích và sử dụng quỹ thuộc nguồn vốn chủ sở hữu phải theo chính sách tài
chính hiện hành đối với từng loại doanh nghiệp hoặc theo quyết định của chủ sở
hữu. 2.
Kết cấu và nội dung phản ánh của Tài khoản 418 - Các quỹ thuộc vốn chủ sở
hữu Bên
Nợ: Tình
hình chi tiêu, sử dụng các quỹ thuộc vốn chủ sở hữu của doanh
nghiệp. Bên
Có:
Các quỹ thuộc vốn chủ sở hữu tăng do được trích lập từ lợi nhuận sau
thuế. Số
dư bên Có:
Số quỹ thuộc vốn chủ sở hữu hiện có. Điều
54. Tài khoản 419 - Cổ phiếu quỹ 1.
Nguyên tắc kế toán a)
Tài khoản này dùng để phản ánh giá trị hiện có và tình hình biến động tăng giảm
của số cổ phiếu do các công ty cổ phần mua lại trong số cổ phiếu do công ty đó
đã phát hành ra công chúng (gọi là cổ phiếu quỹ). Các
cổ phiếu quỹ do công ty nắm giữ không được nhận cổ tức, không có quyền bầu cử
hay tham gia chia phần tài sản khi công ty giải thể. Khi chia cổ tức cho các cổ
phần, các cổ phiếu quỹ đang do công ty nắm giữ được coi là cổ phiếu chưa
bán. b)
Giá trị cổ phiếu quỹ được phản ánh trên tài khoản này theo giá thực tế mua lại
bao gồm giá mua lại và các chi phí liên quan trực tiếp đến việc mua lại cổ
phiếu, như chi phí giao dịch, thông tin… c)
Cuối kỳ kế toán, khi lập Báo cáo tài chính, giá trị thực tế của cổ phiếu quỹ
được ghi giảm Vốn đầu tư của chủ sở hữu trên Báo cáo tình hình tài chính bằng
cách ghi số âm (...). d)
Tài khoản này không phản ánh trị giá cổ phiếu mà công ty mua của các công ty cổ
phần khác vì mục đích nắm giữ đầu tư. đ)
Trị giá vốn của cổ phiếu quỹ khi tái phát hành, hoặc khi sử dụng để trả cổ tức,
thưởng... được tính theo phương pháp bình quân gia quyền. e)
Trường hợp công ty mua lại cổ phiếu do chính công ty phát hành nhằm mục đích thu
hồi cổ phiếu để hủy bỏ vĩnh viễn ngay khi mua vào thì giá trị cổ phiếu mua vào
không được phản ánh vào tài khoản này mà ghi giảm trực tiếp vào vốn góp của chủ
sở hữu và thặng dư vốn cổ phần (xem hướng dẫn ở tài khoản 411 - Vốn đầu tư của
chủ sở hữu). 2.
Kết cấu và nội dung phản ánh của Tài khoản 419 - Cổ phiếu
quỹ Bên
nợ:
Trị giá thực tế cổ phiếu quỹ khi mua vào. Bên
Có:
Trị giá thực tế cổ phiếu quỹ được tái phát hành, chia cổ tức hoặc hủy
bỏ. Số
dư bên Nợ:
Trị giá thực tế cổ phiếu quỹ hiện đang do công ty nắm giữ. Điều
55. Tài khoản 421 - Lợi nhuận sau thuế chưa phân phối 1.
Nguyên tắc kế toán a)
Tài khoản này dùng để phản ánh kết quả kinh doanh (lãi, lỗ) sau thuế thu nhập
doanh nghiệp và tình hình phân chia lợi nhuận hoặc xử lý lỗ của doanh
nghiệp. b)
Việc phân chia lợi nhuận hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp phải đảm bảo rõ
ràng, rành mạch và theo đúng chính sách tài chính hiện
hành. c)
Phải hạch toán chi tiết kết quả hoạt động kinh doanh của từng năm tài chính (năm
trước, năm nay), đồng thời theo dõi chi tiết theo từng nội dung phân chia lợi
nhuận của doanh nghiệp (trích lập các quỹ, bổ sung Vốn đầu tư của chủ sở hữu,
chia cổ tức, lợi nhuận cho các cổ đông, cho các nhà đầu
tư). d)
Khi áp dụng hồi tố do thay đổi chính sách kế toán và điều chỉnh hồi tố các sai
sót trọng yếu của các năm trước nhưng năm nay mới phát hiện dẫn đến phải điều
chỉnh số dư đầu năm phần lợi nhuận chưa phân phối thì kế toán phải điều chỉnh
tăng hoặc giảm số dư đầu năm của TK 4211 “Lợi nhuận sau thuế chưa phân phối năm
trước” trên sổ kế toán và điều chỉnh tăng hoặc giảm chỉ tiêu “Lợi nhuận sau thuế
chưa phân phối” trên Báo cáo tình hình tài chính. Đối
với tất cả các doanh nghiệp, khi phân phối lợi nhuận cần cân nhắc đến các khoản
mục phi tiền tệ nằm trong lợi nhuận sau thuế chưa phân phối có thể ảnh hưởng đến
luồng tiền và khả năng chi trả cổ tức, lợi nhuận của doanh nghiệp,
như: -
Khoản lãi do đánh giá lại tài sản mang đi góp vốn; do đánh giá lại các khoản mục
tiền tệ có gốc ngoại tệ; do đánh giá lại các công cụ tài
chính; -
Các khoản mục phi tiền tệ khác… e)
Trong hoạt động hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC) chia lợi nhuận sau thuế, doanh
nghiệp phải theo dõi riêng kết quả của BCC làm căn cứ để phân phối lợi nhuận
hoặc chia lỗ cho các bên. Doanh nghiệp là bên nộp và quyết toán thuế TNDN thay
các bên trong BCC chỉ phản ánh phần lợi nhuận tương ứng với phần của mình được
hưởng, không được phản ánh toàn bộ kết quả của BCC trên tài khoản này trừ khi có
quyền kiểm soát đối với BCC. g)
Đối với cổ tức ưu đãi phải trả: Doanh nghiệp phải căn cứ vào bản chất của cổ
phiếu ưu đãi để hạch toán theo nguyên tắc: -
Nếu cổ phiếu ưu đãi được phân loại là nợ phải trả, kế toán không ghi nhận cổ tức
phải trả từ lợi nhuận sau thuế chưa phân phối; -
Nếu cổ phiếu ưu đãi được phân loại là vốn chủ sở hữu, khoản cổ tức ưu đãi phải
trả được kế toán tương tự như việc trả cổ tức của cổ phiếu phổ
thông. h)
Doanh nghiệp phải theo dõi trong hệ thống quản trị nội bộ số lỗ tính thuế và số
lỗ không tính thuế, trong đó: -
Khoản lỗ tính thuế là khoản lỗ tạo ra bởi các khoản chi phí được trừ khi xác
định thu nhập chịu thuế; -
Khoản lỗ không tính thuế là khoản lỗ tạo ra bởi các khoản chi phí không được trừ
khi xác định thu nhập chịu thuế. Khi
chuyển lỗ theo quy định của pháp luật, doanh nghiệp chỉ được chuyển phần lỗ tính
thuế làm căn cứ giảm trừ số thuế phải nộp trong tương lai. 2.
Kết cấu và nội dung phản ánh của Tài khoản 421 - Lợi nhuận sau thuế chưa phân
phối Bên
Nợ: -
Số lỗ về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp; -
Trích lập các quỹ của doanh nghiệp; -
Chia cổ tức, lợi nhuận cho các chủ sở hữu; -
Bổ sung vốn đầu tư của chủ sở hữu. Bên
Có: -
Số lợi nhuận thực tế hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong
kỳ; -
Số lỗ của cấp dưới được cấp trên cấp bù; -
Xử lý các khoản lỗ về hoạt động kinh doanh. Tài
khoản 421 có thể có số dư Nợ hoặc số dư Có. Số
dư bên Nợ:
Số lỗ hoạt động kinh doanh chưa xử lý. Số
dư bên Có:
Số lợi nhuận sau thuế chưa phân phối hoặc chưa sử dụng. Tài
khoản 421 - Lợi nhuận sau thuế chưa phân phối, có 2 tài khoản cấp
2: -
Tài khoản 4211 - Lợi nhuận sau thuế chưa phân phối năm trước:
Phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh, tình hình phân chia lợi nhuận hoặc xử lý
lỗ thuộc các năm trước. Tài khoản 4211 còn dùng để phản ánh số điều chỉnh tăng
hoặc giảm số dư đầu năm của TK 4211 khi áp dụng hồi tố do thay đổi chính sách kế
toán và điều chỉnh hồi tố các sai sót trọng yếu của năm trước, năm nay mới phát
hiện. Đầu
năm sau, kế toán kết chuyển số dư đầu năm từ TK 4212 “Lợi nhuận sau thuế chưa
phân phối năm nay” sang TK 4211 “Lợi nhuận sau thuế chưa phân phối năm
trước”. -
Tài khoản 4212 - Lợi nhuận sau thuế chưa phân phối năm nay:
Phản ánh kết quả kinh doanh, tình hình phân chia lợi nhuận và xử lý lỗ của năm
nay. Điều
56. Nguyên tắc kế toán doanh thu 1.
Doanh thu là lợi ích kinh tế thu được làm tăng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp
trừ phần vốn góp thêm của các cổ đông. Doanh thu được ghi nhận tại thời điểm
giao dịch phát sinh, khi chắc chắn thu được lợi ích kinh tế, được xác định theo
giá trị hợp lý của các khoản được quyền nhận, không phân biệt đã thu tiền hay sẽ
thu được tiền. 2.
Doanh thu và chi phí tạo ra khoản doanh thu đó phải được ghi nhận đồng thời theo
nguyên tắc phù hợp. Tuy nhiên trong một số trường hợp, nguyên tắc phù hợp có thể
xung đột với nguyên tắc thận trọng trong kế toán, thì kế toán phải căn cứ vào
bản chất giao dịch để phản ánh một cách trung thực, hợp
lý. -
Một hợp đồng kinh tế có thể bao gồm nhiều giao dịch. Kế toán phải nhận biết các
giao dịch để áp dụng các điều kiện ghi nhận doanh thu phù
hợp. -
Doanh thu phải được ghi nhận phù hợp với bản chất hơn là hình thức hoặc tên gọi
của giao dịch và phải được phân bổ theo nghĩa vụ cung ứng hàng hóa, dịch
vụ. +
Ví dụ: Khách hàng chỉ được nhận hàng khuyến mại khi mua sản phẩm hàng hóa của
đơn vị (như mua 2 sản phẩm được tặng thêm một sản phẩm) thì bản chất giao dịch
là giảm giá hàng bán, sản phẩm tặng miễn phí cho khách hàng về hình thức được
gọi là khuyến mại nhưng về bản chất là bán vì khách hàng sẽ không được hưởng nếu
không mua sản phẩm. Trường hợp này giá trị sản phẩm tặng cho khách hàng được
phản ánh vào giá vốn và doanh thu tương ứng với giá trị hợp lý của sản phẩm đó
phải được ghi nhận. -
Đối với các giao dịch làm phát sinh nghĩa vụ của người bán ở thời điểm hiện tại
và trong tương lai, doanh thu phải được phân bổ theo giá trị hợp lý của từng
nghĩa vụ và được ghi nhận khi nghĩa vụ đã được thực hiện. 3.
Doanh thu, lãi hoặc lỗ chỉ được coi là chưa thực hiện nếu doanh nghiệp còn có
trách nhiệm thực hiện các nghĩa vụ trong tương lai (trừ nghĩa vụ bảo hành thông
thường) và chưa chắc chắn thu được lợi ích kinh tế; Việc phân loại các khoản
lãi, lỗ là thực hiện hoặc chưa thực hiện không phụ thuộc vào việc đã phát sinh
dòng tiền hay chưa. Các
khoản lãi, lỗ phát sinh do đánh giá lại tài sản, nợ phải trả không được coi là
chưa thực hiện do tại thời điểm đánh giá lại, đơn vị đã có quyền đối với tài sản
và đã có nghĩa vụ nợ hiện tại đối với các khoản nợ phải trả, ví dụ: Các khoản
lãi, lỗ phát sinh do đánh giá lại tài sản mang đi góp vốn đầu tư vào đơn vị
khác, đánh giá lại các tài sản tài chính theo giá trị hợp lý đều được coi là đã
thực hiện. 4.
Doanh thu không bao gồm các khoản thu hộ bên thứ ba, ví
dụ; -
Các loại thuế gián thu (thuế GTGT, thuế xuất khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế
bảo vệ môi trường) phải nộp; -
Số tiền người bán hàng đại lý thu hộ bên chủ hàng do bán hàng đại
lý; -
Các khoản phụ thu và phí thu thêm ngoài giá bán đơn vị không được
hưởng; -
Các trường hợp khác. Trường
hợp các khoản thuế gián thu phải nộp mà không tách riêng ngay được tại thời điểm
phát sinh giao dịch thì để thuận lợi cho công tác kế toán, có thể ghi nhận doanh
thu trên sổ kế toán bao gồm cả số thuế gián thu nhưng định kỳ kế toán phải ghi
giảm doanh thu đối với số thuế gián thu phải nộp. Tuy nhiên, khi lập Báo cáo tài
chính, kế toán bắt buộc phải xác định và loại trừ toàn bộ số thuế gián thu phải
nộp ra khỏi các chỉ tiêu phản ánh doanh thu gộp. 5.
Thời điểm, căn cứ để ghi nhận doanh thu kế toán và doanh thu tính thuế có thể
khác nhau tùy vào từng tình huống cụ thể. Doanh thu tính thuế chỉ được sử dụng
để xác định số thuế phải nộp theo quy định của pháp luật; Doanh thu ghi nhận
trên sổ kế toán để lập Báo cáo tài chính phải tuân thủ các nguyên tắc kế toán và
tùy theo từng trường hợp không nhất thiết phải bằng số đã ghi trên hóa đơn bán
hàng. 6.
Doanh thu được ghi nhận chỉ bao gồm doanh thu của kỳ báo cáo. Các tài khoản phản
ánh doanh thu không có số dư, cuối kỳ kế toán phải kết chuyển doanh thu để xác
định kết quả kinh doanh. Điều
57. Tài khoản 511 - Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch
vụ 1.
Nguyên tắc kế toán 1.1.
Tài khoản này dùng để phản ánh doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ của doanh
nghiệp trong một kỳ kế toán của hoạt động sản xuất, kinh doanh từ các giao dịch
và các nghiệp vụ sau: a)
Bán hàng hóa: Bán sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra, bán hàng hóa mua vào và
bán bất động sản đầu tư; b)
Cung cấp dịch vụ: Thực hiện công việc đã thỏa thuận theo hợp đồng trong một kỳ,
hoặc nhiều kỳ kế toán, như cung cấp dịch vụ vận tải, du lịch, cho thuê TSCĐ theo
phương thức cho thuê hoạt động, doanh thu hợp đồng xây
dựng.... c)
Doanh thu khác. 1.2.
Điều kiện ghi nhận doanh thu a)
Doanh nghiệp chỉ ghi nhận doanh thu bán hàng khi đồng thời thỏa mãn các điều
kiện sau: -
Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu
sản phẩm, hàng hóa cho người mua; - Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền
quản lý hàng hóa như người sở hữu hoặc quyền kiểm soát hàng
hóa; -
Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn. Khi hợp đồng quy định người mua
được quyền trả lại sản phẩm, hàng hóa, đã mua theo những điều kiện cụ thể, doanh
nghiệp chỉ được ghi nhận doanh thu khi những điều kiện cụ thể đó không còn tồn
tại và người mua không được quyền trả lại sản phẩm, hàng hóa (trừ trường hợp
khách hàng có quyền trả lại hàng hóa dưới hình thức đổi lại để lấy hàng hóa,
dịch vụ khác); -
Doanh nghiệp đã hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch bán
hàng; -
Xác định được các chi phí liên quan đến giao dịch bán
hàng. b)
Doanh nghiệp chỉ ghi nhận doanh thu cung cấp dịch vụ khi đồng thời thỏa mãn các
điều kiện sau: -
Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn. Khi hợp đồng quy định người mua
được quyền trả lại dịch vụ đã mua theo những điều kiện cụ thể, doanh nghiệp chỉ
được ghi nhận doanh thu khi những điều kiện cụ thể đó không còn tồn tại và người
mua không được quyền trả lại dịch vụ đã cung cấp; -
Doanh nghiệp đã hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch cung cấp dịch vụ
đó; -
Xác định được phần công việc đã hoàn thành vào thời điểm báo
cáo; -
Xác định được chi phí phát sinh cho giao dịch và chi phí để hoàn thành giao dịch
cung cấp dịch vụ đó. 1.3.
Trường hợp hợp đồng kinh tế bao gồm nhiều giao dịch, doanh nghiệp phải nhận biết
các giao dịch để ghi nhận doanh thu, ví dụ: -
Trường hợp hợp đồng kinh tế quy định việc bán hàng và cung cấp dịch vụ sau bán
hàng (ngoài điều khoản bảo hành thông thường), doanh nghiệp phải ghi nhận riêng
doanh thu bán hàng và doanh thu cung cấp dịch vụ; -
Trường hợp hợp đồng quy định bên bán hàng chịu trách nhiệm lắp đặt sản phẩm,
hàng hóa cho người mua thì doanh thu chỉ được ghi nhận sau khi việc lắp đặt được
thực hiện xong; -
Trường hợp doanh nghiệp có nghĩa vụ phải cung cấp cho người mua hàng hóa, dịch
vụ miễn phí hoặc chiết khấu, giảm giá, kế toán chỉ ghi nhận doanh thu đối với
hàng hóa, dịch vụ phải cung cấp miễn phí đó cho đến khi đã thực hiện nghĩa vụ
với người mua. 1.4.
Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ thuần mà doanh nghiệp thực hiện được
trong kỳ kế toán có thể thấp hơn doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ ghi nhận
ban đầu do các nguyên nhân: Doanh nghiệp chiết khấu thương mại, giảm giá hàng đã
bán cho khách hàng hoặc hàng đã bán bị trả lại (do không đảm bảo điều kiện về
quy cách, phẩm chất ghi trong hợp đồng kinh tế); Trường
hợp sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ đã tiêu thụ từ các kỳ trước, đến kỳ sau phải
chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán, hoặc hàng bán bị trả lại được ghi giảm
doanh thu theo nguyên tắc: -
Nếu sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ đã tiêu thụ từ các kỳ trước, đến kỳ sau phải
giảm giá, phải chiết khấu thương mại, bị trả lại nhưng phát sinh trước thời điểm
phát hành báo cáo tài chính, kế toán phải coi đây là một sự kiện phát sinh sau
ngày lập BCTC và ghi giảm doanh thu trên BCTC của kỳ lập báo
cáo. -
Trường hợp sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ phải giảm giá, phải chiết khấu thương
mại, bị trả lại sau thời điểm phát hành Báo cáo tài chính thì doanh nghiệp ghi
giảm doanh thu của kỳ phát sinh. 1.5.
Doanh thu trong một số trường hợp được xác định như sau: 1.5.1.
Doanh thu bán hàng, cung cấp dịch vụ không bao gồm các khoản thuế gián thu phải
nộp, như thuế GTGT (kể cả trường hợp nộp thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp),
thuế TTĐB, thuế xuất khẩu, thuế bảo vệ môi trường. Trường
hợp không tách ngay được số thuế gián thu phải nộp tại thời điểm ghi nhận doanh
thu, kế toán được ghi nhận doanh thu bao gồm cả số thuế phải nộp và định kỳ phải
ghi giảm doanh thu đối với số thuế gián thu phải nộp. Khi lập báo cáo kết quả
kinh doanh, chỉ tiêu “Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ” và chỉ tiêu “Các
khoản giảm trừ doanh thu” đều không bao gồm số thuế gián thu phải nộp trong kỳ
do về bản chất các khoản thuế gián thu không được coi là một bộ phận của doanh
thu. 1.5.2.
Trường hợp trong kỳ doanh nghiệp đã viết hóa đơn bán hàng và đã thu tiền bán
hàng nhưng đến cuối kỳ vẫn chưa giao hàng cho người mua hàng, thì trị giá số
hàng này không được coi là đã bán trong kỳ và không được ghi vào tài khoản 511
“Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ” mà chỉ hạch toán vào bên Có tài khoản
131 “Phải thu của khách hàng” về khoản tiền đã thu của khách hàng. Khi thực giao
hàng cho người mua sẽ hạch toán vào tài khoản 511 “Doanh thu bán hàng và cung
cấp dịch vụ” về trị giá hàng đã giao, đã thu trước tiền bán hàng, phù hợp với
các điều kiện ghi nhận doanh thu. 1.5.3.
Trường hợp xuất hàng hóa để khuyến mại, quảng cáo nhưng khách hàng chỉ được nhận
hàng khuyến mại, quảng cáo kèm theo các điều kiện khác như phải mua sản phẩm,
hàng hóa (ví dụ như mua 2 sản phẩm được tặng 1 sản phẩm....) thì kế toán phải
phân bổ số tiền thu được để tính doanh thu cho cả hàng khuyến mại, giá trị hàng
khuyến mại được tính vào giá vốn hàng bán (trường hợp này bản chất giao dịch là
giảm giá hàng bán). 1.5.4.
Trường hợp doanh nghiệp có doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ bằng ngoại tệ
mà phát sinh giao dịch nhận tiền ứng trước của khách hàng thì doanh thu tương
ứng với số tiền nhận ứng trước được ghi nhận theo tỷ giá giao dịch thực tế tại
thời điểm nhận ứng trước, phần doanh thu tương ứng với số tiền còn lại được ghi
nhận theo tỷ giá giao dịch thực tế tại thời điểm ghi nhận doanh
thu. 1.5.5.
Doanh thu bán bất động sản của doanh nghiệp là chủ đầu tư phải thực hiện theo
nguyên tắc: Đối
với các công trình, hạng mục công trình mà doanh nghiệp là chủ đầu tư (kể cả các
công trình, hạng mục công trình doanh nghiệp vừa là chủ đầu tư, vừa tự thi
công), doanh nghiệp không được ghi nhận doanh thu bán bất động sản và không được
ghi nhận doanh thu đối với số tiền thu trước của khách hàng theo tiến độ. Việc
ghi nhận doanh thu bán bất động sản phải đảm bảo thỏa mãn đồng thời 5 điều kiện
sau: -
Bất động sản đã hoàn thành toàn bộ và bàn giao cho người mua, doanh nghiệp đã
chuyển giao rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu bất động sản cho người
mua; -
Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý bất động sản như người sở hữu bất
động sản hoặc quyền kiểm soát bất động sản; -
Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn; -
Doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch bán bất
động sản; -
Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán bất động
sản. 1.5.6.
Đối với hàng hóa nhận bán đại lý, ký gửi theo phương thức bán đúng giá hưởng hoa
hồng, doanh thu là phần hoa hồng bán hàng mà doanh nghiệp được
hưởng. 1.5.7.
Đối với hoạt động dịch vụ ủy thác xuất nhập khẩu, doanh thu là phí ủy thác đơn
vị được hưởng. 1.5.8.
Đối với đơn vị nhận gia công vật tư, hàng hóa, doanh thu là số tiền gia công
thực tế được hưởng, không bao gồm giá trị vật tư, hàng hóa nhận gia
công. 1.5.9.
Trường hợp bán hàng theo phương thức trả chậm, trả góp, doanh thu được xác định
theo giá bán trả tiền ngay; 1.5.10.
Nguyên tắc ghi nhận và xác định doanh thu của hợp đồng xây
dựng: a)
Doanh thu của hợp đồng xây dựng bao gồm: -
Doanh thu ban đầu được ghi trong hợp đồng; -
Các khoản tăng, giảm khi thực hiện hợp đồng, các khoản tiền thưởng và các khoản
thanh toán khác nếu các khoản này có khả năng làm thay đổi doanh thu, và có thể
xác định được một cách đáng tin cậy: +
Doanh thu của hợp đồng có thể tăng hay giảm ở từng thời kỳ, ví dụ: Nhà thầu và
khách hàng có thể đồng ý với nhau về các thay đổi và các yêu cầu làm tăng hoặc
giảm doanh thu của hợp đồng trong kỳ tiếp theo so với hợp đồng được chấp thuận
lần đầu tiên; Doanh thu đã được thỏa thuận trong hợp đồng với giá cố định có thể
tăng vì lý do giá cả tăng lên; Doanh thu theo hợp đồng có thể bị giảm do nhà
thầu không thực hiện đúng tiến độ hoặc không đảm bảo chất lượng xây dựng theo
thỏa thuận trong hợp đồng; Khi hợp đồng với giá cố định quy định mức giá cố định
cho một đơn vị sản phẩm hoàn thành thì doanh thu theo hợp đồng sẽ tăng hoặc giảm
khi khối lượng sản phẩm tăng hoặc giảm. +
Khoản tiền thưởng là các khoản phụ thêm trả cho nhà thầu nếu nhà thầu thực hiện
hợp đồng đạt hay vượt mức yêu cầu. Khoản tiền thưởng được tính vào doanh thu của
hợp đồng xây dựng khi có đủ 2 điều kiện: (i) Chắc chắn đạt hoặc vượt mức một số
tiêu chuẩn cụ thể đã được ghi trong hợp đồng; (ii) Khoản tiền thưởng được xác
định một cách đáng tin cậy. -
Khoản thanh toán khác mà nhà thầu thu được từ khách hàng hay một bên khác để bù
đắp cho các chi phí không bao gồm trong giá hợp đồng. Ví dụ: Sự chậm trễ do
khách hàng gây nên; Sai sót trong các chỉ tiêu kỹ thuật hoặc thiết kế và các
tranh chấp về các thay đổi trong việc thực hiện hợp đồng. Việc xác định doanh
thu tăng thêm từ các khoản thanh toán trên còn tùy thuộc vào rất nhiều yếu tố
không chắc chắn và thường phụ thuộc vào kết quả của nhiều cuộc đàm phán. Do đó,
các khoản thanh toán khác chỉ được tính vào doanh thu của hợp đồng xây dựng
khi: +
Các cuộc thỏa thuận đã đạt được kết quả là khách hàng sẽ chấp thuận bồi
thường; +
Khoản thanh toán khác được khách hàng chấp thuận và có thể xác định được một
cách đáng tin cậy. b)
Ghi nhận doanh thu của hợp đồng xây dựng như sau: Khi
kết quả thực hiện hợp đồng xây dựng được xác định một cách đáng tin cậy và được
khách hàng xác nhận, thì doanh thu và chi phí liên quan đến hợp đồng được ghi
nhận tương ứng với phần công việc đã hoàn thành được khách hàng xác nhận trong
kỳ phản ánh trên hóa đơn đã lập. c)
Khi kết quả thực hiện hợp đồng xây dựng không thể ước tính được một cách đáng
tin cậy, thì: -
Doanh thu chỉ được ghi nhận tương đương với chi phí của hợp đồng đã phát sinh mà
việc được hoàn trả là tương đối chắc chắn; -
Chi phí của hợp đồng chỉ được ghi nhận là chi phí trong kỳ khi các chi phí này
đã phát sinh. 1.5.11.
Không ghi nhận doanh thu bán hàng, cung cấp dịch vụ đối
với: -
Trị giá hàng hóa, vật tư, bán thành phẩm xuất giao cho bên ngoài gia công chế
biến; Trị giá hàng gửi bán theo phương thức gửi bán đại lý, ký gửi (chưa được
xác định là đã bán); -
Số tiền thu được từ việc bán sản phẩm sản xuất thử; -
Các khoản doanh thu hoạt động tài chính; -
Các khoản thu nhập khác. 2.
Kết cấu và nội dung phản ánh của Tài khoản 511 - Doanh thu bán hàng và cung cấp
dịch vụ Bên
Nợ: -
Các khoản thuế gián thu phải nộp (GTGT, TTĐB, XK, BVMT); -
Các khoản giảm trừ doanh thu; -
Kết chuyển doanh thu thuần vào tài khoản 911 "Xác định kết quả kinh
doanh". Bên
Có:
Doanh thu bán sản phẩm, hàng hóa, bất động sản đầu tư và cung cấp dịch vụ của
doanh nghiệp thực hiện trong kỳ kế toán. Tài
khoản 511 không có số dư cuối kỳ. Tài
khoản 511 - Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ, có 4 tài khoản cấp
2: -
Tài khoản 5111 - Doanh thu bán hàng hóa:
Tài khoản này dùng để phản ánh doanh thu và doanh thu thuần của khối lượng hàng
hóa được xác định là đã bán trong một kỳ kế toán của doanh nghiệp. Tài khoản này
chủ yếu dùng cho các ngành kinh doanh hàng hóa, vật tư, lương
thực,... -
Tài khoản 5112 - Doanh thu bán thành phẩm:
Tài khoản này dùng để phản ánh doanh thu và doanh thu thuần của khối lượng sản
phẩm (thành phẩm, bán thành phẩm) được xác định là đã bán trong một kỳ kế toán
của doanh nghiệp. Tài khoản này chủ yếu dùng cho các ngành sản xuất vật chất
như: Công nghiệp, nông nghiệp, xây lắp, ngư nghiệp, lâm
nghiệp,... -
Tài khoản 5113 - Doanh thu cung cấp dịch vụ:
Tài khoản này dùng để phản ánh doanh thu và doanh thu thuần của khối lượng dịch
vụ đã hoàn thành, đã cung cấp cho khách hàng và được xác định là đã bán trong
một kỳ kế toán. Tài khoản này chủ yếu dùng cho các ngành kinh doanh dịch vụ như:
Giao thông vận tải, bưu điện, du lịch, dịch vụ công cộng, dịch vụ khoa học, kỹ
thuật, dịch vụ kế toán, kiểm toán,... -
Tài khoản 5118 - Doanh thu khác:
Tài khoản này dùng để phản ánh về doanh thu nhượng bán, thanh lý bất động sản
đầu tư, các khoản trợ cấp, trợ giá của Nhà nước… Điều
58. Tài khoản 515 - Doanh thu hoạt động tài chính 1.
Nguyên tắc kế toán a)
Tài khoản này dùng để phản ánh doanh thu tiền lãi, tiền bản quyền, cổ tức, lợi
nhuận được chia và doanh thu hoạt động tài chính khác của doanh nghiệp,
gồm: -
Tiền lãi: Lãi cho vay, lãi tiền gửi Ngân hàng, lãi bán hàng trả chậm, trả góp,
lãi đầu tư trái phiếu, tín phiếu, chiết khấu thanh toán được hưởng do mua hàng
hóa, dịch vụ;... -
Cổ tức, lợi nhuận được chia cho giai đoạn sau ngày đầu tư; -
Thu nhập về hoạt động đầu tư mua, bán chứng khoán ngắn hạn, dài hạn; Lãi chuyển
nhượng vốn khi thanh lý các khoản đầu tư góp vốn vào đơn vị
khác; -
Thu nhập về các hoạt động đầu tư khác; -
Lãi tỷ giá hối đoái phát sinh trong kỳ và đánh giá lại khoản mục tiền tệ có gốc
ngoại tệ cuối kỳ; lãi do bán ngoại tệ; -
Các khoản doanh thu hoạt động tài chính khác. b)
Đối với hoạt động mua, bán chứng khoán kinh doanh, doanh thu được ghi nhận là số
chênh lệch giữa giá bán lớn hơn giá vốn, trong đó giá vốn là giá trị ghi sổ được
xác định theo phương pháp bình quân gia quyền hoặc nhập trước xuất trước, giá
bán được tính theo giá trị hợp lý của khoản nhận được. Trường hợp mua, bán chứng
khoán dưới hình thức hoán đổi cổ phiếu (nhà đầu tư hoán đổi cổ phiếu A để lấy cổ
phiếu B), kế toán xác định giá trị cổ phiếu nhận về theo giá trị hợp lý tại ngày
trao đổi như sau: -
Đối với cổ phiếu nhận về là cổ phiếu niêm yết, giá trị hợp lý của cổ phiếu là
giá đóng cửa niêm yết trên thị trường chứng khoán tại ngày trao đổi. Trường hợp
tại ngày trao đổi thị trường chứng khoán không giao dịch thì giá trị hợp lý của
cổ phiếu là giá đóng cửa phiên giao dịch trước liền kề với ngày trao
đổi. -
Đối với cổ phiếu nhận về là cổ phiếu chưa niêm yết được giao dịch trên sàn
UPCOM, giá trị hợp lý của cổ phiếu là giá đóng cửa công bố trên sàn UPCOM tại
ngày trao đổi. Trường hợp ngày trao đổi sàn UPCOM không giao dịch thì giá trị
hợp lý của cổ phiếu là giá đóng cửa phiên giao dịch trước liền kề với ngày trao
đổi. -
Đối với cổ phiếu nhận về là cổ phiếu chưa niêm yết khác, giá trị hợp lý của cổ
phiếu là giá thỏa thuận giữa các bên hoặc giá trị sổ sách tại thời điểm trao đổi
hoặc giá trị sổ sách tại thời điểm cuối quý trước liền kề với ngày trao đổi.
Việc xác định giá trị sổ sách của cổ phiếu được thực hiện theo công
thức: Giá
trị sổ sách của cổ phiếu = Tổng
vốn chủ sở hữu Số
lượng cổ phiếu hiện có tại thời điểm trao
đổi c)
Đối với khoản doanh thu từ hoạt động mua, bán ngoại tệ, doanh thu được ghi nhận
là số chênh lệch lãi giữa giá ngoại tệ bán ra và giá ngoại tệ mua
vào. d)
Đối với lãi tiền gửi: Doanh thu không bao gồm khoản lãi tiền gửi phát sinh do
hoạt động đầu tư tạm thời của khoản vay sử dụng cho mục đích xây dựng tài sản dở
dang. đ)
Đối với tiền lãi phải thu từ các khoản cho vay, bán hàng trả chậm, trả góp:
Doanh thu chỉ được ghi nhận khi chắc chắn thu được và khoản gốc cho vay, nợ gốc
phải thu không bị phân loại là quá hạn cần phải lập dự
phòng. e)
Đối với khoản tiền lãi đầu tư nhận được từ khoản đầu tư cổ phiếu, trái phiếu thì
chỉ có phần tiền lãi của các kỳ sau khi doanh nghiệp mua lại khoản đầu tư này
mới được ghi nhận là doanh thu phát sinh trong kỳ, còn khoản lãi đầu tư nhận
được từ các khoản lãi đầu tư dồn tích trước khi doanh nghiệp mua lại khoản đầu
tư đó thì ghi giảm giá gốc khoản đầu tư trái phiếu, cổ phiếu
đó. g)
Khi nhà đầu tư nhận cổ tức bằng cổ phiếu, nhà đầu tư chỉ theo dõi số lượng cổ
phiếu tăng thêm trên thuyết minh BCTC, không ghi nhận giá trị cổ phiếu được
nhận, không ghi nhận doanh thu hoạt động tài chính, không ghi nhận tăng giá trị
khoản đầu tư vào công ty. h)
Việc hạch toán khoản doanh thu hoạt động tài chính phát sinh liên quan đến ngoại
tệ được thực hiện theo quy định tại Điều 52 Thông tư này. 2.
Kết cấu và nội dung phản ánh của Tài khoản 515 - Doanh thu hoạt động tài
chính Bên
Nợ: -
Số thuế GTGT phải nộp tính theo phương pháp trực tiếp (nếu
có); -
Kết chuyển doanh thu hoạt động tài chính thuần sang tài khoản 911 - “Xác định
kết quả kinh doanh”. Bên
Có: Các
khoản doanh thu hoạt động tài chính phát sinh trong kỳ. Tài
khoản 515 không có số dư cuối kỳ. Điều
59. Nguyên tắc kế toán chi phí 1.
Chi phí là những khoản làm giảm lợi ích kinh tế, được ghi nhận tại thời điểm
giao dịch phát sinh hoặc khi có khả năng tương đối chắc chắn sẽ phát sinh trong
tương lai không phân biệt đã chi tiền hay chưa. 2.
Việc ghi nhận chi phí ngay cả khi chưa đến kỳ hạn thanh toán nhưng có khả năng
chắc chắn sẽ phát sinh nhằm đảm bảo nguyên tắc thận trọng và bảo toàn vốn. Chi
phí và khoản doanh thu do nó tạo ra phải được ghi nhận đồng thời theo nguyên tắc
phù hợp. Tuy nhiên trong một số trường hợp, nguyên tắc phù hợp có thể xung đột
với nguyên tắc thận trọng trong kế toán, thì kế toán phải căn cứ vào bản chất
của giao dịch để phản ánh một cách trung thực, hợp lý. 3.
Kế toán phải theo dõi chi tiết các khoản chi phí phát sinh theo yếu tố, tiền
lương, nguyên vật liệu, chi phí mua ngoài, khấu hao
TSCĐ... 4.
Các khoản chi phí không được coi là chi phí được trừ theo quy định của Luật thuế
TNDN nhưng có đầy đủ hóa đơn chứng từ và đã hạch toán đúng theo Chế độ kế toán
thì không được ghi giảm chi phí kế toán mà chỉ điều chỉnh trong quyết toán thuế
TNDN để làm tăng số thuế TNDN phải nộp. 5.
Các tài khoản phản ánh chi phí không có số dư, cuối kỳ kế toán phải kết chuyển
tất cả các khoản chi phí phát sinh trong kỳ để xác định kết quả kinh
doanh. Điều
60. Tài khoản 611 - Mua hàng 1.
Nguyên tắc kế toán a)
Tài khoản này dùng để phản ánh trị giá nguyên liệu, vật liệu, công cụ, dụng cụ,
hàng hóa mua vào, nhập kho hoặc đưa vào sử dụng trong kỳ. Tài khoản 611 "Mua
hàng" chỉ áp dụng đối với doanh nghiệp kế toán hàng tồn kho theo phương pháp
kiểm kê định kỳ. b)
Giá trị nguyên liệu, vật liệu, công cụ, dụng cụ, hàng hóa mua vào phản ánh trên
tài khoản 611 "Mua hàng" phải thực hiện theo nguyên tắc giá
gốc. c)
Trường hợp hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kiểm kê định kỳ, doanh nghiệp
phải tổ chức kiểm kê hàng tồn kho để xác định số lượng và giá trị của từng
nguyên liệu, vật liệu, hàng hóa, sản phẩm, công cụ, dụng cụ tồn kho tại thời
điểm cuối kỳ kế toán để xác định giá trị hàng tồn kho xuất vào sử dụng và xuất
bán trong kỳ. d)
Phương pháp hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kiểm kê định kỳ: Khi mua
nguyên liệu, vật liệu, công cụ, dụng cụ, hàng hóa, căn cứ vào hóa đơn mua hàng,
Hóa đơn vận chuyển, phiếu nhập kho, thông báo thuế nhập khẩu phải nộp (hoặc biên
lai thu thuế nhập khẩu,...) để ghi nhận giá gốc hàng mua vào tài khoản 611 "Mua
hàng". Khi xuất sử dụng, hoặc xuất bán chỉ ghi một lần vào cuối kỳ kế toán căn
cứ vào kết quả kiểm kê. đ)
Kế toán phải mở sổ chi tiết để hạch toán giá gốc hàng tồn kho mua vào theo từng
thứ nguyên liệu, vật liệu, công cụ, dụng cụ, hàng hóa. 2.
