|
|
KẾ TOÁN - THUẾ - DOANH NGHIỆP - LAO ĐỘNG |
|
|
|
|
BỘ LAO ĐỘNG - THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI ------------ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT
NAM Độc lập - Tự do - Hạnh
phúc ------------------ Số: 59/2015/TT-BLĐTBXH Hà Nội, ngày 29 tháng
12 năm 2015
THÔNG TƯ Quy định chi tiết và hướng
dẫn thi hành một số điều của Luật bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội bắt
buộc ----------- Căn cứ Luật bảo hiểm xã hội ngày 20 tháng 11 năm
2014; Căn
cứ Nghị quyết số 93/2015/QH13 ngày 22 tháng 6 năm 2015 của Quốc hội về việc thực
hiện chính sách hưởng bảo hiểm xã hội một lần đối với người lao
động; Căn cứ Nghị định số 106/2012/NĐ-CP ngày 20 tháng 12 năm
2012 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội; Căn cứ Nghị định số 115/2015/NĐ-CP ngày 11 tháng 11 năm
2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật bảo hiểm xã hội về bảo
hiểm xã hội bắt buộc; Theo đề nghị của Vụ trưởng Vụ Bảo hiểm xã
hội; Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành
Thông tư quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật bảo hiểm
xã hội về bảo hiểm xã hội bắt buộc. Chương I QUY ĐỊNH CHUNG Điều 1. Phạm vi điều
chỉnh Thông
tư này quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội
bắt buộc và hướng dẫn thi hành Nghị định số 115/2015/NĐ-CP ngày 11 tháng 11 năm 2015
của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật bảo hiểm xã hội về bảo hiểm
xã hội bắt buộc (sau đây được viết là Nghị định số 115/2015/NĐ-CP). Điều 2. Đối tượng áp
dụng 1. Người lao động tham gia
bảo hiểm xã hội bắt buộc quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 2 của Nghị
định số 115/2015/NĐ-CP. Người
lao động quy định tại các điểm a, b, c, d, đ và e khoản 1 Điều 2 của Nghị
định số 115/2015/NĐ-CP
được
cử đi học, thực tập, công tác trong và ngoài nước mà vẫn hưởng tiền lương ở
trong nước thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội bắt
buộc. 2.
Người sử dụng lao động quy
định tại khoản
3 Điều 2 của Luật bảo hiểm xã hội. 3. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến bảo hiểm xã
hội bắt buộc. Chương II CÁC CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM XÃ HỘI
BẮT BUỘC Mục 1 CHẾ ĐỘ ỐM ĐAU Điều
3. Điều kiện hưởng chế độ ốm đau 1. Người lao động quy định
tại các điểm a, b,
c, d, đ khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 2 của Nghị
định số 115/2015/NĐ-CP được hưởng chế độ ốm đau trong các trường hợp
sau: a)
Người lao động
bị ốm
đau, tai nạn mà không phải là tai nạn lao động hoặc
điều trị thương tật, bệnh tật tái phát do tai nạn lao động, bệnh nghề
nghiệp
phải
nghỉ việc và có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền theo quy
định của Bộ Y tế. b)
Người lao động
phải
nghỉ việc để chăm sóc con dưới 07 tuổi bị ốm đau và có xác nhận của cơ sở khám
bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền. c) Lao động nữ đi làm trước
khi hết thời hạn nghỉ
sinh con mà thuộc một trong các trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản
này. 2. Không giải quyết chế độ ốm đau đối với các trường hợp
sau đây: a) Người lao động bị
ốm
đau, tai nạn phải nghỉ việc do tự huỷ hoại sức khoẻ, do say rượu hoặc sử dụng
chất ma túy,
tiền chất ma túy theo Danh
mục ban hành
kèm theo Nghị định số 82/2013/NĐ-CP ngày 19 tháng 7 năm 2013 của Chính phủ ban
hành các danh mục chất ma túy và tiền chất và Nghị định số 126/2015/NĐ-CP ngày
09 tháng 12 năm 2015 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung Danh mục các chất ma túy và
tiền chất ban hành kèm theo Nghị định số 82/2013/NĐ-CP ngày 19 tháng 7 năm 2013
của Chính phủ ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất. b)
Người lao động nghỉ việc điều trị lần đầu do tai
nạn lao động,
bệnh nghề nghiệp. c) Người lao động bị ốm đau,
tai nạn mà
không phải là tai nạn lao động trong thời gian đang nghỉ
phép hằng năm, nghỉ việc riêng, nghỉ không hưởng lương theo quy định của pháp
luật lao động; nghỉ việc hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về
bảo hiểm xã hội. Điều 4. Thời gian hưởng chế độ ốm
đau 1. Thời gian tối đa hưởng chế độ ốm đau trong một năm quy
định tại khoản 1 Điều 26 của Luật bảo hiểm xã hội được tính theo ngày làm việc
không kể ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, nghỉ hằng tuần theo quy định của pháp luật
về lao động. Thời gian này được tính kể từ ngày 01 tháng 01 đến ngày 31 tháng
12 của năm dương lịch, không phụ thuộc vào thời điểm bắt đầu tham gia bảo hiểm
xã hội của người lao động. Ví dụ 1: Ông D là công nhân may, chế độ làm việc theo
ca; ông D được bố trí ngày nghỉ hàng tuần như sau: tuần từ ngày 04/01/2016 đến
ngày 10/01/2016 vào ngày thứ Tư ngày 06/01/2016, tuần từ ngày 11/01/2016 đến
ngày 17/01/2016 vào ngày thứ Sáu ngày 15/01/2016. Do bị ốm đau bệnh tật, ông D
phải nghỉ việc điều trị bệnh từ ngày 07/01/2016 đến ngày
17/01/2016. Thời
gian hưởng chế độ ốm đau của ông D được tính từ ngày 07/01/2016 đến ngày
17/01/2016 là 10 ngày (trừ 01 ngày nghỉ hàng tuần
là ngày thứ Sáu ngày 15/01/2016) 2.
Việc xác định người lao động làm nghề
hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại,
nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế ban
hành hoặc làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số từ 0,7 trở lên để tính thời gian tối đa
hưởng chế độ ốm đau trong một năm, được căn cứ vào nghề, công việc và nơi làm
việc của người lao động tại thời điểm người lao động bị ốm đau, tai nạn.
Ví
dụ 2: Bà A, có 13 năm đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, làm việc trong điều kiện
bình thường; từ tháng 01/2016 đến tháng 9/2016 bà A đã nghỉ
việc hưởng chế độ ốm đau đủ 30 ngày. Tháng 10/2016, bà
A chuyển sang làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm. Ngày
25/10/2016, bà A bị ốm đau phải nghỉ 07 ngày làm
việc. Tại thời điểm nghỉ việc (tháng 10/2016), bà A làm nghề
hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm nên thời gian nghỉ việc hưởng chế
độ ốm đau tối đa trong năm của bà A là 40 ngày, tính đến thời điểm ngày
25/10/2016 bà A mới nghỉ hưởng chế độ ốm đau 30 ngày trong năm 2016, do đó thời
gian nghỉ việc 07 ngày do bị ốm đau của bà A được giải quyết hưởng trợ cấp ốm
đau. Ví dụ 3: Bà B có thời gian đóng bảo hiểm xã hội được 10
năm, làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; từ tháng 01/2016 đến tháng
8/2016, đã nghỉ việc hưởng chế độ ốm đau 37 ngày; từ tháng 9/2016 bà B chuyển
sang làm công việc trong điều kiện bình thường. Ngày 26/9/2016, bà B bị ốm đau
phải nghỉ 03 ngày làm việc. Tại thời điểm nghỉ việc do ốm đau (tháng 9/2016), bà B
làm việc trong điều kiện bình thường nên thời gian nghỉ việc hưởng chế độ ốm đau
tối đa trong năm của bà B là 30 ngày; tại thời điểm đó bà B đã hưởng chế độ ốm
đau 37 ngày trong năm 2016, do đó bà B không được hưởng trợ cấp ốm đau đối với
03 ngày nghỉ việc từ ngày 26/9/2016. 3.