Kết cấu và nội dung phản ánh của Tài khoản 611 - Mua
hàng Bên
Nợ: -
Kết chuyển giá gốc hàng hóa, nguyên liệu, vật liệu, công cụ, dụng cụ tồn kho đầu
kỳ (theo kết quả kiểm kê); -
Giá gốc hàng hóa, nguyên liệu, vật liệu, công cụ, dụng cụ, mua vào trong
kỳ. Bên
Có: -
Kết chuyển giá gốc hàng hóa, nguyên liệu, vật liệu, công cụ, dụng cụ tồn kho
cuối kỳ (theo kết quả kiểm kê); -
Giá gốc hàng hóa, nguyên liệu, vật liệu, công cụ, dụng cụ xuất sử dụng trong kỳ
hoặc giá gốc hàng hóa xuất bán và hàng hóa gửi đi bán (chưa được xác định là đã
bán trong kỳ); -
Giá gốc nguyên liệu, vật liệu, công cụ, dụng cụ, hàng hóa mua vào trả lại cho
người bán hoặc được giảm giá. Tài
khoản 611 không có số dư cuối kỳ. Điều
61. Tài khoản 631 - Giá thành sản xuất 1.
Nguyên tắc kế toán a)
Tài khoản này dùng để phản ánh tổng hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm, dịch vụ ở các đơn vị sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp và các
đơn vị kinh doanh dịch vụ vận tải, bưu điện, du lịch, khách sạn,... trong trường
hợp hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kiểm kê định
kỳ. b)
Đối với doanh nghiệp hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường
xuyên không sử dụng tài khoản này. c)
Chỉ hạch toán vào tài khoản 631 các loại chi phí sản xuất, kinh doanh
sau: -
Chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp; -
Chi phí nhân công trực tiếp; -
Chi phí sử dụng máy thi công (đối với các doanh nghiệp xây
lắp); -
Chi phí sản xuất chung. d)
Không hạch toán vào tài khoản 631 các loại chi phí sau: -
Chi phí bán hàng; -
Chi phí quản lý doanh nghiệp; -
Chi phí tài chính; -
Chi phí khác; đ)
Chi phí của bộ phận sản xuất, kinh doanh phục vụ cho sản xuất, kinh doanh, trị
giá vốn hàng hóa, nguyên liệu, vật liệu và chi phí thuê ngoài gia công chế biến
(thuê ngoài, hay tự gia công, chế biến) cũng được phản ánh trên tài khoản
631. e)
Tài khoản 631 “Giá thành sản xuất” phải được hạch toán chi tiết theo nơi phát
sinh chi phí (phân xưởng, tổ, đội sản xuất,...) theo loại, nhóm sản phẩm, dịch
vụ… g)
Đối với ngành nông nghiệp, giá thành thực tế của sản phẩm được xác định vào cuối
vụ hoặc cuối năm. Sản phẩm thu hoạch năm nào thì tính giá thành trong năm đó,
nghĩa là chi phí chi ra trong năm nay nhưng năm sau mới thu hoạch sản phẩm thì
năm sau mới tính giá thành. -
Đối với ngành trồng trọt, chi phí phải được hạch toán chi tiết theo 3 loại
cây: +
Cây ngắn ngày; +
Cây trồng một lần thu hoạch nhiều lần; +
Cây lâu năm. Đối
với các loại cây trồng 2, 3 vụ trong một năm, hoặc trồng năm nay, năm sau mới
thu hoạch, hoặc loại cây vừa có diện tích trồng mới, vừa có diện tích chăm sóc
thu hoạch trong cùng một năm,... thì phải căn cứ vào tình hình thực tế để ghi
chép, phản ánh rõ ràng chi phí của vụ này với vụ khác, của diện tích này với
diện tích khác, của năm trước với năm nay và năm sau,...Không phản ánh vào tài
khoản 631 “Giá thành sản xuất” chi phí trồng mới và chăm sóc cây lâu năm đang
trong thời kỳ XDCB. Đối
với một số loại chi phí có liên quan đến nhiều đối tượng hạch toán hoặc liên
quan đến nhiều vụ, nhiều thời kỳ thì phải được theo dõi chi tiết riêng, sau đó
phân bổ vào giá thành từng loại sản phẩm có liên quan như: Chi phí tưới tiêu
nước, chi phí chuẩn bị đất và trồng mới năm đầu của những cây trồng một lần, thu
hoạch nhiều lần (chi phí này không thuộc vốn đầu tư XDCB). Trên
cùng một diện tích canh tác, nếu trồng xen kẽ từ hai loại cây công nghiệp ngắn
ngày trở lên thì những chi phí phát sinh có liên quan trực tiếp đến cây nào sẽ
tập hợp riêng cho cây đó (như hạt giống, chi phí gieo trồng, thu hoạch) chi phí
phát sinh chung cho các loại cây (như chi phí cày, bừa, tưới tiêu nước…) được
tập hợp riêng và phân bổ cho từng loại cây theo diện tích gieo
trồng. Đối
với cây lâu năm, các công việc từ khi làm đất, gieo trồng, chăm sóc đến khi bắt
đầu có sản phẩm được xem như quá trình đầu tư XDCB để hình thành nên TSCĐ được
tập hợp chi phí vào TK 241 “XDCB dở dang”. -
Hạch toán chi phí chăn nuôi phải theo dõi chi tiết cho từng ngành chăn nuôi
(ngành chăn nuôi trâu bò, ngành chăn nuôi lợn…), theo từng nhóm hoặc theo từng
loại gia súc, gia cầm. Đối với súc vật sinh sản khi đào thải chuyển thành súc
vật nuôi lớn, nuôi béo được hạch toán vào TK 631 “Giá thành sản xuất” theo giá
trị còn lại. h)
Tài khoản 631 “Giá thành sản xuất” áp dụng đối với ngành giao thông vận tải phải
được hạch toán chi tiết theo từng loại hoạt động (vận tải hành khách, vận tải
hàng hóa…). Trong quá trình vận tải, săm lốp bị hao mòn với mức độ nhanh hơn mức
khấu hao đầu xe nên thường phải thay thế nhiều lần nhưng giá trị săm lốp thay
thế không tính vào giá thành vận tải ngay một lúc khi xuất dùng thay thế, mà
phải trích trước hoặc phân bổ dần vào chi phí sản xuất, kinh doanh hàng
kỳ. i)
Trong hoạt động kinh doanh khách sạn, hạch toán tài khoản 631 phải được theo dõi
chi tiết theo từng loại hoạt động như: Hoạt động ăn uống, dịch vụ buồng nghỉ,
phục vụ vui chơi giải trí, phục vụ khác (giặt, là, cắt tóc, điện tín,
massage…). 2.
Kết cấu và nội dung phản ánh của Tài khoản 631 - Giá thành sản
xuất Bên
Nợ: -
Chi phí sản xuất, kinh doanh sản phẩm, dịch vụ dở dang đầu
kỳ; -
Chi phí sản xuất, kinh doanh sản phẩm, dịch vụ thực tế phát sinh trong
kỳ. Bên
Có: -
Giá thành sản phẩm nhập kho, dịch vụ hoàn thành kết chuyển vào tài khoản 632
“Giá vốn hàng bán”. -
Chi phí sản xuất, kinh doanh sản phẩm, dịch vụ dở dang cuối kỳ kết chuyển vào
tài khoản 154 “Chi phí sản xuất, kinh doanh dở dang”. Tài
khoản 631 không có số dư cuối kỳ. Điều
62. Tài khoản 632 - Giá vốn hàng bán 1.
Nguyên tắc kế toán a)
Tài khoản này dùng để phản ánh trị giá vốn của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, bất
động sản đầu tư; giá thành sản xuất của sản phẩm xây lắp (đối với doanh nghiệp
xây lắp) bán trong kỳ. Ngoài ra, tài khoản này còn dùng để phản ánh các chi phí
liên quan đến hoạt động kinh doanh bất động sản đầu tư như: Chi phí khấu hao;
chi phí sửa chữa; chi phí cho thuê BĐSĐT theo phương thức cho thuê hoạt động;
chi phí nhượng bán, thanh lý BĐSĐT… b)
Khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho được tính vào giá vốn hàng bán trên cơ sở
số lượng hàng tồn kho và phần chênh lệch giữa giá trị thuần có thể thực hiện
được nhỏ hơn giá gốc hàng tồn kho. Khi xác định khối lượng hàng tồn kho bị giảm
giá cần phải trích lập dự phòng, kế toán phải loại trừ khối lượng hàng tồn kho
đã ký được hợp đồng tiêu thụ (có giá trị thuần có thể thực hiện được không thấp
hơn giá trị ghi sổ) nhưng chưa chuyển giao cho khách hàng nếu có bằng chứng chắc
chắn về việc khách hàng sẽ không từ bỏ thực hiện hợp đồng và loại trừ hàng tồn
kho dùng cho hoạt động xây dựng cơ bản, giá trị hàng tồn kho dùng cho sản xuất
sản phẩm mà sản phẩm được tạo ra từ những hàng tồn kho này có giá bán bằng hoặc
cao hơn giá thành sản xuất của sản phẩm. c)
Đối với phần giá trị hàng tồn kho hao hụt, mất mát, kế toán phải tính ngay vào
giá vốn hàng bán (sau khi trừ đi các khoản bồi thường, nếu
có). d)
Các khoản thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế bảo vệ môi trường đã tính
vào giá trị hàng mua, nếu khi xuất bán hàng hóa mà các khoản thuế đó được hoàn
lại thì được ghi giảm giá vốn hàng bán. e)
Các khoản chi phí không được coi là chi phí được trừ theo quy định của Luật thuế
TNDN nhưng có đầy đủ hóa đơn chứng từ và đã hạch toán đúng theo Chế độ kế toán
thì không được ghi giảm chi phí kế toán mà chỉ điều chỉnh trong quyết toán thuế
TNDN để làm tăng số thuế TNDN phải nộp. 2.
Kết cấu và nội dung phản ánh của Tài khoản 632 - Giá vốn hàng
bán 2.1.
Trường hợp doanh nghiệp kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường
xuyên. Bên
Nợ: -
Đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh, phản ánh: +
Trị giá vốn của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ đã bán trong
kỳ. +
Chi phí nguyên liệu, vật liệu, chi phí nhân công vượt trên mức bình thường và
chi phí sản xuất chung cố định không phân bổ được tính vào giá vốn hàng bán
trong kỳ; +
Các khoản hao hụt, mất mát của hàng tồn kho sau khi trừ phần bồi thường do trách
nhiệm cá nhân gây ra; +
Số trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho (chênh lệch giữa số dự phòng giảm
giá hàng tồn kho phải lập năm nay lớn hơn số dự phòng đã lập năm trước chưa sử
dụng hết). -
Đối với hoạt động kinh doanh BĐSĐT, phản ánh: +
Số khấu hao BĐSĐT dùng để cho thuê hoạt động trích trong
kỳ; +
Chi phí sửa chữa, nâng cấp, cải tạo BĐSĐT không đủ điều kiện tính vào nguyên giá
BĐSĐT; +
Chi phí phát sinh từ nghiệp vụ cho thuê hoạt động BĐSĐT trong
kỳ; +
Giá trị còn lại của BĐSĐT bán, thanh lý trong kỳ; +
Chi phí của nghiệp vụ bán, thanh lý BĐSĐT phát sinh trong
kỳ; +
Số tổn thất do giảm giá trị BĐSĐT nắm giữ chờ tăng giá; +
Chi phí trích trước đối với hàng hóa bất động sản được xác định là đã
bán. Bên
Có: -
Kết chuyển giá vốn của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ đã bán trong kỳ sang tài
khoản 911 “Xác định kết quả kinh doanh”; -
Kết chuyển toàn bộ chi phí kinh doanh BĐSĐT phát sinh trong kỳ để xác định kết
quả hoạt động kinh doanh; -
Khoản hoàn nhập dự phòng giảm giá hàng tồn kho cuối năm tài chính (chênh lệch
giữa số dự phòng phải lập năm nay nhỏ hơn số đã lập năm
trước); -
Trị giá hàng bán bị trả lại; -
Khoản hoàn nhập chi phí trích trước đối với hàng hóa bất động sản được xác định
là đã bán (chênh lệch giữa số chi phí trích trước còn lại cao hơn chi phí thực
tế phát sinh); -
Khoản chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán nhận được sau khi hàng mua đã
tiêu thụ; -
Số điều chỉnh tăng nguyên giá BĐSĐT nắm giữ chờ tăng giá khi có bằng chứng chắc
chắn cho thấy BĐSĐT có dấu hiệu tăng giá trở lại; -
Các khoản thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế bảo vệ môi trường đã tính
vào giá trị hàng mua, nếu khi xuất bán hàng hóa mà các khoản thuế đó được hoàn
lại. Tài
khoản 632 không có số dư cuối kỳ. 2.2.
Trường hợp doanh nghiệp kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kiểm kê định
kỳ. 2.2.1.
Đối với doanh nghiệp kinh doanh thương mại Bên
Nợ: -
Trị giá vốn của hàng hóa đã xuất bán trong kỳ. -
Số trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho (chênh lệch giữa số dự phòng phải
lập năm nay lớn hơn số đã lập năm trước chưa sử dụng hết). Bên
Có: -
Kết chuyển giá vốn của hàng hóa đã gửi bán nhưng chưa được xác định là tiêu
thụ; -
Hoàn nhập dự phòng giảm giá hàng tồn kho cuối năm tài chính (chênh lệch giữa số
dự phòng phải lập năm nay nhỏ hơn số đã lập năm trước); -
Kết chuyển giá vốn của hàng hóa đã xuất bán vào bên Nợ tài khoản 911 “Xác định
kết quả kinh doanh”. 2.2.2.
Đối với doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh dịch
vụ Bên
Nợ: -
Trị giá vốn của thành phẩm, dịch vụ tồn kho đầu kỳ; -
Số trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho (chênh lệch giữa số dự phòng phải
lập năm nay lớn hơn số dự phòng đã lập năm trước chưa sử dụng
hết); -
Trị giá vốn của thành phẩm sản xuất xong nhập kho và dịch vụ đã hoàn
thành. Bên
Có: -
Kết chuyển giá vốn của thành phẩm, dịch vụ tồn kho cuối kỳ vào bên Nợ TK 155
“Thành phẩm”; TK 154 “Chi phí sản xuất kinh doanh, dở
dang”; -
Hoàn nhập dự phòng giảm giá hàng tồn kho cuối năm tài chính (chênh lệch giữa số
dự phòng phải lập năm nay nhỏ hơn số đã lập năm trước chưa sử dụng
hết); -
Kết chuyển giá vốn của thành phẩm đã xuất bán, dịch vụ hoàn thành được xác định
là đã bán trong kỳ vào bên Nợ TK 911 “Xác định kết quả kinh doanh”.
Tài
khoản 632 không có số dư cuối kỳ.
Điều
63. Tài khoản 635 - Chi phí tài chính 1.
Nguyên tắc kế toán a)
Tài khoản này phản ánh những khoản chi phí hoạt động tài chính bao
gồm: -
Chi phí lãi tiền vay, lãi mua hàng trả chậm, lãi thuê tài sản thuê tài
chính; -
Chiết khấu thanh toán cho người mua; -
Các khoản lỗ do thanh lý, nhượng bán các khoản đầu tư; chi phí giao dịch bán
chứng khoán; -
Lỗ tỷ giá hối đoái phát sinh trong kỳ; Lỗ tỷ giá hối đoái do đánh giá lại cuối
kỳ các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ; Lỗ bán ngoại tệ; -
Số trích lập dự phòng giảm giá chứng khoán kinh doanh, dự phòng tổn thất đầu tư
vào đơn vị khác; -
Các khoản chi phí của hoạt động đầu tư tài chính khác; -
Các khoản chi phí tài chính khác. b)
Tài khoản 635 phải được hạch toán chi tiết cho từng nội dung chi phí. Không hạch
toán vào tài khoản 635 những nội dung chi phí sau đây: -
Chi phí phục vụ cho việc sản xuất sản phẩm, cung cấp dịch
vụ; -
Chi phí bán hàng; -
Chi phí quản lý doanh nghiệp; -
Chi phí kinh doanh bất động sản; -
Chi phí đầu tư xây dựng cơ bản; -
Các khoản chi phí được trang trải bằng nguồn kinh phí
khác; -
Chi phí khác. c)
Việc hạch toán khoản chi phí tài chính phát sinh liên quan đến ngoại tệ được
thực hiện theo quy định tại Điều 52 Thông tư này. 2.
Kết cấu và nội dung phản ánh của Tài khoản 635 - Chi phí tài
chính Bên
Nợ: -
Các khoản chi phí tài chính phát sinh trong kỳ; -
Trích lập bổ sung dự phòng giảm giá chứng khoán kinh doanh, dự phòng tổn thất
đầu tư vào đơn vị khác (chênh lệch giữa số dự phòng phải lập kỳ này lớn hơn số
dự phòng đã lập kỳ trước). Bên
Có: -
Hoàn nhập dự phòng giảm giá chứng khoán kinh doanh, dự phòng tổn thất đầu tư vào
đơn vị khác (chênh lệch giữa số dự phòng phải lập kỳ này nhỏ hơn số dự phòng đã
trích lập kỳ trước chưa sử dụng hết); -
Các khoản được ghi giảm chi phí tài chính; -
Cuối kỳ kế toán, kết chuyển toàn bộ chi phí tài chính phát sinh trong kỳ để xác
định kết quả hoạt động kinh doanh. Tài
khoản 635 không có số dư cuối kỳ. Điều
64. Tài khoản 642 - Chi phí quản lý kinh doanh 1.
Nguyên tắc kế toán 1.1.
Tài khoản này dùng để phản ánh các khoản chi phí quản lý kinh doanh bao gồm chi
phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp: Chi
phí bán hàng bao gồm các chi phí thực tế phát sinh trong quá trình bán sản phẩm,
hàng hóa, cung cấp dịch vụ, bao gồm các chi phí chào hàng, giới thiệu sản phẩm,
quảng cáo sản phẩm, hoa hồng bán hàng, chi phí bảo hành sản phẩm, hàng hóa (trừ
hoạt động xây lắp), chi phí bảo quản, đóng gói, vận chuyển, lương nhân viên bộ
phận bán hàng (tiền lương, tiền công, các khoản phụ cấp,...), bảo hiểm xã hội,
bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao
động của nhân viên bán hàng; chi phí vật liệu, công cụ lao động, khấu hao TSCĐ
dùng cho bộ phận bán hàng; dịch vụ mua ngoài (điện, nước, điện thoại, fax,...);
chi phí bằng tiền khác. Chi
phí quản lý doanh nghiệp bao gồm các chi phí quản lý chung của doanh nghiệp bao
gồm các chi phí về lương nhân viên bộ phận quản lý doanh nghiệp (tiền lương,
tiền công, các khoản phụ cấp,...); bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công
đoàn, bảo hiểm thất nghiệp của nhân viên quản lý doanh nghiệp; chi phí vật liệu
văn phòng, công cụ lao động, khấu hao TSCĐ dùng cho quản lý doanh nghiệp; tiền
thuê đất, thuế môn bài; khoản lập dự phòng phải thu khó đòi; dịch vụ mua ngoài
(điện, nước, điện thoại, fax, bảo hiểm tài sản, cháy nổ...); chi phí bằng tiền
khác (tiếp khách, hội nghị khách hàng...). 1.2.
Các khoản chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp không được coi là chi
phí được trừ theo quy định của Luật thuế TNDN nhưng có đầy đủ hóa đơn chứng từ
và đã hạch toán đúng theo Chế độ kế toán thì không được ghi giảm chi phí kế toán
mà chỉ điều chỉnh trong quyết toán thuế TNDN để làm tăng số thuế TNDN phải
nộp. 1.3.
Tài khoản 642 được mở chi tiết theo từng nội dung chi phí theo quy định. Tùy
theo yêu cầu quản lý của từng ngành, từng doanh nghiệp, tài khoản 642 có thể
được mở chi tiết theo từng loại chi phí như: chi phí bán hàng, chi phí quản lý
doanh nghiệp. Trong từng loại chi phí được theo dõi chi tiết theo từng nội dung
chi phí như: a)
Đối với chi phí bán hàng: -
Chi phí nhân viên:
Phản ánh các khoản phải trả cho nhân viên bán hàng, nhân viên đóng gói, vận
chuyển, bảo quản sản phẩm, hàng hóa,... bao gồm tiền lương, tiền ăn giữa ca,
tiền công và các khoản trích bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn,
bảo hiểm thất nghiệp,... -
Chi phí vật liệu, bao bì:
Phản ánh các chi phí vật liệu, bao bì xuất dùng cho việc bảo quản, tiêu thụ sản
phẩm, hàng hóa, dịch vụ, như chi phí vật liệu đóng gói sản phẩm, hàng hóa, chi
phí vật liệu, nhiên liệu dùng cho bảo quản, bốc vác, vận chuyển sản phẩm, hàng
hóa trong quá trình tiêu thụ, vật liệu dùng cho sửa chữa, bảo quản TSCĐ,... dùng
cho bộ phận bán hàng. -
Chi phí dụng cụ, đồ dùng:
Phản ánh chi phí về công cụ, dụng cụ phục vụ cho quá trình tiêu thụ sản phẩm,
hàng hóa như dụng cụ đo lường, phương tiện tính toán, phương tiện làm
việc,... -
Chi phí khấu hao TSCĐ:
Phản ánh chi phí khấu hao TSCĐ ở bộ phận bảo quản, bán hàng, như nhà kho, cửa
hàng, bến bãi, phương tiện bốc dỡ, vận chuyển, phương tiện tính toán, đo lường,
kiểm nghiệm chất lượng,... -
Chi phí bảo hành:
Dùng để phản ánh khoản chi phí bảo hành sản phẩm, hàng hóa. Riêng chi phí sửa
chữa và bảo hành công trình xây lắp phản ánh ở TK 154 “Chi phí sản xuất kinh
doanh dở dang” mà không phản ánh ở TK này. -
Chi phí dịch vụ mua ngoài: Phản
ánh các chi phí dịch vụ mua ngoài phục vụ cho bán hàng như chi phí thuê ngoài
sửa chữa TSCĐ phục vụ trực tiếp cho khâu bán hàng, tiền thuê kho, thuê bãi, tiền
thuê bốc vác, vận chuyển sản phẩm, hàng hóa đi bán, tiền trả hoa hồng cho đại lý
bán hàng, cho đơn vị nhận ủy thác xuất khẩu,... -
Chi phí bằng tiền khác:
Phản ánh các chi phí bằng tiền khác phát sinh trong khâu bán hàng ngoài các chi
phí nêu trên như chi phí tiếp khách ở bộ phận bán hàng, chi phí giới thiệu sản
phẩm, hàng hóa, khuyến mại, quảng cáo, chào hàng, chi phí hội nghị khách
hàng.. b)
Đối với chi phí quản lý doanh nghiệp: -
Chi phí nhân viên quản lý:
Phản ánh các khoản phải trả cho cán bộ nhân viên quản lý doanh nghiệp, như tiền
lương, các khoản phụ cấp, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn,
bảo hiểm thất nghiệp của Ban Giám đốc, nhân viên quản lý ở các phòng, ban của
doanh nghiệp. -
Chi phí vật liệu quản lý:
Phản ánh chi phí vật liệu xuất dùng cho công tác quản lý doanh nghiệp như văn
phòng phẩm... vật liệu sử dụng cho việc sửa chữa TSCĐ, công cụ, dụng cụ,... (giá
có thuế hoặc chưa có thuế GTGT). -
Chi phí đồ dùng văn phòng:
Phản ánh chi phí dụng cụ, đồ dùng văn phòng dùng cho công tác quản lý (giá có
thuế hoặc chưa có thuế GTGT). -
Chi phí khấu hao TSCĐ:
Phản ánh chi phí khấu hao TSCĐ dùng chung cho doanh nghiệp như: Nhà cửa làm việc
của các phòng ban, kho tàng, vật kiến trúc, phương tiện vận tải truyền dẫn, máy
móc thiết bị quản lý dùng trên văn phòng,... -
Thuế, phí và lệ phí:
Phản ánh chi phí về thuế, phí và lệ phí như: thuế môn bài, tiền thuê đất,... và
các khoản phí, lệ phí khác. -
Chi phí dự phòng:
Phản ánh các khoản dự phòng phải thu khó đòi, dự phòng phải trả tính vào chi phí
sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. -
Chi phí dịch vụ mua ngoài:
Phản ánh các chi phí dịch vụ mua ngoài phục vụ cho công tác quản lý doanh
nghiệp; các khoản chi mua và sử dụng các tài liệu kỹ thuật, bằng sáng chế,...
(không đủ tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ) được tính theo phương pháp phân bổ dần vào
chi phí quản lý doanh nghiệp; tiền thuê TSCĐ, chi phí trả cho nhà thầu
phụ. -
Chi phí bằng tiền khác:
Phản ánh các chi phí khác thuộc quản lý chung của doanh nghiệp, ngoài các chi
phí nêu trên, như: Chi phí hội nghị, tiếp khách, công tác phí, tàu xe, khoản chi
cho lao động nữ,... 1.4.
Đối với sản phẩm, hàng hóa dùng để khuyến mại, quảng cáo: -
Trường hợp xuất sản phẩm, hàng hóa để khuyến mại, quảng cáo không thu tiền,
không kèm theo các điều kiện khác như phải mua sản phẩm, hàng hóa thì ghi nhận
giá trị hàng khuyến mại, quảng cáo vào chi phí bán hàng. -
Trường hợp xuất sản phẩm, hàng hóa để khuyến mại, quảng cáo nhưng khách hàng chỉ
được nhận hàng khuyến mại, quảng cáo kèm theo các điều kiện khác như phải mua
sản phẩm, hàng hóa (ví dụ như mua 2 sản phẩm được tặng 1 sản phẩm....) thì kế
toán phản ánh giá trị hàng khuyến mại, quảng cáo vào giá vốn hàng bán (trường
hợp này bản chất giao dịch là giảm giá hàng bán). -
Trường hợp doanh nghiệp có hoạt động thương mại được nhận hàng hóa (không phải
trả tiền) từ nhà sản xuất, nhà phân phối để quảng cáo, khuyến mại cho khách hàng
mua hàng của nhà sản xuất, nhà phân phối: +
Khi nhận hàng của nhà sản xuất (không phải trả tiền) dùng để khuyến mại, quảng
cáo cho khách hàng, nhà phân phối phải theo dõi chi tiết số lượng hàng trong hệ
thống quản trị nội bộ của mình và thuyết minh trên Bản thuyết minh Báo cáo tài
chính đối với hàng nhận được và số hàng đã dùng để khuyến mại cho người mua (như
hàng hóa nhận giữ hộ). +
Khi hết chương trình khuyến mại, nếu không phải trả lại nhà sản xuất số hàng
khuyến mại chưa sử dụng hết, kế toán ghi nhận thu nhập khác là giá trị số hàng
khuyến mại không phải trả lại. 2.
Kết cấu và nội dung phản ánh của Tài khoản 642 - Chi phí quản lý kinh
doanh Bên
Nợ: -
Các chi phí quản lý kinh doanh phát sinh trong kỳ; -
Số dự phòng phải thu khó đòi, dự phòng phải trả (Chênh lệch giữa số dự phòng
phải lập kỳ này lớn hơn số dự phòng đã lập kỳ trước chưa sử dụng
hết); Bên
Có: -
Các khoản được ghi giảm chi phí quản lý kinh doanh; -
Hoàn nhập dự phòng phải thu khó đòi, dự phòng phải trả (chênh lệch giữa số dự
phòng phải lập kỳ này nhỏ hơn số dự phòng đã lập kỳ trước chưa sử dụng
hết); -
Kết chuyển chi phí quản lý kinh doanh vào tài khoản 911 "Xác định kết quả kinh
doanh". Tài
khoản 642 không có số dư cuối kỳ. Tài
khoản 642 - Chi phí quản lý kinh doanh có 2 tài khoản cấp 2: -
Tài khoản 6421 - Chi phí bán hàng:
Phản ánh chi phí bán hàng thực tế phát sinh trong quá trình bán sản phẩm, hàng
hóa và cung cấp dịch vụ trong kỳ của doanh nghiệp và tình hình kết chuyển chi
phí bán hàng sang TK 911- Xác định kết quả kinh doanh. -
Tài khoản 6422 - Chi phí quản lý doanh nghiệp:
Phản ánh chi phí quản lý chung của doanh nghiệp phát sinh trong kỳ và tình hình
kết chuyển chi phí quản lý doanh nghiệp sang TK 911 - Xác định kết quả kinh
doanh. Điều
65. Tài khoản 711 - Thu nhập khác 1.
Nguyên tắc kế toán a)
Tài khoản này dùng để phản ánh các khoản thu nhập khác ngoài hoạt động sản xuất,
kinh doanh thông thường của doanh nghiệp, gồm: -
Thu nhập từ nhượng bán, thanh lý TSCĐ; -
Chênh lệch giữa giá trị hợp lý tài sản được chia từ BCC cao hơn chi phí đầu tư
xây dựng tài sản đồng kiểm soát; -
Chênh lệch lãi do đánh giá lại vật tư, hàng hóa, tài sản cố định đưa đi góp vốn
liên doanh, đầu tư vào công ty liên kết và đầu tư khác; -
Các khoản thuế phải nộp khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ nhưng sau đó được
giảm, được hoàn (thuế xuất khẩu được hoàn, thuế GTGT, TTĐB, BVMT phải nộp nhưng
sau đó được giảm); -
Thu tiền phạt do khách hàng vi phạm hợp đồng; -
Thu tiền bồi thường của bên thứ ba để bù đắp cho tài sản bị tổn thất (ví dụ thu
tiền bảo hiểm được bồi thường, tiền đền bù di dời cơ sở kinh doanh và các khoản
có tính chất tương tự); -
Thu các khoản nợ khó đòi đã xử lý xóa sổ; -
Thu các khoản nợ phải trả không xác định được chủ; -
Các khoản tiền thưởng của khách hàng liên quan đến tiêu thụ hàng hóa, sản phẩm,
dịch vụ không tính trong doanh thu (nếu có); -
Thu nhập quà biếu, quà tặng bằng tiền, hiện vật của các tổ chức, cá nhân tặng
cho doanh nghiệp; -
Giá trị số hàng khuyến mại không phải trả lại nhà sản
xuất; -
Các khoản thu nhập khác ngoài các khoản nêu trên. b)
Khi có khả năng chắc chắn thu được các khoản tiền phạt vi phạm hợp đồng, kế toán
phải xét bản chất của khoản tiền phạt để kế toán phù hợp với từng trường hợp cụ
thể theo nguyên tắc: -
Đối với bên bán: Tất cả các khoản tiền phạt vi phạm hợp đồng thu được từ bên mua
nằm ngoài giá trị hợp đồng được ghi nhận là thu nhập khác. -
Đối với bên mua: +
Các khoản tiền phạt về bản chất là khoản giảm giá hàng mua, làm giảm khoản thanh
toán cho người bán được hạch toán giảm giá trị tài sản hoặc khoản thanh toán
(không hạch toán vào thu nhập khác) trừ khi tài sản có liên quan đã được thanh
lý, nhượng bán. Ví
dụ khi nhà thầu thi công chậm tiến độ, chủ đầu tư được phạt nhà thầu theo đó
được quyền thu hồi lại một phần số tiền đã thanh toán cho nhà thầu thì số tiền
thu hồi lại được ghi giảm giá trị tài sản xây dựng. Tuy nhiên nếu khoản tiền
phạt thu được sau khi tài sản đã được thanh lý, nhượng bán thì khoản tiền phạt
được ghi vào thu nhập khác. +
Các khoản tiền phạt khác được ghi nhận là thu nhập khác trong kỳ phát sinh, ví
dụ: Người mua được quyền từ chối nhận hàng và được phạt người bán nếu giao hàng
không đúng thời hạn quy định trong hợp đồng thì khoản tiền phạt phải thu được
ghi nhận là thu nhập khác khi chắc chắn thu được. Trường hợp người mua vẫn nhận
hàng và số tiền phạt được giảm trừ vào số tiền phải thanh toán thì giá trị hàng
mua được ghi nhận theo số thực phải thanh toán, kế toán không ghi nhận khoản
tiền phạt vào thu nhập khác. 2.
Kết cấu và nội dung phản ánh của Tài khoản 711 - Thu nhập
khác Bên
Nợ: -
Số thuế GTGT phải nộp (nếu có) đối với các khoản thu nhập khác ở doanh nghiệp
nộp thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp. -
Cuối kỳ kế toán, kết chuyển các khoản thu nhập khác phát sinh trong kỳ sang tài
khoản 911 “Xác định kết quả kinh doanh”. Bên
Có:
Các khoản thu nhập khác phát sinh trong kỳ. Tài
khoản 711 - Thu nhập khác không có số dư cuối kỳ. Điều
66. Tài khoản 811 - Chi phí khác 1.
Nguyên tắc kế toán a)
Tài khoản này phản ánh những khoản chi phí phát sinh do các sự kiện hay các
nghiệp vụ riêng biệt với hoạt động thông thường của doanh nghiệp. Chi phí khác
của doanh nghiệp có thể gồm: -
Chi phí thanh lý, nhượng bán TSCĐ (gồm cả chi phí đấu thầu hoạt động thanh lý).
Số tiền thu từ bán hồ sơ thầu hoạt động thanh lý, nhượng bán TSCĐ được ghi giảm
chi phí thanh lý, nhượng bán TSCĐ; -
Chênh lệch giữa giá trị hợp lý tài sản được chia từ BCC nhỏ hơn chi phí đầu tư
xây dựng tài sản đồng kiểm soát; -
Giá trị còn lại của TSCĐ bị phá dỡ; -
Giá trị còn lại của TSCĐ thanh lý, nhượng bán TSCĐ (nếu
có); -
Chênh lệch lỗ do đánh giá lại vật tư, hàng hóa, TSCĐ đưa đi góp vốn vào công ty
liên doanh, liên kết và đầu tư khác; -
Tiền phạt phải trả do vi phạm hợp đồng kinh tế, phạt vi phạm hành
chính; -
Các khoản chi phí khác. b)
Các khoản chi phí không được coi là chi phí được trừ theo quy định của Luật thuế
TNDN nhưng có đầy đủ hóa đơn chứng từ và đã hạch toán đúng theo Chế độ kế toán
thì không được ghi giảm chi phí kế toán mà chỉ điều chỉnh trong quyết toán thuế
TNDN để làm tăng số thuế TNDN phải nộp. 2.
Kết cấu và nội dung phản ánh của Tài khoản 811 - Chi phí khác Bên
Nợ: Các
khoản chi phí khác phát sinh. Bên
Có:
Cuối kỳ, kết chuyển toàn bộ các khoản chi phí khác phát sinh trong kỳ vào tài
khoản 911 “Xác định kết quả kinh doanh”. Tài
khoản 811 không có số dư cuối kỳ. Điều
67. Tài khoản 821 - Chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp 1.
Nguyên tắc kế toán a)
Nguyên tắc kế toán chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp -
Tài khoản này dùng để phản ánh chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp của doanh
nghiệp phát sinh trong năm làm căn cứ xác định kết quả hoạt động kinh doanh sau
thuế của doanh nghiệp trong năm tài chính hiện hành. -
Chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp được ghi nhận vào tài khoản này là số thuế
thu nhập doanh nghiệp phải nộp tính trên thu nhập chịu thuế trong năm và thuế
suất thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành. -
Hàng quý, kế toán căn cứ vào chứng từ nộp thuế thu nhập doanh nghiệp để ghi nhận
số thuế thu nhập doanh nghiệp tạm phải nộp vào chi phí thuế thu nhập doanh
nghiệp. Cuối năm tài chính, căn cứ vào tờ khai quyết toán thuế, nếu số thuế thu
nhập doanh nghiệp tạm phải nộp trong năm nhỏ hơn số phải nộp cho năm đó, kế toán
ghi nhận số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp thêm vào chi phí thuế thu nhập
doanh nghiệp. Trường hợp số thuế thu nhập doanh nghiệp tạm phải nộp trong năm
lớn hơn số phải nộp của năm đó, kế toán phải ghi giảm chi phí thuế thu nhập
doanh nghiệp là số chênh lệch giữa số thuế thu nhập doanh nghiệp tạm phải nộp
trong năm lớn hơn số phải nộp. -
Trường hợp phát hiện sai sót không trọng yếu liên quan đến khoản thuế thu nhập
doanh nghiệp phải nộp của các năm trước, doanh nghiệp được hạch toán tăng (hoặc
giảm) số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp của các năm trước vào chi phí thuế
thu nhập doanh nghiệp của năm phát hiện sai sót. -
Đối với các sai sót trọng yếu, kế toán điều chỉnh hồi tố. -
Khi lập Báo cáo tài chính, kế toán phải kết chuyển chi phí thuế thu nhập doanh
nghiệp phát sinh vào tài khoản 911 - “Xác định kết quả kinh doanh” để xác định
lợi nhuận sau thuế trong kỳ kế toán. 2.
Kết cấu và nội dung phản ánh của Tài khoản 821 - Chi phí thuế thu nhập doanh
nghiệp
Bên
Nợ: -
Chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp phát sinh trong năm; -
Thuế thu nhập doanh nghiệp của các năm trước phải nộp bổ sung do phát hiện sai
sót không trọng yếu của các năm trước được ghi tăng chi phí thuế thu nhập doanh
nghiệp của năm hiện tại. Bên
Có: -
Số thuế thu nhập doanh nghiệp thực tế phải nộp trong năm nhỏ hơn số thuế thu
nhập doanh nghiệp tạm phải nộp được giảm trừ vào chi phí thuế thu nhập doanh
nghiệp đã ghi nhận trong năm; -
Số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp được ghi giảm do phát hiện sai sót không
trọng yếu của các năm trước được ghi giảm chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp
trong năm hiện tại; -
Kết chuyển số chênh lệch giữa chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp phát sinh trong
năm lớn hơn khoản được ghi giảm chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp trong năm vào
tài khoản 911 - “Xác định kết quả kinh doanh”. Tài
khoản 821 - “Chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp” không có số dư cuối kỳ.
Điều
68. Tài khoản 911 - Xác định kết quả kinh doanh 1.
Nguyên tắc kế toán a)
Tài khoản này dùng để xác định và phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh và các
hoạt động khác của doanh nghiệp trong một kỳ kế toán. Kết quả hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp bao gồm: Kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh, kết quả
hoạt động tài chính và kết quả hoạt động khác. -
Kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh là số chênh lệch giữa doanh thu thuần và
trị giá vốn hàng bán (gồm cả sản phẩm, hàng hóa, bất động sản đầu tư và dịch vụ,
giá thành sản xuất của sản phẩm xây lắp, chi phí liên quan đến hoạt động kinh
doanh bất động sản đầu tư, như: chi phí khấu hao, chi phí sửa chữa, nâng cấp,
chi phí cho thuê hoạt động, chi phí thanh lý, nhượng bán bất động sản đầu tư),
chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp. -
Kết quả hoạt động tài chính là số chênh lệch giữa thu nhập của hoạt động tài
chính và chi phí hoạt động tài chính. -
Kết quả hoạt động khác là số chênh lệch giữa các khoản thu nhập khác và các
khoản chi phí khác và chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp. b)
Tài khoản này phải phản ánh đầy đủ, chính xác kết quả hoạt động kinh doanh của
kỳ kế toán. Kết quả hoạt động kinh doanh phải được hạch toán chi tiết theo từng
loại hoạt động (hoạt động sản xuất, chế biến, hoạt động kinh doanh thương mại,
dịch vụ, hoạt động tài chính...). Trong từng loại hoạt động kinh doanh có thể
cần hạch toán chi tiết cho từng loại sản phẩm, từng ngành hàng, từng loại dịch
vụ. c)
Các khoản doanh thu và thu nhập được kết chuyển vào tài khoản này là số doanh
thu thuần và thu nhập thuần. 2.
Kết cấu và nội dung phản ánh của Tài khoản 911 - Xác định kết quả kinh
doanh Bên
Nợ: -
Trị giá vốn của sản phẩm, hàng hóa, bất động sản đầu tư và dịch vụ đã
bán; -
Chi phí hoạt động tài chính, chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp và chi phí khác;
-
Chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp; -
Kết chuyển lãi. Bên
Có: -
Doanh thu thuần về số sản phẩm, hàng hóa, bất động sản đầu tư và dịch vụ đã bán
trong kỳ; -
Doanh thu hoạt động tài chính, các khoản thu nhập khác và khoản kết chuyển giảm
chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp; -
Kết chuyển lỗ. Tài
khoản 911 không có số dư cuối kỳ. Chương
III BÁO
CÁO TÀI CHÍNH MỤC
1. QUY ĐỊNH CHUNG Điều
69. Mục đích của báo cáo tài chính 1.
Báo cáo tài chính dùng để cung cấp thông tin về tình hình tài chính, tình hình
kinh doanh và các luồng tiền của một doanh nghiệp, đáp ứng yêu cầu quản lý của
chủ doanh nghiệp, cơ quan Nhà nước và nhu cầu hữu ích của những người sử dụng
trong việc đưa ra các quyết định kinh tế. Báo cáo tài chính phải cung cấp những
thông tin của một doanh nghiệp về: a)
Tài sản; b)
Nợ phải trả; c)
Vốn chủ sở hữu; d)
Doanh thu, thu nhập khác, chi phí sản xuất kinh doanh và chi phí
khác; đ)
Lãi, lỗ và phân chia kết quả kinh doanh. 2.
Ngoài các thông tin này, doanh nghiệp còn phải cung cấp các thông tin khác trong
“Bản thuyết minh Báo cáo tài chính” nhằm giải trình thêm về các chỉ tiêu đã phản
ánh trên các Báo cáo tài chính và các chính sách kế toán đã áp dụng để ghi nhận
các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, lập và trình bày Báo cáo tài
chính. Điều
70. Đối tượng áp dụng, trách nhiệm lập và chữ ký trên báo cáo tài
chính 1.
Đối tượng lập Báo cáo tài chính năm: Hệ
thống Báo cáo tài chính năm ban hành theo Thông tư này được áp dụng cho tất cả
các loại hình doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa thuộc mọi lĩnh vực, 123 mọi
thành phần kinh tế trong cả nước. 2.
Việc ký Báo cáo tài chính phải thực hiện theo quy định của Luật Kế toán. Trường
hợp doanh nghiệp không tự lập Báo cáo tài chính mà thuê đơn vị kinh doanh dịch
vụ kế toán lập Báo cáo tài chính, người hành nghề thuộc các đơn vị kinh doanh
dịch vụ kế toán phải ký và ghi rõ số giấy chứng nhận đăng ký hành nghề dịch vụ
kế toán, tên đơn vị kinh doanh dịch vụ kế toán trên báo cáo tài chính của đơn
vị. Điều
71. Hệ thống báo cáo tài chính 1.
Hệ thống báo cáo tài chính năm áp dụng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa đáp ứng
giả định hoạt động liên tục bao gồm: a)
Báo cáo bắt buộc: -
Báo cáo tình hình tài chính Mẫu
số B01a - DNN -
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Mẫu
số B02 - DNN -
Bản thuyết minh Báo cáo tài chính Mẫu
số B09 - DNN Tùy
theo đặc điểm hoạt động và yêu cầu quản lý, doanh nghiệp có thể lựa chọn lập Báo
cáo tình hình tài chính theo Mẫu số B01b - DNN thay cho Mẫu số B01a -
DNN. Báo
cáo tài chính gửi cho cơ quan thuế phải lập và gửi thêm Bảng cân đối tài khoản
(Mẫu số F01 - DNN). b)
Báo cáo không bắt buộc mà khuyến khích lập: -
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ Mẫu
số B03 - DNN 2.
Hệ thống báo cáo tài chính năm áp dụng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa không đáp
ứng giả định hoạt động liên tục bao gồm: a)
Báo cáo bắt buộc: -
Báo cáo tình hình tài chính Mẫu
số B01 - DNNKLT -
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Mẫu
số B02 - DNN -
Bản thuyết minh Báo cáo tài chính Mẫu
số B09 - DNNKLT b)
Báo cáo không bắt buộc mà khuyến khích lập: -
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ Mẫu
số B03 - DNN 3.
Hệ thống báo cáo tài chính năm bắt buộc áp dụng cho các doanh nghiệp siêu nhỏ
bao gồm: -
Báo cáo tình hình tài chính Mẫu
số B01 - DNSN -
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Mẫu
số B02 - DNSN -
Bản thuyết minh Báo cáo tài chính Mẫu
số B09 - DNSN Khi
lập báo cáo tài chính, các doanh nghiệp phải tuân thủ biểu mẫu báo cáo tài chính
theo quy định. Trong quá trình áp dụng, nếu thấy cần thiết, các doanh nghiệp có
thể sửa đổi, bổ sung báo cáo tài chính cho phù hợp với từng lĩnh vực hoạt động
và yêu cầu quản lý của doanh nghiệp nhưng phải được Bộ Tài chính chấp thuận bằng
văn bản trước khi thực hiện. Ngoài
ra, doanh nghiệp có thể lập thêm các báo cáo khác để phục vụ yêu cầu quản lý,
chỉ đạo, điều hành hoạt động sản xuất, kinh doanh của đơn
vị. 4.
Nội dung, phương pháp lập và trình bày các chỉ tiêu trong từng báo cáo được áp
dụng thống nhất cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Điều
72. Yêu cầu đối với thông tin trình bày trong Báo cáo tài
chính 1.
Thông tin trình bày trên báo cáo tài chính phải đầy đủ, khách quan, không có sai
sót để phản ánh trung thực, hợp lý tình hình tài chính, tình hình và kết quả
kinh doanh của doanh nghiệp. -
Thông tin được coi là đầy đủ khi bao gồm tất cả các thông tin cần thiết để giúp
người sử dụng báo cáo tài chính hiểu được bản chất, hình thức và rủi ro của các
giao dịch và sự kiện. Đối với một số khoản mục, việc trình bày đầy đủ còn phải
mô tả thêm các thông tin về chất lượng, các yếu tố và tình huống có thể ảnh
hưởng tới chất lượng và bản chất của khoản mục. -
Trình bày khách quan là không thiên vị khi lựa chọn hoặc mô tả các thông tin tài
chính. Trình bày khách quan phải đảm bảo tính trung lập, không chú trọng, nhấn
mạnh hoặc giảm nhẹ cũng như có các thao tác khác làm thay đổi mức độ ảnh hưởng
của thông tin tài chính là có lợi hoặc không có lợi cho người sử dụng Báo cáo
tài chính. -
Không sai sót có nghĩa là không có sự bỏ sót trong việc mô tả hiện tượng và
không có sai sót trong quá trình cung cấp các thông tin báo cáo được lựa chọn và
áp dụng. Không sai sót không có nghĩa là hoàn toàn chính xác trong tất cả các
khía cạnh, ví dụ, việc ước tính các loại giá cả và giá trị không quan sát được
khó xác định là chính xác hay không chính xác. Việc trình bày một ước tính được
coi là trung thực nếu giá trị ước tính được mô tả rõ ràng, bản chất và các hạn
chế của quá trình ước tính được giải thích và không có sai sót trong việc lựa
chọn số liệu phù hợp trong quá trình ước tính. 2.
Thông tin tài chính phải thích hợp để giúp người sử dụng Báo cáo tài chính dự
đoán, phân tích và đưa ra các quyết định kinh tế. 3.
Thông tin tài chính phải được trình bày đầy đủ trên mọi khía cạnh trọng yếu.
Thông tin được coi là trọng yếu trong trường hợp nếu thiếu thông tin hoặc thông
tin thiếu chính xác có thể làm ảnh hưởng tới quyết định của người sử dụng thông
tin tài chính của đơn vị báo cáo. Tính trọng yếu dựa vào bản chất và độ lớn,
hoặc cả hai, của các khoản mục có liên quan được trình bày trên báo cáo tài
chính của một đơn vị cụ thể. 4.
Thông tin tài chính phải đảm bảo có thể kiểm chứng, kịp thời và dễ
hiểu. 5.
Thông tin tài chính phải được trình bày nhất quán và có thể so sánh giữa các kỳ
kế toán; So sánh được giữa các doanh nghiệp nhỏ và vừa với
nhau. 6.
Các chỉ tiêu không có số liệu được miễn trình bày trên Báo cáo tài chính. Doanh
nghiệp được chủ động đánh lại số thứ tự của các chỉ tiêu theo nguyên tắc liên
tục trong mỗi phần. Điều
73. Nguyên tắc lập và trình bày Báo cáo tài chính của doanh nghiệp đáp ứng giả
định hoạt động liên tục 1.
Báo cáo tài chính phải phản ánh đúng bản chất kinh tế của các giao dịch và sự
kiện hơn là hình thức pháp lý của các giao dịch và sự kiện đó (tôn trọng bản
chất hơn hình thức). 2.
Tài sản không được ghi nhận cao hơn giá trị có thể thu hồi; Nợ phải trả không
được ghi nhận thấp hơn nghĩa vụ phải thanh toán. 3.
Phân loại tài sản và nợ phải trả: Tài sản và nợ phải trả trên Báo cáo tình hình
tài chính được trình bày theo tính thanh khoản giảm dần hoặc trình bày thành
ngắn hạn và dài hạn. Riêng Báo cáo tình hình tài chính của doanh nghiệp siêu nhỏ
được trình bày theo tính thanh khoản giảm dần. 4.
Trường hợp Báo cáo tình hình tài chính trình bày thành ngắn hạn và dài
hạn: Trên
Báo cáo tình hình tài chính, các khoản mục Tài sản và Nợ phải trả phải được
trình bày riêng biệt thành ngắn hạn và dài hạn, tùy theo thời hạn của chu kỳ
kinh doanh thông thường của doanh nghiệp, cụ thể như sau: a)
Đối với doanh nghiệp có chu kỳ kinh doanh thông thường trong vòng 12 tháng, thì
Tài sản và Nợ phải trả được phân thành ngắn hạn và dài hạn theo nguyên tắc
sau: -
Tài sản và Nợ phải trả được thu hồi hay thanh toán trong vòng không quá 12 tháng
tới kể từ thời điểm báo cáo được xếp vào loại ngắn hạn; -
Tài sản và Nợ phải trả được thu hồi hay thanh toán từ 12 tháng trở lên kể từ
thời điểm báo cáo được xếp vào loại dài hạn. b)
Đối với doanh nghiệp có chu kỳ kinh doanh thông thường dài hơn 12 tháng thì Tài
sản và Nợ phải trả được phân thành ngắn hạn và dài hạn theo điều kiện
sau: -
Tài sản và Nợ phải trả được thu hồi hay thanh toán trong vòng một chu kỳ kinh
doanh bình thường được xếp vào loại ngắn hạn; -
Tài sản và Nợ phải trả được thu hồi hay thanh toán trong thời gian dài hơn một
chu kỳ kinh doanh thông thường được xếp vào loại dài hạn. Trường
hợp này, doanh nghiệp phải thuyết minh rõ đặc điểm xác định chu kỳ kinh doanh
thông thường, thời gian bình quân của chu kỳ kinh doanh thông thường, các bằng
chứng về chu kỳ sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp cũng như của ngành, lĩnh
vực mà doanh nghiệp hoạt động. c)
Đối với các doanh nghiệp do tính chất hoạt động không thể dựa vào chu kỳ kinh
doanh để phân biệt giữa ngắn hạn và dài hạn, thì các Tài sản và Nợ phải trả được
trình bày như điểm a mục này. 5.
Tài sản và nợ phải trả phải được trình bày riêng biệt. Chỉ thực hiện bù trừ khi
tài sản và nợ phải trả liên quan đến cùng một đối tượng, phát sinh từ các giao
dịch và sự kiện cùng loại. 6.
Các khoản mục doanh thu, thu nhập, chi phí phải được trình bày theo nguyên tắc
phù hợp và đảm bảo nguyên tắc thận trọng. Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
và Báo cáo lưu chuyển tiền tệ phản ánh các khoản mục doanh thu, thu nhập, chi
phí và luồng tiền của kỳ báo cáo. Các khoản doanh thu, thu nhập, chi phí của các
kỳ trước có sai sót làm ảnh hưởng trọng yếu đến kết quả kinh doanh và lưu chuyển
tiền phải được điều chỉnh hồi tố bằng cách báo cáo lại trên cột thông tin so
sánh, không điều chỉnh vào kỳ báo cáo. Riêng doanh nghiệp siêu nhỏ được điều
chỉnh sai sót của các kỳ trước vào kỳ phát hiện sai sót. Điều
74. Nguyên tắc lập và trình bày báo cáo tài chính của doanh nghiệp không đáp ứng
giả định hoạt động liên tục 1.
Khi lập và trình bày Báo cáo tài chính, doanh nghiệp phải xem xét giả định về sự
hoạt động liên tục. Doanh nghiệp bị coi là không hoạt động liên tục nếu hết thời
hạn hoạt động mà không có hồ sơ xin gia hạn hoạt động, bị giải thể, phá sản,
chấm dứt hoạt động (phải có văn bản cụ thể gửi cơ quan có thẩm quyền) trong vòng
không quá 12 tháng kể từ thời điểm lập Báo cáo tài chính. Đối với doanh nghiệp
có chu kỳ sản xuất, kinh doanh thông thường hơn 12 tháng thì không quá một chu
kỳ sản xuất kinh doanh thông thường. 2.
Trong một số trường hợp sau doanh nghiệp vẫn được coi là hoạt động liên
tục: -
Việc thay đổi hình thức sở hữu doanh nghiệp, thay đổi loại hình doanh nghiệp, ví
dụ chuyển một công ty TNHH thành công ty cổ phần hoặc ngược
lại; -
Việc chuyển một đơn vị có tư cách pháp nhân hạch toán độc lập thành một đơn vị
không có tư cách pháp nhân hạch toán phụ thuộc hoặc ngược lại (ví dụ chuyển một
công ty con thành một chi nhánh hoặc ngược lại) vẫn được coi là hoạt động liên
tục. 3.
Khi không đáp ứng giả định hoạt động liên tục, doanh nghiệp vẫn phải trình bày
đủ các Báo cáo tài chính và ghi rõ là: -
Báo cáo tình hình tài chính áp dụng cho doanh nghiệp không đáp ứng giả định hoạt
động liên tục và được trình bày theo Mẫu B01 - DNNKLT; -
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ được trình bày
theo mẫu B02 - DNN và B03 - DNN đáp ứng giả định hoạt động liên
tục; -
Thuyết minh Báo cáo tài chính áp dụng cho doanh nghiệp không đáp ứng giả định
hoạt động liên tục và được trình bày theo Mẫu B09 -
DNNKLT. 4.
Trường hợp giả định về sự hoạt động liên tục không còn phù hợp tại thời điểm báo
cáo, doanh nghiệp không phải phân loại tài sản và nợ phải trả thành ngắn hạn và
dài hạn mà trình bày theo tính thanh khoản giảm dần. 5.
Trường hợp giả định về sự hoạt động liên tục không còn phù hợp tại thời điểm báo
cáo, doanh nghiệp phải đánh giá lại toàn bộ tài sản và nợ phải trả trừ trường
hợp có một bên thứ ba kế thừa quyền đối với tài sản hoặc nghĩa vụ đối với nợ
phải trả theo giá trị sổ sách. Doanh nghiệp phải ghi nhận vào sổ kế toán theo
giá đánh giá lại trước khi lập Báo cáo tình hình tài
chính. 5.1.
Doanh nghiệp không phải đánh giá lại tài sản, nợ phải trả nếu bên thứ ba kế thừa
quyền đối với tài sản hoặc nghĩa vụ đối với nợ phải trả trong một số trường hợp
cụ thể như sau: a)
Trường hợp một đơn vị sáp nhập vào đơn vị khác, nếu đơn vị nhận sáp nhập cam kết
kế thừa mọi quyền và nghĩa vụ của đơn vị bị sáp nhập theo giá trị sổ
sách; b)
Trường hợp một đơn vị chia thành các đơn vị khác, nếu đơn vị sau khi chia cam
kết kế thừa mọi quyền và nghĩa vụ của đơn vị bị chia theo giá trị sổ
sách; c)
Từng khoản mục tài sản cụ thể được một bên khác cam kết, bảo lãnh thu hồi cho
đơn vị bị giải thể theo giá trị sổ sách và việc thu hồi diễn ra trước thời điểm
đơn vị chính thức ngừng hoạt động; d)
Từng khoản mục nợ phải trả cụ thể được một bên thứ ba cam kết, bảo lãnh thanh
toán cho đơn vị bị giải thể và đơn vị bị giải thể chỉ có nghĩa vụ thanh toán lại
cho bên thứ ba đó theo giá trị sổ sách; 5.2.
Việc đánh giá lại được thực hiện đối với từng loại tài sản và nợ phải trả theo
nguyên tắc: (a)
Đối với tài sản: -
Hàng tồn kho được đánh giá theo giá thấp hơn giữa giá gốc và giá trị thuần có
thể thực hiện được tại thời điểm báo cáo; -
TSCĐ hữu hình, TSCĐ vô hình, bất động sản đầu tư được đánh giá theo giá thấp hơn
giữa giá trị còn lại và giá trị có thể thu hồi tại thời điểm báo cáo (là giá
thanh lý trừ các chi phí thanh lý ước tính). Đối với TSCĐ thuê tài chính nếu có
điều khoản bắt buộc phải mua lại thì đánh giá lại tương tự như TSCĐ của doanh
nghiệp, nếu được trả lại cho bên cho thuê thì đánh giá lại theo số nợ thuê tài
chính còn phải trả cho bên cho thuê; -
Chi phí xây dựng cơ bản dở dang được đánh giá theo giá thấp hơn giữa giá trị ghi
sổ và giá trị có thể thu hồi tại thời điểm báo cáo (là giá thanh lý trừ chi phí
thanh lý ước tính); -
Chứng khoán kinh doanh được đánh giá theo giá trị hợp lý. Giá trị hợp lý của
chứng khoán niêm yết hoặc chứng khoán trên sàn UPCOM được xác định là giá đóng
cửa của phiên giao dịch tại ngày báo cáo (hoặc phiên trước liền kề nếu thị
trường không giao dịch vào ngày báo cáo); -
Các khoản đầu tư, góp vốn vào đơn vị khác được ghi nhận theo giá thấp hơn giữa
giá trị ghi sổ và giá trị có thể thu hồi tại thời điểm báo cáo (giá có thể bán
trừ chi phí bán ước tính); -
Các khoản đầu tư nắm giữ đến ngày đáo hạn, các khoản phải thu được đánh giá theo
số thực tế có thể thu hồi. b)
Đối với nợ phải trả: Trường hợp có sự thỏa thuận giữa các bên bằng văn bản về số
phải trả thì đánh giá lại theo số thỏa thuận. Trường hợp không có thỏa thuận cụ
thể thực hiện như sau: -
Nợ phải trả bằng tiền được đánh giá lại theo giá cao hơn giữa giá trị ghi sổ
khoản nợ phải trả và giá trị khoản nợ trả trước thời hạn theo quy định của hợp
đồng; -
Nợ phải trả bằng tài sản tài chính được đánh giá lại theo giá cao hơn giữa giá
trị ghi sổ của khoản nợ phải trả và giá trị hợp lý của tài sản tài chính đó tại
thời điểm báo cáo; -
Nợ phải trả bằng hàng tồn kho được đánh giá lại theo giá cao hơn giữa giá trị
ghi sổ khoản nợ phải trả và giá mua (cộng các chi phí liên quan trực tiếp) hoặc
giá thành sản xuất hàng tồn kho tại thời điểm báo cáo; -
Nợ phải trả bằng TSCĐ được đánh giá lại theo giá cao hơn giữa giá trị ghi sổ nợ
phải trả và giá mua (cộng các chi phí liên quan trực tiếp) hoặc giá trị còn lại
của TSCĐ tại thời điểm báo cáo. c)
Các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ được đánh giá lại theo tỷ giá chuyển khoản
trung bình cuối kỳ của ngân hàng thương mại nơi doanh nghiệp thường xuyên có
giao dịch tại thời điểm báo cáo như doanh nghiệp đáp ứng giả định hoạt động liên
tục. 6.
Phương pháp kế toán một số khoản mục tài sản khi doanh nghiệp không đáp ứng giả
định hoạt động liên tục: a)
Việc trích lập dự phòng hoặc đánh giá tổn thất tài sản được ghi giảm trực tiếp
vào giá trị ghi sổ của tài sản, không thực hiện trích lập dự phòng trên TK 229 -
“Dự phòng tổn thất tài sản”; b)
Việc tính khấu hao hoặc ghi nhận tổn thất của TSCĐ, Bất động sản đầu tư được ghi
giảm trực tiếp vào giá trị ghi sổ của tài sản, không sử dụng TK 214 để phản ánh
hao mòn lũy kế. 7.
Khi giả định hoạt động liên tục không còn phù hợp, doanh nghiệp phải xử lý một
số vấn đề tài chính sau: -
Thực hiện trích trước vào chi phí để xác định kết quả kinh doanh đối với các
khoản lỗ dự kiến phát sinh trong tương lai nếu khả năng phát sinh khoản lỗ là
tương đối chắc chắn và giá trị khoản lỗ được ước tính một cách đáng tin cậy; Ghi
nhận nghĩa vụ hiện tại đối với các khoản phải trả kể cả trong trường hợp chưa có
đầy đủ hồ sơ tài liệu (như biên bản nghiệm thu khối lượng của nhà thầu..) nhưng
chắc chắn phải thanh toán; -
Đối với khoản chênh lệch tỷ giá hối đoái đang phản ánh lũy kế trên Báo cáo tình
hình tài chính (như chênh lệch tỷ giá phát sinh từ việc chuyển đổi báo cáo tài
chính sang Đồng Việt Nam), doanh nghiệp kết chuyển toàn bộ vào doanh thu hoạt
động tài chính (nếu lãi) hoặc chi phí tài chính (nếu lỗ); -
Các khoản chi phí trả trước chưa phân bổ hết như lợi thế thương mại phát sinh từ
hợp nhất kinh doanh không dẫn đến quan hệ công ty mẹ - công ty con, công cụ dụng
cụ xuất dùng, chi phí thành lập doanh nghiệp, chi phí trong giai đoạn triển
khai… được ghi giảm toàn bộ để tính vào chi phí trong kỳ. Riêng chi phí trả
trước liên quan đến việc thuê tài sản, trả trước lãi vay được tính toán và phân
bổ để phù hợp với thời gian trả trước thực tế còn lại cho đến khi chính thức
dừng hoạt động; -
Các khoản chênh lệch lãi, lỗ khi đánh giá lại tài sản và nợ phải trả sau khi bù
trừ với số dự phòng đã trích lập (nếu có) được ghi nhận vào doanh thu hoạt động
tài chính, thu nhập khác hoặc chi phí tài chính, chi phí khác tùy từng khoản mục
cụ thể tương tự như việc ghi nhận của doanh nghiệp đáp ứng giả định hoạt động
liên tục. 8.
Trường hợp giả định về sự hoạt động liên tục không còn phù hợp tại thời điểm báo
cáo, doanh nghiệp phải thuyết minh chi tiết về khả năng tạo tiền và thanh toán
nợ phải trả, vốn chủ sở hữu cho các cổ đông và giải thích lý do về sự không so
sánh được giữa thông tin của kỳ báo cáo và thông tin kỳ so sánh, cụ
thể: -
Số tiền có khả năng thu hồi từ việc thanh lý, nhượng bán tài sản, thu hồi nợ
phải thu; -
Khả năng thanh toán nợ phải trả theo thứ tự ưu tiên, như khả năng trả nợ ngân
sách Nhà nước, trả nợ người lao động, trả nợ vay, nợ nhà cung
cấp; -
Khả năng thanh toán cho chủ sở hữu, đối với công ty cổ phần cần công bố rõ khả
năng mỗi cổ phiếu sẽ nhận được bao nhiêu tiền; -
Thời gian tiến hành thanh toán các khoản nợ phải trả và vốn chủ sở
hữu. -
Lý do không so sánh được thông tin kỳ báo cáo và kỳ so sánh: Do kỳ trước doanh
nghiệp trình bày Báo cáo tài chính dựa trên nguyên tắc doanh nghiệp đáp ứng giả
định hoạt động liên tục. Do doanh nghiệp chuẩn bị giải thể, phá sản, chấm dứt
hoạt động theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền (ghi rõ tên cơ quan, số
quyết định) hoặc do Ban giám đốc có dự định theo văn bản (số, ngày, tháng, năm)
nên Báo cáo tài chính trong kỳ báo cáo được trình bày theo nguyên tắc kế toán
khác (không đáp ứng giả định hoạt động liên tục). Điều
75. Nguyên tắc lập và trình bày báo cáo tài chính khi thay đổi kỳ kế
toán Khi
thay đổi kỳ kế toán, ví dụ đổi kỳ kế toán từ năm dương lịch sang kỳ kế toán khác
năm dương lịch, doanh nghiệp phải tiến hành khóa sổ kế toán, lập Báo cáo tài
chính theo nguyên tắc sau: 1.
Việc thay đổi kỳ kế toán phải tuân thủ theo quy định của Luật Kế toán. Khi thay
đổi kỳ kế toán năm, kế toán phải lập riêng Báo cáo tài chính cho giai đoạn giữa
2 kỳ kế toán của năm tài chính cũ và năm tài chính mới. Ví
dụ: Doanh nghiệp có kỳ kế toán năm 2014 theo năm dương lịch. Năm 2015, doanh
nghiệp chuyển sang áp dụng kỳ kế toán năm bắt đầu từ 1/4 năm trước đến 31/3 năm
sau thì doanh nghiệp phải lập báo cáo tài chính cho giai đoạn từ 1/1/2015 đến
31/3/2015. 2.
Đối với Báo cáo tình hình tài chính: Toàn bộ số dư tài sản, nợ phải trả và vốn
chủ sở hữu của kỳ kế toán trước khi chuyển đổi được ghi nhận là số dư đầu kỳ của
kỳ kế toán mới và được trình bày trong cột “Số đầu năm”. 3.
Đối với Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và Báo cáo lưu chuyển tiền tệ: Số
liệu kể từ thời điểm thay đổi kỳ kế toán đến cuối kỳ báo cáo đầu tiên được trình
bày trong cột “Kỳ này”, cột “kỳ trước” trình bày số liệu của 12 tháng trước
tương đương với kỳ kế toán năm hiện tại. Ví
dụ: Tiếp theo ví dụ trên, khi trình bày cột “Kỳ trước” trong báo cáo kết quả
hoạt động kinh doanh bắt đầu từ ngày 1/4/2015 và kết thúc ngày 31/3/2016, doanh
nghiệp phải trình bày số liệu của giai đoạn từ 1/4/2014 đến
31/3/2015. Điều
76. Nguyên tắc lập và trình bày Báo cáo tài chính khi chuyển đổi loại hình hoặc
hình thức sở hữu doanh nghiệp Khi
chuyển đổi hình thức sở hữu, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp phải tiến hành
khóa sổ kế toán, lập Báo cáo tài chính theo quy định của pháp luật. Trong kỳ kế
toán đầu tiên sau khi chuyển đổi, doanh nghiệp phải ghi sổ kế toán và trình bày
báo cáo tài chính theo nguyên tắc sau: 1.
Đối với sổ kế toán phản ánh tài sản, nợ phải trả và vốn chủ sở hữu: Toàn bộ số
dư tài sản, nợ phải trả và vốn chủ sở hữu trên sổ kế toán của doanh nghiệp cũ
được ghi nhận là số dư đầu kỳ trên sổ kế toán của doanh nghiệp
mới. 2.
Đối với Báo cáo tình hình tài chính: Toàn bộ số dư tài sản, nợ phải trả và vốn
chủ sở hữu kế thừa của doanh nghiệp cũ trước khi chuyển đổi được ghi nhận là số
dư đầu kỳ của doanh nghiệp mới và được trình bày trong cột “Số đầu
năm”. 3.
Đối với Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và Báo cáo lưu chuyển tiền tệ: Số
liệu kể từ thời điểm chuyển đổi đến cuối kỳ báo cáo đầu tiên được trình bày
trong cột “Kỳ này”, cột “Kỳ trước” trình bày số liệu cột “Kỳ này” của Báo cáo kỳ
trước liền kề. Doanh nghiệp phải trình bày trên thuyết minh báo cáo tài chính về
lý do dẫn đến số liệu ở cột “kỳ trước” không có khả năng so sánh được với số
liệu ở cột “kỳ này” (nếu có). Điều
77. Nguyên tắc lập và trình bày Báo cáo tài chính khi chia, tách, hợp nhất, sáp
nhập doanh nghiệp 1.
Đơn vị kế toán bị chia, bị tách, hợp nhất thành đơn vị kế toán mới phải thực
hiện các công việc kế toán theo quy định của Luật kế toán. Đơn vị kế toán mới
thực hiện công việc kế toán cho kỳ kế toán đầu tiên theo nguyên tắc
sau: -
Đối với sổ kế toán phản ánh tài sản, nợ phải trả và vốn chủ sở hữu: Toàn bộ tài
sản, nợ phải trả và vốn chủ sở hữu của đơn vị kế toán bị chia, bị tách, hợp nhất
chuyển sang được ghi nhận là số phát sinh của đơn vị kế toán
mới. -
Đối với Báo cáo tình hình tài chính: Cột “Số đầu năm” của đơn vị kế toán mới
không có số liệu và phải trình bày rõ vấn đề này trong thuyết minh báo cáo tài
chính. -
Đối với Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và Báo cáo lưu chuyển tiền tệ: Chỉ
trình bày số liệu kể từ thời điểm bị chia, bị tách, hợp nhất đến cuối kỳ báo cáo
vào cột “Kỳ này”. Cột “Kỳ trước” không có số liệu và phải trình bày rõ vấn đề
này trong thuyết minh báo cáo tài chính. 2.
Khi sáp nhập đơn vị kế toán thì đơn vị kế toán nhận sáp nhập phải thực hiện các
công việc kế toán theo quy định của Luật kế toán. Đơn vị kế toán nhận sáp nhập
thực hiện công việc kế toán theo nguyên tắc: -
Đối với sổ kế toán phản ánh tài sản, nợ phải trả và vốn chủ sở hữu: Toàn bộ tài
sản, nợ phải trả và vốn chủ sở hữu trên sổ kế toán của đơn vị kế toán bị sáp
nhập được ghi nhận là số phát sinh trong kỳ của đơn vị nhận sáp nhập. Số dư đầu
kỳ của đơn vị kế toán nhận sáp nhập vẫn giữ nguyên. -
Đối với Báo cáo tình hình tài chính: Toàn bộ tài sản, nợ phải trả và vốn chủ sở
hữu của đơn vị kế toán bị sáp nhập chuyển sang được tổng hợp và trình bày trong
cột “Số cuối năm” của đơn vị kế toán nhận sáp nhập. Cột “Số đầu năm” của đơn vị
kế toán nhận sáp nhập vẫn giữ nguyên. -
Đối với Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và Báo cáo lưu chuyển tiền tệ: Toàn
bộ số liệu trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và báo cáo lưu chuyển tiền
tệ của đơn vị bị sáp nhập được tổng hợp trong cột “Kỳ này” của đơn vị nhận sáp
nhập và phải thuyết minh trong Bản thuyết minh báo cáo tài
chính. Điều
78. Đồng tiền sử dụng để lập báo cáo tài chính khi công bố ra công chúng và nộp
các cơ quan chức năng quản lý Nhà nước tại Việt Nam 1.
Báo cáo tài chính được sử dụng để công bố ra công chúng và nộp các cơ quan chức
năng quản lý Nhà nước tại Việt Nam phải được trình bày bằng Đồng Việt Nam.
Trường hợp doanh nghiệp lập Báo cáo tài chính bằng đồng ngoại tệ thì phải chuyển
đổi Báo cáo tài chính ra Đồng Việt Nam và khi công bố ra công chúng và nộp các
cơ quan chức năng quản lý Nhà nước tại Việt Nam thì báo cáo tài chính bằng Đồng
Việt Nam phải được đính kèm báo cáo tài chính bằng đồng ngoại tệ. Báo cáo tài
chính dùng để xác định nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp được thực hiện theo quy
định của pháp luật về thuế. 2.
Phương pháp chuyển đổi Báo cáo tài chính lập bằng ngoại tệ sang Đồng Việt Nam để
công bố thông tin ra công chúng và nộp các cơ quan quản lý Nhà
nước: a)
Khi chuyển đổi Báo cáo tài chính được lập bằng đồng ngoại tệ ra Đồng Việt Nam,
kế toán phải quy đổi các chỉ tiêu của Báo cáo tài chính theo nguyên tắc
sau: -
Tài sản và nợ phải trả được quy đổi ra Đồng Việt Nam theo tỷ giá chuyển khoản
trung bình cuối kỳ của ngân hàng thương mại nơi doanh nghiệp thường xuyên có
giao dịch; -
Vốn chủ sở hữu (vốn góp của chủ sở hữu, thặng dư vốn cổ phần, vốn khác) được quy
đổi ra Đồng Việt Nam theo tỷ giá giao dịch thực tế tại ngày góp
vốn; -
Lợi nhuận sau thuế chưa phân phối, các quỹ trích từ lợi nhuận sau thuế chưa phân
phối được quy đổi ra Đồng Việt Nam bằng cách tính toán theo các khoản mục của
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh; -
Lợi nhuận, cổ tức đã trả được quy đổi ra Đồng Việt Nam theo tỷ giá giao dịch
thực tế tại ngày phải trả lợi nhuận, cổ tức; -
Các khoản mục thuộc Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và Báo cáo lưu chuyển
tiền tệ được quy đổi ra Đồng Việt Nam theo tỷ giá giao dịch thực tế tại thời
điểm phát sinh giao dịch hoặc tỷ giá chuyển khoản trung bình năm (trường hợp nếu
tỷ giá trung bình xấp xỉ với tỷ giá giao dịch thực tế). b)
Phương pháp kế toán chênh lệch tỷ giá do chuyển đổi Báo cáo tài chính sang Đồng
Việt Nam. Chênh
lệch tỷ giá phát sinh khi chuyển đổi Báo cáo tài chính sang Đồng Việt Nam được
ghi nhận trên chỉ tiêu “Chênh lệch tỷ giá hối đoái” - Thuộc phần vốn chủ sở hữu
của Báo cáo tình hình tài chính. Điều
79. Nguyên tắc lập Báo cáo tài chính khi thay đổi đơn vị tiền tệ trong kế
toán 1.
Khi thay đổi đơn vị tiền tệ kế toán, tại kỳ đầu tiên kể từ khi thay đổi, kế toán
thực hiện chuyển đổi số dư sổ kế toán sang đơn vị tiền tệ kế toán mới theo tỷ
giá chuyển khoản trung bình của ngân hàng thương mại nơi doanh nghiệp thường
xuyên có giao dịch tại thời điểm thay đổi đơn vị tiền tệ kế
toán. 2.
Khi trình bày thông tin so sánh (cột kỳ trước) trên báo cáo kết quả hoạt động
kinh doanh và báo cáo lưu chuyển tiền tệ của kỳ có sự thay đổi đơn vị tiền tệ
trong kế toán, đơn vị áp dụng tỷ giá chuyển khoản trung bình kỳ trước liền kề
với kỳ thay đổi. 3.
Khi thay đổi đơn vị tiền tệ kế toán, doanh nghiệp phải trình bày rõ trên Bản
thuyết minh báo cáo tài chính lý do thay đổi đơn vị tiền tệ kế toán và những ảnh
hưởng (nếu có) đối với báo cáo tài chính do việc thay đổi đơn vị tiền tệ kế
toán. Điều
80. Trách nhiệm, thời hạn lập và gửi báo cáo tài chính 1.
Trách nhiệm, thời hạn lập và gửi báo cáo tài chính: a)
Tất cả các doanh nghiệp nhỏ và vừa phải lập và gửi báo cáo tài chính năm chậm
nhất là 90 ngày kể từ ngày kết thúc năm tài chính cho các cơ quan có liên quan
theo quy định. b)
Ngoài việc lập báo cáo tài chính năm, các doanh nghiệp có thể lập báo cáo tài
chính hàng tháng, quý để phục vụ yêu cầu quản lý và điều hành hoạt động sản
xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. 2.