Thời gian hưởng chế độ ốm đau đối với người lao động nghỉ
việc do mắc bệnh thuộc Danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày do Bộ Y tế ban hành
quy định tại
khoản 2 Điều 26 của Luật bảo hiểm xã hội và được hướng dẫn cụ thể như sau:
Trường hợp người lao động đã hưởng hết 180 ngày mà vẫn
tiếp tục điều trị thì được hưởng tiếp chế độ ốm đau với mức thấp hơn nhưng thời
gian hưởng tiếp tối đa bằng thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội bắt
buộc. Ví dụ 4: Bà Nguyễn Thị A, có
thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc được 3 tháng, mắc bệnh thuộc danh
mục
bệnh cần chữa trị dài ngày. Thời gian hưởng chế độ ốm
đau tối đa của bà A như sau: - Tối
đa 180 ngày tính cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng
tuần; -
Trường hợp sau
khi hưởng hết
thời hạn 180
ngày mà
vẫn tiếp tục điều trị thì được hưởng tiếp chế độ ốm đau với mức thấp hơn nhưng
thời gian hưởng tối đa bằng 03 tháng. Như vậy, thời gian nghỉ việc hưởng chế độ ốm đau tối đa
của bà A là 180 ngày và 03 tháng. Ví dụ 5: Ông B có thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc
là đủ 1 năm, mắc bệnh cần chữa trị dài ngày. Ông B đã hưởng hết 180 ngày đầu
tiên, sau đó vẫn tiếp tục điều trị thì được
hưởng trợ cấp với mức thấp hơn nhưng tối đa là 1 năm.
Sau khi điều trị
bệnh ổn định, ông B trở lại làm việc và đóng bảo hiểm xã hội đủ 2 năm thì tiếp
tục nghỉ việc để điều trị bệnh (thuộc danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày). Như
vậy, thời gian nghỉ việc hưởng chế độ ốm đau tối đa của lần điều trị này đối với
ông B sẽ là 180 ngày và 3 năm (thời
gian đóng bảo hiểm xã hội để tính thời gian hưởng tối đa sau khi đã nghỉ hết 180
ngày là tổng thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội). 4. Trường hợp người lao động bị ốm đau, tai nạn mà không
phải là tai nạn lao động trong thời gian đang nghỉ phép hằng năm, nghỉ việc
riêng, nghỉ không hưởng lương theo quy định của pháp luật lao động thì thời gian
ốm đau, tai nạn trùng với thời gian nghỉ phép hằng năm, nghỉ việc riêng, nghỉ
không hưởng lương không được tính hưởng trợ cấp ốm đau; thời gian nghỉ việc do
bị ốm đau, tai nạn ngoài thời gian nghỉ phép hằng năm, nghỉ việc riêng, nghỉ
không hưởng lương được tính hưởng chế độ ốm đau theo quy
định. 5. Trường hợp người lao động có thời gian nghỉ việc hưởng
chế độ ốm đau từ cuối năm trước chuyển tiếp sang đầu năm sau thì thời gian nghỉ
hưởng chế độ ốm đau của năm nào tính vào thời gian hưởng chế độ ốm đau của năm
đó. Điều 5. Thời gian hưởng chế độ khi con ốm
đau 1.
Thời gian tối đa hưởng chế độ khi con ốm đau trong một năm cho mỗi con quy định
tại khoản 1 Điều 27 của Luật bảo hiểm xã hội được
tính theo ngày làm việc không kể ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, nghỉ hằng tuần theo quy
định. Thời gian này được tính kể từ ngày 01 tháng 01 đến ngày 31 tháng 12 của
năm dương lịch, không phụ thuộc vào thời điểm bắt đầu tham gia bảo hiểm xã hội
của người lao động. a) Trường hợp trong cùng một
thời gian người lao động có từ 2 con trở lên dưới 7 tuổi bị ốm đau, thì thời
gian hưởng chế độ khi con ốm đau được tính bằng thời gian thực tế người lao động
nghỉ việc chăm sóc con ốm đau; thời gian tối đa người lao động nghỉ việc trong
một năm cho mỗi con được thực hiện theo quy định tại khoản
1 Điều 27 của Luật bảo hiểm xã hội. Ví
dụ 6: Bà A đang tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, có 2 con dưới 7 tuổi bị ốm
đau với thời gian như sau: con thứ nhất bị ốm từ ngày 04/01 đến ngày 10/01/2016,
con thứ hai bị ốm từ ngày 07/01 đến ngày 13/01/2016, bà A phải nghỉ việc để chăm
sóc 2 con ốm đau. Ngày nghỉ hàng tuần của bà A là ngày Chủ nhật. Thời gian hưởng
chế độ khi con ốm đau của bà A được tính từ ngày 04 đến ngày 13 tháng 01 năm
2016 là 09 ngày (trừ 01 ngày nghỉ hàng tuần là Chủ nhật). b)
Trường hợp cả cha và mẹ cùng tham gia bảo hiểm xã hội thì tùy theo điều kiện của
mỗi người để luân phiên nghỉ việc chăm sóc con ốm đau, thời gian tối đa
hưởng
chế độ khi con ốm đau trong
một năm
của
người cha hoặc người mẹ cho mỗi con theo
quy
định tại khoản 1 Điều 27 của Luật bảo hiểm xã hội. Ví dụ
7: Hai vợ chồng bà B đều đang tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc. Ngày nghỉ hàng tuần của vợ
chồng bà B là ngày Chủ nhật. Con
bà B được 5 tuổi, bị ốm phải điều trị ở bệnh viện thời gian từ ngày 11/01 đến
ngày 05/02/2016. Do điều kiện công việc, vợ
chồng bà B phải bố trí thay nhau nghỉ chăm sóc con như
sau: - Bà B nghỉ chăm con từ ngày 11/01 đến ngày 17/01/2016 và
từ ngày 25/01 đến ngày 05/02/2016; - Chồng bà B nghỉ chăm con từ ngày 18/01 đến ngày
24/01/2016. Như
vậy, thời gian
hưởng chế độ khi con ốm đau của vợ chồng bà B được tính như
sau: + Đối với bà B: tổng số ngày nghỉ chăm sóc con là 19
ngày, trừ 02 ngày nghỉ hàng tuần vào ngày Chủ nhật, còn lại 17 ngày. Tuy nhiên,
do con bà B đã được 5 tuổi nên thời gian nghỉ việc hưởng chế độ khi con ốm đau
trong một năm tối đa là 15 ngày. Do vậy, thời gian hưởng chế độ khi con ốm đau
của bà B được tính hưởng là 15 ngày. + Đối với chồng bà B: tổng số ngày nghỉ chăm sóc con là 7
ngày, trừ 01 ngày nghỉ hàng tuần vào ngày Chủ nhật, còn lại 06 ngày. Do vậy,
thời gian hưởng chế độ khi con ốm đau của chồng bà B được tính hưởng là 06
ngày. c) Trường
hợp cả cha và mẹ cùng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, cùng nghỉ việc để chăm
sóc con ốm đau thì cả cha và mẹ đều được giải quyết hưởng chế độ khi con ốm đau;
thời gian tối đa hưởng
chế độ khi con ốm đau trong
một năm
của
người cha hoặc người mẹ cho mỗi con theo
quy
định tại khoản 1 Điều 27 của Luật bảo hiểm xã hội. Ví dụ 8: Hai vợ chồng chị T đều tham gia bảo hiểm xã hội
bắt buộc, có con trai 5 tuổi bị ốm phải nằm viện điều trị bệnh từ ngày 07/3/2016
đến ngày 11/3/2016. Trong thời gian con phải nằm viện điều trị bệnh, cả hai vợ
chồng chị T đều nghỉ việc để chăm sóc con. Trong trường hợp này, cả hai vợ chồng chị T đều được giải
quyết hưởng chế độ khi con ốm đau với thời gian là 05
ngày. Điều 6. Mức hưởng chế độ ốm
đau 1.