Nơi nhận báo cáo tài chính năm được quy định như sau: Các
doanh nghiệp nộp báo cáo tài chính năm cho cơ quan thuế, cơ quan đăng ký kinh
doanh và cơ quan Thống kê. Các
doanh nghiệp (kể cả các doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài) có trụ sở nằm trong khu chế xuất, khu công nghiệp, khu công nghệ cao
thì ngoài việc nộp Báo cáo tài chính năm cho các cơ quan theo quy định (Cơ quan
thuế, cơ quan đăng ký kinh doanh, cơ quan thống kê) còn phải nộp Báo cáo tài
chính năm cho Ban quản lý khu chế xuất, khu công nghiệp, khu công nghệ cao nếu
được yêu cầu. MỤC
2. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP LẬP BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ
VỪA Điều
81. Hướng dẫn lập và trình bày Báo cáo tài chính 1.
Những thông tin chung về doanh nghiệp Trong
Báo cáo tài chính năm, doanh nghiệp phải trình bày các thông tin chung
sau: -
Tên và địa chỉ của doanh nghiệp; -
Ngày kết thúc kỳ kế toán; -
Ngày lập báo cáo tài chính; -
Đơn vị tiền tệ dùng để ghi sổ kế toán; -
Đơn vị tiền tệ dùng để lập và trình bày báo cáo tài chính. 2.
Lập và trình bày Báo cáo tình hình tài chính 2.1.
Cơ sở lập Báo cáo tình hình tài chính -
Căn cứ vào sổ kế toán tổng hợp; -
Căn cứ vào sổ, thẻ kế toán chi tiết hoặc Bảng tổng hợp chi
tiết; -
Căn cứ vào Báo cáo tình hình tài chính năm trước (để trình bày cột đầu
năm). 2.2.
Nội dung và phương pháp lập các chỉ tiêu trong Báo cáo tình hình tài chính của
doanh nghiệp 2.2.1.
Đối với doanh nghiệp đáp ứng giả định hoạt động liên tục (xem mẫu B01a -
DNN) a)
Tài sản -
Tiền và các khoản tương đương tiền (Mã số 110) Chỉ
tiêu này phản ánh toàn bộ tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng không kỳ hạn và
các khoản tương đương tiền hiện có của doanh nghiệp tại thời điểm báo
cáo. Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này là tổng số dư Nợ của các TK 111, 112, số dư Nợ chi
tiết của TK 1281 (chi tiết các khoản tiền gửi có kỳ hạn gốc không quá 3 tháng)
và TK 1288 (chi tiết các khoản đủ tiêu chuẩn phân loại là tương đương
tiền). Ngoài
ra, trong quá trình lập báo cáo, nếu nhận thấy các khoản mục được phản ánh ở các
tài khoản khác thỏa mãn định nghĩa tương tương tiền thì kế toán được phép trình
bày trong chỉ tiêu này. Các khoản tương đương tiền có thể bao gồm: Kỳ phiếu ngân
hàng, tín phiếu kho bạc,… Các
khoản trước đây được phân loại là tương đương tiền nhưng quá hạn chưa thu hồi
được phải chuyển sang trình bày tại các chỉ tiêu khác, phù hợp với nội dung của
từng khoản mục. Khi
phân tích các chỉ tiêu tài chính, ngoài các khoản tương đương tiền trình bày
trong chỉ tiêu này, kế toán có thể coi tương đương tiền bao gồm cả các khoản có
thời hạn thu hồi còn lại dưới 3 tháng kể từ ngày báo cáo (nhưng có kỳ hạn gốc
trên 3 tháng) có khả năng chuyển đổi dễ dàng thành một lượng tiền xác định và
không có rủi ro trong việc chuyển đổi thành tiền. -
Đầu tư tài chính (Mã số 120) Là
chỉ tiêu tổng hợp phản ánh tổng giá trị của các khoản đầu tư tài chính (sau khi
đã trừ đi dự phòng tổn thất đầu tư tài chính) của doanh nghiệp tại thời điểm báo
cáo, bao gồm: Chứng khoán kinh doanh, các khoản đầu tư nắm giữ đến ngày đáo hạn
và các khoản đầu tư góp vốn vào đơn vị khác. Các
khoản đầu tư tài chính được phản ánh trong chỉ tiêu này không bao gồm các khoản
đầu tư đã được trình bày trong chỉ tiêu “Tiền và các khoản tương đương tiền” (Mã
số 110) và các khoản phải thu về cho vay đã được trình bày trong chỉ tiêu “Phải
thu khác” (Mã số 134). Mã
số 120 = Mã số 121 + Mã số 122 + Mã số 123 + Mã số 124. +
Chứng khoán kinh doanh (Mã số 121) Chỉ
tiêu này phản ánh giá trị các khoản chứng khoán và các công cụ tài chính khác
nắm giữ vì mục đích kinh doanh tại thời điểm báo cáo (nắm giữ với mục đích chờ
tăng giá để bán ra kiếm lời). Chỉ tiêu này có thể bao gồm cả các công cụ tài
chính không được chứng khoán hóa, ví dụ như thương phiếu, hợp đồng kỳ hạn, hợp
đồng hoán đổi… nắm giữ vì mục đích kinh doanh. Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này là số dư Nợ của TK 121. +
Đầu tư nắm giữ đến ngày đáo hạn (Mã số 122) Chỉ
tiêu này phản ánh các khoản đầu tư nắm giữ đến ngày đáo hạn tại thời điểm báo
cáo, như tiền gửi có kỳ hạn, trái phiếu, thương phiếu và các loại chứng khoán nợ
khác. Chỉ tiêu này không bao gồm các khoản đầu tư nắm giữ đến ngày đáo hạn đã
được trình bày trong chỉ tiêu “Tiền và các khoản tương đương tiền” (Mã số 110),
và các khoản phải thu về cho vay đã được trình bày trong chỉ tiêu “Phải thu
khác” (Mã số 134). Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này là số dư Nợ chi tiết của các TK 1281,
1288. +
Đầu tư góp vốn vào đơn vị khác (Mã số 123) Chỉ
tiêu này phản ánh các khoản đầu tư vào công ty liên doanh, liên kết và các khoản
đầu tư khác. Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này là số dư Nợ của TK 228. +
Dự phòng tổn thất đầu tư tài chính (Mã số 124) Chỉ
tiêu này phản ánh khoản dự phòng giảm giá chứng khoán kinh doanh và dự phòng tổn
thất đầu tư vào đơn vị khác tại thời điểm báo cáo. Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này là số dư Có của các TK 2291, 2292 và được ghi bằng
số âm dưới hình thức ghi trong ngoặc đơn (...). -
Các khoản phải thu (Mã số 130) Là
chỉ tiêu tổng hợp phản ánh toàn bộ giá trị của các khoản phải thu tại thời điểm
báo cáo, như: Phải thu của khách hàng, trả trước cho người bán, vốn kinh doanh ở
đơn vị trực thuộc, phải thu khác, tài sản thiếu chờ xử lý sau khi đã trừ đi dự
phòng phải thu khó đòi. Mã
số 130 = Mã số 131 + Mã số 132 + Mã số 133 + Mã số 134 + Mã số 135 + Mã số
136. +
Phải thu của khách hàng (Mã số 131) Chỉ
tiêu này phản ánh số tiền còn phải thu của khách hàng tại thời điểm báo
cáo. Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này căn cứ vào tổng số dư Nợ chi tiết của TK 131 mở
theo từng khách hàng. +
Trả trước cho người bán (Mã số 132) Chỉ
tiêu này phản ánh số tiền đã trả trước cho người bán để mua tài sản, dịch vụ
nhưng chưa nhận được tài sản, dịch vụ tại thời điểm báo
cáo. Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này căn cứ vào tổng số dư Nợ chi tiết của TK 331 mở
theo từng người bán. +
Vốn kinh doanh ở đơn vị trực thuộc (Mã số 133) Chỉ
tiêu này chỉ ghi trên Báo cáo tình hình tài chính của đơn vị cấp trên phản ánh
số vốn kinh doanh đã giao cho các đơn vị hạch toán phụ thuộc. Khi lập Báo cáo
tình hình tài chính tổng hợp của toàn doanh nghiệp, chỉ tiêu này được bù trừ với
chỉ tiêu “Phải trả nội bộ về vốn kinh doanh” (Mã số 317) hoặc chỉ tiêu "Vốn góp
của chủ sở hữu" (Mã số 411) trên Báo cáo tình hình tài chính của các đơn vị hạch
toán phụ thuộc, chi tiết phần vốn nhận của đơn vị cấp
trên. Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này căn cứ vào số dư Nợ của TK
1361. +
Phải thu khác (Mã số 134) Chỉ
tiêu này phản ánh các khoản phải thu khác tại thời điểm báo cáo, như: Phải thu
nội bộ khác ngoài phải thu về vốn kinh doanh; phải thu về cho vay, phải thu về
các khoản đã chi hộ; phải thu về tiền lãi, cổ tức được chia, các khoản tạm ứng;
các khoản cầm cố, ký cược, ký quỹ, cho mượn tạm thời,… mà doanh nghiệp được
quyền thu hồi. Khi
đơn vị cấp trên lập Báo cáo tình hình tài chính tổng hợp với đơn vị cấp dưới
hạch toán phụ thuộc, khoản phải thu nội bộ khác trong chỉ tiêu này được bù trừ
với khoản phải trả nội bộ khác trong chỉ tiêu “Phải trả khác” (Mã số 315) trên
Báo cáo tình hình tài chính của các đơn vị hạch toán phụ
thuộc. Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này là số dư Nợ chi tiết của các TK 1288 (phải thu về
cho vay), 1368, 1386, 1388, 334, 338, 141. +
Tài sản thiếu chờ xử lý (Mã số 135) Chỉ
tiêu này phản ánh các tài sản thiếu hụt, mất mát chưa rõ nguyên nhân đang chờ xử
lý tại thời điểm báo cáo. Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này là số dư Nợ TK 1381. +
Dự phòng phải thu khó đòi (Mã số 136) Chỉ
tiêu này phản ánh khoản dự phòng cho các khoản phải thu khó đòi tại thời điểm
báo cáo. Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này là số dư Có của TK 2293 và được ghi bằng số âm dưới
hình thức ghi trong ngoặc đơn (...). -
Hàng tồn kho (Mã số 140) Là
chỉ tiêu tổng hợp phản ánh toàn bộ giá trị hiện có các loại hàng tồn kho dự trữ
cho quá trình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp (sau khi trừ đi dự phòng
giảm giá hàng tồn kho) tại thời điểm báo cáo. Mã
số 140 = Mã số 141 + Mã số 142. +
Hàng tồn kho (Mã số 141) Chỉ
tiêu này phản ánh tổng giá trị của hàng tồn kho thuộc quyền sở hữu của doanh
nghiệp tại thời điểm báo cáo. Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này là số dư Nợ của các TK 151, 152, 153, 154, 155,
156, 157. +
Dự phòng giảm giá hàng tồn kho (Mã số 142) Chỉ
tiêu này phản ánh khoản dự phòng giảm giá của các loại hàng tồn kho tại thời
điểm báo cáo. Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này là số dư Có của TK 2294 và được ghi bằng số âm dưới
hình thức ghi trong ngoặc đơn (...). -
Tài sản cố định (Mã số 150) Là
chỉ tiêu tổng hợp phản ánh toàn bộ giá trị còn lại của các loại tài sản cố định
tại thời điểm báo cáo. Mã
số 150 = Mã số 151 + Mã số 152. +
Nguyên giá (Mã số 151) Chỉ
tiêu này phản ánh toàn bộ nguyên giá các loại tài sản cố định tại thời điểm báo
cáo. Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này là số dư Nợ của TK 211. +
Giá trị hao mòn lũy kế (Mã số 152) Chỉ
tiêu này phản ánh toàn bộ giá trị đã hao mòn của các loại tài sản cố định lũy kế
tại thời điểm báo cáo. Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này là số dư Có của các TK 2141, 2142, 2143 và được ghi
bằng số âm dưới hình thức ghi trong ngoặc đơn (...). -
Bất động sản đầu tư (Mã số 160) Là
chỉ tiêu tổng hợp phản ánh toàn bộ giá trị còn lại của các loại bất động sản đầu
tư tại thời điểm báo cáo. Mã
số 160 = Mã số 161 + Mã số 162. +
Nguyên giá (Mã số 161) Chỉ
tiêu này phản ánh toàn bộ nguyên giá của các loại bất động sản đầu tư tại thời
điểm báo cáo sau khi đã trừ số tổn thất do suy giảm giá trị của bất động sản đầu
tư nắm giữ chờ tăng giá. Số
liệu để phản ánh vào chỉ tiêu này là số dư Nợ của TK 217. +
Giá trị hao mòn lũy kế (Mã số 162) Chỉ
tiêu này phản ánh toàn bộ giá trị hao mòn lũy kế của bất động sản đầu tư dùng để
cho thuê tại thời điểm báo cáo. Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này là số dư Có của TK 2147 và được ghi bằng số âm dưới
hình thức ghi trong ngoặc đơn (...). -
Xây dựng cơ bản dở dang (Mã số 170) Chỉ
tiêu này phản ánh toàn bộ trị giá tài sản cố định đang mua sắm, chi phí đầu tư
xây dựng cơ bản, chi phí sửa chữa lớn tài sản cố định dở dang hoặc đã hoàn thành
chưa bàn giao hoặc chưa đưa vào sử dụng tại thời điểm báo
cáo. Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này là số dư Nợ của TK 241. -
Tài sản khác (Mã số 180) Là
chỉ tiêu tổng hợp phản ánh tổng giá trị các tài sản khác tại thời điểm báo cáo,
như: Thuế GTGT còn được khấu trừ và tài sản khác tại thời điểm báo
cáo. Mã
số 180 = Mã số 181 + Mã số 182. +
Thuế giá trị gia tăng được khấu trừ (Mã số 181) Chỉ
tiêu này phản ánh số thuế GTGT còn được khấu trừ và số thuế GTGT còn được hoàn
lại tại thời điểm báo cáo. Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu “Thuế giá trị gia tăng được khấu trừ” căn cứ vào số dư
Nợ của TK 133. +
Tài sản khác (Mã số 182) Chỉ
tiêu này phản ánh tổng giá trị các tài sản khác tại thời điểm báo cáo, như: Chi
phí trả trước, thuế và các khoản khác nộp thừa cho Nhà
nước. Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này căn cứ vào số dư Nợ chi tiết các TK 242,
333. -
Tổng cộng tài sản (Mã số 200) Là
chỉ tiêu tổng hợp phản ánh tổng trị giá tài sản hiện có của doanh nghiệp tại
thời điểm báo cáo. Mã
số 200 = Mã số 110 + Mã số 120 + Mã số 130 + Mã số 140 + Mã số 150 + Mã số 160 +
Mã số 170 + Mã số 180. b)
Nợ phải trả (Mã số 300) Là
chỉ tiêu tổng hợp phản ánh toàn bộ số nợ phải trả tại thời điểm báo
cáo. Mã
số 300 = Mã số 311 + Mã số 312 + Mã số 313 + Mã số 314 + Mã số 315 + Mã số 316 +
Mã số 317 + Mã số 318 + Mã số 319 + Mã số 320 +
Phải trả người bán (Mã số 311) Chỉ
tiêu này phản ánh số tiền còn phải trả cho người bán tại thời điểm báo cáo. Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này căn cứ vào tổng số dư Có chi tiết của TK 331 mở cho
từng người bán. +
Người mua trả tiền trước (Mã số 312) Chỉ
tiêu này phản ánh số tiền người mua ứng trước để mua sản phẩm, hàng hóa, dịch
vụ, tài sản cố định, bất động sản đầu tư và doanh nghiệp có nghĩa vụ cung cấp
tại thời điểm báo cáo (không bao gồm các khoản doanh thu nhận
trước). Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này căn cứ vào tổng số dư Có chi tiết của TK 131 mở cho
từng khách hàng. +
Thuế và các khoản phải nộp Nhà nước (Mã số 313) Chỉ
tiêu này phản ánh tổng các khoản doanh nghiệp còn phải nộp cho Nhà nước tại thời
điểm báo cáo, bao gồm cả các khoản thuế, phí, lệ phí và các khoản phải nộp
khác. Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này căn cứ vào tổng số dư Có chi tiết của TK
333. +
Phải trả người lao động (Mã số 314) Chỉ
tiêu này phản ánh các khoản doanh nghiệp còn phải trả cho người lao động tại
thời điểm báo cáo. Số liệu để ghi vào chỉ tiêu này căn cứ vào số dư Có chi tiết
của TK 334. +
Phải trả khác (Mã số 315) Chỉ
tiêu này phản ánh các khoản phải trả khác tại thời điểm báo cáo, như: Chi phí
phải trả, phải trả nội bộ khác ngoài khoản phải trả về vốn kinh doanh, giá trị
tài sản phát hiện thừa chưa rõ nguyên nhân, các khoản phải nộp cho cơ quan BHXH,
KPCĐ, các khoản nhận ký cược, ký quỹ, doanh thu chưa thực
hiện… Khi
đơn vị cấp trên lập Báo cáo tình hình tài chính tổng hợp với đơn vị cấp dưới
hạch toán phụ thuộc, khoản phải trả nội bộ khác trong chỉ tiêu này được bù trừ
với khoản phải thu nội bộ khác trong chỉ tiêu “Phải thu khác” (Mã số 134) trên
Báo cáo tình hình tài chính của các đơn vị hạch toán phụ
thuộc. Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này căn cứ vào số dư Có chi tiết của các TK 335, 3368,
338, 1388. +
Vay và nợ thuê tài chính (Mã số 316) Chỉ
tiêu này phản ánh tổng giá trị các khoản doanh nghiệp đi vay, còn nợ các ngân
hàng, tổ chức, công ty tài chính và các đối tượng khác kể cả khoản vay dưới hình
thức phát hành trái phiếu, cổ phiếu ưu đãi được phân loại là nợ phải trả tại
thời điểm báo cáo. Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này căn cứ vào số dư Có chi tiết của TK 341, 4111 (cổ
phiếu ưu đãi được phân loại là nợ phải trả). +
Phải trả nội bộ về vốn kinh doanh (Mã số 317) Tùy
thuộc vào đặc điểm hoạt động và mô hình quản lý của từng đơn vị, doanh nghiệp
thực hiện phân cấp và quy định cho đơn vị hạch toán phụ thuộc ghi nhận khoản vốn
do doanh nghiệp cấp vào chỉ tiêu này hoặc chỉ tiêu “Vốn góp của chủ sở hữu” (Mã
số 411). Chỉ
tiêu này chỉ trình bày trên Báo cáo tình hình tài chính đơn vị cấp dưới không có
tư cách pháp nhân hạch toán phụ thuộc, phản ánh các khoản đơn vị cấp dưới phải
trả cho đơn vị cấp trên về vốn kinh doanh. Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này căn cứ vào số dư Có chi tiết của TK 3361. Khi đơn
vị cấp trên lập Báo cáo tình hình tài chính tổng hợp toàn doanh nghiệp, chỉ tiêu
này được bù trừ với chỉ tiêu “Vốn kinh doanh ở đơn vị trực thuộc” (Mã số 133)
trên Báo cáo tình hình tài chính của đơn vị cấp trên. +
Dự phòng phải trả (Mã số 318) Chỉ
tiêu này phản ánh khoản dự phòng cho các khoản dự kiến phải trả tại thời điểm
báo cáo, như dự phòng bảo hành sản phẩm, hàng hóa, công trình xây dựng, các
khoản chi phí trích trước để sửa chữa TSCĐ định kỳ, chi phí hoàn nguyên môi
trường trích trước… Các khoản dự phòng phải trả thường được ước tính, chưa chắc
chắn về thời gian phải trả, giá trị phải trả và doanh nghiệp chưa nhận được hàng
hóa, dịch vụ từ nhà cung cấp. Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này căn cứ vào số dư Có của TK
352. +
Quỹ khen thưởng, phúc lợi (Mã số 319) Chỉ
tiêu này phản ánh Quỹ khen thưởng, Quỹ phúc lợi, Quỹ thưởng ban quản lý điều
hành chưa sử dụng tại thời điểm báo cáo. Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này là số dư Có của TK 353. +
Quỹ phát triển khoa học và công nghệ (Mã số 320) Chỉ
tiêu này phản ánh số Quỹ phát triển khoa học và công nghệ chưa sử dụng tại thời
điểm báo cáo. Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này là số dư Có của TK 356. c)
Vốn chủ sở hữu (Mã số 400) Là
chỉ tiêu tổng hợp phản ánh các khoản vốn kinh doanh thuộc sở hữu của cổ đông,
thành viên góp vốn, như: Vốn góp của chủ sở hữu, thặng dư vốn cổ phần, vốn khác
của chủ chủ sở hữu, lợi nhuận sau thuế chưa phân phối, cổ phiếu quỹ, chênh lệch
tỷ giá hối đoái. Mã
số 400 = Mã số 411 + Mã số 412 + Mã số 413 + Mã số 414 + Mã số 415 + Mã số 416 +
Mã số 417 -
Vốn góp của chủ sở hữu (Mã số 411) Chỉ
tiêu này phản ánh tổng số vốn đã thực góp của các chủ sở hữu vào doanh nghiệp
(đối với công ty cổ phần phản ánh vốn góp của các cổ đông theo mệnh giá cổ
phiếu) tại thời điểm báo cáo. Tại
đơn vị hạch toán phụ thuộc, chỉ tiêu này có thể phản ánh số vốn được cấp nếu
doanh nghiệp quy định đơn vị hạch toán phụ thuộc ghi nhận vốn kinh doanh được
cấp vào TK 411. Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này là số dư Có của TK 4111. -
Thặng dư vốn cổ phần (Mã số 412) Chỉ
tiêu này phản ánh thặng dư vốn cổ phần ở thời điểm báo cáo của công ty cổ
phần. Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này là số dư Có của TK 4112. Nếu TK 4112 có số dư Nợ
thì chỉ tiêu này được ghi bằng số âm dưới hình thức ghi trong ngoặc đơn
(...). -
Vốn khác của chủ sở hữu (Mã số 413) Chỉ
tiêu này phản ánh giá trị các khoản vốn khác của chủ sở hữu tại thời điểm báo
cáo. Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này là số dư Có TK 4118. -
Cổ phiếu quỹ (Mã số 414) Chỉ
tiêu này phản ánh giá trị cổ phiếu quỹ hiện có ở thời điểm báo cáo của công ty
cổ phần. Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này là số dư Nợ của TK 419 và được ghi bằng số âm dưới
hình thức ghi trong ngoặc đơn (...). -
Chênh lệch tỷ giá hối đoái (Mã số 415) Trường
hợp đơn vị sử dụng đồng tiền khác Đồng Việt Nam làm đơn vị tiền tệ trong kế
toán, chỉ tiêu này phản ánh khoản chênh lệch tỷ giá hối đoái do chuyển đổi Báo
cáo tài chính sang Đồng Việt Nam. -
Các quỹ thuộc vốn chủ sở hữu (Mã số 416) Chỉ
tiêu này phản ánh các quỹ thuộc vốn chủ sở hữu chưa sử dụng tại thời điểm báo
cáo. Số liệu để ghi vào chỉ tiêu này là số dư Có TK 418. -
Lợi nhuận sau thuế chưa phân phối (Mã số 417) Chỉ
tiêu này phản ánh số lãi (hoặc lỗ) sau thuế chưa phân phối tại thời điểm báo
cáo. Số liệu để ghi vào chỉ tiêu này là số dư Có của TK 421. Trường hợp TK 421
có số dư Nợ thì số liệu chỉ tiêu này được ghi bằng số âm dưới hình thức ghi
trong ngoặc đơn (...). -
Tổng cộng nguồn vốn (Mã số 500) Là
chỉ tiêu tổng hợp phản ánh tổng số các nguồn vốn hình thành tài sản của doanh
nghiệp tại thời điểm báo cáo. Mã số 500 = Mã số 300 + Mã số
400. Chỉ
tiêu “Tổng cộng Tài sản Mã số 200” = Chỉ
tiêu “Tổng cộng Nguồn vốn Mã số 500” 2.2.2.
Đối với doanh nghiệp đáp ứng giả định hoạt động liên tục (Xem mẫu B01b -
DNN) a)
Tài sản ngắn hạn (Mã số 100) Là
chỉ tiêu tổng hợp phản ánh tổng giá trị tiền và các khoản tương đương tiền, các
khoản đầu tư tài chính ngắn hạn, các khoản phải thu ngắn hạn, hàng tồn kho và
tài sản ngắn hạn khác có thể bán hay sử dụng trong vòng không quá 12 tháng hoặc
một chu kỳ kinh doanh thông thường của doanh nghiệp tại thời điểm báo
cáo. Mã
số 100 = Mã số 110 + Mã số 120 + Mã số 130 + Mã số 140 + Mã số
150. -
Tiền và các khoản tương đương tiền (Mã số 110) Chỉ
tiêu này phản ánh toàn bộ tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng không kỳ hạn và
các khoản tương đương tiền hiện có của doanh nghiệp tại thời điểm báo
cáo. Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này là tổng số dư Nợ của các TK 111, 112, số dư Nợ chi
tiết của TK 1281 (chi tiết các khoản tiền gửi có kỳ hạn gốc không quá 3 tháng)
và TK 1288 (chi tiết các khoản đủ tiêu chuẩn phân loại là tương đương
tiền). Ngoài
ra, trong quá trình lập báo cáo, nếu nhận thấy các khoản mục được phản ánh ở các
tài khoản khác thỏa mãn định nghĩa tương tương tiền thì kế toán được phép trình
bày trong chỉ tiêu này. Các khoản tương đương tiền có thể bao gồm: Kỳ phiếu ngân
hàng, tín phiếu kho bạc, … Các
khoản trước đây được phân loại là tương đương tiền nhưng quá hạn chưa thu hồi
được phải chuyển sang trình bày tại các chỉ tiêu khác, phù hợp với nội dung của
từng khoản mục. Khi
phân tích các chỉ tiêu tài chính, ngoài các khoản tương đương tiền trình bày
trong chỉ tiêu này, kế toán có thể coi tương đương tiền bao gồm cả các khoản có
thời hạn thu hồi còn lại dưới 3 tháng kể từ ngày báo cáo (nhưng có kỳ hạn gốc
trên 3 tháng) có khả năng chuyển đổi dễ dàng thành một lượng tiền xác định và
không có rủi ro trong việc chuyển đổi thành tiền. -
Đầu tư tài chính ngắn hạn (Mã số 120) Là
chỉ tiêu tổng hợp phản ánh tổng giá trị của các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn
(sau khi đã trừ đi dự phòng giảm giá chứng khoán kinh doanh), bao gồm: Chứng
khoán kinh doanh, các khoản đầu tư nắm giữ đến ngày đáo hạn có kỳ hạn còn lại
không quá 12 tháng kể từ thời điểm báo cáo. Các
khoản đầu tư tài chính ngắn hạn được phản ánh trong chỉ tiêu này không bao gồm
các khoản đầu tư ngắn hạn đã được trình bày trong chỉ tiêu “Tiền và các khoản
tương đương tiền” (Mã số 110), các khoản phải thu về cho vay được trình bày
trong chỉ tiêu “Phải thu ngắn hạn khác” (Mã số 133). Mã
số 120 = Mã số 121 + Mã số 122 + Mã số 123. +
Chứng khoán kinh doanh (Mã số 121) Chỉ
tiêu này phản ánh giá trị các khoản chứng khoán và các công cụ tài chính khác
nắm giữ vì mục đích kinh doanh tại thời điểm báo cáo (nắm giữ với mục đích chờ
tăng giá để bán ra kiếm lời). Chỉ tiêu này có thể bao gồm cả các công cụ tài
chính không được chứng khoán hóa, ví dụ như thương phiếu, hợp đồng kỳ hạn, hợp
đồng hoán đổi… nắm giữ vì mục đích kinh doanh. Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này là số dư Nợ của TK 121. +
Dự phòng giảm giá chứng khoán kinh doanh (Mã số 122) Chỉ
tiêu này phản ánh khoản dự phòng giảm giá của các khoản chứng khoán kinh doanh
tại thời điểm báo cáo. Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này là số dư Có của TK 2291 và được ghi bằng số âm dưới
hình thức ghi trong ngoặc đơn (...). +
Đầu tư nắm giữ đến ngày đáo hạn ngắn hạn (Mã số 123) Chỉ
tiêu này phản ánh các khoản đầu tư nắm giữ đến ngày đáo hạn có kỳ hạn còn lại
không quá 12 tháng hoặc trong một chu kỳ sản xuất, kinh doanh thông thường tại
thời điểm báo cáo, như tiền gửi có kỳ hạn, trái phiếu, thương phiếu và các loại
chứng khoán nợ khác. Chỉ tiêu này không bao gồm các khoản đầu tư nắm giữ đến
ngày đáo hạn đã được trình bày trong chỉ tiêu “Tiền và các khoản tương đương
tiền” (Mã số 110), các khoản phải thu về cho vay được trình bày trong chỉ tiêu
“Phải thu ngắn hạn khác” (Mã số 133). Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này là số dư Nợ chi tiết của TK 1281,
1288. -
Các khoản phải thu ngắn hạn (Mã số 130) Là
chỉ tiêu tổng hợp phản ánh toàn bộ giá trị của các khoản phải thu ngắn hạn có kỳ
hạn thu hồi còn lại không quá 12 tháng hoặc trong một chu kỳ kinh doanh thông
thường tại thời điểm báo cáo, như: Phải thu ngắn hạn của khách hàng, trả trước
cho người bán ngắn hạn, phải thu ngắn hạn khác, tài sản thiếu chờ xử lý (sau khi
đã trừ đi dự phòng phải thu ngắn hạn khó đòi). Mã
số 130 = Mã số 131 + Mã số 132 + Mã số 133 + Mã số 134 + Mã số
135 +
Phải thu ngắn hạn của khách hàng (Mã số 131) Chỉ
tiêu này phản ánh số tiền còn phải thu của khách hàng có kỳ hạn thu hồi còn lại
không quá 12 tháng hoặc trong một chu kỳ kinh doanh thông thường tại thời điểm
báo cáo. Số liệu để ghi vào chỉ tiêu này căn cứ vào tổng số dư Nợ chi tiết của
TK 131 mở theo từng khách hàng. +
Trả trước cho người bán ngắn hạn (Mã số 132) Chỉ
tiêu này phản ánh số tiền đã trả trước cho người bán để mua tài sản, dịch vụ và
doanh nghiệp sẽ nhận được tài sản, dịch vụ trong thời hạn không quá 12 tháng
hoặc trong một chu kỳ kinh doanh thông thường tại thời điểm báo
cáo. Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này căn cứ vào tổng số dư Nợ chi tiết của TK 331 mở
theo từng người bán. +
Phải thu ngắn hạn khác (Mã số 133) Chỉ
tiêu này phản ánh các khoản phải thu khác có kỳ hạn thu hồi còn lại không quá 12
tháng hoặc trong một chu kỳ kinh doanh thông thường tại thời điểm báo cáo, như:
Phải thu về cho vay ngắn hạn; phải thu nội bộ ngắn hạn khác ngoài khoản phải thu
về vốn kinh doanh ở đơn vị trực thuộc đã được phản ánh ở chỉ tiêu “Vốn kinh
doanh ở đơn vị trực thuộc” (Mã số 213); các khoản đã chi hộ; phải thu về tiền
lãi, cổ tức được chia; các khoản tạm ứng; các khoản cầm cố, ký cược, ký quỹ, cho
mượn tạm thời,… mà doanh nghiệp được quyền thu hồi. Khi
đơn vị cấp trên lập Báo cáo tình hình tài chính tổng hợp với đơn vị cấp dưới
hạch toán phụ thuộc, khoản phải thu nội bộ ngắn hạn khác trong chỉ tiêu này được
bù trừ với khoản phải trả nội bộ ngắn hạn khác trong chỉ tiêu “Phải trả ngắn hạn
khác” (Mã số 415) trên Báo cáo tình hình tài chính của các đơn vị hạch toán phụ
thuộc. Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này là số dư Nợ chi tiết của các TK 1288 (chi tiết cho
vay), 1368, 1386, 1388, 334, 338, 141. +
Tài sản thiếu chờ xử lý (Mã số 134) Chỉ
tiêu này phản ánh các tài sản thiếu hụt, mất mát chưa rõ nguyên nhân đang chờ xử
lý tại thời điểm báo cáo. Số liệu để ghi vào chỉ tiêu này là số dư Nợ TK
1381. +
Dự phòng phải thu ngắn hạn khó đòi (Mã số 135) Chỉ
tiêu này phản ánh khoản dự phòng cho các khoản phải thu ngắn hạn khó đòi tại
thời điểm báo cáo. Số liệu để ghi vào chỉ tiêu này là số dư Có chi tiết của TK
2293, chi tiết dự phòng cho các khoản phải thu ngắn hạn khó đòi và được ghi bằng
số âm dưới hình thức ghi trong ngoặc đơn (...). -
Hàng tồn kho (Mã số 140) Là
chỉ tiêu tổng hợp phản ánh toàn bộ giá trị hiện có các loại hàng tồn kho dự trữ
cho quá trình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp (sau khi trừ đi dự phòng
giảm giá hàng tồn kho) đến thời điểm báo cáo. Mã
số 140 = Mã số 141 + Mã số 142. +
Hàng tồn kho (Mã số 141) Chỉ
tiêu này phản ánh tổng giá trị của hàng tồn kho thuộc quyền sở hữu của doanh
nghiệp được luân chuyển trong vòng thời hạn không quá 12 tháng hoặc trong một
chu kỳ kinh doanh thông thường tại thời điểm báo cáo. Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này là số dư Nợ của các TK 151, 152, 153, 154, 155,
156, 157. +
Dự phòng giảm giá hàng tồn kho (Mã số 142) Chỉ
tiêu này phản ánh khoản dự phòng giảm giá của các loại hàng tồn kho tại thời
điểm báo cáo. Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này là số dư Có của TK 2294 và được ghi bằng số âm dưới
hình thức ghi trong ngoặc đơn (...). -
Tài sản ngắn hạn khác (Mã số 150) Là
chỉ tiêu tổng hợp phản ánh tổng giá trị các tài sản ngắn hạn khác có thời hạn
thu hồi hoặc sử dụng không quá 12 tháng hoặc trong một chu kỳ kinh doanh thông
thường tại thời điểm báo cáo, như thuế GTGT còn được khấu trừ và tài sản ngắn
hạn khác. Mã
số 150 = Mã số 151 + Mã số 152. +
Thuế giá trị gia tăng được khấu trừ (Mã số 151) Chỉ
tiêu này phản ánh số thuế GTGT còn được khấu trừ và số thuế GTGT còn được hoàn
lại đến cuối năm báo cáo. Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này căn cứ vào số dư Nợ của TK
133. +
Tài sản ngắn hạn khác (Mã số 152) Chỉ
tiêu này phản ánh tài sản ngắn hạn khác có thời hạn thu hồi hoặc sử dụng không
quá 12 tháng tại thời điểm báo cáo, gồm chi phí trả trước ngắn hạn, thuế và các
khoản khác phải thu Nhà nước. Số
liệu ghi vào chỉ tiêu này căn cứ vào số dư Nợ chi tiết của các TK 242,
333 b)
Tài sản dài hạn (Mã số 200) Là
chỉ tiêu tổng hợp phản ánh trị giá các loại tài sản không được phản ánh trong
chỉ tiêu tài sản ngắn hạn. Tài sản dài hạn là các tài sản có thời hạn thu hồi
hoặc sử dụng trên 12 tháng tại thời điểm báo cáo, như: Các khoản phải thu dài
hạn, tài sản cố định, bất động sản đầu tư, xây dựng cơ bản dở dang, đầu tư tài
chính dài hạn và tài sản dài hạn khác. Mã
số 200 = Mã số 210 + Mã số 220 + Mã số 230 + Mã số 240 + Mã số 250 + Mã số
260. -
Các khoản phải thu dài hạn (Mã số 210) Là
chỉ tiêu tổng hợp phản ánh toàn bộ giá trị của các khoản phải thu có kỳ hạn thu
hồi trên 12 tháng hoặc hơn một chu kỳ sản xuất, kinh doanh thông thường tại thời
điểm báo cáo, như: Phải thu dài hạn của khách hàng, trả trước cho người bán dài
hạn, vốn kinh doanh ở đơn vị trực thuộc, phải thu dài hạn khác (sau khi trừ đi
dự phòng phải thu dài hạn khó đòi). Mã
số 210 = Mã số 211 + Mã số 212 + Mã số 213 + Mã số 214 + Mã số
215. +
Phải thu dài hạn của khách hàng (Mã số 211) Chỉ
tiêu này phản ánh số tiền còn phải thu của khách hàng có kỳ hạn thu hồi trên 12
tháng hoặc hơn một chu kỳ sản xuất, kinh doanh thông thường tại thời điểm báo
cáo. Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này căn cứ vào tổng số dư Nợ chi tiết của TK 131 mở
theo từng khách hàng. +
Trả trước cho người bán dài hạn (Mã số 212) Chỉ
tiêu này phản ánh số tiền đã trả trước cho người bán để mua tài sản, dịch vụ và
doanh nghiệp sẽ nhận được tài sản, dịch vụ trong thời hạn trên 12 tháng hoặc hơn
một chu kỳ sản xuất, kinh doanh thông thường tại thời điểm báo
cáo. Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này căn cứ vào tổng số dư Nợ chi tiết của TK 331 mở
theo từng người bán. +
Vốn kinh doanh ở đơn vị trực thuộc (Mã số 213) Chỉ
tiêu này chỉ ghi trên Báo cáo tình hình tài chính của đơn vị cấp trên phản ánh
số vốn kinh doanh đã giao cho các đơn vị hạch toán phụ
thuộc. Khi
lập Báo cáo tình hình tài chính tổng hợp của toàn doanh nghiệp, chỉ tiêu này
được bù trừ với chỉ tiêu “Phải trả nội bộ về vốn kinh doanh” (Mã số 423) hoặc
chỉ tiêu "Vốn góp của chủ sở hữu" (Mã số 511) trên Báo cáo tình hình tài chính
của các đơn vị hạch toán phụ thuộc, chi tiết phần vốn nhận của đơn vị cấp
trên. Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này căn cứ vào số dư Nợ của TK
1361. +
Phải thu dài hạn khác (Mã số 214) Chỉ
tiêu này phản ánh các khoản phải thu khác có kỳ hạn thu hồi còn lại trên 12
tháng hoặc hơn một chu kỳ kinh doanh thông thường tại thời điểm báo cáo, như:
Phải thu dài hạn về cho vay, phải thu nội bộ dài hạn khác ngoài khoản phải thu
nội bộ về vốn kinh doanh đã được phản ánh ở chỉ tiêu “Vốn kinh doanh ở đơn vị
trực thuộc” (Mã số 213), phải thu về các khoản đã chi hộ; các khoản tạm ứng, cầm
cố, ký cược, ký quỹ, cho mượn…mà doanh nghiệp được quyền thu
hồi. Khi
đơn vị cấp trên lập Báo cáo tình hình tài chính tổng hợp với đơn vị cấp dưới
hạch toán phụ thuộc, khoản phải thu nội bộ dài hạn trong chỉ tiêu này được bù
trừ với khoản phải trả nội bộ dài hạn được trình bày trong chỉ tiêu “Phải trả
dài hạn khác” (Mã số 424) trên Báo cáo tình hình tài chính của các đơn vị hạch
toán phụ thuộc. Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này căn cứ vào số dư Nợ chi tiết của các TK 1288 (chi
tiết cho vay), 1368, 1386, 1388, 334, 338, 141. +
Dự phòng phải thu dài hạn khó đòi (Mã số 215) Chỉ
tiêu này phản ánh khoản dự phòng cho các khoản phải thu dài hạn khó đòi tại thời
điểm báo cáo. Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này là số dư Có chi tiết của TK 2293, chi tiết dự phòng
cho các khoản phải thu dài hạn khó đòi và được ghi bằng số âm dưới hình thức ghi
trong ngoặc đơn (...). -
Tài sản cố định (Mã số 220) Là
chỉ tiêu tổng hợp phản ánh toàn bộ giá trị còn lại (Nguyên giá trừ giá trị hao
mòn lũy kế) của các loại tài sản cố định tại thời điểm báo
cáo. Mã
số 220 = Mã số 221 + Mã số 222. +
Nguyên giá (Mã số 221) Chỉ
tiêu này phản ánh toàn bộ nguyên giá các loại tài sản cố định tại thời điểm báo
cáo. Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này là số dư Nợ của TK 211. +
Giá trị hao mòn lũy kế (Mã số 222) Chỉ
tiêu này phản ánh toàn bộ giá trị đã hao mòn của các loại tài sản cố định lũy kế
tại thời điểm báo cáo. Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này là số dư Có của các TK 2141, 2142, 2143 và được ghi
bằng số âm dưới hình thức ghi trong ngoặc đơn (...). -
Bất động sản đầu tư (Mã số 230) Là
chỉ tiêu tổng hợp phản ánh toàn bộ giá trị còn lại của các loại bất động sản đầu
tư tại thời điểm báo cáo. Mã
số 230 = Mã số 231 + Mã số 232. +
Nguyên giá (Mã số 231) Chỉ
tiêu này phản ánh toàn bộ nguyên giá của các loại bất động sản đầu tư tại thời
điểm báo cáo sau khi đã trừ số tổn thất do suy giảm giá trị của bất động sản đầu
tư nắm giữ chờ tăng giá. Số
liệu để phản ánh vào chỉ tiêu này là số dư Nợ của TK 217. +
Giá trị hao mòn lũy kế (Mã số 232) Chỉ
tiêu này phản ánh toàn bộ giá trị hao mòn lũy kế của bất động sản đầu tư dùng để
cho thuê tại thời điểm báo cáo. Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này là số dư Có của TK 2147 và được ghi bằng số âm dưới
hình thức ghi trong ngoặc đơn (...). -
Xây dựng cơ bản dở dang (Mã số 240) Chỉ
tiêu này phản ánh toàn bộ trị giá tài sản cố định đang mua sắm, chi phí đầu tư
xây dựng cơ bản, chi phí sửa chữa lớn tài sản cố định dở dang hoặc đã hoàn thành
chưa bàn giao hoặc chưa đưa vào sử dụng. Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này là số dư Nợ của TK 241. -
Đầu tư tài chính dài hạn (Mã số 250) Là
chỉ tiêu tổng hợp phản ánh tổng giá trị các khoản đầu tư tài chính dài hạn (sau
khi trừ đi khoản dự phòng tổn thất đầu tư vào đơn vị khác) tại thời điểm báo
cáo, như: Đầu tư góp vốn vào đơn vị khác, đầu tư nắm giữ đến ngày đáo hạn dài
hạn có kỳ hạn còn lại trên 12 tháng hoặc hơn một chu kỳ sản xuất, kinh doanh
thông thường tại thời điểm báo cáo. Mã
số 250 = Mã số 251 + Mã số 252 + Mã số 253. +
Đầu tư góp vốn vào đơn vị khác (Mã số 251) Chỉ
tiêu này phản ánh các khoản đầu tư vào công ty liên doanh, liên kết và các khoản
đầu tư khác. Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này là số dư Nợ chi tiết của TK
228. +
Dự phòng tổn thất đầu tư vào đơn vị khác (Mã số 252) Chỉ
tiêu này phản ánh khoản dự phòng tổn thất đầu tư vào đơn vị khác do đơn vị được
đầu tư bị lỗ và nhà đầu tư có khả năng mất vốn tại thời điểm báo
cáo. Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này là số dư Có của TK 2292 và được ghi bằng số âm dưới
hình thức ghi trong ngoặc đơn (...). +
Đầu tư nắm giữ đến ngày đáo hạn dài hạn (Mã số 253) Chỉ
tiêu này phản ánh các khoản đầu tư nắm giữ đến ngày đáo hạn có kỳ hạn còn lại
trên 12 tháng hoặc hơn một chu kỳ sản xuất kinh doanh thông thường kể từ thời
điểm báo cáo, như tiền gửi có kỳ hạn, trái phiếu, thương phiếu và các loại chứng
khoán nợ khác. Chỉ tiêu này không bao gồm các khoản phải thu về cho vay được
trình bày trong chỉ tiêu “Phải thu dài hạn khác” (Mã số
214). Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này là số dư Nợ chi tiết của các TK 1281,
1288. -
Tài sản dài hạn khác (Mã số 260) Chỉ
tiêu này phản ánh giá trị các tài sản dài hạn khác có thời hạn thu hồi trên 12
tháng hoặc hơn một chu kỳ sản xuất, kinh doanh thông thường tại thời điểm báo
cáo như chi phí trả trước dài hạn, các khoản phải thu của Nhà nước dài hạn (nếu
có) chưa được trình bày ở các chỉ tiêu trên. Doanh
nghiệp không phải tái phân loại chi phí trả trước dài hạn thành chi phí trả
trước ngắn hạn. Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này căn cứ vào số dư Nợ chi tiết của TK 242,
333. -
Tổng cộng tài sản (Mã số 300) Là
chỉ tiêu tổng hợp phản ánh tổng trị giá tài sản hiện có của doanh nghiệp tại
thời điểm báo cáo, bao gồm tài sản ngắn hạn và tài sản dài
hạn. Mã
số 300 = Mã số 100 + Mã số 200. c)
Nợ phải trả (Mã số 400) Là
chỉ tiêu tổng hợp phản ánh toàn bộ số nợ phải trả tại thời điểm báo cáo, gồm: Nợ
ngắn hạn và nợ dài hạn. Mã
số 400 = Mã số 410 + Mã số 420. -
Nợ ngắn hạn (Mã số 410) Là
chỉ tiêu tổng hợp phản ánh tổng giá trị các khoản nợ còn phải trả có thời hạn
thanh toán không quá 12 tháng hoặc dưới một chu kỳ sản xuất, kinh doanh thông
thường tại thời điểm báo cáo, như: Các khoản vay và nợ thuê tài chính ngắn hạn,
phải trả cho người bán ngắn hạn, người mua trả tiền trước ngắn hạn, thuế và các
khoản phải nộp Nhà nước, phải trả người lao động, phải trả ngắn hạn khác, dự
phòng phải trả ngắn hạn … tại thời điểm báo cáo. Mã
số 410 = Mã số 411 + Mã số 412 + Mã số 413 + Mã số 414 + Mã số 415 + Mã số 416 +
Mã số 417 + Mã số 418. +
Phải trả người bán ngắn hạn (Mã số 411) Chỉ
tiêu này phản ánh số tiền còn phải trả cho người bán có thời hạn thanh toán còn
lại không quá 12 tháng hoặc trong một chu kỳ sản xuất, kinh doanh thông thường
tại thời điểm báo cáo. Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này căn cứ vào tổng số dư Có chi tiết của TK 331 mở cho
từng người bán. +
Người mua trả tiền trước ngắn hạn (Mã số 412) Chỉ
tiêu này phản ánh số tiền người mua ứng trước để mua sản phẩm, hàng hóa, dịch
vụ, tài sản cố định, bất động sản đầu tư và doanh nghiệp có nghĩa vụ cung cấp
trong thời hạn không quá 12 tháng hoặc trong một chu kỳ sản xuất, kinh doanh
thông thường tại thời điểm báo cáo (không bao gồm các khoản doanh thu nhận
trước). Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này căn cứ vào tổng số dư Có chi tiết của TK 131 mở cho
từng khách hàng. +
Thuế và các khoản phải nộp Nhà nước (Mã số 413) Chỉ
tiêu này phản ánh tổng các khoản doanh nghiệp còn phải nộp cho Nhà nước tại thời
điểm báo cáo, bao gồm cả các khoản thuế, phí, lệ phí và các khoản phải nộp khác.
Số liệu để ghi vào chỉ tiêu này căn cứ vào tổng số dư Có chi tiết của TK
333. +
Phải trả người lao động (Mã số 414) Chỉ
tiêu này phản ánh các khoản doanh nghiệp còn phải trả cho người lao động tại
thời điểm báo cáo. Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này căn cứ vào số dư Có chi tiết của TK
334. +
Phải trả ngắn hạn khác (Mã số 415) Chỉ
tiêu này phản ánh các khoản phải trả khác có kỳ hạn thanh toán còn lại không quá
12 tháng hoặc trong một chu kỳ sản xuất, kinh doanh thông thường tại thời điểm
báo cáo, ngoài các khoản nợ phải trả đã được phản ánh trong các chỉ tiêu khác,
như: Chi phí phải trả ngắn hạn, phải trả nội bộ ngắn hạn khác ngoài khoản phải
trả nội bộ về vốn kinh doanh đã được phản ánh ở chỉ tiêu “Phải trả nội bộ về vốn
kinh doanh” (Mã số 423), doanh thu chưa thực hiện ngắn hạn, giá trị tài sản phát
hiện thừa chưa rõ nguyên nhân, các khoản phải nộp cho cơ quan BHXH, KPCĐ, các
khoản nhận ký cược, ký quỹ ngắn hạn… Khi
đơn vị cấp trên lập Báo cáo tài chính tổng hợp với các đơn vị cấp dưới hạch toán
phụ thuộc, khoản phải trả nội bộ ngắn hạn trong chỉ tiêu này được bù trừ với
khoản phải thu nội bộ ngắn hạn được trình bày trong chỉ tiêu “Phải thu ngắn hạn
khác” (Mã số 133) trên Báo cáo tình hình tài chính của các đơn vị hạch toán phụ
thuộc. Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này căn cứ vào số dư Có chi tiết của các TK 335, 3368,
338, 1388. +
Vay và nợ thuê tài chính ngắn hạn (Mã số 416) Chỉ
tiêu này phản ánh tổng giá trị các khoản doanh nghiệp đi vay kể cả vay dưới hình
thức phát hành trái phiếu, còn nợ các ngân hàng, tổ chức, công ty tài chính và
các đối tượng khác có kỳ hạn thanh toán còn lại không quá 12 tháng hoặc trong
một chu kỳ sản xuất kinh doanh thông thường tại thời điểm báo
cáo. Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này căn cứ vào số dư Có chi tiết của TK
341. +
Dự phòng phải trả ngắn hạn (Mã số 417) Chỉ
tiêu này phản ánh khoản dự phòng cho các khoản dự kiến phải trả không quá 12
tháng hoặc trong chu kỳ sản xuất, kinh doanh thông thường tiếp theo tại thời
điểm báo cáo, như dự phòng bảo hành sản phẩm, hàng hóa, công trình xây dựng, các
khoản chi phí trích trước để sửa chữa TSCĐ định kỳ, chi phí hoàn nguyên môi
trường trích trước… Các khoản dự phòng phải trả thường được ước tính, chưa chắc
chắn về thời gian phải trả, giá trị phải trả và doanh nghiệp chưa nhận được hàng
hóa, dịch vụ từ nhà cung cấp. Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này căn cứ vào số dư Có chi tiết của TK
352. +
Quỹ khen thưởng, phúc lợi (Mã số 418) Chỉ
tiêu này phản ánh Quỹ khen thưởng, Quỹ phúc lợi, Quỹ thưởng ban quản lý điều
hành chưa sử dụng tại thời điểm báo cáo. Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này là số dư Có của TK 353. -
Nợ dài hạn (Mã số 420) Là
chỉ tiêu tổng hợp phản ánh tổng giá trị các khoản nợ dài hạn của doanh nghiệp
bao gồm những khoản nợ có thời hạn thanh toán còn lại từ 12 tháng trở lên hoặc
trên một chu kỳ sản xuất, kinh doanh thông thường tại thời điểm báo cáo, như:
Khoản phải trả người bán dài hạn, người mua trả tiền trước dài hạn, phải trả nội
bộ về vốn kinh doanh, các khoản phải trả dài hạn khác, vay và nợ thuê tài chính
dài hạn, dự phòng phải trả dài hạn và quỹ phát triển khoa học và công nghệ tại
thời điểm báo cáo. Mã
số 420 = Mã số 421 + Mã số 422 + Mã số 423 + Mã số 424 + Mã số 425 + Mã số 426 +
Mã số 427. +
Phải trả người bán dài hạn (Mã số 421) Chỉ
tiêu này phản ánh số tiền còn phải trả cho người bán có thời hạn thanh toán còn
lại trên 12 tháng hoặc hơn một chu kỳ sản xuất, kinh doanh thông thường tại thời
điểm báo cáo. Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này căn cứ vào tổng số dư Có chi tiết của TK 331 mở cho
từng người bán. +
Người mua trả tiền trước dài hạn (Mã số 422) Chỉ
tiêu này phản ánh số tiền người mua ứng trước để mua sản phẩm, hàng hóa, dịch
vụ, tài sản cố định, bất động sản đầu tư và thời hạn doanh nghiệp có nghĩa vụ
cung cấp là trên 12 tháng hoặc hơn một chu kỳ sản xuất, kinh doanh thông thường
tại thời điểm báo cáo (không bao gồm các khoản doanh thu nhận
trước). Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này căn cứ vào số dư Có chi tiết của TK 131 mở chi tiết
cho từng khách hàng. +
Phải trả nội bộ về vốn kinh doanh (Mã số 423) Tùy
thuộc vào đặc điểm hoạt động và mô hình quản lý của từng đơn vị, doanh nghiệp
thực hiện phân cấp và quy định cho đơn vị hạch toán phụ thuộc ghi nhận khoản vốn
do doanh nghiệp cấp vào chỉ tiêu này hoặc chỉ tiêu “Vốn góp của chủ sở hữu” (Mã
số 511). Chỉ
tiêu này chỉ trình bày trên Báo cáo tình hình tài chính đơn vị cấp dưới không có
tư cách pháp nhân hạch toán phụ thuộc, phản ánh các khoản đơn vị cấp dưới phải
trả cho đơn vị cấp trên về vốn kinh doanh. Khi
đơn vị cấp trên lập Báo cáo tình hình tài chính tổng hợp toàn doanh nghiệp, chỉ
tiêu này được bù trừ với chỉ tiêu “Vốn kinh doanh ở đơn vị trực thuộc” (Mã số
213) trên Báo cáo tình hình tài chính của đơn vị cấp trên. Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này căn cứ vào chi tiết số dư Có TK
3361. +
Phải trả dài hạn khác (Mã số 424) Chỉ
tiêu này phản ánh các khoản phải trả khác có kỳ hạn thanh toán còn lại trên 12
tháng hoặc hơn một chu kỳ sản xuất, kinh doanh thông thường tại thời điểm báo
cáo, ngoài các khoản nợ phải trả đã được phản ánh trong các chỉ tiêu khác, như:
Chi phí phải trả, phải trả nội bộ khác ngoài khoản phải trả nội bộ về vốn kinh
doanh, doanh thu chưa thực hiện dài hạn, các khoản nhận ký cược, ký quỹ dài
hạn… Khi
đơn vị cấp trên lập Báo cáo tài chính tổng hợp với các đơn vị cấp dưới hạch toán
phụ thuộc, khoản phải trả nội bộ dài hạn trong chỉ tiêu này được bù trừ với
khoản phải thu nội bộ dài hạn khác được trình bày trong chỉ tiêu “Phải thu dài
hạn khác” (Mã số 214) trên Báo cáo tình hình tài chính của các đơn vị hạch toán
phụ thuộc. Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này căn cứ vào số dư Có chi tiết của các TK 335, 3368,
338, 1388. +
Vay và nợ thuê tài chính dài hạn (Mã số 425) Chỉ
tiêu này phản ánh các khoản doanh nghiệp vay, nợ của các ngân hàng, tổ chức,
công ty tài chính và các đối tượng khác, giá trị cổ phiếu ưu đãi theo mệnh giá
mà bắt buộc người phát hành phải mua lại tại một thời điểm đã được xác định
trong tương lai có kỳ hạn thanh toán còn lại trên 12 hoặc hơn một chu kỳ sản
xuất kinh doanh thông thường tại thời điểm báo cáo, như: Tiền vay ngân hàng, tổ
chức tài chính, khoản phải trả về tài sản cố định thuê tài
chính... Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này là số dư Có chi tiết các TK 341, 4111 (chi tiết
loại cổ phiếu ưu đãi được phân loại là nợ phải trả). +
Dự phòng phải trả dài hạn (Mã số 426) Chỉ
tiêu này phản ánh khoản dự phòng cho các khoản dự kiến phải trả sau 12 tháng
hoặc sau một chu kỳ sản xuất, kinh doanh thông thường tiếp theo tại thời điểm
báo cáo, như dự phòng bảo hành sản phẩm, hàng hóa, công trình xây dựng, dự phòng
tái cơ cấu, các khoản chi phí trích trước để sửa chữa TSCĐ định kỳ, chi phí hoàn
nguyên môi trường trích trước… Các khoản dự phòng phải trả thường được ước tính,
chưa chắc chắn về thời gian phải trả, giá trị phải trả và doanh nghiệp chưa nhận
được hàng hóa, dịch vụ từ nhà cung cấp. Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này căn cứ vào số dư Có chi tiết của TK
352. +
Quỹ phát triển khoa học và công nghệ (Mã số 427) Chỉ
tiêu này phản ánh số Quỹ phát triển khoa học và công nghệ chưa sử dụng tại thời
điểm báo cáo. Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này là số dư Có của TK 356. d)
Vốn chủ sở hữu (Mã số 500) Là
chỉ tiêu tổng hợp phản ánh các khoản vốn kinh doanh thuộc sở hữu của cổ đông,
thành viên góp vốn, như: Vốn góp của chủ sở hữu, thặng dư vốn cổ phần, vốn khác
của chủ sở hữu, cổ phiếu quỹ, các quỹ thuộc vốn chủ sở hữu, lợi nhuận sau thuế
chưa phân phối, chênh lệch tỷ giá hối đoái. Mã
số 500 = Mã số 511 + Mã số 512 + Mã số 513 + Mã số 514 + Mã số 515 + Mã số 516 +
Mã số 517 -
Vốn góp của chủ sở hữu (Mã số 511) Chỉ
tiêu này phản ánh tổng số vốn đã thực góp của các chủ sở hữu vào doanh nghiệp
(đối với công ty cổ phần phản ánh vốn góp của các cổ đông theo mệnh giá cổ
phiếu) tại thời điểm báo cáo. Tại
đơn vị hạch toán phụ thuộc, chỉ tiêu này có thể phản ánh số vốn được cấp nếu
doanh nghiệp quy định đơn vị hạch toán phụ thuộc ghi nhận vào TK
411. Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này là số dư Có của TK 4111. -
Thặng dư vốn cổ phần (Mã số 512) Chỉ
tiêu này phản ánh thặng dư vốn cổ phần tại thời điểm báo cáo của công ty cổ
phần. Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này là số dư Có của TK 4112. Nếu TK 4112 có số dư Nợ
thì chỉ tiêu này được ghi bằng số âm dưới hình thức ghi trong ngoặc đơn
(...). -
Vốn khác của chủ sở hữu (Mã số 513) Chỉ
tiêu này phản ánh giá trị các khoản vốn khác của chủ sở hữu tại thời điểm báo
cáo. Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này là số dư Có TK 4118. -
Cổ phiếu quỹ (Mã số 514) Chỉ
tiêu này phản ánh giá trị cổ phiếu quỹ hiện có ở thời điểm báo cáo của công ty
cổ phần. Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này là số dư Nợ của TK 419 và được ghi bằng số âm dưới
hình thức ghi trong ngoặc đơn (...). -
Chênh lệch tỷ giá hối đoái (Mã số 515) Trường
hợp đơn vị sử dụng đồng tiền khác Đồng Việt Nam làm đơn vị tiền tệ trong kế
toán, chỉ tiêu này phản ánh khoản chênh lệch tỷ giá hối đoái do chuyển đổi Báo
cáo tài chính sang Đồng Việt Nam. -
Các quỹ thuộc vốn chủ sở hữu (Mã số 516) Chỉ
tiêu này phản ánh các quỹ thuộc vốn chủ sở hữu chưa sử dụng tại thời điểm báo
cáo. Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này là số dư Có TK 418. -
Lợi nhuận sau thuế chưa phân phối (Mã số 517) Chỉ
tiêu này phản ánh số lãi (hoặc lỗ) sau thuế chưa phân phối tại thời điểm báo
cáo. Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này là số dư Có của TK 421. Trường hợp TK 421 có số dư
Nợ thì số liệu chỉ tiêu này được ghi bằng số âm dưới hình thức ghi trong ngoặc
đơn (...). -
Tổng cộng nguồn vốn (Mã số 600) Phản
ánh tổng số các nguồn vốn hình thành tài sản của doanh nghiệp tại thời điểm báo
cáo. Mã
số 600 = Mã số 400 + Mã số 500. Chỉ
tiêu “Tổng cộng Tài sản Mã số 300” = Chỉ
tiêu “Tổng cộng Nguồn vốn Mã số 600” 2.2.3.
Đối với doanh nghiệp không đáp ứng giả định hoạt động liên tục (xem Mẫu số B01 -
DNNKLT) Việc
trình bày các chỉ tiêu của Báo cáo tình hình tài chính khi doanh nghiệp không
đáp ứng giả định hoạt động liên tục được thực hiện tương tự như Báo cáo tình
hình tài chính của doanh nghiệp đáp ứng giả định hoạt động liên tục theo mẫu số
B01a-DNN ngoại trừ một số chỉ tiêu sau: -
Đầu tư tài chính (Mã số 120) Là
chỉ tiêu tổng hợp phản ánh tổng giá trị của các khoản đầu tư tài chính, bao gồm:
Chứng khoán kinh doanh, các khoản đầu tư nắm giữ đến ngày đáo hạn và các khoản
đầu tư góp vốn vào đơn vị khác tại thời điểm báo cáo. Các
khoản đầu tư tài chính được phản ánh trong chỉ tiêu này không bao gồm các khoản
đầu tư đã được trình bày trong chỉ tiêu “Tiền và các khoản tương đương tiền” (Mã
số 110) và các khoản phải thu về cho vay đã được trình bày trong chỉ tiêu “Phải
thu khác” (Mã số 134). Mã
số 120 = Mã số 121 + Mã số 122 + Mã số 123. -
Các khoản phải thu (Mã số 130) Là
chỉ tiêu tổng hợp phản ánh toàn bộ giá trị của các khoản phải thu tại thời điểm
báo cáo, như: Phải thu của khách hàng, trả trước cho người bán, vốn kinh doanh ở
đơn vị trực thuộc, phải thu khác, tài sản thiếu chờ xử lý. Mã
số 130 = Mã số 131 + Mã số 132 + Mã số 133 + Mã số 134 + Mã số
135. -
Hàng tồn kho (Mã số 140) Chỉ
tiêu này phản ánh tổng giá trị của hàng tồn kho thuộc quyền sở hữu của doanh
nghiệp tại thời điểm báo cáo. Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này là số dư Nợ của các TK 151, 152, 153, 154, 155,
156, 157. -
Tài sản cố định và bất động sản đầu tư (Mã số 150) Là
chỉ tiêu tổng hợp phản ánh toàn bộ giá trị còn lại (Nguyên giá trừ giá trị hao
mòn lũy kế) của các loại tài sản cố định và bất động sản đầu tư tại thời điểm
báo cáo. Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này là số dư Nợ của các TK 211, 217 trừ đi số dư Có TK
214. 2.3.
Hướng dẫn lập và trình bày Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (Mẫu số B02 -
DNN) 2.3.1.
Nội dung và kết cấu báo cáo: a)
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh phản ánh tình hình và kết quả hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp, bao gồm kết quả từ hoạt động kinh doanh chính và
kết quả từ các hoạt động tài chính và hoạt động khác của doanh
nghiệp. b)
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh gồm có 5 cột: -
Cột số 1: Các chỉ tiêu báo cáo; -
Cột số 2: Mã số của các chỉ tiêu tương ứng; -
Cột số 3: Số hiệu tương ứng với các chỉ tiêu của báo cáo này được thể hiện chỉ
tiêu trên Bản thuyết minh Báo cáo tài chính; -
Cột số 4: Tổng số phát sinh trong kỳ báo cáo năm; -
Cột số 5: Số liệu của năm trước (để so sánh). 2.3.2.
Cơ sở lập báo cáo -
Căn cứ Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của năm trước. -
Căn cứ vào sổ kế toán tổng hợp và sổ kế toán chi tiết trong kỳ dùng cho các tài
khoản từ loại 5 đến loại 9. 2.3.3.
Nội dung và phương pháp lập các chỉ tiêu trong Báo cáo kết quả hoạt động kinh
doanh -
Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ (Mã số 01) Chỉ
tiêu này phản ánh tổng doanh thu bán hàng hóa, thành phẩm, bất động sản đầu tư,
doanh thu cung cấp dịch vụ và doanh thu khác trong năm báo cáo của doanh nghiệp.
Số liệu để ghi vào chỉ tiêu này là lũy kế số phát sinh bên Có của TK 511 trong
kỳ báo cáo. Khi
đơn vị cấp trên lập báo cáo tổng hợp với các đơn vị cấp dưới hạch toán phụ
thuộc, các khoản doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ phát sinh từ các giao
dịch nội bộ đều phải loại trừ. Chỉ
tiêu này không bao gồm các loại thuế gián thu, như thuế GTGT (kể cả thuế GTGT
nộp theo phương pháp trực tiếp), thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu, thuế
bảo vệ môi trường và các loại thuế gián thu khác. -
Các khoản giảm trừ doanh thu (Mã số 02) Chỉ
tiêu này phản ánh tổng hợp các khoản được ghi giảm trừ vào tổng doanh thu bán
hàng và cung cấp dịch vụ trong năm, bao gồm: Các khoản chiết khấu thương mại,
giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại trong kỳ báo cáo. Số liệu để ghi vào chỉ
tiêu này là tổng số phát sinh bên Nợ TK 511 đối ứng với bên Có các TK 111, 112,
131, trong kỳ báo cáo. Chỉ
tiêu này không bao gồm các khoản thuế gián thu, phí mà doanh nghiệp không được
hưởng phải nộp NSNN (được kế toán ghi giảm doanh thu trên sổ kế toán TK 511) do
các khoản này về bản chất là các khoản thu hộ Nhà nước, không thuộc doanh thu
nên không được coi là khoản giảm trừ doanh thu. -
Doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ (Mã số
10) Chỉ
tiêu này phản ánh số doanh thu bán hàng hóa, thành phẩm, BĐSĐT, doanh thu cung
cấp dịch vụ và doanh thu khác đã trừ các khoản giảm trừ (chiết khấu thương mại,
giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại) trong kỳ báo cáo, làm căn cứ tính kết
quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Mã
số 10 = Mã số 01 - Mã số 02. -
Giá vốn hàng bán (Mã số 11) Chỉ
tiêu này phản ánh tổng giá vốn của hàng hóa, BĐSĐT, giá vốn của thành phẩm đã
bán, khối lượng dịch vụ đã cung cấp, chi phí khác được tính vào giá vốn hoặc ghi
giảm giá vốn hàng bán trong kỳ báo cáo. Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này là lũy kế số phát sinh bên Có của TK 632 trong kỳ
báo cáo đối ứng bên Nợ của TK 911. Khi
đơn vị cấp trên lập báo cáo tổng hợp với các đơn vị cấp dưới hạch toán phụ
thuộc, các khoản giá vốn hàng bán phát sinh từ các giao dịch nội bộ đều phải
loại trừ. -
Lợi nhuận gộp về bán hàng và cung cấp dịch vụ (Mã số
20) Chỉ
tiêu này phản ánh số chênh lệch giữa doanh thu thuần về bán hàng hóa, thành
phẩm, BĐSĐT và cung cấp dịch vụ với giá vốn hàng bán phát sinh trong kỳ báo cáo.
Nếu số liệu chỉ tiêu này là số âm thì ghi trong ngoặc đơn
(...). Mã
số 20 = Mã số 10 - Mã số 11. -
Doanh thu hoạt động tài chính (Mã số 21) Chỉ
tiêu này phản ánh doanh thu hoạt động tài chính thuần phát sinh trong kỳ báo cáo
của doanh nghiệp. Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này là lũy kế số phát sinh bên Nợ của TK 515 đối ứng
với bên Có TK 911 trong kỳ báo cáo. Khi
đơn vị cấp trên lập báo cáo tổng hợp với các đơn vị cấp dưới hạch toán phụ
thuộc, các khoản doanh thu hoạt động tài chính phát sinh từ các giao dịch nội bộ
đều phải loại trừ. -
Chi phí tài chính (Mã số 22) Chỉ
tiêu này phản ánh tổng chi phí tài chính, gồm tiền lãi vay phải trả, chi phí
liên quan đến việc cho thuê bản quyền, chi phí hoạt động liên doanh,... phát
sinh trong kỳ báo cáo của doanh nghiệp. Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này là lũy kế số phát sinh bên Có TK 635 đối ứng với
bên Nợ TK 911 trong kỳ báo cáo. Khi
đơn vị cấp trên lập báo cáo tổng hợp với các đơn vị cấp dưới hạch toán phụ
thuộc, các khoản chi phí tài chính phát sinh từ các giao dịch nội bộ đều phải
loại trừ. -
Chi phí lãi vay (Mã số 23) Chỉ
tiêu này phản ánh chi phí lãi vay phải trả được tính vào chi phí tài chính trong
kỳ báo cáo. Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này được căn cứ vào số liệu chi tiết về chi phí lãi vay
trên TK 635 trong kỳ báo cáo. -
Chi phí quản lý kinh doanh (Mã số 24) Chỉ
tiêu này phản ánh tổng chi phí quản lý kinh doanh phát sinh trong kỳ báo
cáo. Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này là tổng số phát sinh bên Có của TK 642, đối ứng với
bên Nợ của TK 911 trong kỳ báo cáo. -
Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh (Mã số 30) Chỉ
tiêu này phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ báo
cáo. Chỉ tiêu này được tính toán trên cơ sở lợi nhuận gộp về bán hàng và cung
cấp dịch vụ cộng (+) Doanh thu hoạt động tài chính trừ (-) Chi phí tài chính,
chi phí quản lý kinh doanh phát sinh trong kỳ báo cáo. Nếu số liệu chỉ tiêu này
là số âm thì ghi trong ngoặc đơn (...). Mã
số 30 = Mã số 20 + Mã số 21 - Mã số 22 - Mã số 24. -
Thu nhập khác (Mã số 31) Chỉ
tiêu này phản ánh các khoản thu nhập khác, phát sinh trong kỳ báo cáo. Số liệu
để ghi vào chỉ tiêu này được căn cứ vào tổng số phát sinh bên Nợ của TK 711 (sau
khi trừ phần thu nhập khác từ thanh lý, nhượng bán TSCĐ) đối ứng với bên Có của
TK 911 trong kỳ báo cáo. Riêng
đối với giao dịch thanh lý, nhượng bán TSCĐ thì số liệu để ghi vào chỉ tiêu này
là phần chênh lệch giữa khoản thu từ việc thanh lý, nhượng bán TSCĐ cao hơn giá
trị còn lại của TSCĐ và chi phí thanh lý. Khi
đơn vị cấp trên lập báo cáo tổng hợp với các đơn vị cấp dưới hạch toán phụ
thuộc, các khoản thu nhập khác phát sinh từ các giao dịch nội bộ đều phải loại
trừ. -
Chi phí khác (Mã số 32) Chỉ
tiêu này phản ánh tổng các khoản chi phí khác phát sinh trong kỳ báo cáo. Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này được căn cứ vào tổng số phát sinh bên Có của Tài
khoản 811 “Chi phí khác” (sau khi trừ phần chi phí khác từ thanh lý, nhượng bán
TSCĐ) đối ứng với bên Nợ của TK 911 trong kỳ báo cáo. Riêng
đối với giao dịch thanh lý, nhượng bán TSCĐ thì số liệu để ghi vào chỉ tiêu này
là phần chênh lệch giữa khoản thu từ việc thanh lý, nhượng bán TSCĐ nhỏ hơn giá
trị còn lại của TSCĐ và chi phí thanh lý. Khi
đơn vị cấp trên lập báo cáo tổng hợp với các đơn vị cấp dưới hạch toán phụ
thuộc, các khoản chi phí khác phát sinh từ các giao dịch nội bộ đều phải loại
trừ. -
Lợi nhuận khác (Mã số 40) Chỉ
tiêu này phản ánh số chênh lệch giữa thu nhập khác (sau khi đã trừ thuế GTGT
phải nộp tính theo phương pháp trực tiếp) với chi phí khác phát sinh trong kỳ
báo cáo. Nếu số liệu chỉ tiêu này là số âm thì ghi trong ngoặc đơn
(...). Mã
số 40 = Mã số 31 - Mã số 32. -
Tổng lợi nhuận kế toán trước thuế (Mã số 50) Chỉ
tiêu này phản ánh tổng số lợi nhuận kế toán thực hiện trong năm báo cáo của
doanh nghiệp trước khi trừ chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp từ hoạt động kinh
doanh, hoạt động khác phát sinh trong kỳ báo cáo. Trường hợp doanh thu thuần nhỏ
hơn giá vốn hàng bán thì được ghi bằng số âm dưới hình thức ghi trong ngoặc đơn
(...). Nếu số liệu chỉ tiêu này là số âm thì ghi trong ngoặc đơn
(...). Mã
số 50 = Mã số 30 + Mã số 40. -
Chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp (Mã số 51) Chỉ
tiêu này phản ánh chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp phát sinh trong năm báo
cáo. Số liệu để ghi vào chỉ tiêu này được căn cứ vào tổng số phát sinh bên Có TK
821 đối ứng với bên Nợ TK 911 hoặc căn cứ vào số phát sinh bên Nợ TK 821 đối ứng
với bên Có TK 911 trong kỳ báo cáo (trường hợp này số liệu được ghi vào chỉ tiêu
này bằng số âm dưới hình thức ghi trong ngoặc đơn (...)). -
Lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp (Mã số
60) Chỉ
tiêu này phản ánh tổng số lợi nhuận thuần (hoặc lỗ) sau thuế TNDN từ các hoạt
động của doanh nghiệp (sau khi trừ chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp) phát sinh
trong năm báo cáo. Nếu số liệu chỉ tiêu này là số âm thì ghi trong ngoặc đơn
(...). Mã
số 60 = Mã số 50 - Mã số 51. 2.4.
Hướng dẫn lập và trình bày Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (Mẫu số B03 -
DNN) 2.4.1.
Nguyên tắc lập và trình bày Báo cáo lưu chuyển tiền tệ 2.4.1.1.
Doanh nghiệp không bắt buộc mà khuyến khích lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ.
Phương pháp lập Báo cáo lưu chuyển tiền tệ được hướng dẫn cho các giao dịch phổ
biến nhất, doanh nghiệp căn cứ vào bản chất từng giao dịch để trình bày các
luồng tiền một cách phù hợp nếu chưa có hướng dẫn cụ thể trong Thông tư
này. 2.4.1.2.
Các khoản đầu tư ngắn hạn được coi là tương đương tiền trình bày trên báo cáo
lưu chuyển tiền tệ chỉ bao gồm các khoản đầu tư ngắn hạn có thời hạn thu hồi
hoặc đáo hạn không quá 3 tháng có khả năng chuyển đổi dễ dàng thành một lượng
tiền xác định và không có rủi ro trong chuyển đổi thành tiền kể từ ngày mua
khoản đầu tư đó tại thời điểm báo cáo. Ví dụ kỳ phiếu ngân hàng, tín phiếu kho
bạc, chứng chỉ tiền gửi… có thời hạn thu hồi hoặc đáo hạn không quá 3 tháng kể
từ ngày mua. 2.4.1.3.
Doanh nghiệp phải trình bày các luồng tiền trên Báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo
ba loại hoạt động: Hoạt động kinh doanh, hoạt động đầu tư và hoạt động tài
chính: -
Luồng tiền từ hoạt động kinh doanh là luồng tiền phát sinh từ các hoạt động tạo
ra doanh thu chủ yếu của doanh nghiệp và các hoạt động khác không phải là các
hoạt động đầu tư hay hoạt động tài chính; -
Luồng tiền từ hoạt động đầu tư là luồng tiền phát sinh từ các hoạt động mua sắm,
xây dựng, thanh lý, nhượng bán các TSCĐ, BĐSĐT, các tài sản dài hạn khác, cho
vay, đầu tư góp vốn vào đơn vị khác và các khoản đầu tư khác không được phân
loại là các khoản tương đương tiền; -
Luồng tiền từ hoạt động tài chính là luồng tiền phát sinh từ các hoạt động tạo
ra các thay đổi về quy mô và kết cấu của vốn chủ sở hữu và vốn vay của doanh
nghiệp. 2.4.1.4.
Doanh nghiệp được trình bày luồng tiền từ các hoạt động kinh doanh, hoạt động
đầu tư và hoạt động tài chính theo cách thức phù hợp nhất với đặc điểm kinh
doanh của doanh nghiệp. 2.4.1.5.
Các luồng tiền phát sinh từ các hoạt động kinh doanh, hoạt động đầu tư và hoạt
động tài chính sau đây được báo cáo trên cơ sở thuần: -
Thu tiền và chi trả tiền hộ khách hàng như tiền thuê thu hộ, chi hộ và trả lại
cho chủ sở hữu tài sản; -
Thu tiền và chi tiền đối với các khoản có vòng quay nhanh, thời gian đáo hạn
ngắn như: Mua, bán ngoại tệ; Mua, bán các khoản đầu tư; Các khoản đi vay và cho
vay ngắn hạn khác có thời hạn thanh toán không quá 3
tháng. 2.4.1.6.
Các luồng tiền phát sinh từ các giao dịch bằng ngoại tệ phải được quy đổi ra
đồng tiền ghi sổ kế toán và lập Báo cáo tài chính theo tỷ giá giao dịch thực tế
tại thời điểm phát sinh giao dịch. 2.4.1.7.