Mức
hưởng chế độ ốm đau theo
quy định tại khoản 1
Điều
26
và
Điều 27 của Luật bảo
hiểm xã hội được tính như sau:
- Số ngày nghỉ việc được hưởng chế độ ốm đau được tính
theo ngày làm việc không kể ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng
tuần. 2.
Mức hưởng chế độ ốm đau đối với người lao động nghỉ
việc do mắc bệnh thuộc danh
mục bệnh cần chữa trị dài ngày theo quy
định tại khoản 2
Điều 26 của Luật bảo
hiểm xã hội
được tính như sau:
Trong đó: a)
Tỷ lệ hưởng chế độ ốm đau được tính bằng 75% đối với thời gian hưởng chế độ ốm
đau của người lao động trong 180 ngày đầu. Sau khi hưởng hết thời gian 180 ngày
mà
vẫn tiếp tục điều trị thì tỷ lệ hưởng chế độ ốm đau
cho thời gian tiếp theo được tính như sau: -
Bằng
65% nếu người
lao động đã
đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 30 năm trở lên; -
Bằng 55% nếu người lao động
đã đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 15 năm đến dưới 30
năm; - Bằng
50% nếu người
lao động đã
đóng bảo hiểm xã hội dưới 15 năm. b)
Tháng nghỉ
việc hưởng chế độ ốm đau được tính từ ngày bắt đầu nghỉ việc hưởng chế độ ốm đau
của tháng đó đến ngày trước liền kề của tháng sau liền kề. Trường
hợp có ngày lẻ không trọn tháng thì cách tính mức hưởng chế độ ốm đau cho những
ngày này như sau:
Trong đó: -
Tỷ lệ hưởng chế
độ ốm đau theo quy định tại điểm a khoản này. -
Số ngày nghỉ
việc hưởng chế độ ốm đau tính cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hàng
tuần. Ví dụ 9: Bà N đang tham gia
bảo hiểm xã hội bắt buộc, bị ốm đau phải nghỉ
việc do mắc bệnh thuộc danh
mục bệnh cần chữa trị dài ngày từ ngày 28/3/2016 đến ngày
05/6/2016. -
Số tháng
nghỉ việc hưởng chế độ ốm đau của bà N là 2 tháng (từ 28/3 đến
27/5/2016); -
Số ngày lẻ không trọn tháng của bà N là 09 ngày (từ ngày 28/5 đến ngày
05/6/2016). 3. Trường
hợp người lao động bị ốm đau, tai nạn mà không
phải tai nạn lao động hoặc nghỉ việc hưởng chế độ khi con ốm đau ngay trong
tháng đầu thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc mà thời gian nghỉ việc từ
14 ngày làm việc trở lên trong tháng thì
mức hưởng chế
độ ốm đau được tính trên tiền
lương tháng làm
căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của
chính
tháng
đó. Ví dụ 10: Bà Ch được tuyển
dụng vào làm việc tại một cơ quan từ ngày 01/6/2016. Ngày 06/6/2016 bà Ch bị tai
nạn rủi ro phải nghỉ việc để điều trị đến hết tháng 6/2016. Bà Ch được cơ quan
đăng ký tham gia bảo
hiểm xã hội với
tiền lương tháng làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội là 5 triệu
đồng. Trường hợp
bà Ch được giải quyết hưởng chế độ ốm đau, mức hưởng chế độ ốm đau được tính
trên mức tiền lương tháng là 5 triệu đồng. 4.
Người lao động nghỉ việc hưởng trợ cấp ốm đau từ 14 ngày làm việc trở lên trong
tháng thì người lao động và người sử dụng lao động không phải đóng bảo hiểm xã
hội tháng đó. Thời gian này không được tính để hưởng bảo hiểm xã
hội. 5. Trong thời gian người lao
động nghỉ
việc hưởng trợ cấp ốm đau do bị mắc bệnh thuộc Danh mục bệnh cần chữa trị dài
ngày, người lao động được hưởng bảo hiểm y tế do quỹ bảo hiểm xã hội đóng cho
người lao động. 6. Không điều chỉnh mức hưởng chế độ ốm đau khi Chính phủ
điều chỉnh mức lương cơ sở, mức lương tối thiểu
vùng. Điều 7. Dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau khi ốm
đau 1. Người lao động đã hưởng
chế độ ốm đau từ đủ 30 ngày trở lên trong năm, kể cả người lao động mắc
bệnh thuộc Danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày do Bộ Y tế ban hành, trong khoảng thời gian 30
ngày đầu trở lại làm việc mà sức khoẻ chưa phục hồi thì được nghỉ dưỡng sức,
phục hồi sức khoẻ theo quy định tại Điều 29 của Luật bảo hiểm xã
hội. Ví dụ 11: Ông Ph đang tham gia bảo hiểm xã hội theo chức
danh nghề nặng nhọc, tính đến hết tháng 7/2016 đã nghỉ việc hưởng chế độ ốm đau
(bệnh không thuộc Danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày) được 35 ngày, sau khi đi
làm trở lại được một tuần thấy sức khỏe còn yếu, ông Ph được công ty quyết định
cho nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe 05 ngày. Tháng 9/2016, ông Ph bị ốm đau
phải phẫu thuật, nghỉ việc hưởng chế độ ốm đau 07 ngày thì quay trở lại làm việc
nhưng sức khỏe chưa phục hồi. Trường hợp ông Ph tính đến thời điểm tháng 9/2016 đã nghỉ
việc hưởng chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau khi ốm đau (ốm đau không
thuộc Danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày) được 05 ngày. Do vậy, khi quay trở
lại làm việc sau thời gian nghỉ việc hưởng chế độ ốm đau phải phẫu thuật mà sức
khỏe chưa phục hồi thì ông Ph được nghỉ việc hưởng chế độ dưỡng sức, phục hồi
sức khỏe sau khi ốm đau với thời gian tối đa là 02 ngày (dưỡng sức, phục hồi sức
khỏe sau khi ốm đau do phải phẫu thuật tối đa là 07 ngày nhưng trước đó ông Ph
đã nghỉ hưởng chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau khi ốm đau là 05 ngày).
2. Người lao động đủ điều kiện nghỉ dưỡng sức, phục hồi
sức khỏe trong năm nào thì thời gian nghỉ việc hưởng dưỡng sức, phục hồi sức
khỏe được tính cho năm đó.
Ví
dụ 12: Bà D phải nghỉ việc để điều trị bệnh thuộc danh mục bệnh cần chữa trị dài
ngày từ ngày 01/8/2016 đến hết ngày 10/12/2016 (trong năm 2016 bà D chưa nghỉ
dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau ốm đau). Từ ngày 11/12/2016, bà D trở lại tiếp
tục làm việc đến ngày 04/01/2017 do sức khỏe chưa phục hồi nên bà D được đơn vị
giải quyết nghỉ việc hưởng dưỡng sức phục hồi sức khỏe 10
ngày. Trường
hợp bà D được nghỉ hưởng dưỡng sức, phục hồi sức khỏe 10 ngày và thời gian nghỉ
này được tính cho năm 2016. 3.
Trường hợp người lao động không nghỉ việc thì không được hưởng chế độ dưỡng sức,
phục hồi sức khỏe. Điều
8. Hồ sơ, giải
quyết hưởng chế độ ốm đau 1. Hồ sơ, giải quyết hưởng chế độ ốm đau thực hiện theo
quy định tại Điều 100 và Điều 102 của Luật bảo hiểm xã
hội. 2.
Người lao động có trách nhiệm nộp hồ sơ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 100
của Luật bảo hiểm xã hội cho người sử dụng lao động nhưng không quá 45 ngày kể
từ ngày trở lại làm việc. Mục 2 CHẾ ĐỘ THAI
SẢN Điều 9. Điều kiện hưởng chế độ thai
sản Điều kiện hưởng chế độ thai sản của lao động nữ sinh con,
lao động nữ mang thai hộ, người mẹ nhờ mang thai hộ và người lao động nhận nuôi
con nuôi dưới 6 tháng tuổi được quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 31 của Luật
bảo hiểm xã hội; khoản 3 Điều 3 và khoản 1 Điều 4 của Nghị định số
115/2015/NĐ-CP và được hướng dẫn cụ thể như sau: 1. Thời gian 12 tháng trước khi sinh con hoặc nhận nuôi
con nuôi được xác định như sau: a) Trường hợp sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi trước ngày
15 của tháng, thì tháng sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi không tính vào thời
gian 12 tháng trước khi sinh con hoặc nhận nuôi con
nuôi. b) Trường
hợp sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi từ ngày 15 trở đi của tháng và tháng đó có
đóng bảo hiểm xã hội, thì tháng sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi được tính vào
thời gian 12 tháng trước khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi. Trường hợp tháng
đó không đóng bảo hiểm xã hội thì thực hiện theo quy định tại điểm a khoản
này. Ví dụ 13: Chị A sinh con ngày 18/01/2017 và tháng 01/2017
có đóng bảo hiểm xã hội, thời gian 12 tháng trước khi sinh con được tính từ
tháng 02/2016 đến tháng 01/2017, nếu trong thời gian này chị A đã đóng bảo hiểm
xã hội từ đủ 6 tháng trở lên hoặc từ đủ 3 tháng trở lên trong trường hợp khi
mang thai phải nghỉ việc để dưỡng thai theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa
bệnh có thẩm quyền thì chị A được hưởng chế độ thai sản theo quy
định. Ví
dụ 14: Tháng 8/2017, chị B chấm dứt hợp đồng lao động và sinh con ngày
14/12/2017, thời gian 12 tháng trước khi sinh con được tính từ tháng 12/2016 đến
tháng 11/2017, nếu trong thời gian này chị B đã đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 6
tháng trở lên hoặc từ đủ 3 tháng trở lên trong trường hợp khi mang thai phải
nghỉ việc để dưỡng thai theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm
quyền thì chị B được hưởng chế độ thai sản theo quy định. 2. Điều kiện hưởng trợ cấp một lần khi sinh con được
hướng dẫn cụ thể như sau: a)
Đối với trường hợp chỉ có cha tham gia bảo hiểm xã hội thì cha phải đóng bảo
hiểm xã hội từ
đủ 06 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh
con; b)
Đối với người
chồng của người mẹ nhờ mang thai hộ phải đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 06 tháng trở
lên trong thời gian 12 tháng tính đến thời điểm nhận
con. 3.
Trong
thời gian đi
làm trước khi hết thời hạn nghỉ
sinh con mà lao động nữ phải nghỉ
việc để khám thai, sẩy thai, nạo, hút thai, thai chết lưu, phá thai bệnh lý,
thực hiện các biện pháp tránh thai thì được hưởng chế độ thai sản
theo quy định tại các điều 32, 33 và 37 của Luật bảo hiểm xã hội. Điều 10. Thời gian hưởng chế độ thai
sản 1. Lao động nữ sinh con được nghỉ việc hưởng chế độ thai
sản trước và sau khi sinh con theo quy định tại khoản 1 Điều 34 của Luật bảo
hiểm xã hội và được hướng dẫn cụ thể như sau: a) Trong thời gian lao động nữ nghỉ việc hưởng chế độ
thai sản trước khi sinh mà thai chết lưu, nếu lao động nữ đủ điều kiện quy định
tại khoản 2 Điều 31 của Luật bảo hiểm xã hội thì ngoài chế độ thai sản đối với
thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản trước khi sinh, lao động nữ được nghỉ
việc hưởng chế độ quy định tại Điều 33 của Luật bảo hiểm xã hội tính từ thời
điểm thai chết lưu. Ví dụ 15: Chị C liên tục
tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc được 3 năm, mang thai đến tháng thứ 8 thì nghỉ
việc hưởng chế độ thai sản trước khi sinh, một tháng sau khi nghỉ việc thì thai
bị chết lưu. Như vậy, chị C ngoài việc được hưởng chế độ thai sản cho đến khi
thai chết lưu, còn được nghỉ việc hưởng chế độ thai
sản theo chỉ định của cơ sở
khám bệnh, chữa bệnh
có thẩm quyền nhưng tối đa không quá 50 ngày tính
cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần. b) Trường hợp lao động nữ nghỉ hưởng chế độ thai sản
trước khi sinh, sau khi sinh con mà con bị chết, nếu lao động nữ đủ điều kiện
quy định tại khoản 2 Điều 31 của Luật bảo hiểm xã hội thì ngoài chế độ thai sản
đối với thời gian nghỉ hưởng chế độ thai sản trước khi sinh, lao động nữ được
hưởng chế độ quy định tại khoản 3 Điều 34 của Luật bảo hiểm xã
hội. 2.
Trường
hợp mẹ chết sau khi sinh con thì cha hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng hưởng chế
độ thai sản quy định tại các khoản 4, 5 và 6 Điều 34 của Luật bảo hiểm xã hội và
được hướng dẫn cụ thể như sau: a)
Trường
hợp chỉ có mẹ tham gia bảo hiểm xã hội mà mẹ chết sau khi sinh con thì cha hoặc
người trực tiếp nuôi dưỡng được hưởng chế độ thai sản đối với thời gian còn lại
của người mẹ. Mức hưởng chế độ thai sản được tính trên cơ sở mức
bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của 06 tháng trước khi nghỉ việc
hưởng chế độ thai sản
của người mẹ. b)
Trường hợp cả cha và mẹ đều tham gia bảo hiểm xã hội mà mẹ chết sau khi sinh con
thì cha được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản đối với thời gian còn lại của người
mẹ. Mức
hưởng chế độ thai sản được tính trên cơ sở mức
bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của 06 tháng trước khi nghỉ việc
hưởng chế độ thai sản của người cha. c)
Trường
hợp chỉ có mẹ tham gia bảo hiểm xã hội nhưng không
đủ điều kiện quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều 31 của Luật bảo hiểm xã hội
mà chết thì cha hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng được hưởng chế độ thai sản cho
đến khi con đủ 06 tháng tuổi.