Các giao dịch về đầu tư và tài chính không trực tiếp sử dụng tiền hay các khoản
tương đương tiền không được trình bày trong Báo cáo lưu chuyển tiền tệ, ví
dụ: -
Việc mua tài sản bằng cách nhận các khoản nợ liên quan trực tiếp hoặc thông qua
nghiệp vụ thuê tài chính; -
Việc chuyển khoản nợ thành vốn góp của chủ sở hữu. 2.4.1.8.
Các khoản mục tiền và tương đương tiền đầu kỳ và cuối kỳ, ảnh hưởng của thay đổi
tỷ giá hối đoái quy đổi tiền và các khoản tương đương tiền bằng ngoại tệ hiện có
cuối kỳ phải được trình bày thành các chỉ tiêu riêng biệt trên Báo cáo lưu
chuyển tiền tệ để đối chiếu số liệu với các khoản mục tương ứng trên Báo cáo
tình hình tài chính. 2.4.1.9.
Doanh nghiệp phải trình bày giá trị và lý do của các khoản tiền và tương đương
tiền có số dư cuối kỳ lớn do doanh nghiệp nắm giữ nhưng không được sử dụng do có
sự hạn chế của pháp luật hoặc các ràng buộc khác mà doanh nghiệp phải thực
hiện. 2.4.1.10.
Trường hợp doanh nghiệp đi vay để thanh toán thẳng cho nhà thầu, người cung cấp
hàng hóa, dịch vụ (tiền vay được chuyển thẳng từ bên cho vay sang nhà thầu,
người cung cấp mà không chuyển qua tài khoản của doanh nghiệp) thì doanh nghiệp
vẫn phải trình bày trên báo cáo lưu chuyển tiền tệ, cụ
thể: -
Số tiền đi vay được trình bày là luồng tiền vào của hoạt động tài
chính; -
Số tiền trả cho người cung cấp hàng hóa, dịch vụ hoặc trả cho nhà thầu được
trình bày là luồng tiền ra từ hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động đầu tư tùy
thuộc vào từng giao dịch. 2.4.1.11.
Trường hợp doanh nghiệp phát sinh khoản thanh toán bù trừ với cùng một đối
tượng, việc trình bày báo cáo lưu chuyển tiền tệ được thực hiện theo nguyên
tắc: -
Nếu việc thanh toán bù trừ liên quan đến các giao dịch được phân loại trong cùng
một luồng tiền thì được trình bày trên cơ sở thuần (ví dụ trong giao dịch hàng
đổi hàng không tương tự…); -
Nếu việc thanh toán bù trừ liên quan đến các giao dịch được phân loại trong các
luồng tiền khác nhau thì doanh nghiệp không được trình bày trên cơ sở thuần mà
phải trình bày riêng rẽ giá trị của từng giao dịch (Ví dụ bù trừ tiền bán hàng
phải thu với khoản đi vay…). 2.4.2.
Cơ sở lập Báo cáo lưu chuyển tiền tệ Việc
lập Báo cáo lưu chuyển tiền tệ được căn cứ vào: -
Báo cáo tình hình tài chính; -
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh; -
Bản thuyết minh Báo cáo tài chính; -
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ kỳ trước; -
Các tài liệu kế toán khác, như: Sổ kế toán tổng hợp, sổ kế toán chi tiết các Tài
khoản “Tiền mặt”, “Tiền gửi Ngân hàng”, Sổ kế toán tổng hợp và sổ kế toán chi
tiết của các tài khoản liên quan khác, bảng tính và phân bổ khấu hao TSCĐ và các
tài liệu kế toán chi tiết khác... 2.4.3.
Yêu cầu về mở và ghi sổ kế toán phục vụ lập Báo cáo lưu chuyển tiền
tệ -
Sổ kế toán chi tiết các tài khoản phải thu, phải trả, hàng tồn kho phải được
theo dõi chi tiết cho từng giao dịch để có thể trình bày luồng tiền thu hồi hoặc
thanh toán theo 3 loại hoạt động: Hoạt động kinh doanh, hoạt động đầu tư và hoạt
động tài chính. Ví dụ: Khoản tiền trả nợ cho nhà thầu liên quan đến hoạt động
XDCB được phân loại là luồng tiền từ hoạt động đầu tư, khoản trả tiền nợ người
bán cung cấp hàng hóa dịch vụ cho sản xuất, kinh doanh được phân loại là luồng
tiền từ hoạt động kinh doanh. -
Đối với sổ kế toán chi tiết các tài khoản phản ánh tiền phải được chi tiết để
theo dõi các luồng tiền thu và chi liên quan đến 3 loại hoạt động: Hoạt động
kinh doanh, hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính làm căn cứ tổng hợp khi lập
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ. Ví dụ, đối với khoản tiền trả ngân hàng về gốc và
lãi vay, kế toán phải phản ánh riêng số tiền trả lãi vay là luồng tiền từ hoạt
động kinh doanh và số tiền trả gốc vay là luồng tiền từ hoạt động tài
chính. -
Tại thời điểm cuối niên độ kế toán, khi lập Báo cáo lưu chuyển tiền tệ, doanh
nghiệp phải xác định các khoản đầu tư ngắn hạn có thời hạn thu hồi hoặc đáo hạn
không quá 3 tháng kể từ ngày mua thỏa mãn định nghĩa được coi là tương đương
tiền để loại trừ ra khỏi luồng tiền từ hoạt động đầu tư. Giá trị của các khoản
tương đương tiền nằm trong chỉ tiêu “Tiền và các khoản tương đương tiền cuối kỳ”
trên Báo cáo lưu chuyển tiền tệ. 2.4.4.
Phương pháp lập Báo cáo lưu chuyển tiền tệ 2.4.4.1.
Lập báo cáo các chỉ tiêu luồng tiền từ hoạt động kinh
doanh Luồng
tiền từ hoạt động kinh doanh phản ánh các luồng tiền vào và luồng tiền ra liên
quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh trong kỳ, bao gồm cả luồng tiền liên
quan đến chứng khoán nắm giữ vì mục đích kinh doanh. Luồng
tiền từ hoạt động kinh doanh được lập theo một trong hai phương pháp: Phương
pháp trực tiếp hoặc phương pháp gián tiếp. 2.4.4.1.1.
Lập báo cáo các chỉ tiêu luồng tiền từ hoạt động kinh doanh theo phương pháp
trực tiếp (Mẫu số B03 - DNN) a)
Nguyên tắc lập: Theo
phương pháp trực tiếp, các luồng tiền vào và luồng tiền ra từ hoạt động kinh
doanh được xác định và trình bày trong Báo cáo lưu chuyển tiền tệ bằng cách phân
tích và tổng hợp trực tiếp các khoản tiền thu vào và chi ra theo từng nội dung
thu, chi từ các sổ kế toán tổng hợp và chi tiết của doanh
nghiệp. b)
Phương pháp lập các chỉ tiêu cụ thể -
Tiền thu từ bán hàng, cung cấp dịch vụ và doanh thu khác (Mã số
01) Chỉ
tiêu này được lập căn cứ vào tổng số tiền đã thu (tổng giá thanh toán) trong kỳ
do bán hàng hóa, thành phẩm, cung cấp dịch vụ, tiền bản quyền, hoa hồng và các
khoản doanh thu khác (như bán chứng khoán kinh doanh), kể cả các khoản tiền đã
thu từ các khoản nợ phải thu liên quan đến các giao dịch bán hàng hóa, cung cấp
dịch vụ và doanh thu khác phát sinh từ các kỳ trước nhưng kỳ này mới thu được
tiền và số tiền ứng trước của người mua hàng hóa, dịch vụ. Chỉ
tiêu này không bao gồm các khoản tiền thu từ thanh lý, nhượng bán TSCĐ, BĐSĐT và
các tài sản dài hạn khác, tiền thu hồi các khoản cho vay, đầu tư góp vốn vào đơn
vị khác, tiền thu lãi cho vay, cổ tức và lợi nhuận được chia và các khoản tiền
thu khác được phân loại là luồng tiền từ hoạt động đầu tư; Các khoản tiền thu
được do đi vay, phát hành cổ phiếu, nhận vốn góp của chủ sở hữu được phân loại
là luồng tiền từ hoạt động tài chính. Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này được lấy từ sổ kế toán các TK 111, 112 (phần thu
tiền), sổ kế toán các tài khoản phải thu (chi tiết tiền thu từ bán hàng, cung
cấp dịch vụ chuyển trả ngay các khoản nợ phải trả), sau khi đối chiếu với sổ kế
toán các TK 511, 131 (chi tiết các khoản doanh thu bán hàng, cung cấp dịch vụ
thu tiền ngay, số tiền thu hồi các khoản phải thu hoặc thu tiền ứng trước trong
kỳ) hoặc các TK 515, 121 (chi tiết số tiền thu từ bán chứng khoán kinh
doanh). -
Tiền chi trả cho người cung cấp hàng hóa, dịch vụ (Mã số
02) Chỉ
tiêu này được lập căn cứ vào tổng số tiền (tổng giá thanh toán) đã trả trong kỳ
do mua hàng hóa, dịch vụ, thanh toán các khoản chi phí phục vụ cho sản xuất,
kinh doanh, kể cả số tiền chi mua chứng khoán kinh doanh và số tiền đã thanh
toán các khoản nợ phải trả hoặc ứng trước cho người bán hàng hóa, cung cấp dịch
vụ liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh. Chỉ
tiêu này không bao gồm các khoản tiền chi để mua sắm, chi phí đầu tư xây dựng
TSCĐ, BĐSĐT (kể cả chi mua NVL để sử dụng cho XDCB), tiền chi cho vay, đầu tư
góp vốn vào đơn vị khác và các khoản tiền chi khác được phân loại là luồng tiền
từ hoạt động đầu tư; Các khoản tiền chi trả nợ gốc vay và nợ thuê tài chính, trả
lại vốn góp cho chủ sở hữu, cổ tức và lợi nhuận đã trả cho chủ sở hữu và các
khoản tiền chi khác được phân loại là luồng tiền từ hoạt động tài
chính. Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này được lấy từ sổ kế toán các TK 111, 112 (phần chi
tiền), sổ kế toán các tài khoản phải thu và đi vay (chi tiết tiền đi vay nhận
được hoặc thu nợ phải thu chuyển trả ngay các khoản nợ phải trả), sau khi đối
chiếu với sổ kế toán các TK 331, các TK phản ánh hàng tồn kho. Chỉ tiêu này được
ghi bằng số âm dưới hình thức ghi trong ngoặc đơn (…). -
Tiền chi trả cho người lao động (Mã số 03) Chỉ
tiêu này được lập căn cứ vào tổng số tiền đã trả cho người lao động trong kỳ báo
cáo về tiền lương, tiền công, phụ cấp, tiền thưởng... mà doanh nghiệp đã thanh
toán hoặc tạm ứng. Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này được lấy từ sổ kế toán các TK 111, 112 (chi tiết
tiền trả cho người lao động), sau khi đối chiếu với sổ kế toán TK 334 (chi tiết
số đã trả bằng tiền) trong kỳ báo cáo. Chỉ tiêu này được ghi bằng số âm dưới
hình thức ghi trong ngoặc đơn (…). -
Tiền lãi vay đã trả (Mã số 04) Chỉ
tiêu này được lập căn cứ vào tổng số tiền lãi vay đã trả trong kỳ báo cáo, bao
gồm tiền lãi vay phát sinh trong kỳ và trả ngay kỳ này, tiền lãi vay phải trả
của các kỳ trước đã trả trong kỳ này, lãi tiền vay trả trước trong kỳ
này. Chỉ
tiêu này không bao gồm số tiền lãi vay đã trả trong kỳ được vốn hóa vào giá trị
các tài sản dở dang được phân loại là luồng tiền từ hoạt động đầu tư. Trường hợp
số lãi vay đã trả trong kỳ vừa được vốn hóa, vừa được tính vào chi phí tài chính
thì kế toán căn cứ tỷ lệ vốn hóa lãi vay áp dụng cho kỳ báo cáo để xác định số
lãi vay đã trả của luồng tiền từ hoạt động kinh doanh và luồng tiền hoạt động
đầu tư. Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này được lấy từ sổ kế toán các TK 111, 112 (chi tiết
tiền chi trả lãi tiền vay); sổ kế toán các tài khoản phải thu (chi tiết tiền trả
lãi vay từ tiền thu các khoản phải thu) trong kỳ báo cáo, sau khi đối chiếu với
sổ kế toán TK 335, 635, 242 và các Tài khoản liên quan khác. Chỉ tiêu này được
ghi bằng số âm dưới hình thức ghi trong ngoặc đơn (…). -
Thuế TNDN đã nộp (Mã số 05) Chỉ
tiêu này được lập căn cứ vào tổng số tiền thuế TNDN đã nộp cho Nhà nước trong kỳ
báo cáo, bao gồm số tiền thuế TNDN đã nộp của kỳ này, số thuế TNDN còn nợ từ các
kỳ trước đã nộp trong kỳ này và số thuế TNDN nộp trước (nếu
có). Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này được lấy từ sổ kế toán các TK 111, 112 (chi tiết
tiền nộp thuế TNDN), sau khi đối chiếu với sổ kế toán TK 3334. Chỉ tiêu này được
ghi bằng số âm dưới hình thức ghi trong ngoặc đơn (…). -
Tiền thu khác từ hoạt động kinh doanh (Mã số 06) Chỉ
tiêu này được lập căn cứ vào tổng số tiền đã thu từ các khoản khác của hoạt động
kinh doanh, ngoài khoản tiền thu được phản ánh ở Mã số 01, như: Tiền thu từ
khoản thu nhập khác (tiền thu về được bồi thường, được phạt, tiền thưởng và các
khoản tiền thu khác...); Tiền đã thu do được hoàn thuế; Tiền thu được do nhận ký
quỹ, ký cược; Tiền thu hồi các khoản đưa đi ký cược, ký quỹ; Tiền được các tổ
chức, cá nhân bên ngoài thưởng, hỗ trợ... Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này lấy từ sổ kế toán các TK 111, 112 sau khi đối chiếu
với sổ kế toán các TK 711, 133, 141, 138 và sổ kế toán các tài khoản khác có
liên quan trong kỳ báo cáo. -
Tiền chi khác cho hoạt động kinh doanh (Mã số 07) Chỉ
tiêu này được lập căn cứ vào tổng số tiền đã chi cho các khoản khác, ngoài các
khoản tiền chi liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh trong kỳ báo cáo đã
được phản ánh ở Mã số 02, 03, 04, 05, như: Tiền chi bồi thường, bị phạt và các
khoản chi phí khác; Tiền nộp các loại thuế (không bao gồm thuế TNDN); Tiền nộp
các loại phí, lệ phí, tiền thuê đất; Tiền nộp các khoản BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ;
Tiền chi đưa đi ký cược, ký quỹ; Tiền trả lại các khoản nhận ký cược, ký quỹ,
tiền chi trực tiếp bằng nguồn dự phòng phải trả; Tiền chi trực tiếp từ quỹ khen
thưởng, phúc lợi; Quỹ phát triển khoa học và công nghệ; Tiền chi trực tiếp từ
các quỹ khác thuộc vốn chủ sở hữu; ... Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này lấy từ sổ kế toán các TK 111, 112 trong kỳ báo cáo,
sau khi đối chiếu với sổ kế toán các TK 811, 138, 333, 338, 352, 353, 356 và các
Tài khoản liên quan khác. Chỉ tiêu này được ghi bằng số âm dưới hình thức ghi
trong ngoặc đơn (…). -
Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh (Mã số
20) Chỉ
tiêu “Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh” phản ánh chênh lệch giữa
tổng số tiền thu vào với tổng số tiền chi ra từ hoạt động kinh doanh trong kỳ
báo cáo. Số liệu để ghi vào chỉ tiêu này được tính bằng tổng cộng số liệu các
chỉ tiêu từ Mã số 01 đến Mã số 07. Nếu số liệu chỉ tiêu này là số âm thì ghi
trong ngoặc đơn (...). Mã
số 20 = Mã số 01 + Mã số 02 + Mã số 03 + Mã số 04 + Mã số 05 + Mã số 06 + Mã số
07. 2.4.4.1.2.
Lập báo cáo các chỉ tiêu luồng tiền từ hoạt động kinh doanh theo phương pháp
gián tiếp (Mẫu số B03 - DNN) a.
Nguyên tắc lập: Theo
phương pháp gián tiếp, các luồng tiền vào và các luồng tiền ra từ hoạt động kinh
doanh được tính và xác định trước hết bằng cách điều chỉnh lợi nhuận trước thuế
TNDN của hoạt động kinh doanh khỏi ảnh hưởng của các khoản mục không phải bằng
tiền, các thay đổi trong kỳ của hàng tồn kho, các khoản phải thu, phải trả từ
hoạt động kinh doanh và các khoản mà ảnh hưởng về tiền của chúng là luồng tiền
từ hoạt động đầu tư, gồm: -
Các khoản chi phí không bằng tiền, như: Khấu hao TSCĐ, BĐSĐT, dự phòng...
-
Các khoản lãi, lỗ không bằng tiền, như lãi, lỗ chênh lệch tỷ giá hối đoái, góp
vốn bằng tài sản phi tiền tệ; -
Các khoản lãi, lỗ được phân loại là luồng tiền từ hoạt động đầu tư, như: Lãi, lỗ
về thanh lý, nhượng bán TSCĐ và bất động sản đầu tư, tiền lãi cho vay, lãi tiền
gửi, cổ tức và lợi nhuận được chia...; -
Chi phí lãi vay đã ghi nhận vào Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh trong
kỳ. -
Luồng tiền từ hoạt động kinh doanh được điều chỉnh tiếp tục với sự thay đổi vốn
lưu động, chi phí trả trước và các khoản thu, chi khác từ hoạt động kinh doanh,
như: +
Các thay đổi trong kỳ báo cáo của khoản mục hàng tồn kho, các khoản phải thu,
các khoản phải trả từ hoạt động kinh doanh (trừ lãi vay phải trả, thuế TNDN phải
nộp); +
Các thay đổi của chi phí trả trước; +
Các thay đổi của chứng khoán kinh doanh; +
Lãi tiền vay đã trả; +
Thuế TNDN đã nộp; +
Tiền thu khác từ hoạt động kinh doanh; +
Tiền chi khác từ hoạt động kinh doanh. b.
Phương pháp lập các chỉ tiêu cụ thể -
Lợi nhuận trước thuế (Mã số 01) Chỉ
tiêu này được lấy từ chỉ tiêu Tổng lợi nhuận kế toán trước thuế (Mã số 50) trên
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh trong kỳ báo cáo. Nếu số liệu này là số âm
(trường hợp lỗ) thì ghi trong ngoặc đơn (…). -
Điều chỉnh cho các khoản (Mã số 02) Mã
số 02 = Mã số 03 + Mã số 04 + Mã số 05 + Mã số 06 + Mã số 07 + Mã số
08. +
Khấu hao TSCĐ và BĐSĐT (Mã số 03) (+)
Trường hợp doanh nghiệp bóc tách riêng được số khấu hao còn nằm trong hàng tồn
kho và số khấu hao đã được tính vào báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh trong
kỳ: Chỉ tiêu “Khấu hao TSCĐ và BĐSĐT” chỉ bao gồm số khấu hao đã được tính vào
báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh trong kỳ; Chỉ tiêu “Tăng, giảm hàng tồn
kho” không bao gồm số khấu hao nằm trong giá trị hàng tồn kho cuối kỳ (chưa được
xác định là tiêu thụ trong kỳ); (+)
Trường hợp doanh nghiệp không thể bóc tách riêng được số khấu hao còn nằm trong
hàng tồn kho và số khấu hao đã được tính vào báo cáo kết quả hoạt động kinh
doanh trong kỳ thì thực hiện theo nguyên tắc: Chỉ tiêu “Khấu hao TSCĐ và BĐSĐT”
bao gồm số khấu hao đã được tính vào báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh trong
kỳ cộng với số khấu hao liên quan đến hàng tồn kho chưa tiêu thụ; Chỉ tiêu
“Tăng, giảm hàng tồn kho” bao gồm cả số khấu hao TSCĐ nằm trong giá trị hàng tồn
kho cuối kỳ (chưa được xác định là tiêu thụ trong kỳ). Trong
mọi trường hợp, doanh nghiệp đều phải loại trừ khỏi Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
số khấu hao nằm trong giá trị xây dựng cơ bản dở dang, số hao mòn đã ghi giảm
quỹ khen thưởng phúc lợi đã hình thành TSCĐ, giảm Quỹ phát triển KH&CN đã
hình thành TSCĐ phát sinh trong kỳ. Số liệu chỉ tiêu này được cộng (+) vào số
liệu chỉ tiêu "Lợi nhuận trước thuế". +
Các khoản dự phòng (Mã số 04) Chỉ
tiêu này phản ánh ảnh hưởng của việc trích lập, hoàn nhập và sử dụng các khoản
dự phòng đến các luồng tiền trong kỳ báo cáo. Chỉ tiêu này được lập căn cứ vào
số chênh lệch giữa số dư đầu kỳ và số dư cuối kỳ của các khoản dự phòng tổn thất
tài sản (dự phòng giảm giá chứng khoán kinh doanh, dự phòng tổn thất đầu tư vào
đơn vị khác, dự phòng giảm giá hàng tồn kho, dự phòng phải thu khó đòi) và dự
phòng phải trả trên Báo cáo tình hình tài chính. Số
liệu chỉ tiêu này được cộng (+) vào số liệu chỉ tiêu “Lợi nhuận trước thuế” nếu
tổng số dư cuối kỳ của các khoản dự phòng lớn hơn tổng số dư đầu kỳ hoặc được
trừ vào số liệu chỉ tiêu “Lợi nhuận trước thuế” nếu tổng số dư cuối kỳ của các
khoản dự phòng nhỏ hơn tổng số dư đầu kỳ và được ghi bằng số âm dưới hình thức
ghi trong ngoặc đơn (…). +
Lãi/lỗ chênh lệch tỷ giá hối đoái do đánh giá lại các khoản mục tiền tệ có gốc
ngoại tệ (Mã số 05) Chỉ
tiêu này phản ánh lãi (hoặc lỗ) chênh lệch tỷ giá hối đoái do đánh giá lại các
khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ đã được phản ánh vào lợi nhuận trước thuế
trong kỳ báo cáo. Chỉ tiêu này được lập căn cứ vào chênh lệch số phát sinh Có và
phát sinh Nợ TK 413 sau khi đối chiếu sổ kế toán TK 515 (chi tiết lãi do đánh
giá lại các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ) hoặc TK 635 (chi tiết lỗ do đánh
giá lại các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ). Số
liệu chỉ tiêu này được trừ (-) vào số liệu chỉ tiêu “Lợi nhuận trước thuế”, nếu
có lãi chênh lệch tỷ giá hối đoái, hoặc được cộng (+) vào chỉ tiêu “Lợi nhuận
trước thuế”, nếu có lỗ chênh lệch tỷ giá hối đoái. +
Lãi/lỗ từ hoạt động đầu tư (Mã số 06) Chỉ
tiêu này căn cứ vào tổng số lãi, lỗ phát sinh trong kỳ đã được phản ánh vào lợi
nhuận trước thuế nhưng được phân loại là luồng tiền từ hoạt động đầu tư,
gồm: (+)
Lãi, lỗ từ việc thanh lý, nhượng bán TSCĐ, BĐSĐT, khoản tổn thất BĐSĐT nắm giữ
chờ tăng giá; (+)
Lãi, lỗ từ việc đánh giá lại tài sản phi tiền tệ mang đi góp vốn, đầu tư vào đơn
vị khác; (+)
Lãi, lỗ từ việc bán, thu hồi các khoản đầu tư tài chính (không bao gồm lãi, lỗ
mua bán chứng khoán kinh doanh), như: Đầu tư vào công ty liên doanh, liên kết;
Các khoản đầu tư nắm giữ đến ngày đáo hạn; (+)
Khoản tổn thất hoặc hoàn nhập tổn thất của các khoản đầu tư nắm giữ đến ngày đáo
hạn; (+)
Lãi cho vay, lãi tiền gửi, cổ tức và lợi nhuận được chia. Chỉ
tiêu này được lập căn cứ vào sổ kế toán các TK 515, 711, 632, 635, 811 và các
tài khoản khác có liên quan (chi tiết phần lãi, lỗ được xác định là luồng tiền
từ hoạt động đầu tư) trong kỳ báo cáo. Số
liệu chỉ tiêu này được trừ (-) vào số liệu chỉ tiêu “Lợi nhuận trước thuế” nếu
hoạt động đầu tư có lãi thuần và được ghi bằng số âm dưới hình thức ghi trong
ngoặc đơn (…); hoặc được cộng (+) vào chỉ tiêu “Lợi nhuận trước thuế”, nếu hoạt
động đầu tư có lỗ thuần. +
Chi phí lãi vay (Mã số 07) Chỉ
tiêu này phản ánh chi phí lãi vay đã ghi nhận vào Báo cáo kết quả hoạt động kinh
doanh trong kỳ báo cáo. Chỉ tiêu này được lập căn cứ vào sổ kế toán TK 635 (chi
tiết chi phí lãi vay kỳ báo cáo) sau khi đối chiếu với chỉ tiêu “Chi phí lãi
vay” trong Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh. Số
liệu chỉ tiêu này được cộng vào số liệu chỉ tiêu “Lợi nhuận trước
thuế”. +
Các khoản điều chỉnh khác (Mã số 08) Chỉ
tiêu này phản ánh số trích lập hoặc hoàn nhập Quỹ phát triển khoa học và công
nghệ trong kỳ. Chỉ tiêu này được lập căn cứ vào sổ kế toán TK
356. Số
liệu chỉ tiêu này được cộng vào số liệu chỉ tiêu “Lợi nhuận trước thuế” nếu
trong kỳ trích lập thêm các Quỹ hoặc được trừ khỏi chỉ tiêu “Lợi nhuận trước
thuế” nếu trong kỳ hoàn nhập các quỹ. -
Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh trước thay đổi vốn lưu động (Mã số
09) Mã
số 09 = Mã số 10 + Mã số 11 + Mã số 12 + Mã số 13 + Mã số 14 + Mã số 15 + Mã số
16 + Mã số 17 + Mã số 18 +
Tăng, giảm các khoản phải thu (Mã số 10) Chỉ
tiêu này được lập căn cứ vào tổng các chênh lệch giữa số dư cuối kỳ và số dư đầu
kỳ của các tài khoản phải thu (chi tiết phần liên quan đến hoạt động sản xuất,
kinh doanh), như: TK 131, 136, 138, 133, 141, 331 (chi tiết số trả trước cho
người bán) trong kỳ báo cáo. Chỉ
tiêu này không bao gồm các khoản phải thu liên quan đến hoạt động đầu tư, như:
Số tiền ứng trước cho nhà thầu XDCB; Phải thu về cho vay (cả gốc và lãi); Phải
thu về lãi tiền gửi, cổ tức và lợi nhuận được chia; Phải thu về thanh lý, nhượng
bán TSCĐ, BĐSĐT các khoản đầu tư tài chính; Giá trị TSCĐ mang đi cầm cố, thế
chấp… Số
liệu chỉ tiêu này được cộng (+) vào chỉ tiêu “Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh
trước thay đổi vốn lưu động” nếu tổng các số dư cuối kỳ nhỏ hơn tổng các số dư
đầu kỳ. Số liệu chỉ tiêu này được trừ (-) vào số liệu chỉ tiêu “Lợi nhuận từ
hoạt động kinh doanh trước thay đổi vốn lưu động” nếu tổng các số dư cuối kỳ lớn
hơn tổng các số dư đầu kỳ và được ghi bằng số âm dưới hình thức ghi trong ngoặc
đơn (…). +
Tăng, giảm hàng tồn kho (Mã số 11) Chỉ
tiêu này được lập căn cứ vào tổng các chênh lệch giữa số dư cuối kỳ và số dư đầu
kỳ của các tài khoản hàng tồn kho (không bao gồm số dư của tài khoản “Dự phòng
giảm giá hàng tồn kho” trên cơ sở đã loại trừ: Giá trị hàng tồn kho dùng cho
hoạt động đầu tư XDCB hoặc hàng tồn kho dùng để trao đổi lấy TSCĐ, BĐSĐT; Chi
phí sản xuất thử được tính vào nguyên giá TSCĐ hình thành từ XDCB. Trường hợp
trong kỳ mua hàng tồn kho nhưng chưa xác định được mục đích sử dụng (cho hoạt
động kinh doanh hay đầu tư XDCB) thì giá trị hàng tồn kho được tính trong chỉ
tiêu này. Trường
hợp doanh nghiệp bóc tách riêng được số khấu hao TSCĐ còn nằm trong hàng tồn kho
và số khấu hao đã được tính vào báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh trong kỳ
(chỉ tiêu “Khấu hao TSCĐ và BĐSĐT” - Mã số 03 chỉ bao gồm số khấu hao TSCĐ đã
được tính vào báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh trong kỳ) thì chỉ tiêu này
không bao gồm số khấu hao TSCĐ nằm trong giá trị hàng tồn kho cuối kỳ (chưa được
xác định là tiêu thụ trong kỳ). Trường
hợp doanh nghiệp không thể bóc tách riêng được số khấu hao TSCĐ còn nằm trong
hàng tồn kho và số khấu hao đã được tính vào báo cáo kết quả hoạt động kinh
doanh trong kỳ (chỉ tiêu “Khấu hao TSCĐ và BĐSĐT” - Mã số 03 bao gồm cả số khấu
hao TSCĐ liên quan đến hàng tồn kho chưa tiêu thụ) thì chỉ tiêu này bao gồm cả
số khấu hao TSCĐ nằm trong giá trị hàng tồn kho cuối kỳ (chưa được xác định là
tiêu thụ trong kỳ). Số
liệu chỉ tiêu này được cộng (+) vào chỉ tiêu “Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh
trước thay đổi vốn lưu động” nếu tổng các số dư cuối kỳ nhỏ hơn tổng các số dư
đầu kỳ. Số liệu chỉ tiêu này được trừ (-) vào chỉ tiêu “Lợi nhuận từ hoạt động
kinh doanh trước thay đổi vốn lưu động” nếu tổng các số dư cuối kỳ lớn hơn tổng
các số dư đầu kỳ và được ghi bằng số âm dưới hình thức ghi trong ngoặc đơn
(…). +
Tăng, giảm các khoản phải trả (Không kể lãi vay phải trả, thuế TNDN phải nộp)
(Mã số 12) Chỉ
tiêu này được lập căn cứ vào tổng các chênh lệch giữa số dư cuối kỳ với số dư
đầu kỳ của các tài khoản nợ phải trả (chi tiết phần liên quan đến hoạt động sản
xuất, kinh doanh), như: TK 331, 333, 334, 335, 336, 338, 131 (chi tiết người mua
trả tiền trước). Chỉ
tiêu này không bao gồm số thuế TNDN phải nộp (phát sinh Có TK 3334), lãi tiền
vay phải trả (phát sinh Có TK 335, chi tiết lãi vay phải
trả). Chỉ
tiêu này không bao gồm các khoản phải trả liên quan đến hoạt động đầu tư, như:
Số tiền người mua trả trước liên quan đến việc thanh lý, nhượng bán TSCĐ, BĐSĐT;
Các khoản phải trả liên quan đến hoạt động mua sắm, xây dựng TSCĐ, BĐSĐT; Các
khoản phải trả mua các công cụ vốn, công cụ nợ và các khoản phải trả liên quan
đến hoạt động tài chính, như: Phải trả gốc vay, nợ thuê tài chính; Cổ tức, lợi
nhuận phải trả. Số
liệu chỉ tiêu này được cộng (+) vào chỉ tiêu “Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh
trước thay đổi vốn lưu động” nếu tổng các số dư cuối kỳ lớn hơn tổng số dư đầu
kỳ. Số liệu chỉ tiêu này được trừ (-) vào số liệu chỉ tiêu “Lợi nhuận từ hoạt
động kinh doanh trước thay đổi vốn lưu động” nếu tổng các số dư cuối kỳ nhỏ hơn
tổng các số dư đầu kỳ và được ghi bằng số âm dưới hình thức ghi trong ngoặc đơn
(…). +
Tăng, giảm chi phí trả trước (Mã số 13) Chỉ
tiêu này được lập căn cứ vào tổng chênh lệch giữa số dư cuối kỳ và số dư đầu kỳ
của TK 242 “Chi phí trả trước” trong kỳ báo cáo trên cơ sở đã loại trừ khoản chi
phí trả trước liên quan đến luồng tiền từ hoạt động đầu tư, như: Tiền thuê đất
không đủ tiêu chuẩn ghi nhận là TSCĐ vô hình và khoản trả trước lãi vay được vốn
hóa. Số
liệu chỉ tiêu này được cộng (+) vào chỉ tiêu “Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh
trước thay đổi vốn lưu động” nếu số dư cuối kỳ nhỏ hơn số dư đầu kỳ. Số liệu chỉ
tiêu này được trừ (-) vào số liệu chỉ tiêu “Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh
trước thay đổi vốn lưu động” nếu số dư cuối kỳ lớn hơn số dư đầu kỳ và được ghi
bằng số âm dưới hình thức ghi trong ngoặc đơn (…). +
Tăng, giảm chứng khoán kinh doanh (Mã số 14) Chỉ
tiêu này được lập căn cứ vào tổng chênh lệch giữa số dư cuối kỳ và số dư đầu kỳ
của TK 121 “Chứng khoán kinh doanh” trong kỳ báo cáo. Số
liệu chỉ tiêu này được cộng (+) vào chỉ tiêu “Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh
trước thay đổi vốn lưu động” nếu số dư cuối kỳ nhỏ hơn số dư đầu kỳ. Số liệu chỉ
tiêu này được trừ (-) vào số liệu chỉ tiêu “Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh
trước thay đổi vốn lưu động” nếu số dư cuối kỳ lớn hơn số dư đầu kỳ và được ghi
bằng số âm dưới hình thức ghi trong ngoặc đơn (…). +
Tiền lãi vay đã trả (Mã số 15) Chỉ
tiêu này được lập căn cứ vào tổng số tiền lãi vay đã trả trong kỳ báo cáo, bao
gồm tiền lãi vay phát sinh trong kỳ và trả ngay kỳ này, tiền lãi vay phải trả
của các kỳ trước đã trả trong kỳ này, lãi tiền vay trả trước trong kỳ
này. Chỉ
tiêu này không bao gồm số tiền lãi vay đã trả trong kỳ được vốn hóa vào giá trị
các tài sản dở dang được phân loại là luồng tiền từ hoạt động đầu tư. Trường hợp
số lãi vay đã trả trong kỳ vừa được vốn hóa, vừa được tính vào chi phí tài chính
thì kế toán căn cứ tỷ lệ vốn hóa lãi vay áp dụng cho kỳ báo cáo để xác định số
lãi vay đã trả của luồng tiền từ hoạt động kinh doanh và luồng tiền hoạt động
đầu tư. Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này được lấy từ sổ kế toán các TK 111, 112 (chi tiết
tiền chi trả lãi tiền vay); sổ kế toán các tài khoản phải thu (chi tiết tiền trả
lãi vay từ tiền thu các khoản phải thu) trong kỳ báo cáo, sau khi đối chiếu với
sổ kế toán TK 335, 635, 242 và các Tài khoản liên quan
khác. Số
liệu chỉ tiêu này được trừ (-) vào số liệu chỉ tiêu “Lợi nhuận kinh doanh trước
những thay đổi vốn lưu động” và được ghi bằng số âm dưới hình thức ghi trong
ngoặc đơn (…). +
Thuế TNDN đã nộp (Mã số 16) Chỉ
tiêu này được lập căn cứ vào tổng số tiền thuế TNDN đã nộp cho Nhà nước trong kỳ
báo cáo, bao gồm số tiền thuế TNDN đã nộp của kỳ này, số thuế TNDN còn nợ từ các
kỳ trước đã nộp trong kỳ này và số thuế TNDN nộp trước (nếu
có). Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này được lấy từ sổ kế toán các TK 111, 112 (chi tiết
tiền nộp thuế TNDN), sau khi đối chiếu với sổ kế toán TK 3334. Số liệu chỉ tiêu
này được trừ (-) vào số liệu chỉ tiêu “Lợi nhuận kinh doanh trước những thay đổi
vốn lưu động” và được ghi bằng số âm dưới hình thức ghi trong ngoặc đơn
(…). +
Tiền thu khác từ hoạt động kinh doanh (Mã số 17) Chỉ
tiêu này phản ánh các khoản tiền thu khác phát sinh từ hoạt động kinh doanh
ngoài các khoản đã nêu ở các Mã số từ 01 đến 15, như: Tiền được các tổ chức, cá
nhân bên ngoài thưởng, hỗ trợ ghi tăng các quỹ của doanh nghiệp; ... trong kỳ
báo cáo. Chỉ
tiêu này được lập căn cứ vào sổ kế toán các TK 111, 112 sau khi đối chiếu với sổ
kế toán các tài khoản có liên quan trong kỳ báo cáo. Số liệu chỉ tiêu này được
cộng (+) vào số liệu chỉ tiêu “Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh trước thay đổi
vốn lưu động”. +
Tiền chi khác cho hoạt động kinh doanh (Mã số 18) Chỉ
tiêu này phản ánh các khoản tiền chi khác phát sinh từ hoạt động kinh doanh
ngoài các khoản đã nêu ở các Mã số từ 01 đến 15, như: Tiền chi từ Quỹ khen
thưởng, phúc lợi, Quỹ phát triển khoa học và công nghệ; tiền hỗ trợ người lao
động theo chính sách... Chỉ
tiêu này được lập căn cứ vào sổ kế toán các TK 111, 112 sau khi đối chiếu với sổ
kế toán các tài khoản có liên quan trong kỳ báo cáo. Số liệu chỉ tiêu này được
trừ (-) vào số liệu chỉ tiêu “Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh trước thay đổi
vốn lưu động”. -
Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh (Mã số
20) Chỉ
tiêu “Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh” phản ánh chênh lệch giữa
tổng số tiền thu vào với tổng số tiền chi ra từ hoạt động kinh doanh trong kỳ
báo cáo. Nếu số liệu chỉ tiêu này là số âm thì sẽ được ghi dưới hình thức trong
ngoặc đơn (…). Mã
số 20 = Mã số 01 + Mã số 02 + Mã số 09 2.4.4.2.