Mức hưởng chế độ thai sản được tính trên cơ sở mức
bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của các tháng đã đóng bảo hiểm
xã hội
của người mẹ. d)
Trường hợp cả cha và mẹ đều tham gia bảo hiểm xã hội nhưng người mẹ không đủ
điều kiện quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều 31 của Luật bảo hiểm xã hội mà
chết thì cha được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản cho đến khi con đủ 06 tháng
tuổi. Mức
hưởng chế độ thai sản được tính trên cơ sở mức
bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của 06 tháng trước khi nghỉ việc
hưởng chế độ thai sản của người cha. đ)
Trường
hợp cha hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng quy định tại điểm b và điểm d khoản này
mà không nghỉ việc thì ngoài tiền lương vẫn được hưởng chế
độ thai sản. Mức hưởng chế độ thai sản được tính trên cơ sở mức
bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của 06 tháng trước khi nghỉ việc
hưởng chế độ thai sản
của người mẹ. e)
Trường
hợp chỉ có cha tham gia bảo hiểm xã hội mà mẹ chết sau khi sinh con hoặc gặp rủi
ro sau khi sinh mà không còn đủ sức khỏe để chăm sóc con theo xác nhận của
cơ sở
khám bệnh, chữa bệnh
có thẩm quyền thì cha được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản cho đến khi con đủ 06
tháng tuổi. Mức hưởng chế độ thai sản được tính trên cơ sở mức
bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của 06 tháng trước khi nghỉ việc
hưởng chế độ thai sản của người cha. g)
Đối với trường hợp quy định tại các điểm b, d và e khoản này mà người cha đóng
bảo hiểm xã hội chưa đủ 06 tháng thì mức hưởng chế độ thai sản được tính trên cơ
sở mức
bình quân tiền lương tháng của các tháng đã đóng bảo hiểm xã hội. 3. Trường hợp lao động nữ mang thai đôi trở lên mà khi
sinh nếu có thai bị chết hoặc chết lưu thì chế độ thai sản được giải quyết đối
với con còn sống. Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản khi sinh con của lao
động nữ được tính theo số con được sinh ra, bao gồm cả con bị chết hoặc chết
lưu. Trường hợp tất cả các thai đều chết lưu thì thời gian
được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản được thực hiện theo quy định tại Điều 33
của Luật bảo hiểm xã hội đối với từng thai chết lưu, không tính trùng thời gian
hưởng. Trường
hợp tất cả các thai đều bị chết sau khi sinh thì thời gian được nghỉ việc hưởng
chế độ thai sản được thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 34 của Luật bảo
hiểm xã hội, áp dụng đối với con chết sau cùng. Điều
11. Thời gian hưởng chế độ khi nhận nuôi con
nuôi Người
lao động nhận nuôi con nuôi dưới 06
tháng
tuổi thì được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản theo quy định tại Điều 36 của Luật
bảo hiểm xã hội. Trường hợp người lao động đủ điều kiện hưởng chế độ thai sản
quy định tại khoản 2 Điều 31 của Luật bảo hiểm xã hội nhưng không nghỉ việc thì
chỉ được hưởng trợ cấp một lần quy định tại Điều 38 của Luật bảo hiểm xã
hội. Điều 12. Mức hưởng chế độ thai
sản 1. Mức hưởng chế độ thai sản được thực hiện theo quy định
tại khoản 1 Điều 39 của Luật bảo hiểm xã hội và được hướng dẫn cụ thể như
sau: a) Mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội
làm cơ sở tính hưởng chế độ thai sản là mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo
hiểm xã hội của 6 tháng liền kề gần nhất trước khi nghỉ việc. Nếu thời gian đóng
bảo hiểm xã hội không liên tục thì được cộng dồn. Trường hợp lao động nữ đi
làm cho đến thời điểm sinh con mà tháng sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi được
tính
vào thời gian 12 tháng trước khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi thì mức
bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của 6 tháng trước khi nghỉ việc,
bao gồm cả tháng sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi. Ví dụ 16: Chị C sinh con vào ngày 16/3/2016, có quá trình
đóng bảo hiểm xã hội như sau: - Từ tháng 10/2015 đến tháng 01/2016 (4 tháng) đóng bảo
hiểm xã hội với mức lương 5.000.000 đồng/tháng; - Từ tháng 02/2016 đến tháng 3/2016 (2 tháng) đóng bảo
hiểm xã hội với mức lương 6.500.000 đồng/tháng. Mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của 6
tháng liền kề trước khi nghỉ việc của chị C được tính như
sau:
Như
vậy, mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của 6 tháng liền kề
trước khi nghỉ việc để làm cơ sở tính hưởng chế độ thai sản của chị C là
5.500.000
đồng/tháng. Ví
dụ 17: Chị D sinh con ngày 13/5/2017 (thuộc trường hợp khi mang thai phải nghỉ
việc để dưỡng thai theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm
quyền),
có
quá trình đóng bảo hiểm xã hội như sau: - Từ tháng 5/2014 đến tháng 4/2016 (24 tháng) đóng bảo
hiểm xã hội với mức lương 8.500.000 đồng/tháng; - Từ tháng 5/2016 đến tháng 8/2016 (4 tháng) đóng bảo
hiểm xã hội với mức lương 7.000.000 đồng/tháng; - Từ tháng 9/2016 đến tháng 4/2017 (8 tháng), nghỉ dưỡng
thai, không đóng bảo hiểm xã hội. Mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của 6
tháng liền kề trước khi nghỉ việc của chị D được tính như
sau: = Mức bình quân tiền lương
tháng đóng bảo hiểm xã hội của 6 tháng liền kề trước khi nghỉ
việc (7.000.000 x 4) + (8.500.000 x
2) 6
= 7.500.000
(đồng/tháng) Như
vậy, mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của 6 tháng liền kề
trước khi nghỉ việc để làm cơ sở tính hưởng chế độ thai sản của chị D là
7.500.000
đồng/tháng. b)
Đối với trường hợp người lao động hưởng chế độ thai sản theo quy định tại Điều
32, Điều 33, các khoản 2, 4, 5 và 6 Điều 34, Điều 37 của Luật bảo hiểm xã hội
ngay trong tháng đầu thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội thì mức hưởng chế độ
thai sản được tính trên tiền
lương tháng làm
căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của
chính
tháng
đó. 2. Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản từ 14 ngày
làm việc trở lên trong tháng được tính là thời gian đóng bảo hiểm xã hội quy
định tại khoản 2 Điều 39 của Luật bảo hiểm xã hội được hướng dẫn như
sau: a)
Trường hợp hợp đồng lao động hết thời hạn trong thời gian người lao động nghỉ
việc hưởng chế độ thai sản thì thời gian hưởng chế độ thai sản từ khi nghỉ việc
đến khi hợp đồng lao động hết thời hạn được tính là thời gian đóng bảo hiểm xã
hội, thời gian hưởng chế độ thai sản sau khi hợp đồng lao động hết thời hạn
không được tính
là thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội. b)
Thời gian hưởng chế độ thai sản của người lao động chấm dứt hợp
đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc thôi việc trước thời điểm sinh con hoặc
nhận con nuôi dưới 06 tháng tuổi quy định tại khoản 4 Điều 31 của Luật bảo hiểm
xã hội không được tính là thời gian đã đóng bảo hiểm xã
hội. c)
Trường hợp lao động nữ đi làm trước khi hết thời hạn nghỉ sinh con theo quy định
thì thời
gian hưởng chế độ thai sản từ khi nghỉ việc đến khi đi làm trước khi hết thời
hạn nghỉ sinh được tính là thời gian đóng bảo hiểm xã hội, kể từ thời điểm đi
làm trước
khi hết thời hạn nghỉ sinh con thì
lao động nữ vẫn được hưởng chế độ thai sản cho đến khi hết thời hạn quy định tại
khoản 1 hoặc khoản 3 Điều 34 của Luật bảo hiểm xã hội nhưng người lao động và
người sử dụng lao động phải đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế.
d) Trường hợp người cha hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng,
người mẹ nhờ mang thai hộ, người cha nhờ mang thai hộ hoặc người trực tiếp nuôi
dưỡng hưởng chế độ thai sản mà không nghỉ việc thì người lao động và người sử
dụng lao động vẫn phải đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y
tế. 3. Mức hưởng chế độ thai sản của người lao động không
được điều chỉnh khi Chính phủ điều chỉnh tăng mức lương cơ sở, mức lương tối
thiểu vùng. 4. Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản được tính là
thời gian đóng bảo hiểm xã hội quy định tại khoản 2 Điều này, được ghi theo mức
tiền lương đóng bảo hiểm xã hội của tháng trước khi nghỉ việc hưởng chế độ thai
sản. Trường hợp trong thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản người lao động
được nâng lương thì được ghi theo mức tiền lương mới của người lao động từ thời
điểm được nâng lương. Người
lao động đang làm
nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc
đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm
thuộc
danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế ban hành hoặc làm việc
ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên nghỉ việc hưởng chế độ thai sản thì
thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản được tính là thời gian làm nghề hoặc
công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc
đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm
hoặc
làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở
lên. Điều 13. Dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau thai
sản 1. Lao động nữ, lao động nữ mang thai hộ được nghỉ việc
hưởng chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe theo quy định tại Điều 41 của Luật bảo
hiểm xã hội và điểm c khoản 3 Điều 3 của Nghị định số 115/2015/NĐ-CP.
2. Lao động nữ đủ điều kiện nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức
khỏe trong năm nào thì thời gian nghỉ việc hưởng dưỡng sức, phục hồi sức khỏe
được tính cho năm đó. Ví
dụ 18: Chị Th đang tham gia bảo hiểm xã
hội bắt buộc, ngày 15/12/2016 trở lại làm việc sau thời gian nghỉ việc hưởng chế
độ thai sản khi sinh con, đến ngày 10/01/2017 do sức khỏe chưa phục hồi nên chị
Th được cơ quan giải quyết nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe 05 ngày.
Trường hợp chị Th được nghỉ việc hưởng
dưỡng sức, phục hồi sức khỏe 05 ngày và thời gian nghỉ này được tính cho năm
2016.