Lập báo cáo các chỉ tiêu luồng tiền từ hoạt động đầu
tư a)
Nguyên tắc lập: -
Luồng tiền từ hoạt động đầu tư được lập và trình bày trên Báo cáo lưu chuyển
tiền tệ một cách riêng biệt các luồng tiền vào và các luồng tiền
ra. -
Luồng tiền từ hoạt động đầu tư được lập theo phương pháp trực tiếp hoặc trực
tiếp có điều chỉnh. b)
Phương pháp lập các chỉ tiêu cụ thể theo phương pháp trực tiếp (Xem Mẫu số B03 -
DNN) -
Tiền chi để mua sắm, xây dựng TSCĐ, BĐSĐT và các tài sản dài hạn khác (Mã số
21) Chỉ
tiêu này được lập căn cứ vào tổng số tiền đã thực chi để mua sắm, xây dựng TSCĐ
hữu hình, BĐSĐT, TSCĐ vô hình, tiền chi cho giai đoạn triển khai đã được vốn hóa
thành TSCĐ vô hình, tiền chi cho hoạt động đầu tư xây dựng dở dang, đầu tư bất
động sản trong kỳ báo cáo. Chi phí sản xuất thử sau khi bù trừ với số tiền thu
từ bán sản phẩm sản xuất thử của TSCĐ hình thành từ hoạt động XDCB được cộng vào
chỉ tiêu này (nếu chi lớn hơn thu) hoặc trừ vào chỉ tiêu này (nếu thu lớn hơn
chi). Chỉ
tiêu này phản ánh cả số tiền đã thực trả để mua nguyên vật liệu, tài sản, sử
dụng cho XDCB nhưng đến cuối kỳ chưa xuất dùng cho hoạt động đầu tư XDCB; Số
tiền đã ứng trước cho nhà thầu XDCB nhưng chưa nghiệm thu khối lượng; Số tiền đã
trả để trả nợ người bán trong kỳ liên quan trực tiếp tới việc mua sắm, đầu tư
XDCB. Trường
hợp mua nguyên vật liệu, tài sản sử dụng chung cho cả mục đích sản xuất, kinh
doanh và đầu tư XDCB nhưng cuối kỳ chưa xác định được giá trị nguyên vật liệu,
tài sản sẽ sử dụng cho hoạt động đầu tư XDCB hay hoạt động sản xuất, kinh doanh
thì số tiền đã trả không phản ánh vào chỉ tiêu này mà phản ánh ở luồng tiền từ
hoạt động kinh doanh. Chỉ
tiêu này không bao gồm số nhận nợ thuê tài chính, giá trị tài sản phi tiền tệ
khác dùng để thanh toán khi mua sắm TSCĐ, BĐSĐT, XDCB hoặc giá trị TSCĐ, BĐSĐT,
XDCB tăng trong kỳ nhưng chưa được trả bằng tiền. Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này lấy từ sổ kế toán các TK 111, 112 (chi tiết số tiền
chi mua sắm, xây dựng TSCĐ, BĐSĐT và các tài sản dài hạn khác, kể cả số tiền lãi
vay đã trả được vốn hóa), sổ kế toán các tài khoản phải thu (chi tiết tiền thu
nợ chuyển trả ngay cho hoạt động mua sắm, XDCB), sổ kế toán TK 3411 (chi tiết số
tiền vay nhận được chuyển trả ngay cho người bán), sổ kế toán TK 331 (chi tiết
khoản ứng trước hoặc trả nợ cho nhà thầu XDCB, trả nợ cho người bán TSCĐ,
BĐSĐT), sau khi đối chiếu với sổ kế toán các TK 211, 217, 241 trong kỳ báo cáo.
Chỉ tiêu này được ghi bằng số âm dưới hình thức ghi trong ngoặc đơn
(…). -
Tiền thu từ thanh lý, nhượng bán TSCĐ, BĐSĐT và các tài sản dài hạn khác (Mã số
22) Chỉ
tiêu này được lập căn cứ vào số tiền thuần đã thu từ việc thanh lý, nhượng bán
TSCĐ hữu hình, TSCĐ vô hình và BĐSĐT trong kỳ báo cáo, kể cả số tiền thu hồi các
khoản nợ phải thu liên quan trực tiếp tới việc thanh lý, nhượng bán TSCĐ, BĐSĐT
và tài sản dài hạn khác. Chỉ
tiêu này không bao gồm số thu bằng tài sản phi tiền tệ hoặc số tiền phải thu
nhưng chưa thu được trong kỳ báo cáo từ việc thanh lý nhượng bán TSCĐ, BĐSĐT và
tài sản dài hạn khác; Không bao gồm các khoản chi phí phi tiền tệ liên quan đến
hoạt động thanh lý nhượng bán TSCĐ, BĐSĐT và giá trị còn lại của TSCĐ, BĐSĐT do
đem đi góp vốn liên doanh, liên kết hoặc các khoản tổn
thất. Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này là chênh lệch giữa số tiền thu và số tiền chi cho
việc thanh lý, nhượng bán TSCĐ, BĐSĐT và các tài sản dài hạn khác. Số tiền thu
được lấy từ sổ kế toán các TK 111, 112, sau khi đối chiếu với sổ kế toán các TK
711, 5118, 131 (chi tiết tiền thu thanh lý, nhượng bán TSCĐ, BĐSĐT và các tài
sản dài hạn khác) trong kỳ báo cáo. Số tiền chi được lấy từ sổ kế toán các TK
111, 112, sau khi đối chiếu với sổ kế toán các TK 632, 811 (Chi tiết chi về
thanh lý, nhượng bán TSCĐ, BĐSĐT) trong kỳ báo cáo. Chỉ tiêu này được ghi bằng
số âm dưới hình thức ghi trong ngoặc đơn (…) nếu số tiền thực thu nhỏ hơn số
tiền thực chi. -
Tiền chi cho vay, đầu tư góp vốn vào đơn vị khác (Mã số
23) Chỉ
tiêu này được lập căn cứ vào tổng số tiền đã gửi vào ngân hàng có kỳ hạn trên 3
tháng, tiền đã chi cho bên khác vay, chi mua các công cụ nợ của đơn vị khác
(trái phiếu, thương phiếu, cổ phiếu ưu đãi phân loại là nợ phải trả…), chi đầu
tư góp vốn vào đơn vị khác (bao gồm tiền chi đầu tư vốn dưới hình thức mua cổ
phiếu phổ thông có quyền biểu quyết, mua cổ phiếu ưu đãi được phân loại là vốn
chủ sở hữu, góp vốn vào công ty liên doanh, liên kết,…) vì mục đích đầu tư nắm
giữ đến ngày đáo hạn trong kỳ báo cáo. Chỉ
tiêu này không bao gồm tiền chi mua các công cụ nợ được coi là các khoản tương
đương tiền và mua các công cụ nợ nắm giữ vì mục đích kinh doanh (kiếm lời từ
chênh lệch giá mua, bán); Các khoản cho vay, mua các công cụ nợ đã trả bằng tài
sản phi tiền tệ hoặc đảo nợ, tiền chi mua cổ phiếu nắm giữ vì mục đích kinh
doanh; Chi mua cổ phiếu ưu đãi được phân loại là nợ phải trả, đầu tư vào đơn vị
khác bằng tài sản phi tiền tệ; đầu tư dưới hình thức phát hành cổ phiếu hoặc
trái phiếu; Chuyển công cụ nợ thành vốn góp hoặc còn nợ chưa thanh
toán. Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này lấy từ sổ kế toán các TK 111, 112, sau khi đối
chiếu với sổ kế toán TK 128, 228, 331 trong kỳ báo cáo. Chỉ tiêu này được ghi
bằng số âm dưới hình thức ghi trong ngoặc đơn (…). -
Tiền thu hồi cho vay, đầu tư góp vốn vào đơn vị khác (Mã số
24) Chỉ
tiêu này được lập căn cứ vào tổng số tiền đã thu từ việc rút tiền gửi ngân hàng
có kỳ hạn gốc trên 3 tháng; Tiền thu hồi lại gốc đã cho vay, gốc trái phiếu, cổ
phiếu ưu đãi được phân loại là nợ phải trả và các công cụ nợ của đơn vị khác,
tổng số tiền đã thu hồi do bán lại hoặc thanh lý các khoản vốn đã đầu tư vào đơn
vị khác (kể cả tiền thu nợ phải thu bán công cụ vốn từ kỳ trước) trong kỳ báo
cáo. Chỉ
tiêu này không bao gồm tiền thu từ bán các công cụ nợ được coi là các khoản
tương đương tiền và bán các công cụ nợ được phân loại là chứng khoán kinh doanh;
Không bao gồm các khoản thu hồi bằng tài sản phi tiền tệ hoặc chuyển công cụ nợ
thành công cụ vốn của đơn vị khác, tiền thu do bán chứng khoán kinh doanh; Giá
trị khoản đầu tư được thu hồi bằng tài sản phi tiền tệ, bằng công cụ nợ hoặc
công cụ vốn của đơn vị khác hoặc chưa được thanh toán bằng
tiền. Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này lấy từ sổ kế toán các TK 111, 112 sau khi đối chiếu
với sổ kế toán TK 128, 228, 131 trong kỳ báo cáo. -
Tiền thu lãi cho vay, cổ tức và lợi nhuận được chia (Mã số
25) Chỉ
tiêu này được lập căn cứ vào số tiền thu về các khoản tiền lãi cho vay, lãi tiền
gửi, lãi trái phiếu, cổ tức và lợi nhuận nhận được từ đầu tư vốn vào các đơn vị
khác trong kỳ báo cáo. Chỉ tiêu này không bao gồm các khoản lãi, cổ tức nhận
được bằng cổ phiếu hoặc bằng tài sản phi tiền tệ. Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này lấy từ sổ kế toán các TK 111, 112 sau khi đối chiếu
với sổ kế toán TK 515. -
Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động đầu tư (Mã số
30) Chỉ
tiêu “Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động đầu tư” phản ánh chênh lệch giữa tổng
số tiền thu vào với tổng số tiền chi ra từ hoạt động đầu tư trong kỳ báo cáo.
Nếu số liệu chỉ tiêu này là số âm thì được ghi dưới hình thức ghi trong ngoặc
đơn (…). Mã
số 30 = Mã số 21 + Mã số 22 + Mã số 23 + Mã số 24 + Mã số
25. 2.4.4.3.
Lập báo cáo các chỉ tiêu luồng tiền từ hoạt động tài
chính a.
Nguyên tắc lập: Luồng
tiền từ hoạt động tài chính được lập và trình bày trên Báo cáo lưu chuyển tiền
tệ một cách riêng biệt các luồng tiền vào và các luồng tiền ra, trừ trường hợp
các luồng tiền được báo cáo trên cơ sở thuần. b.
Phương pháp lập các chỉ tiêu cụ thể theo phương pháp trực tiếp (Xem Mẫu số
B03-DNN) -
Tiền thu từ phát hành cổ phiếu, nhận vốn góp của chủ sở hữu (Mã số
31) Chỉ
tiêu này được lập căn cứ vào tổng số tiền đã thu do các chủ sở hữu của doanh
nghiệp góp vốn trong kỳ báo cáo. Chỉ tiêu này không bao gồm các khoản vay và nợ
được chuyển thành vốn, khoản lợi nhuận sau thuế chưa phân phối chuyển thành vốn
góp (kể cả trả cổ tức bằng cổ phiếu) hoặc nhận vốn góp của chủ sở hữu bằng tài
sản phi tiền tệ. Đối
với công ty cổ phần, chỉ tiêu này phản ánh số tiền đã thu do phát hành cổ phiếu
phổ thông theo giá thực tế phát hành, kể cả tiền thu từ phát hành cổ phiếu ưu
đãi được phân loại là vốn chủ sở hữu nhưng không bao gồm số tiền đã thu do phát
hành cổ phiếu ưu đãi được phân loại là nợ phải trả. Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này lấy từ sổ kế toán các TK 111, 112 sau khi đối chiếu
với sổ kế toán chi tiết TK 411 trong kỳ báo cáo. -
Tiền trả lại vốn góp cho các chủ sở hữu, mua lại cổ phiếu của doanh nghiệp đã
phát hành (Mã số 32) Chỉ
tiêu này được lập căn cứ vào tổng số tiền đã trả do hoàn lại vốn góp cho các chủ
sở hữu của doanh nghiệp dưới các hình thức hoàn trả bằng tiền hoặc mua lại cổ
phiếu của doanh nghiệp đã phát hành bằng tiền để hủy bỏ hoặc sử dụng làm cổ
phiếu quỹ trong kỳ báo cáo. Chỉ
tiêu này không bao gồm các khoản trả lại cổ phiếu ưu đãi được phân loại là nợ
phải trả, vốn góp của chủ sở hữu bằng tài sản phi tiền tệ hoặc sử dụng vốn góp
để bù lỗ kinh doanh. Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này lấy từ sổ kế toán các TK 111, 112 sau khi đối chiếu
với sổ kế toán chi tiết các TK 411, 419 trong kỳ báo cáo. Chỉ tiêu này được ghi
bằng số âm dưới hình thức ghi trong ngoặc đơn (...). -
Tiền thu từ đi vay (Mã số 33) Chỉ
tiêu này được lập căn cứ vào tổng số tiền đã nhận được trong kỳ do doanh nghiệp
đi vay kể cả phát hành trái phiếu các tổ chức tài chính, tín dụng và các đối
tượng khác trong kỳ báo cáo. Chỉ tiêu này không bao gồm các khoản đi vay bằng
tài sản phi tiền tệ hoặc nợ thuê tài chính. Trường
hợp vay dưới hình thức phát hành cổ phiếu ưu đãi, chỉ tiêu này phản ánh tổng số
tiền đã nhận được trong kỳ do doanh nghiệp phát hành cổ phiếu ưu đãi được phân
loại là nợ phải trả. Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này lấy từ sổ kế toán các TK 111, 112, các tài khoản
phải trả (chi tiết tiền vay nhận được chuyển trả ngay các khoản nợ phải trả) sau
khi đối chiếu với sổ kế toán chi tiết các TK 3411, 4111 và các tài khoản khác có
liên quan trong kỳ báo cáo. -
Tiền trả nợ gốc vay và nợ gốc thuê tài chính (Mã số
34) Chỉ
tiêu này được lập căn cứ vào tổng số tiền đã trả về khoản nợ gốc vay, cổ phiếu
ưu đãi được phân loại là nợ phải trả và tổng số tiền đã trả về nợ gốc thuê tài
chính trong kỳ báo cáo. Chỉ
tiêu này không bao gồm các khoản trả gốc vay, nợ gốc thuê tài chính bằng tài sản
phi tiền tệ hoặc chuyển nợ vay, nợ gốc thuê tài chính thành vốn
góp. Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này lấy từ sổ kế toán các TK 111, 112 sổ kế toán các
tài khoản phải thu (phần tiền trả nợ vay từ tiền thu các khoản phải thu), sau
khi đối chiếu với sổ kế toán chi tiết TK 341, 4111 trong kỳ báo cáo. Chỉ tiêu
này được ghi bằng số âm dưới hình thức ghi trong ngoặc đơn
(...). -
Cổ tức, lợi nhuận đã trả cho chủ sở hữu (Mã số 35) Chỉ
tiêu này được lập căn cứ vào tổng số tiền cổ tức và lợi nhuận đã trả cho các chủ
sở hữu của doanh nghiệp (kể cả số thuế thu nhập cá nhân đã nộp thay cho chủ sở
hữu) trong kỳ báo cáo. Chỉ
tiêu này không bao gồm khoản lợi nhuận được chuyển thành vốn góp của chủ sở hữu,
trả cổ tức bằng cổ phiếu hoặc trả bằng tài sản phi tiền tệ và các khoản lợi
nhuận đã dùng để trích lập các quỹ. Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này lấy từ sổ kế toán các TK 111, 112 sau khi đối chiếu
với sổ kế toán các TK 421, 338 (chi tiết số tiền đã trả về cổ tức và lợi nhuận)
trong kỳ báo cáo. Chỉ tiêu này được ghi bằng số âm dưới hình thức ghi trong
ngoặc đơn (...). -
Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động tài chính (Mã số
40) Chỉ
tiêu lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động tài chính phản ánh chênh lệch giữa tổng
số tiền thu vào với tổng số tiền chi ra từ hoạt động tài chính trong kỳ báo cáo.
Nếu số liệu chỉ tiêu này là số âm thì ghi trong ngoặc đơn
(...). Mã
số 40 = Mã số 31 + Mã số 32 + Mã số 33 + Mã số 34 + Mã số
35. 2.4.4.4.
Tổng hợp các luồng tiền trong kỳ (Xem Mẫu số B03 -
DNN) -
Lưu chuyển tiền thuần trong kỳ (Mã số 50) Chỉ
tiêu “Lưu chuyển tiền thuần trong kỳ” phản ánh chênh lệch giữa tổng số tiền thu
vào với tổng số tiền chi ra từ ba loại hoạt động: Hoạt động kinh doanh, hoạt
động đầu tư và hoạt động tài chính của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo. Nếu số
liệu chỉ tiêu này là số âm thì ghi trong ngoặc đơn (...). Mã
số 50 = Mã số 20 + Mã số 30 + Mã số 40. -
Tiền và tương đương tiền đầu kỳ (Mã số 60) Chỉ
tiêu này được lập căn cứ vào số liệu chỉ tiêu “Tiền và tương đương tiền” đầu kỳ
báo cáo (Mã số 110, cột “Số đầu năm” trên Báo cáo tình hình tài
chính). -
Ảnh hưởng của thay đổi tỷ giá hối đoái quy đổi ngoại tệ (Mã số
61) Chỉ
tiêu này được lập căn cứ vào tổng số chênh lệch tỷ giá hối đoái do đánh giá lại
số dư cuối kỳ của tiền và các khoản tương đương tiền bằng ngoại tệ (Mã số 110
của Báo cáo tình hình tài chính) tại thời điểm cuối kỳ báo
cáo. Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này được lấy từ sổ kế toán các TK 111, 112, 128 và các
tài khoản liên quan (chi tiết các khoản thỏa mãn định nghĩa là tương đương
tiền), sau khi đối chiếu với sổ kế toán chi tiết TK 413 trong kỳ báo cáo. Chỉ
tiêu này được ghi bằng số dương nếu có lãi tỷ giá và được ghi bằng số âm dưới
hình thức ghi trong ngoặc đơn (…) nếu phát sinh lỗ tỷ giá. -
Tiền và tương đương tiền cuối kỳ (Mã số 70) Chỉ
tiêu này được lập căn cứ vào số liệu chỉ tiêu “Tiền và tương đương tiền” cuối kỳ
báo cáo (Mã số 110, cột “Số cuối năm” trên Báo cáo tình hình tài
chính). Chỉ
tiêu này bằng số “Tổng cộng” của các chỉ tiêu Mã số 50, 60 và 61 và bằng chỉ
tiêu Mã số 110 cột “Số cuối năm” trên Báo cáo tình hình tài chính kỳ
đó. Mã
số 70 = Mã số 50 + Mã số 60 + Mã số 61. 2.5.
Phương pháp lập và trình bày Thuyết minh BCTC (Xem Mẫu số B09 -
DNN) 2.5.1.
Mục đích của Bản thuyết minh Báo cáo tài chính a)
Bản thuyết minh Báo cáo tài chính là một bộ phận hợp thành không thể tách rời
của Báo cáo tài chính doanh nghiệp dùng để mô tả mang tính tường thuật hoặc phân
tích chi tiết các thông tin số liệu đã được trình bày trong Báo cáo tình hình
tài chính, Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ cũng
như các thông tin cần thiết khác. b)
Bản thuyết minh Báo cáo tài chính cũng có thể trình bày những thông tin khác nếu
doanh nghiệp xét thấy cần thiết cho việc trình bày trung thực, hợp lý Báo cáo
tài chính. 2.5.2.
Nguyên tắc lập và trình bày Bản thuyết minh Báo cáo tài
chính a)
Khi lập Báo cáo tài chính, doanh nghiệp phải lập Bản thuyết minh Báo cáo tài
chính theo hướng dẫn tại Thông tư này. b)
Bản thuyết minh Báo cáo tài chính của doanh nghiệp phải trình bày những nội dung
dưới đây: -
Các thông tin về cơ sở lập và trình bày Báo cáo tài chính và các chính sách kế
toán cụ thể được chọn và áp dụng đối với các giao dịch và các sự kiện quan
trọng; -
Cung cấp thông tin bổ sung chưa được trình bày trong các Báo cáo tài chính khác,
nhưng lại cần thiết cho việc trình bày trung thực và hợp lý tình hình tài chính,
kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. c)
Bản thuyết minh Báo cáo tài chính phải được trình bày một cách có hệ thống.
Doanh nghiệp được chủ động sắp xếp số thứ tự trong thuyết minh Báo cáo tài chính
theo cách thức phù hợp nhất với đặc thù của mình theo nguyên tắc mỗi khoản mục
trong Báo cáo tình hình tài chính, Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và Báo
cáo lưu chuyển tiền tệ cần được đánh dấu dẫn tới các thông tin liên quan trong
Bản thuyết minh Báo cáo tài chính. 2.5.3.
Cơ sở lập Bản thuyết minh Báo cáo tài chính -
Căn cứ vào Báo cáo tình hình tài chính, Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh,
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ kỳ báo cáo; -
Căn cứ vào sổ kế toán tổng hợp; Sổ, thẻ kế toán chi tiết hoặc bảng tổng hợp chi
tiết có liên quan; -
Căn cứ vào Bản thuyết minh Báo cáo tài chính kỳ trước; -
Căn cứ vào tình hình thực tế của doanh nghiệp và các tài liệu liên
quan. 2.5.4.
Nội dung và phương pháp lập các chỉ tiêu 2.5.4.1.
Đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp Trong
phần này doanh nghiệp cần nêu rõ: a)
Hình thức sở hữu vốn: Công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp
danh hay doanh nghiệp tư nhân. b)
Lĩnh vực kinh doanh: Nêu rõ là sản xuất công nghiệp, kinh doanh thương mại, dịch
vụ, xây lắp hoặc tổng hợp nhiều lĩnh vực kinh doanh. c)
Ngành nghề kinh doanh: Nêu rõ hoạt động kinh doanh chính và đặc điểm sản phẩm
sản xuất hoặc dịch vụ cung cấp của doanh nghiệp. d)
Chu kỳ sản xuất, kinh doanh thông thường: Trường hợp chu kỳ kéo dài hơn 12 tháng
thì thuyết minh thêm chu kỳ sản xuất kinh doanh bình quân của ngành, lĩnh
vực. đ)
Đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp trong năm tài chính có ảnh hưởng đến Báo cáo
tài chính: Nêu rõ những sự kiện về môi trường pháp lý, diễn biến thị trường, đặc
điểm hoạt động kinh doanh, quản lý, tài chính, các sự kiện sáp nhập, chia, tách,
thay đổi quy mô... có ảnh hưởng đến Báo cáo tài chính của doanh
nghiệp. 2.5.4.2.
Kỳ kế toán, đơn vị tiền tệ sử dụng trong kế toán a)
Kỳ kế toán năm ghi rõ kỳ kế toán năm theo năm dương lịch bắt đầu từ ngày
01/01/... đến 31/12/... Nếu doanh nghiệp có năm tài chính khác với năm dương
lịch thì ghi rõ ngày bắt đầu và ngày kết thúc kỳ kế toán
năm. b)
Đơn vị tiền tệ sử dụng trong kế toán: ghi rõ là Đồng Việt Nam hoặc một đơn vị
tiền tệ kế toán được lựa chọn theo quy định của Luật Kế
toán. 2.5.4.3.
Chuẩn mực kế toán và Chế độ kế toán áp dụng Tuyên
bố về việc tuân thủ Chuẩn mực kế toán và Chế độ kế toán: Nêu rõ Báo cáo tài
chính có được lập và trình bày phù hợp và có tuân thủ Chuẩn mực kế toán và Chế
độ kế toán doanh nghiệp nhỏ và vừa hay không? 2.5.4.4.
Các chính sách kế toán áp dụng (1)
Tỷ giá hối đoái áp dụng trong kế toán: -
Ngân hàng thương mại nơi doanh nghiệp thường xuyên có giao
dịch -
Cách xác định tỷ giá giao dịch thực tế áp dụng đối với các giao dịch phát sinh
trong kỳ và tỷ giá áp dụng khi đánh giá lại các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại
tệ cuối kỳ. (2)
Nguyên tắc chuyển đổi báo cáo tài chính được lập bằng ngoại tệ sang Đồng Việt
Nam. (3)
Nguyên tắc ghi nhận các khoản tiền và các khoản tương đương tiền: Nêu rõ các
khoản tương đương tiền được xác định trên cơ sở nào. (4)
Nguyên tắc kế toán các khoản đầu tư tài chính a)
Đối với chứng khoán kinh doanh: -
Thời điểm ghi nhận (đối với chứng khoán niêm yết thuyết minh rõ là T+0 hay thời
điểm khác) -
Giá trị ghi sổ được xác định là giá trị hợp lý hoặc giá
gốc; -
Căn cứ trích lập dự phòng giảm giá chứng khoán kinh doanh. b)
Đối với các khoản cho vay: -
Có đánh giá lại các khoản cho vay thỏa mãn định nghĩa các khoản mục tiền tệ có
gốc ngoại tệ không? -
Căn cứ lập dự phòng phải thu khó đòi đối với các khoản cho
vay. c)
Đối với các khoản đầu tư vào công ty liên doanh, liên kết (dựa vào tỷ lệ biểu
quyết hoặc thỏa thuận khác): -
Đối với các công ty liên doanh, liên kết được mua trong kỳ, thời điểm ghi nhận
ban đầu là thời điểm nào? -
Nguyên tắc xác định công ty liên doanh, liên kết (dựa theo tỷ lệ quyền biểu
quyết, tỷ lệ vốn góp hay tỷ lệ lợi ích); -
Căn cứ lập dự phòng tổn thất đầu tư vào công ty liên doanh, liên kết; căn cứ để
xác định tổn thất; d)
Đối với các khoản đầu tư vào công cụ vốn của đơn vị khác: -
Giá trị ghi sổ của khoản đầu tư vào đơn vị khác được xác định theo giá gốc hay
phương pháp khác? -
Căn cứ lập dự phòng tổn thất đầu tư vào đơn vị khác; Báo cáo tài chính để xác
định tổn thất. đ)
Các phương pháp kế toán đối với các giao dịch khác liên quan đến đầu tư tài
chính: -
Giao dịch hoán đổi cổ phiếu; -
Giao dịch đầu tư dưới hình thức góp vốn; -
Giao dịch dưới hình thức mua lại phần vốn góp; -
Phương pháp kế toán đối với khoản cổ tức được chia bằng cổ
phiếu; (4)
Nguyên tắc kế toán nợ phải thu -
Tiêu chí phân loại các khoản nợ phải thu (phải thu khách hàng, phải thu nội bộ,
phải thu khác)? -
Có được theo dõi chi tiết theo kỳ hạn gốc, kỳ hạn còn lại tại thời điểm báo cáo,
theo nguyên tệ và theo từng đối tượng không? -
Có đánh giá lại các khoản nợ phải thu thỏa mãn định nghĩa của các khoản mục tiền
tệ có gốc ngoại tệ không? -
Phương pháp lập dự phòng phải thu khó đòi. (5)
Nguyên tắc ghi nhận hàng tồn kho -
Nguyên tắc ghi nhận hàng tồn kho: Nêu rõ hàng tồn kho được ghi nhận theo giá gốc
hoặc theo giá trị thuần có thể thực hiện được. -
Phương pháp tính giá trị hàng tồn kho: Nêu rõ áp dụng phương pháp nào (Bình quân
gia quyền; nhập trước, xuất trước; giá thực tế đích danh hay phương pháp giá bán
lẻ). -
Phương pháp hạch toán hàng tồn kho: Nêu rõ áp dụng phương pháp kê khai thường
xuyên hay phương pháp kiểm kê định kỳ. -
Phương pháp lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho (Nêu rõ doanh nghiệp lập dự phòng
giảm giá hàng tồn kho trên cơ sở chênh lệch lớn hơn của giá gốc và giá trị thuần
có thể thực hiện được của hàng tồn kho. Phương pháp lập dự phòng giảm giá hàng
tồn kho là lập theo số chênh lệch giữa số dự phòng phải lập năm nay với số dự
phòng đã lập năm trước chưa sử dụng hết dẫn đến năm nay phải lập thêm hay hoàn
nhập). (6)
Nguyên tắc kế toán và khấu hao TSCĐ, TSCĐ thuê tài chính, Bất động sản đầu
tư a)
Nguyên tắc kế toán TSCĐ hữu hình, TSCĐ vô hình: -
Nguyên tắc kế toán các khoản chi phí phát sinh sau ghi nhận ban đầu (chi phí
nâng cấp, cải tạo, duy tu, sửa chữa) được ghi nhận vào nguyên giá hay chi phí
sản xuất, kinh doanh; -
Nêu rõ các phương pháp khấu hao TSCĐ; -
Các quy định khác về quản lý, sử dụng, khấu hao TSCĐ có được tuân thủ
không? b)
Nguyên tắc kế toán TSCĐ thuê tài chính: -
Nêu rõ nguyên giá được xác định như thế nào; -
Nêu rõ các phương pháp khấu hao TSCĐ thuê tài chính. c)
Nguyên tắc kế toán Bất động sản đầu tư. -
Nguyên giá BĐSĐT được ghi nhận theo phương pháp nào? -
Nêu rõ các phương pháp khấu hao BĐSĐT. (7)
Nguyên tắc kế toán nợ phải trả -
Phân loại nợ phải trả như thế nào? -
Có theo dõi nợ phải trả theo từng đối tượng, kỳ hạn gốc, kỳ hạn còn lại tại thời
điểm báo cáo, theo nguyên tệ không? -
Có đánh giá lại các khoản nợ phải trả thỏa mãn định nghĩa các khoản mục tiền tệ
có gốc ngoại tệ không? -
Có lập dự phòng nợ phải trả không? (8)
Nguyên tắc ghi nhận và vốn hóa các khoản chi phí đi vay: -
Nguyên tắc ghi nhận chi phí đi vay: Nêu rõ chi phí đi vay được ghi nhận vào chi
phí tài chính trong kỳ khi phát sinh hay được vốn hóa. -
Tỷ lệ vốn hóa được sử dụng để xác định chi phí đi vay được vốn hóa trong kỳ: Nêu
rõ tỷ lệ vốn hóa này là bao nhiêu? (9)
Nguyên tắc ghi nhận vốn chủ sở hữu: -
Vốn góp của chủ sở hữu có được ghi nhận theo số vốn thực góp không; Thặng dư vốn
cổ phần được ghi nhận như thế nào? -
Lợi nhuận chưa phân phối được xác định như thế nào? (10)
Nguyên tắc và phương pháp ghi nhận doanh thu, thu nhập
khác: -
Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ: Có tuân thủ đầy đủ các điều kiện ghi
nhận doanh thu hay không? -
Doanh thu hợp đồng xây dựng -
Các nguyên tắc ghi nhận doanh thu hoạt động tài chính. -
Các nguyên tắc ghi nhận thu nhập khác. (11)
Nguyên tắc kế toán chi phí: -
Giá vốn hàng bán (có đảm bảo nguyên tắc phù hợp với doanh thu không; Có đảm bảo
nguyên tắc thận trọng, ghi nhận ngay các chi phí vượt trên mức bình thường của
hàng tồn kho không; Các khoản ghi giảm giá vốn hàng bán là
gì...) -
Chi phí tài chính: Có ghi nhận đầy đủ chi phí lãi vay (kể cả số trích trước) của
kỳ báo cáo không? -
Chi phí quản lý kinh doanh: Có ghi nhận đầy đủ chi phí bán hàng và chi phí quản
lý doanh nghiệp phát sinh trong kỳ không; Các khoản điều chỉnh giảm chi phí bán
hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp là gì.... 2.5.5.
Thông tin bổ sung cho các khoản mục trình bày trong Báo cáo tình hình tài
chính: -
Trong phần này, doanh nghiệp phải trình bày và phân tích chi tiết các số liệu đã
được trình bày trong Báo cáo tình hình tài chính để giúp người sử dụng Báo cáo
tài chính hiểu rõ hơn nội dung các khoản mục tài sản, nợ phải trả và vốn chủ sở
hữu. -
Đơn vị tính giá trị trình bày trong phần “Thông tin bổ sung cho các khoản mục
trình bày trong Báo cáo tình hình tài chính” là đơn vị tính được sử dụng trong
Báo cáo tình hình tài chính. Số liệu ghi vào cột “Số đầu năm” được lấy từ cột
“Số cuối năm” trong Bản thuyết minh Báo cáo tài chính năm trước. Số liệu ghi vào
cột “Số cuối năm” được lập trên cơ sở số liệu lấy từ: +
Báo cáo tình hình tài chính năm nay; +
Sổ kế toán tổng hợp; +
Sổ và thẻ kế toán chi tiết hoặc Bảng tổng hợp chi tiết có liên
quan. -
Trường hợp doanh nghiệp có áp dụng hồi tố do thay đổi chính sách kế toán hoặc
điều chỉnh hồi tố sai sót trọng yếu của các năm trước thì phải điều chỉnh số
liệu so sánh (số liệu ở cột “Số đầu năm”) để đảm bảo nguyên tắc có thể so sánh
được và phải giải trình rõ điều này trong thuyết minh báo cáo tài chính. Trường
hợp vì lý do nào đó dẫn đến số liệu ở cột “Số đầu năm” không có khả năng so sánh
được với số liệu ở cột “Số cuối năm” thì điều này phải được nêu rõ trong Bản
thuyết minh Báo cáo tài chính. -
Đối với các khoản mục yêu cầu thuyết minh theo giá trị hợp lý, trường hợp không
xác định được giá trị hợp lý thì phải ghi rõ lý do. 2.5.6.
Thông tin bổ sung cho các khoản mục trình bày trong Báo cáo kết quả hoạt động
kinh doanh: -
Trong phần này, doanh nghiệp phải trình bày và phân tích chi tiết các số liệu đã
được thể hiện trong Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh để giúp người sử dụng
Báo cáo tài chính hiểu rõ hơn nội dung của các khoản mục doanh thu, chi
phí. -
Đơn vị tính giá trị trình bày trong phần “Thông tin bổ sung cho các khoản mục
trình bày trong Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh” là đơn vị tính được sử
dụng trong Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh. Số liệu ghi vào cột “Năm trước”
được lấy từ Bản thuyết minh Báo cáo tài chính năm trước. Số liệu ghi vào cột
“Năm nay” được lập trên cơ sở số liệu lấy từ: +
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh năm nay; +
Sổ kế toán tổng hợp; +
Sổ và thẻ kế toán chi tiết hoặc Bảng tổng hợp chi tiết có liên
quan. -
Doanh nghiệp được chủ động đánh số thứ tự của thông tin chi tiết được trình bày
trong phần này theo nguyên tắc phù hợp với số dẫn từ Báo cáo kết quả hoạt động
kinh doanh và đảm bảo dễ đối chiếu và có thể so sánh giữa các
kỳ. -
Trường hợp vì lý do nào đó dẫn đến số liệu ở cột “Năm nay” không có khả năng so
sánh được với số liệu ở cột “Năm trước” thì điều này phải được nêu rõ trong Bản
thuyết minh Báo cáo tài chính. 2.5.7.
Thông tin bổ sung cho Báo cáo lưu chuyển tiền tệ -
Trong phần này, doanh nghiệp phải trình bày và phân tích các số liệu đã được thể
hiện trong Báo cáo lưu chuyển tiền tệ để giúp người sử dụng hiểu rõ hơn về các
yếu tố ảnh hưởng đến lưu chuyển tiền trong kỳ của doanh
nghiệp. -
Đơn vị tính giá trị trình bày trong phần “Thông tin bổ sung cho các khoản mục
trình bày trong Báo cáo lưu chuyển tiền tệ” là đơn vị tính được sử dụng trong
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ. Số liệu ghi vào cột “Năm trước” được lấy từ Bản
thuyết minh Báo cáo tài chính năm trước; Số liệu ghi vào cột “Năm nay” được lập
trên cơ sở số liệu lấy từ: +
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ năm nay; +
Sổ kế toán tổng hợp; +
Sổ và thẻ kế toán chi tiết hoặc Bảng tổng hợp chi tiết có liên
quan. 2.5.8.
Những thông tin khác Trong
phần này, doanh nghiệp phải trình bày những thông tin quan trọng khác (nếu có)
ngoài những thông tin đã trình bày trên nhằm cung cấp thêm thông tin khác nếu
xét thấy cần thiết giúp cho người sử dụng hiểu Báo cáo tài chính của doanh
nghiệp đã được trình bày trung thực, hợp lý. MỤC
3. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP LẬP BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP SIÊU
NHỎ Các
doanh nghiệp siêu nhỏ căn cứ vào biểu mẫu báo cáo tài chính năm quy định tại Phụ
lục 2 ban hành kèm theo Thông tư này và các nguyên tắc chung để thực hiện việc
lập và trình bày báo cáo tài chính tại đơn vị. Điều
82. Nội dung và phương pháp lập báo cáo tài chính của doanh nghiệp siêu
nhỏ 1.
Nội dung và phương pháp lập các chỉ tiêu của Báo cáo tình hình tài chính (Mẫu số
B01 - DNSN) 1.1.
Tài sản -
Tiền và các khoản tương đương tiền (Mã số 110) Chỉ
tiêu này phản ánh toàn bộ tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng không kỳ hạn và
các khoản tương đương tiền hiện có của doanh nghiệp tại thời điểm báo
cáo. Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này là tổng số dư Nợ của các TK 111, 112, số dư Nợ chi
tiết của TK 1281 (chi tiết các khoản tiền gửi có kỳ hạn gốc không quá 3 tháng)
và TK 1288 (chi tiết các khoản đủ tiêu chuẩn phân loại là tương đương
tiền). Các
khoản tương đương tiền có thể bao gồm: Kỳ phiếu ngân hàng, tín phiếu kho bạc,
tiền gửi ngân hàng có kỳ hạn gốc không quá 3 tháng… Các
khoản trước đây được phân loại là tương đương tiền nhưng quá hạn chưa thu hồi
được phải chuyển sang trình bày tại các chỉ tiêu khác, phù hợp với nội dung của
từng khoản mục. -
Các khoản đầu tư (Mã số 120) Là
chỉ tiêu tổng hợp phản ánh tổng giá trị của các khoản đầu tư tài chính (sau khi
đã trừ đi các khoản dự phòng cho các khoản đầu tư tài chính), bao gồm: Chứng
khoán kinh doanh, các khoản đầu tư nắm giữ đến ngày đáo hạn và các khoản đầu tư
góp vốn vào đơn vị khác. Các
khoản đầu tư tài chính được phản ánh trong chỉ tiêu này không bao gồm các khoản
đầu tư đã được trình bày trong chỉ tiêu “Tiền và các khoản tương đương tiền” (Mã
số 110) và các khoản phải thu về cho vay đã được trình bày trong chỉ tiêu “Các
khoản phải thu” (Mã số 130). Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này là số dư Nợ của các TK 121, 228 và TK 128 (sau khi
đã trừ đi các khoản đầu tư tài chính đã được phân loại là tương đương tiền và
các khoản phải thu về cho vay) trừ đi số dư Có các TK 2291,
2292. -
Các khoản phải thu (Mã số 130) Là
chỉ tiêu tổng hợp phản ánh toàn bộ giá trị của các khoản phải thu tại thời điểm
báo cáo (sau khi trừ đi dự phòng phải thu khó đòi), như: Phải thu của khách
hàng, trả trước cho người bán, phải thu nội bộ, phải thu về cho vay, phải thu
khác, tài sản thiếu chờ xử lý, tạm ứng, ký cược, ký quỹ,
... Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này căn cứ vào tổng số dư Nợ chi tiết theo từng đối
tượng công nợ của các TK 131, 136, 138, 141, 334, 338, 1288 (chi tiết cho vay),
331 (chi tiết trả trước cho người bán) sau khi trừ đi số dư Có TK
2293. -
Hàng tồn kho (Mã số 140) Là
chỉ tiêu tổng hợp phản ánh toàn bộ giá trị hiện có các loại hàng tồn kho dự trữ
cho quá trình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp (sau khi trừ đi dự phòng
giảm giá hàng tồn kho) tại thời điểm báo cáo. Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này là số dư Nợ của các TK 151, 152, 153, 154, 155,
156, 157 sau khi trừ đi số dư Có của TK 2294. -
Giá trị còn lại của TSCĐ và BĐSĐT (Mã số 150) Là
chỉ tiêu tổng hợp phản ánh toàn bộ giá trị còn lại (nguyên giá trừ giá trị hao
mòn lũy kế) của các loại tài sản cố định và BĐSĐT tại thời điểm báo
cáo. Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này là tổng số dư Nợ của các TK 211, 217 sau khi đã trừ
đi giá trị hao mòn lũy kế của các loại TSCĐ và BĐSĐT (số dư Có TK
214). -
Tài sản khác (Mã số 160) Chỉ
tiêu này phản ánh giá trị các tài sản khác ngoài các tài sản đã được phản ánh
tại các Mã số 110, 120, 130, 140, 150 nêu trên như thuế GTGT được khấu trừ, chi
phí trả trước, thuế và các khoản phải thu của Nhà nước, chi phí xây dựng cơ bản
dở dang, ... Số
liệu ghi vào chỉ tiêu này là số dư Nợ các TK 133, 241, 242, 333,
... -
Tổng cộng tài sản (Mã số 200) Là
chỉ tiêu tổng hợp phản ánh tổng trị giá tài sản hiện có của doanh nghiệp tại
thời điểm báo cáo. Mã
số 200 = Mã số 110 + Mã số 120 + Mã số 130 + Mã số 140 + Mã số 150 + Mã số
160. 1.2.
Nợ phải trả (Mã số 300) Là
chỉ tiêu tổng hợp phản ánh toàn bộ số nợ phải trả tại thời điểm báo
cáo. Mã
số 300 = Mã số 310 + Mã số 320 + Mã số 330 + Mã số 340 + Mã số 350 + Mã số
360 -
Phải trả người bán (Mã số 310) Chỉ
tiêu này phản ánh số tiền còn phải trả cho người bán. Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này căn cứ vào tổng số dư Có chi tiết của TK
331. -
Người mua trả tiền trước (Mã số 320) Chỉ
tiêu này phản ánh số tiền người mua ứng trước để mua sản phẩm, hàng hóa, dịch
vụ, tài sản cố định, bất động sản đầu tư và doanh nghiệp có nghĩa vụ cung cấp
tại thời điểm báo cáo (không bao gồm các khoản doanh thu nhận trước). Số liệu để
ghi vào chỉ tiêu này căn cứ vào số dư Có chi tiết của TK 131 mở chi tiết cho
từng khách hàng. -
Thuế và các khoản phải nộp Nhà nước (Mã số 330) Chỉ
tiêu này phản ánh tổng các khoản doanh nghiệp còn phải nộp Nhà nước tại thời
điểm báo cáo, bao gồm cả các khoản thuế, phí, lệ phí và các khoản phải nộp
khác. Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này căn cứ vào tổng số dư Có chi tiết của TK
333. -
Phải trả người lao động (Mã số 340) Chỉ
tiêu này phản ánh các khoản doanh nghiệp còn phải trả cho người lao động tại
thời điểm báo cáo. Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này căn cứ vào số dư Có chi tiết của TK
334. -
Phải trả nợ vay (Mã số 350) Chỉ
tiêu này phản ánh tổng giá trị các khoản doanh nghiệp đi vay, nợ thuê tài chính
còn nợ các ngân hàng, tổ chức, công ty tài chính và các đối tượng
khác. Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này căn cứ vào số dư Có chi tiết của TK
341. -
Phải trả khác (Mã số 360) Chỉ
tiêu này phản ánh giá trị các khoản phải trả khác ngoài các khoản nợ phải trả đã
được phản ánh tại các Mã số 310, 320, 330, 340, 350 nêu trên như: Chi phí phải
trả, phải trả nội bộ, nhận cầm cố, thế chấp, ký quỹ, ký cược, dự phòng phải trả,
doanh thu chưa thực hiện, tài sản thừa chờ giải quyết, quỹ khen thưởng phúc lợi,
quỹ phát triển khoa học công nghệ, phải trả, phải nộp khác,
... Số
liệu ghi vào chỉ tiêu này là số dư Có các TK 1388, 335, 336, 338, 352, 353,
356. 1.3.
Vốn chủ sở hữu (Mã số 400) Là
chỉ tiêu tổng hợp phản ánh các khoản vốn kinh doanh thuộc sở hữu của cổ đông,
thành viên góp vốn, như: Vốn đầu tư của chủ sở hữu, các quỹ thuộc vốn chủ sở hữu
và lợi nhuận sau thuế chưa phân phối, chênh lệch tỷ giá hối đoái, lợi nhuận sau
thuế chưa phân phối… Mã
số 400 = Mã số 410 + Mã số 420 + Mã số 430 -
Vốn đầu tư của chủ sở hữu (Mã số 410) Chỉ
tiêu này phản ánh tổng số vốn đã thực góp của các chủ sở hữu và thặng dư vốn cổ
phần, vốn khác (nếu có) của doanh nghiệp tại thời điểm báo
cáo. Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này là số dư Có của TK 411. -
Lợi nhuận sau thuế chưa phân phối (Mã số 420) Chỉ
tiêu này phản ánh số lãi (hoặc lỗ) sau thuế chưa phân phối tại thời điểm báo
cáo. Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này là số dư Có của TK 421. Trường hợp TK 421 có số dư
Nợ thì số liệu chỉ tiêu này được ghi bằng số âm dưới hình thức ghi trong ngoặc
đơn (...). -
Các khoản mục khác thuộc vốn chủ sở hữu (Mã số 430) Chỉ
tiêu này phản ánh giá trị các khoản mục khác thuộc vốn chủ sở hữu ngoài các
khoản đã được phản ánh tại các Mã số 410, 420 nêu trên. Nếu số liệu chỉ tiêu này
là số âm thì ghi trong ngoặc đơn (...). Số
liệu ghi vào chỉ tiêu này là số dư Có TK 418 sau khi trừ đi số dư Nợ TK
419. -
Tổng cộng nguồn vốn (Mã số 500) Phản
ánh tổng số các nguồn vốn hình thành tài sản của doanh nghiệp tại thời điểm báo
cáo. Mã
số 500 = Mã số 300 + Mã số 400. Chỉ
tiêu “Tổng cộng Tài sản Mã số 200” = Chỉ
tiêu “Tổng cộng Nguồn vốn Mã số
500” 2.
Nội dung và phương pháp lập các chỉ tiêu của Báo cáo kết quả hoạt động kinh
doanh (Mẫu số B02 - DNSN) -
Doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ (Mã số
01) Chỉ
tiêu này phản ánh tổng doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ sau khi đã trừ đi
các khoản giảm trừ doanh thu trong kỳ báo cáo. Chỉ tiêu này không bao gồm các
loại thuế gián thu phát sinh khi bán hàng và cung cấp dịch
vụ. Số
liệu của chỉ tiêu này được căn cứ vào số phát sinh bên Nợ TK 511 đối ứng với bên
Có TK 911. -
Giá vốn hàng bán (Mã số 02) Chỉ
tiêu này phản ánh tổng giá vốn của hàng hóa, BĐSĐT, giá vốn của thành phẩm đã
bán, khối lượng dịch vụ đã cung cấp, các chi phí được tính vào giá vốn sau khi
trừ đi các khoản ghi giảm giá vốn hàng bán trong kỳ báo
cáo. Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này là lũy kế số phát sinh bên Có của TK 632 đối ứng
bên Nợ của TK 911. -
Chi phí quản lý kinh doanh (Mã số 03) Chỉ
tiêu này phản ánh tổng chi phí quản lý kinh doanh phát sinh trong kỳ báo
cáo. Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này là tổng số phát sinh bên Có của TK 642, đối ứng với
bên Nợ của TK 911. -
Lãi/lỗ hoạt động tài chính và hoạt động khác (Mã số
04) Chỉ
tiêu này phản ánh số lãi hoặc lỗ phát sinh từ hoạt động tài chính và hoạt động
khác trong kỳ báo cáo. Số
liệu để ghi vào chỉ tiêu này là số chênh lệch giữa tổng số phát sinh bên Có TK
515, 711 (sau khi trừ các khoản điều chỉnh giảm doanh thu hoạt động tài chính,
thu nhập khác) với tổng số phát sinh bên Nợ TK 635, 811 (sau khi trừ các khoản
điều chỉnh giảm chi phí tài chính, chi phí khác). Trường
hợp lỗ thì chỉ tiêu này được ghi bằng số âm dưới hình thức ghi trong ngoặc đơn
(...). -
Lợi nhuận kế toán trước thuế (Mã số 05) Chỉ
tiêu này phản ánh tổng lợi nhuận kế toán trước thuế thực hiện trong kỳ báo cáo
của doanh nghiệp trước khi trừ đi chi phí thuế TNDN. Trường
hợp lỗ thì chỉ tiêu này được ghi bằng số âm dưới hình thức ghi trong ngoặc đơn
(...). Mã
số 05 = Mã số 01 - Mã số 02 - Mã số 03 + Mã số 04. -
Chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp (Mã số 06) Chỉ
tiêu này phản ánh chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp phát sinh trong kỳ báo cáo.
Số liệu để ghi vào chỉ tiêu này được căn cứ vào tổng số phát sinh bên Có TK 821
đối ứng với bên Nợ TK 911 hoặc căn cứ vào số phát sinh bên Nợ TK 821 đối ứng với
bên Có TK 911 trong kỳ báo cáo. -
Lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp (Mã số 07) Chỉ
tiêu này phản ánh tổng số lợi nhuận thuần (hoặc lỗ) sau thuế TNDN từ các hoạt
động của doanh nghiệp (sau khi trừ chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp) phát sinh
trong năm báo cáo. Trường
hợp lỗ thì chỉ tiêu này được ghi bằng số âm dưới hình thức ghi trong ngoặc đơn
(...). Mã
số 07 = Mã số 05 - Mã số 06. 3.
Nội dung và phương pháp lập các chỉ tiêu của Bản thuyết minh báo cáo tài chính
(Mẫu số B09 - DNSN) 3.1.
Đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp Trong
phần này doanh nghiệp cần nêu rõ: a)
Hình thức sở hữu vốn: Công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp
danh hay doanh nghiệp tư nhân. b)
Lĩnh vực kinh doanh: Nêu rõ là sản xuất công nghiệp, kinh doanh thương mại, dịch
vụ, xây lắp hoặc tổng hợp nhiều lĩnh vực kinh doanh. c)
Ngành nghề kinh doanh: Nêu rõ hoạt động kinh doanh chính và đặc điểm sản phẩm
sản xuất hoặc dịch vụ cung cấp của doanh nghiệp. 3.2.
Kỳ kế toán, đơn vị tiền tệ sử dụng trong kế toán a)
Kỳ kế toán năm ghi rõ kỳ kế toán năm theo năm dương lịch bắt đầu từ ngày
01/01/... đến 31/12/... Nếu doanh nghiệp có năm tài chính khác với năm dương
lịch thì ghi rõ ngày bắt đầu và ngày kết thúc kỳ kế toán
năm. b)
Đơn vị tiền tệ sử dụng trong kế toán: Ghi rõ là Đồng Việt
Nam. 3.3.
Chuẩn mực kế toán và Chế độ kế toán áp dụng Tuyên
bố về việc tuân thủ Chuẩn mực kế toán và Chế độ kế toán: Nêu rõ Báo cáo tài
chính có được lập và trình bày phù hợp và có tuân thủ Chuẩn mực kế toán và Chế
độ kế toán doanh nghiệp Việt Nam hay không? 3.4.
Thông tin bổ sung cho các khoản mục trình bày trong Báo cáo tình hình tài
chính: -
Trong phần này, doanh nghiệp phải trình bày và phân tích chi tiết các số liệu đã
được trình bày trong Báo cáo tình hình tài chính để giúp người sử dụng Báo cáo
tài chính hiểu rõ hơn nội dung các khoản mục tài sản, nợ phải trả và vốn chủ sở
hữu. -
Đơn vị tính giá trị trình bày trong phần “Thông tin bổ sung cho các khoản mục
trình bày trong Báo cáo tình hình tài chính” là đơn vị tính được sử dụng trong
Báo cáo tình hình tài chính. Số liệu ghi vào cột “Đầu năm” được lấy từ cột “Cuối
năm” trong Bản thuyết minh Báo cáo tài chính năm trước. Số liệu ghi vào cột
“Cuối năm” được lập trên cơ sở số liệu lấy từ: +
Báo cáo tình hình tài chính năm nay; +
Sổ kế toán tổng hợp; +
Sổ và thẻ kế toán chi tiết hoặc Bảng tổng hợp chi tiết có liên
quan. -
Doanh nghiệp được chủ động đánh số thứ tự của thông tin chi tiết được trình bày
trong phần này theo nguyên tắc phù hợp với số dẫn từ Báo cáo tình hình tài chính
và đảm bảo dễ đối chiếu và có thể so sánh giữa các kỳ. 3.5.
Thông tin bổ sung cho các khoản mục trình bày trong Báo cáo kết quả hoạt động
kinh doanh: -
Trong phần này, doanh nghiệp phải trình bày và phân tích chi tiết các số liệu đã
được thể hiện trong Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh để giúp người sử dụng
Báo cáo tài chính hiểu rõ hơn nội dung của các khoản mục doanh thu, chi
phí. -
Đơn vị tính giá trị trình bày trong phần “Thông tin bổ sung cho các khoản mục
trình bày trong Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh” là đơn vị tính được sử
dụng trong Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh. Số liệu ghi vào cột “Năm trước”
được lấy từ Bản thuyết minh Báo cáo tài chính năm trước. Số liệu ghi vào cột
“Năm nay” được lập trên cơ sở số liệu lấy từ: +
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh năm nay; +
Sổ kế toán tổng hợp; +
Sổ và thẻ kế toán chi tiết hoặc Bảng tổng hợp chi tiết có liên
quan. -
Doanh nghiệp được chủ động đánh số thứ tự của thông tin chi tiết được trình bày
trong phần này theo nguyên tắc phù hợp với số dẫn từ Báo cáo kết quả hoạt động
kinh doanh và đảm bảo dễ đối chiếu và có thể so sánh giữa các
kỳ. -
Trường hợp vì lý do nào đó dẫn đến số liệu ở cột “Năm trước” không có khả năng
so sánh được với số liệu ở cột “Năm sau” thì điều này phải được nêu rõ trong Bản
thuyết minh Báo cáo tài chính. 3.6.
Những thông tin khác mà doanh nghiệp cần thuyết minh Trong
phần này, doanh nghiệp phải trình bày những thông tin quan trọng khác (nếu có)
ngoài những thông tin đã trình bày trên nhằm cung cấp thêm thông tin khác nếu
xét thấy cần thiết giúp cho người sử dụng hiểu Báo cáo tài chính của doanh
nghiệp đã được trình bày trung thực, hợp lý. MỤC
4. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP LẬP BẢNG CÂN ĐỐI TÀI KHOẢN Điều
83. Nội dung và phương pháp lập Bảng cân đối tài khoản (Mẫu số F01 -
DNN) 1.
Mục đích: Phản
ánh tổng quát tình hình tăng giảm và hiện có về tài sản và nguồn vốn của đơn vị
trong kỳ báo cáo và từ đầu năm đến cuối kỳ báo cáo. Số liệu trên Bảng cân đối
tài khoản là căn cứ để kiểm tra việc ghi chép trên sổ kế toán tổng hợp, đồng
thời đối chiếu và kiểm soát số liệu ghi trên Báo cáo tài
chính 2.
Căn cứ và phương pháp ghi sổ: Bảng
cân đối tài khoản được lập dựa trên Sổ Cái và Bảng cân đối tài khoản kỳ
trước. Trước
khi lập Bảng cân đối tài khoản phải hoàn thành việc ghi sổ kế toán chi tiết và
sổ kế toán tổng hợp; kiểm tra, đối chiếu số liệu giữa các sổ có liên
quan. Số
liệu ghi vào Bảng cân đối tài khoản chia làm 2 loại: -
Loại số liệu phản ánh số dư các tài khoản tại thời điểm đầu kỳ (Cột 1,2- Số dư
đầu năm), tại thời điểm cuối kỳ (cột 5, 6 Số dư cuối năm), trong đó các tài
khoản có số dư Nợ được phản ánh vào cột “Nợ”, các tài khoản có số dư Có được
phản ánh vào cột “Có”. -
Loại số liệu phản ánh số phát sinh của các tài khoản từ đầu kỳ đến ngày cuối kỳ
báo cáo (cột 3, 4 Số phát sinh trong tháng) trong đó tổng số phát sinh “Nợ” của
các tài khoản được phản ánh vào cột “Nợ”, tổng số phát sinh “Có” được phản ánh
vào cột “Có”của từng tài khoản. -
Cột A, B: Số hiệu tài khoản, tên tài khoản của tất cả các Tài khoản cấp 1 mà đơn
vị đang sử dụng và một số Tài khoản cấp 2 cần phân tích. -
Cột 1, 2- Số dư đầu năm: Phản ánh số dư ngày đầu tháng của tháng đầu năm (Số dư
đầu năm báo cáo). Số liệu để ghi vào các cột này được căn cứ vào dòng Số dư đầu
tháng của tháng đầu năm trên Sổ Cái hoặc căn cứ vào phần “Số dư cuối năm” của
Bảng cân đối tài khoản năm trước. -
Cột 3, 4: Phản ánh tổng số phát sinh Nợ và tổng số phát sinh Có của các tài
khoản trong năm báo cáo. Số liệu ghi vào phần này được căn cứ vào dòng “Cộng
phát sinh lũy kế từ đầu năm” của từng tài khoản tương ứng trên Sổ
Cái. -
Cột 5, 6 “Số dư cuối năm”: Phản ánh số dư ngày cuối cùng của năm báo cáo. Số
liệu để ghi vào phần này được căn cứ vào số dư cuối tháng của tháng cuối năm báo
cáo trên Sổ Cái hoặc được tính căn cứ vào các cột số dư đầu năm (cột 1, 2), số
phát sinh trong năm (cột 3, 4) trên Bảng cân đối tài khoản năm này. Số liệu ở
cột 5, 6 được dùng để lập Bảng cân đối tài khoản năm sau. Sau
khi ghi đủ các số liệu có liên quan đến các tài khoản, phải thực hiện tổng cộng
Bảng cân đối tài khoản. Số liệu trong Bảng cân đối tài khoản phải đảm bảo tính
cân đối bắt buộc sau đây: Tổng
số dư Nợ (cột 1), Tổng số dư Có (cột 2), Tổng số phát sinh Nợ (cột 3), Tổng số
phát sinh Có (cột 4), Tổng số dư Nợ (cột 5), Tổng số dư Có (cột
6). Chương
IV CHỨNG
TỪ KẾ TOÁN Điều
84. Quy định chung về chứng từ kế toán và hệ thống biểu mẫu chứng từ kế
toán 1.
Chứng từ kế toán áp dụng cho các doanh nghiệp phải thực hiện theo đúng quy định
của Luật Kế toán, Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Kế toán và
các văn bản sửa đổi, bổ sung. 2.
Các loại chứng từ kế toán tại danh mục và biểu mẫu chứng từ kế toán đều thuộc
loại hướng dẫn. Doanh nghiệp được chủ động xây dựng, thiết kế biểu mẫu chứng từ
kế toán phù hợp với đặc điểm hoạt động và yêu cầu quản lý của mình nhưng phải
đáp ứng được các yêu cầu của Luật kế toán và đảm bảo nguyên tắc rõ ràng, minh
bạch, kịp thời, dễ kiểm tra, kiểm soát và đối chiếu. 3.
Trường hợp không tự xây dựng và thiết kế biểu mẫu chứng từ cho riêng mình, doanh
nghiệp có thể áp dụng hệ thống biểu mẫu chứng từ kế toán theo hướng dẫn tại Phụ
lục 3 ban hành kèm theo Thông tư này để ghi chép chứng từ kế toán phù hợp với
đặc điểm hoạt động sản xuất, kinh doanh và yêu cầu quản lý của doanh
nghiệp. 4.
Các doanh nghiệp có các nghiệp vụ kinh tế, tài chính đặc thù thuộc đối tượng
điều chỉnh của các văn bản pháp luật khác thì áp dụng theo quy định về chứng từ
tại các văn bản đó. Điều
85. Lập và ký chứng từ kế toán 1.
Các nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh liên quan đến hoạt động của doanh
nghiệp phải lập chứng từ kế toán. Chứng từ kế toán chỉ được lập một lần cho mỗi
nghiệp vụ kinh tế, tài chính. 2.
Chứng từ kế toán phải được lập rõ ràng, đầy đủ, kịp thời, chính xác theo nội
dung quy định trên mẫu. Trong trường hợp chứng từ kế toán chưa có mẫu thì đơn vị
kế toán được tự thiết kế mẫu chứng từ kế toán nhưng phải bảo đảm đầy đủ các nội
dung quy định của Luật Kế toán. 3.
Nội dung nghiệp vụ kinh tế, tài chính trên chứng từ kế toán không được viết tắt,
không được tẩy xóa, sửa chữa; khi viết phải dùng bút mực, số và chữ viết phải
liên tục, không ngắt quãng, chỗ trống phải gạch chéo. Chứng từ bị tẩy xóa, sửa
chữa không có giá trị thanh toán và ghi sổ kế toán. Khi viết sai chứng từ kế
toán thì phải hủy bỏ bằng cách gạch chéo vào chứng từ viết
sai. 4.
Chứng từ kế toán phải được lập đủ số liên quy định. Trường hợp phải lập nhiều
liên chứng từ kế toán cho một nghiệp vụ kinh tế, tài chính thì nội dung các liên
phải giống nhau. 5.
Chứng từ kế toán phải có đủ chữ ký theo chức danh quy định trên chứng từ. Chữ ký
trên chứng từ kế toán phải được ký bằng loại mực không phai. Không được ký chứng
từ kế toán bằng mực màu đỏ hoặc đóng dấu chữ ký khắc sẵn. Chữ ký trên chứng từ
kế toán của một người phải thống nhất. Người lập, người duyệt và những người
khác ký tên trên chứng từ kế toán phải chịu trách nhiệm về nội dung của chứng từ
kế toán. 6.
Các doanh nghiệp chưa có chức danh kế toán trưởng thì phải cử người phụ trách kế
toán để giao dịch với khách hàng, ngân hàng... Chữ ký kế toán trưởng được thay
bằng chữ ký của người phụ trách kế toán của đơn vị đó. Người phụ trách kế toán
phải thực hiện đúng trách nhiệm và quyền quy định cho kế toán
trưởng. 7.
Chữ ký trên chứng từ kế toán phải do người có thẩm quyền hoặc người được ủy
quyền ký. Nghiêm cấm người có thẩm quyền hoặc được ủy quyền ký chứng từ thực
hiện việc ký chứng từ kế toán khi chưa ghi hoặc chưa ghi đủ nội dung chứng từ
theo trách nhiệm của người ký. 8.
Việc phân cấp ký trên chứng từ kế toán do Tổng Giám đốc (Giám đốc), người đại
diện theo pháp luật của doanh nghiệp quy định phù hợp với luật pháp, yêu cầu
quản lý, đảm bảo kiểm soát chặt chẽ, an toàn tài sản. 9.
Chứng từ kế toán chi tiền phải do người có thẩm quyền duyệt chi và kế toán
trưởng hoặc người được ủy quyền ký trước khi thực hiện. Chữ ký trên chứng từ kế
toán dùng để chi tiền phải ký theo từng liên. 10.
Kế toán trưởng (hoặc người được ủy quyền) không được ký “thừa ủy quyền” của
người đứng đầu doanh nghiệp. Người được ủy quyền không được ủy quyền lại cho
người khác. 11.
Chứng từ điện tử phải có chữ ký điện tử. Chữ ký trên chứng từ điện tử có giá trị
như chữ ký trên chứng từ bằng giấy. Điều
86. Trình tự luân chuyển và kiểm tra chứng từ kế toán 1.
Tất cả các chứng từ kế toán do doanh nghiệp lập hoặc từ bên ngoài chuyển đến đều
phải tập trung tại bộ phận kế toán doanh nghiệp. Bộ phận kế toán kiểm tra những
chứng từ kế toán đó và chỉ sau khi kiểm tra và xác minh tính pháp lý của chứng
từ thì mới dùng những chứng từ đó để ghi sổ kế toán. 2.
Trình tự luân chuyển chứng từ kế toán bao gồm các bước
sau: -
Lập, tiếp nhận, xử lý chứng từ kế toán; -
Kế toán viên, kế toán trưởng kiểm tra và ký chứng từ kế toán hoặc trình người ký
duyệt theo thẩm quyền; -
Phân loại, sắp xếp chứng từ kế toán, định khoản và ghi sổ kế
toán; -
Lưu trữ, bảo quản chứng từ kế toán. 3.
Trình tự kiểm tra chứng từ kế toán. -
Kiểm tra tính rõ ràng, trung thực, đầy đủ của các chỉ tiêu, các yếu tố ghi chép
trên chứng từ kế toán; -
Kiểm tra tính hợp pháp của nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh đã ghi trên
chứng từ kế toán, đối chiếu chứng từ kế toán với các tài liệu khác có liên
quan; -
Kiểm tra tính chính xác của số liệu, thông tin trên chứng từ kế
toán. 4.
Khi kiểm tra chứng từ kế toán nếu phát hiện hành vi vi phạm chính sách, chế độ,
các quy định về quản lý kinh tế, tài chính của Nhà nước, phải từ chối thực hiện
(Không xuất quỹ, thanh toán, xuất kho,…) đồng thời báo ngay cho người quản lý
điều hành doanh nghiệp biết để xử lý kịp thời theo pháp luật hiện hành. Đối với
những chứng từ kế toán lập không đúng thủ tục, nội dung và chữ số không rõ ràng
thì người chịu trách nhiệm kiểm tra hoặc ghi sổ phải trả lại, yêu cầu làm thêm
thủ tục và điều chỉnh sau đó mới làm căn cứ ghi sổ. Điều
87. Dịch chứng từ kế toán ra tiếng Việt, sử dụng, quản lý, in và phát hành biểu
mẫu chứng từ kế toán Các
chứng từ kế toán ghi bằng tiếng nước ngoài, khi sử dụng để ghi sổ kế toán và lập
báo cáo tài chính ở Việt Nam phải được dịch các nội dung chủ yếu quy định tại
Luật Kế toán ra tiếng Việt. Đơn
vị kế toán phải chịu trách nhiệm về tính chính xác và đầy đủ của nội dung được
dịch ra tiếng nước ngoài sang tiếng Việt. Bản chứng từ dịch ra tiếng việt phải
đính kèm với bản chính bằng tiếng nước ngoài. Các
tài liệu kèm theo chứng từ kế toán bằng tiếng nước ngoài như các loại hợp đồng,
hồ sơ kèm theo chứng từ thanh toán, hồ sơ dự án đầu tư, báo cáo quyết toán và
các tài liệu liên quan khác không phải dịch ra tiếng Việt trừ khi có yêu cầu của
cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Các
doanh nghiệp có thể mua sẵn hoặc tự thiết kế mẫu, tự in, nhưng phải đảm bảo các
nội dung chủ yếu của chứng từ quy định tại Luật Kế toán. Chứng
từ phải được bảo quản cẩn thận, không được để hư hỏng, mục nát. Séc và giấy tờ
có giá phải được quản lý như tiền. Các doanh nghiệp có sử dụng chứng từ điện tử
cho hoạt động kinh tế, tài chính và ghi sổ kế toán thì phải tuân thủ theo quy
định của các văn bản pháp luật về chứng từ điện tử. Chương
IV SỔ
KẾ TOÁN VÀ HÌNH THỨC KẾ TOÁN Điều
88. Sổ kế toán 1.
Sổ kế toán dùng để ghi chép, hệ thống và lưu giữ toàn bộ các nghiệp vụ kinh tế,
tài chính đã phát sinh theo nội dung kinh tế và theo trình tự thời gian có liên
quan đến doanh nghiệp. Mỗi doanh nghiệp nhỏ và vừa chỉ có một hệ thống sổ kế
toán cho một kỳ kế toán. Doanh nghiệp nhỏ và vừa phải thực hiện các quy định về
sổ kế toán trong Luật Kế toán, các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Kế toán và
các văn bản hướng dẫn, sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế. 2.
Doanh nghiệp được tự xây dựng biểu mẫu sổ kế toán cho riêng mình nhưng phải đảm
bảo cung cấp thông tin về giao dịch kinh tế một cách minh bạch, đầy đủ, dễ kiểm
tra, dễ kiểm soát và dễ đối chiếu. Trường hợp không tự xây dựng biểu mẫu sổ kế
toán, doanh nghiệp có thể áp dụng biểu mẫu sổ kế toán theo hướng dẫn tại Phụ lục
4 ban hành kèm theo Thông tư này nếu phù hợp với đặc điểm quản lý và hoạt động
kinh doanh của mình. 3.
Tùy theo đặc điểm hoạt động và yêu cầu quản lý, doanh nghiệp được tự xây dựng
hình thức ghi sổ kế toán cho riêng mình trên cơ sở đảm bảo thông tin về các giao
dịch phải được phản ánh đầy đủ, kịp thời, dễ kiểm tra, kiểm soát và đối
chiếu. Điều
89. Trách nhiệm của người giữ và ghi sổ kế toán Sổ
kế toán phải được quản lý chặt chẽ, phân công rõ ràng trách nhiệm cá nhân giữ và
ghi sổ. Sổ kế toán giao cho nhân viên nào thì nhân viên đó phải chịu trách nhiệm
về những điều ghi trong sổ và việc giữ sổ trong suốt thời gian dùng sổ. Khi có
sự thay đổi nhân viên giữ và ghi sổ, kế toán trưởng phải tổ chức việc bàn giao
trách nhiệm quản lý và ghi sổ kế toán giữa nhân viên cũ và nhân viên mới. Biên
bản bàn giao phải được kế toán trưởng ký xác nhận. Điều
90. Mở, ghi sổ kế toán, chữ ký và sửa chữa sổ kế toán 1.
Mở sổ Sổ
kế toán phải mở vào đầu kỳ kế toán năm. Đối với doanh nghiệp mới thành lập, sổ
kế toán phải mở từ ngày thành lập. Người đại diện theo pháp luật và kế toán
trưởng của doanh nghiệp có trách nhiệm ký duyệt các sổ kế toán. Sổ kế toán có
thể đóng thành quyển hoặc để tờ rời. Các tờ sổ khi dùng xong phải đóng thành
quyển để lưu trữ. Trước khi dùng sổ kế toán phải hoàn thiện các thủ tục
sau: -
Đối với sổ kế toán dạng quyển: Trang đầu sổ phải ghi rõ tên doanh nghiệp, tên
sổ, ngày mở sổ, niên độ kế toán và kỳ ghi sổ, họ tên, chữ ký của người giữ và
ghi sổ, của kế toán trưởng và người đại diện theo pháp luật, ngày kết thúc ghi
sổ hoặc ngày chuyển giao cho người khác. Sổ kế toán phải đánh số trang từ trang
đầu đến trang cuối, giữa hai trang sổ phải đóng dấu giáp lai của đơn vị kế
toán. -
Đối với sổ tờ rời: Đầu mỗi sổ tờ rời phải ghi rõ tên doanh nghiệp, số thứ tự của
từng tờ sổ, tên sổ, tháng sử dụng, họ tên người giữ và ghi sổ. Các tờ rời trước
khi dùng phải được giám đốc doanh nghiệp hoặc người được ủy quyền ký xác nhận,
đóng dấu và ghi vào sổ đăng ký sử dụng sổ tờ rời. Các sổ tờ rời phải được sắp
xếp theo thứ tự các tài khoản kế toán và phải đảm bảo sự an toàn, dễ
tìm. 2.
Ghi sổ: Việc ghi sổ kế toán phải căn cứ vào chứng từ kế toán đã được kiểm tra
bảo đảm các quy định về chứng từ kế toán. Mọi số liệu ghi trên sổ kế toán bắt
buộc phải có chứng từ kế toán hợp pháp, hợp lý chứng minh. 3.
Khóa sổ: Cuối kỳ kế toán phải khóa sổ kế toán trước khi lập Báo cáo tài chính.
Ngoài ra phải khóa sổ kế toán trong các trường hợp kiểm kê hoặc các trường hợp
khác theo quy định của pháp luật. 4.
Đối với người ghi sổ thuộc các đơn vị dịch vụ kế toán phải ký và ghi rõ Số chứng
chỉ hành nghề, tên và địa chỉ đơn vị cung cấp dịch vụ kế toán. Người ghi sổ kế
toán là cá nhân hành nghề ghi rõ số chứng chỉ hành nghề. 5.
Khi phát hiện sổ kế toán của kỳ báo cáo có sai sót thì phải sửa chữa bằng phương
pháp phù hợp với quy định của Luật Kế toán. 6.
Trường hợp phát hiện sai sót trong các kỳ trước, doanh nghiệp phải điều chỉnh
hồi tố. Chương
VI TỔ
CHỨC THỰC HIỆN Điều
91. Chuyển đổi số dư trên sổ kế toán 1.
Doanh nghiệp thực hiện chuyển đổi số dư các tài khoản sau: -
Số dư chi tiết về vàng, bạc, kim khí quý, đá quý đang phản ánh trên TK 1113 và
1123 được chuyển sang theo dõi trên các TK 152 - Hàng tồn kho, TK 155 - Thành
phẩm, TK 156 - Hàng hóa (đối với vàng bạc, kim khí quý, đá quý được phân loại là
hàng tồn kho) và TK 2288 - Đầu tư khác (đối với vàng bạc, kim khí quý, đá quý
không được phân loại là hàng tồn kho). -
Số dư các khoản trái phiếu, tín phiếu, kỳ phiếu nắm giữ đến ngày đáo hạn, không
nắm giữ vì mục đích kinh doanh (mua vào để bán ra với mục đích kiếm lời qua
chênh lệch giá mua, bán) đang phản ánh trên TK 121 - Đầu tư tài chính ngắn hạn
được chuyển sang TK 128 - Đầu tư nắm giữ đến ngày đáo hạn
(1288); -
Số dư TK 142 - Chi phí trả trước ngắn hạn được chuyển sang TK 242 - Chi phí trả
trước; -
Số dư chi tiết TK 1388 về ký quỹ, ký cược ngắn hạn và TK 244 - Ký quỹ, ký cược
dài hạn được chuyển sang TK 1386 - Cầm cố, thế chấp, ký quỹ, ký
cược; -
Số dư các khoản dự phòng đang phản ánh trên TK 159, 229 được chuyển sang TK 229
- Dự phòng tổn thất tài sản (chi tiết cho từng TK cấp 2 phù hợp với nội dung dự
phòng); -
Số dư TK 311 - Vay ngắn hạn, TK 315 - Nợ dài hạn đến hạn trả, TK 3411- Vay dài
hạn và TK 3412 - Nợ dài hạn chuyển sang TK 341 - Vay và nợ thuê tài
chính; -
Số dư TK 3414 - Nhận ký quỹ, ký cược dài hạn chuyển sang TK 3386 - Nhận ký quỹ,
ký cược. -
Khoản trích trước chi phí sửa chữa, duy trì cho TSCĐ hoạt động bình thường (đối
với những TSCĐ theo yêu cầu kỹ thuật phải sửa chữa định kỳ), chi phí hoàn nguyên
môi trường, hoàn trả mặt bằng và các khoản có tính chất tương tự đang phản ánh
trên TK 335 - Chi phí phải trả được chuyển sang TK 352 - Dự phòng phải trả (chi
tiết TK 3524). 2.
Các nội dung khác đang phản ánh chi tiết trên các tài khoản có liên quan nếu
trái so với Thông tư này thì phải điều chỉnh lại theo quy định của Thông tư
này. Điều
92. Điều khoản hồi tố 1.
Doanh nghiệp không tiếp tục trích khấu hao đối với bất động sản đầu tư nắm giữ
chờ tăng giá và không phải hồi tố toàn bộ chi phí khấu hao lũy kế đã trích từ
các kỳ trước. 2.
Doanh nghiệp báo cáo lại thông tin so sánh trên Báo cáo tài chính đối với các
chỉ tiêu có sự thay đổi giữa Thông tư này và Chế độ kế toán doanh nghiệp ban
hành theo Quyết định số 48/2006/QĐ-BTC ngày 14/9/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài chính
và thuyết minh lí do là có sự thay đổi trong Chế độ kế toán doanh
nghiệp. Điều
93. Hiệu lực thi hành 1.
Thông tư này có hiệu lực áp dụng cho năm tài chính bắt đầu hoặc sau ngày
1/1/2017. Những quy định trái với Thông tư này đều bãi bỏ. Thông tư này thay thế
các nội dung áp dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Quyết định số
48/2006/QĐ-BTC ngày 14/9/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài chính và Thông tư số
138/2011/TT-BTC ngày 4/10/2011 của Bộ Tài chính. 2.
Các Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân, Sở Tài chính, Cục Thuế các Tỉnh, Thành phố trực
thuộc Trung ương có trách nhiệm triển khai hướng dẫn các doanh nghiệp thực hiện
Thông tư này. Trong quá trình thực hiện nếu có vướng mắc đề nghị phản ánh về Bộ
Tài chính để nghiên cứu giải quyết./. Nơi
nhận: KT.
BỘ TRƯỞNG |
ĐƠN VỊ HỖ TRỢ
|