Điều
14. Hồ sơ, giải
quyết hưởng chế độ thai sản 1. Hồ sơ, giải quyết hưởng chế độ ốm đau thực hiện theo
quy định tại Điều 101, Điều 102 của Luật bảo hiểm xã hội và Điều 5 của Nghị định
số 115/2015/NĐ-CP. 2. Người lao động có trách nhiệm nộp hồ sơ theo quy định
cho người sử dụng lao động nhưng không quá 45 ngày kể từ ngày trở lại làm
việc. Trường
hợp người lao động chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc thôi việc
trước thời điểm sinh con, thời điểm nhận con, thời điểm nhận nuôi con nuôi thì
nộp hồ sơ và xuất trình sổ bảo hiểm xã hội cho cơ quan bảo hiểm xã hội nơi cư
trú. Mục 3 CHẾ ĐỘ HƯU TRÍ Điều 15. Điều
kiện hưởng lương hưu 1. Người lao động từ đủ 50 tuổi trở lên khi nghỉ việc
được hưởng lương hưu nếu có đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên mà trong đó
có đủ 15 năm làm công việc khai thác than trong hầm lò quy định tại Phụ lục ban
hành kèm theo Thông tư này. 2.
Người
lao động nam từ đủ 55 tuổi đến đủ 60 tuổi, nữ từ đủ 50 tuổi đến đủ 55
tuổi khi
nghỉ việc có đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên
mà trong đó có tổng thời gian làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy
hiểm hoặc
đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm
thuộc
danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế ban hành và thời gian
làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên từ đủ 15 năm trở lên thì
được hưởng lương hưu. Ví dụ 19: Ông N có 30 năm đóng bảo hiểm xã hội, trong đó
từ tháng 01/1998 đến tháng 12/2007 làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại,
nguy hiểm; từ tháng 01/2008 đến tháng 3/2016 ông N chuyển địa điểm làm việc đến
nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 (vẫn làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc
hại, nguy hiểm). Ông N nghỉ việc từ tháng 4/2016, khi ông đủ 57
tuổi. Trường hợp ông N có tổng thời gian làm
nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và
thời gian làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên là 18 năm 03 tháng
(từ tháng 01/1998 đến tháng 12/2007 và từ tháng 01/2008 đến tháng 3/2016). Tại
thời điểm nghỉ việc, ông N đủ điều kiện hưởng lương hưu, không cần điều kiện
phải suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên. 3.
Điều kiện hưởng lương hưu đối với lao
động nữ là người hoạt động chuyên trách hoặc không chuyên trách ở xã, phường,
thị trấn quy định tại khoản 3 Điều 54 của Luật bảo hiểm xã hội, được hướng dẫn
cụ thể như sau: a) Việc xác định là người hoạt động chuyên trách hoặc
không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn được căn cứ vào thời điểm trước khi
nghỉ việc hưởng chế độ bảo hiểm xã hội; b) Thời gian đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 15 năm đến dưới
20 năm là thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc. Ví
dụ 20: Bà Th có quá trình công tác từ tháng 01/1998 làm giáo viên dạy cấp 1 đến
tháng 4/2012 chuyển sang làm Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ
nữ Việt Nam ở cấp xã. Bà Th đủ 55 tuổi, nghỉ việc hưởng chế độ bảo hiểm xã hội
từ tháng 4/2016. Trường hợp bà Th tại thời
điểm trước khi nghỉ việc là nữ cán bộ chuyên trách cấp xã (Chủ tịch Hội Liên
hiệp Phụ nữ Việt Nam ở cấp xã), có thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc là 18
năm 3 tháng. Bà Th đủ điều kiện hưởng lương hưu theo quy định tại khoản
3 Điều 54 của Luật bảo hiểm xã hội. Ví dụ 21: Bà Q là người hoạt động không chuyên trách ở
xã, tại thời điểm đủ 55 tuổi bà Q có 18 năm đóng bảo hiểm xã hội (trong đó có 4
năm đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện). Trường hợp bà Q khi đủ 55 tuổi, không đủ 15 năm đóng bảo
hiểm xã hội bắt buộc nên không thuộc đối tượng được hưởng lương hưu theo quy
định tại khoản 3 Điều 54 của Luật bảo hiểm
xã hội. Bà Q có thể lựa chọn đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện một lần cho 02 năm
còn thiếu để được hưởng lương hưu hoặc nhận bảo hiểm xã hội một lần theo quy
định. 4.
Người
lao động đủ điều kiện về tuổi hưởng lương hưu mà thời gian đóng bảo hiểm xã hội
bắt buộc còn thiếu tối đa 06 tháng thì người lao động được lựa chọn đóng một lần
cho số tháng còn thiếu với mức đóng hằng tháng bằng tổng mức đóng của người lao
động và người sử dụng lao động theo mức tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội
trước khi nghỉ việc vào quỹ hưu trí và tử tuất để hưởng lương hưu. Người lao
động được hưởng lương hưu tại tháng đủ điều kiện về tuổi hưởng lương hưu và đã
đóng đủ bảo hiểm xã hội cho số tháng còn thiếu. Ví
dụ 22: Ông C sinh tháng 3/1956, làm
việc trong điều kiện bình thường, đến hết tháng 3/2016 ông C có 19 năm 7 tháng
đóng bảo hiểm xã hội. Trường hợp ông C được đóng bảo hiểm xã hội một lần cho 5
tháng còn thiếu. Tháng 4/2016, ông C đóng một lần cho 5 tháng còn thiếu cho cơ
quan bảo hiểm xã hội. Ông C được hưởng lương hưu từ tháng
4/2016. Trường hợp ông C nêu trên mà đến tháng 7/2016 mới đóng
bảo hiểm xã hội một lần đủ cho 5 tháng còn thiếu thì được hưởng lương hưu từ
tháng 7/2016. Ví
dụ 23: Ông H sinh tháng 3/1963, có 19 năm 6 tháng đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc;
tháng 3/2016 ông H được Hội đồng Giám định y khoa kết luận suy giảm khả năng lao
động 63%. Như vậy, ông H đã đủ điều kiện về tuổi và mức suy giảm khả năng lao
động để hưởng lương hưu nhưng còn thiếu 6 tháng đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc,
ông H được đóng tiếp bảo hiểm xã hội bắt buộc 6 tháng. Tháng 4/2016, ông H đóng
một lần cho 6 tháng còn thiếu. Thời điểm hưởng lương hưu đối với ông H được tính
từ tháng 4/2016. Điều
16.
Điều kiện hưởng lương hưu khi suy giảm
khả năng lao động Người
lao động khi nghỉ việc có đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên được hưởng lương hưu với mức thấp hơn nếu thuộc
một trong các trường hợp sau đây: 1. Bị suy giảm khả năng lao động từ 61% đến 80% và đảm
bảo điều kiện về tuổi đời theo bảng dưới đây:
2.
Bị
suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên và
nam
đủ 50 tuổi, nữ đủ 45 tuổi. 3.
Bị
suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên và có đủ 15 năm trở lên làm nghề hoặc
công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động -
Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế ban hành. Điều 17. Mức lương hưu hằng
tháng 1. Mức lương hưu hằng tháng của người lao động đủ điều
kiện quy định tại Điều 16 của Thông tư này được tính như quy định tại khoản 1 và
khoản 2 Điều 7 Nghị định số 115/2015/NĐ-CP, sau đó cứ mỗi năm nghỉ hưu trước
tuổi quy định thì giảm 2%. Ví dụ 24: Bà A 53 tuổi, làm việc trong điều kiện bình
thường, bị suy giảm khả năng lao động 61%, có 26 năm 04 tháng đóng bảo hiểm xã
hội, nghỉ hưu tháng 6/2016. Tỷ lệ hưởng lương hưu của bà A được tính như
sau: - 15 năm đầu được tính bằng
45%; - Từ năm thứ 16 đến năm thứ 26 là 11 năm, tính thêm: 11 x
3% = 33%; - 04 tháng được tính là 1/2 năm, tính thêm: 0,5 x 3% =
1,5% - Tổng các tỷ lệ trên là: 45% + 33% + 1,5% = 79,5% (chỉ
tính tối đa bằng 75%); - Bà A nghỉ hưu trước tuổi 55 theo quy định là 2 năm nên
tỷ lệ hưởng lương hưu tính giảm: 2 x 2% = 4%; Như vậy, tỷ lệ hưởng lương hưu hằng tháng của bà A là 75%
- 4% = 71%. Ngoài ra, do bà A có thời gian đóng bảo hiểm xã hội cao hơn số năm
tương ứng 75% (cao hơn 25 năm) nên còn được hưởng trợ cấp một lần khi nghỉ hưu
là: 1,5 năm x 0,5 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã
hội. a) Trường hợp tuổi nghỉ hưu có thời gian lẻ đến đủ 06
tháng thì mức giảm là 1%, trên 06 tháng thì không giảm tỷ lệ phần trăm do nghỉ
hưu trước tuổi của năm đó. Ví dụ
25: Bà
K bị suy giảm khả năng lao động 61%, nghỉ việc hưởng lương hưu tháng 01/2019 khi
đủ 50 tuổi 01 tháng, có 28 năm đóng bảo hiểm xã hội, tỷ lệ hưởng lương hưu được
tính như sau: - 15 năm đầu được tính bằng
45%; - Từ năm thứ 16 đến năm thứ 28 là 13 năm, tính thêm: 13 x
2% = 26%; - Tổng 2 tỷ lệ trên là: 45% + 26% = 71%;
- Bà K nghỉ hưu khi 50 tuổi 01 tháng (nghỉ hưu trước tuổi
55 là 4 năm 11 tháng) nên tỷ lệ giảm trừ do nghỉ hưu trước tuổi là 8% + 1% =
9%; Như vậy, tỷ lệ hưởng lương hưu hằng tháng của bà K sẽ là
71% - 9% = 62%. b)
Mốc tuổi để tính số năm nghỉ hưu trước tuổi làm cơ sở tính
giảm tỷ lệ hưởng lương hưu thực
hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 7 Nghị định số
115/2015/NĐ-CP. Ví dụ 26: Ông Q nghỉ việc hưởng lương hưu tháng 4/2017
khi đủ 49 tuổi. Ông Q có 27 năm đóng bảo hiểm xã hội, trong đó có 15 năm làm
công việc khai thác than trong hầm lò; bị suy giảm khả năng lao động 61%. Tỷ lệ
hưởng lương hưu của ông Q được tính như sau: - 15 năm đầu được tính bằng
45%; - Từ năm thứ 16 đến năm thứ 27 là 12 năm, tính thêm: 12 x
2% = 24%; - Tổng 2 tỷ lệ trên là: 45% + 24% =
69%; - Ông Q nghỉ hưu trước tuổi 50 theo quy định là 01 năm
nên tỷ lệ giảm trừ do nghỉ hưu trước tuổi là 2%; Như vậy, tỷ lệ hưởng lương hưu hằng tháng của ông Q là
69% - 2% = 67%. Ví dụ 27: Bà M làm việc trong điều kiện bình thường,
trong hồ sơ chỉ thể hiện sinh năm 1962, có thời gian đóng bảo hiểm xã hội 25
năm, bị suy giảm khả năng lao động 61%, lập hồ sơ đề nghị hưởng lương hưu từ
ngày 01/3/2016. Tỷ
lệ hưởng lương hưu của bà M được tính như sau: - 15 năm đầu được tính bằng
45%; - Từ năm thứ 16 đến năm thứ 25 là 10 năm, tính thêm: 10 x
3% = 30%; - Tổng 2 tỷ lệ trên là: 45% + 30% =
75%; - Hồ sơ chỉ thể hiện bà M sinh năm 1962 nên lấy ngày
01/01/1962 để tính tuổi làm cơ sở tính năm nghỉ hưu trước tuổi. Do vậy, tại thời
điểm hưởng lương hưu bà M đã 54 tuổi 01 tháng nên tỷ lệ giảm trừ do nghỉ hưu
trước tuổi là 1%; Như vậy, tỷ lệ hưởng lương hưu hằng tháng của bà M là 75%
- 1% = 74%. 2. Khi tính tỷ lệ hưởng lương hưu trường hợp thời gian
đóng bảo hiểm xã hội có tháng lẻ thì từ 01 tháng đến 06 tháng được tính là nửa
năm; từ 07 tháng đến 11 tháng được tính là một năm. Ví dụ 28: Ông G làm việc trong điều kiện bình thường, bị
suy giảm khả năng lao động 61%, nghỉ việc hưởng lương hưu năm 2018 khi 56 tuổi 7
tháng, có 29 năm 7 tháng đóng bảo hiểm xã hội, tỷ lệ hưởng lương hưu hằng tháng
được tính như sau: - Số năm đóng bảo hiểm xã hội của ông G là 29 năm 7
tháng, số tháng lẻ là 7 tháng được tính là 1 năm, nên số năm đóng bảo hiểm xã
hội để tính hưởng lương hưu của ông G là 30 năm. - 16 năm đầu tính bằng 45%; - Từ năm thứ 17 đến năm thứ 30 là 14 năm, tính thêm: 14 x
2% = 28%; - Tổng 2 tỷ lệ trên là: 45% + 28% =
73%. - Ông G nghỉ hưu khi 56 tuổi 07 tháng (nghỉ hưu trước
tuổi 60 theo quy định là 3 năm 05 tháng) nên tỷ lệ giảm trừ do nghỉ hưu trước
tuổi là 6%; Như vậy, tỷ lệ hưởng lương hưu hằng tháng của ông G sẽ là
73% - 6% = 67%. Ví dụ 29: Ông S nghỉ việc hưởng lương hưu năm 2016 khi đủ
51 tuổi. Ông S có 15 năm làm công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại; bị suy giảm
khả năng lao động 61% và có 27 năm 03 tháng đóng bảo hiểm xã hội. Tỷ lệ hưởng
lương hưu của ông S được tính như sau: - Số năm đóng bảo hiểm xã
hội của ông S là 27 năm 03 tháng, số tháng lẻ là 03 tháng được tính là 0,5 năm,
nên số năm đóng bảo hiểm xã hội để tính hưởng lương hưu của ông S là 27,5
năm. - 15 năm đầu tính bằng 45%; - Từ năm thứ 16 đến năm thứ 27,5 là 12,5 năm, tính thêm:
12,5 x 2% = 25%; - Tổng 2 tỷ lệ trên là: 45% + 25% =
70%. - Ông S nghỉ hưu trước tuổi 55 là 4 năm nên tỷ lệ hưởng
lương hưu tính giảm 8%; Như vậy, tỷ lệ hưởng lương hưu hằng tháng của ông S là
70% - 8% = 62%. Điều
18. Thời điểm hưởng lương
hưu 1. Thời điểm đủ điều kiện về tuổi đời hưởng lương hưu là
ngày 01 tháng liền kề sau tháng sinh của năm mà người lao động đủ điều kiện về
tuổi đời hưởng lương hưu. Trường hợp tháng sinh là tháng 12 thì thời điểm đủ
điều kiện về tuổi đời hưởng lương hưu là ngày 01 của tháng 01 năm liền kề sau
năm mà người lao động đủ điều kiện về tuổi đời hưởng lương hưu.
Ví
dụ 30: Ông A sinh ngày 01/3/1956, làm
việc trong điều kiện bình thường.
Thời điểm ông A đủ điều kiện về tuổi để hưởng lương hưu là ngày
01/4/2016. Ví
dụ 31: Ông M sinh ngày 01/12/1956, làm
việc trong điều kiện bình thường.
Thời điểm ông M đủ điều kiện về tuổi để hưởng lương hưu là ngày
01/01/2017. 2. Thời điểm đủ điều kiện về tuổi đời hưởng lương hưu đối
với trường hợp không xác định được ngày
sinh, tháng sinh (chỉ ghi năm sinh) là ngày 01 tháng 01 của năm liền kề sau năm
người lao động đủ điều kiện về tuổi đời hưởng lương
hưu. Ví
dụ 32: Bà C làm
việc trong điều kiện bình thường,
trong hồ sơ chỉ ghi sinh năm 1961. Thời điểm bà C đủ điều kiện về tuổi để hưởng
lương hưu là ngày 01/01/2017. 3. Thời điểm đủ điều kiện hưởng lương hưu khi suy giảm
khả năng lao động đối với người có đủ điều kiện về tuổi đời và thời gian đóng
bảo hiểm xã hội được tính từ ngày 01 tháng liền kề sau tháng có kết luận bị suy
giảm khả năng lao động theo các trường hợp quy định tại Điều 16 của Thông tư
này. Ví dụ 33: Bà D, sinh ngày 10/5/1965, có thời gian đóng
bảo hiểm xã hội bắt buộc là 23 năm. Ngày 05/7/2016, Hội đồng Giám định y khoa
kết luận bà D bị suy giảm khả năng lao động 61%. Thời điểm bà D đủ điều kiện
hưởng lương hưu do suy giảm khả năng lao động là ngày
01/8/2016. 4.
Thời điểm hưởng lương hưu đối với người lao động đang đóng bảo hiểm xã hội bắt
buộc hoặc đang bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội thực hiện theo quy định
tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 59 của Luật bảo hiểm xã hội. Trường hợp người sử dụng lao động nộp hồ sơ chậm so với
quy định thì phải có văn bản giải trình nêu rõ lý do và chịu trách nhiệm trước
pháp luật về nội dung giải trình. Trường
hợp người lao động nộp hồ sơ chậm so với quy định thì phải giải trình nêu rõ
lý do nộp chậm và
chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung giải trình. 5. Thời điểm hưởng lương hưu đối với trường hợp không còn
hồ sơ gốc quy định tại khoản 7 Điều 23 của Nghị định số 115/2015/NĐ-CP là thời
điểm ghi trong văn bản giải quyết của Bộ Lao động - Thương binh và Xã
hội. Điều 19. Bảo hiểm xã hội một
lần 1.
Bảo hiểm xã hội một lần được thực hiện theo quy định tại Điều 60 của Luật bảo
hiểm xã hội, Nghị
quyết số 93/2015/QH13 ngày 22 tháng 6 năm 2015 của Quốc hội về việc thực hiện
chính sách hưởng bảo hiểm xã hội một lần đối với người lao động và
Điều 8 Nghị định số 115/2015/NĐ-CP. Mức
bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội để làm căn cứ tính bảo hiểm
xã hội một lần thực hiện theo quy định tại Điều 62 của Luật bảo hiểm xã hội,
Điều 9 Nghị định số 115/2015/NĐ-CP và Điều 20 Thông tư này. Trong
trường hợp thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy
định chưa đủ số năm cuối quy định tại khoản
1 Điều 20 của Thông tư này thì
tính bình quân tiền lương tháng của các tháng đã đóng bảo hiểm xã
hội. 2.
Mức hưởng bảo hiểm xã hội một lần của người lao động có
thời gian đóng bảo hiểm xã hội chưa đủ một năm được tính bằng 22% của các mức
tiền lương tháng đã đóng bảo hiểm xã hội, mức tối đa bằng 02 tháng mức bình quân
tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội. 3.
Mức
hưởng bảo hiểm xã hội một lần đối với người lao động vừa có thời gian đóng bảo
hiểm xã hội tự nguyện vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc không bao
gồm số tiền Nhà nước hỗ trợ đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện của từng thời kỳ,
trừ
trường hợp quy định tại điểm d khoản 1 Điều 8 Nghị định số 115/2015/NĐ-CP. Việc
tính mức hưởng bảo hiểm xã hội một lần được thực hiện như người lao động không
được Nhà nước hỗ trợ đóng bảo hiểm xã hội, sau đó trừ đi số tiền nhà nước hỗ trợ
đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện. Số
tiền Nhà nước hỗ trợ đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện được tính bằng tổng số tiền
Nhà nước hỗ trợ của từng tháng đã
đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện. Mức hỗ trợ của từng tháng được tính theo công
thức sau:
4. Khi tính mức hưởng bảo hiểm xã hội một lần trong
trường hợp thời gian đóng bảo hiểm xã hội có tháng lẻ thì từ 01 tháng đến 06
tháng được tính là nửa năm, từ 07 tháng đến 11 tháng được tính là một
năm. Trường hợp tính đến trước ngày 01 tháng 01 năm 2014 nếu
thời gian đóng bảo hiểm xã hội có tháng lẻ thì những tháng lẻ đó được chuyển
sang giai đoạn đóng bảo hiểm xã hội từ ngày 01 tháng 01 năm 2014 trở đi để làm
căn cứ tính hưởng bảo hiểm xã hội một lần. Ví dụ 34: Ông T có thời gian đóng bảo hiểm xã hội là 16
năm 4 tháng (trong đó 10 năm 02 tháng đóng bảo hiểm xã hội trước ngày
01/01/2014). Bảo hiểm xã hội một lần của ông T được tính như
sau: - Ông T có 10 năm 02 tháng đóng bảo hiểm xã hội trước năm
2014; 02 tháng lẻ sẽ được chuyển sang giai đoạn từ năm 2014. Như vậy, số tháng
đóng bảo hiểm xã hội để tính bảo hiểm xã hội một lần của ông T được tính là 10
năm trước năm 2014 và 6 năm 4 tháng đóng bảo hiểm xã hội giai đoạn từ năm 2014
trở đi (được tính là 6,5 năm). - Mức
hưởng bảo hiểm xã hội một lần của ông T được tính như sau:
Như vậy, mức hưởng bảo hiểm xã hội một lần của ông T được
tính bằng 28 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã
hội. 5. Thời điểm tính hưởng bảo hiểm xã hội một lần là thời
điểm ghi trong quyết định của cơ quan bảo hiểm xã hội. Việc điều chỉnh tiền
lương đã đóng bảo hiểm xã hội để tính hưởng bảo hiểm xã hội một lần căn cứ vào
thời điểm ghi trong quyết định của cơ quan bảo hiểm xã hội.
Ví dụ 35: Ông V thuộc đối tượng đóng bảo hiểm xã hội theo
chế độ tiền lương do nhà nước quy định từ năm 1996 đến hết năm 2014. Trên cơ sở
đề nghị của ông V ngày 20/02/2016, ngày 01/3/2016 cơ quan bảo hiểm xã hội ban
hành quyết định giải quyết bảo hiểm xã hội một lần đối với ông V.
Như vậy, bảo hiểm xã hội một lần của ông V được tính trên
cơ sở mức lương cơ sở tại thời điểm 01/3/2016. Điều
20. Mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo
hiểm xã hội để tính lương hưu, trợ cấp một lần 1.
Mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội đối với người
lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định có
toàn bộ thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương này
quy
định tại khoản 1 Điều 62 của Luật bảo hiểm xã hội và khoản 1 Điều 9 Nghị định số
115/2015/NĐ-CP được hướng dẫn như sau: Mbqtl Tổng số tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của 5
năm (60 tháng) cuối trước khi nghỉ
việc 60
tháng =
b) Đối với người lao động bắt đầu tham gia bảo hiểm xã
hội trong khoảng thời gian từ ngày 01 tháng 01 năm 1995 đến ngày 31 tháng 12 năm
2000: =
Mbqtl Tổng số tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của 6
năm (72 tháng) cuối trước khi nghỉ
việc 72
tháng
c) Đối với người lao động bắt đầu tham gia bảo hiểm xã
hội trong khoảng thời gian từ ngày 01 tháng 01 năm 2001 đến ngày 31 tháng 12 năm
2006: Mbqtl Tổng số tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của 8
năm (96 tháng) cuối trước khi nghỉ
việc =
96
tháng
d)
Đối với người lao động bắt
đầu tham gia bảo hiểm xã hội trong khoảng thời gian từ ngày 01 tháng 01 năm 2007
đến ngày 31 tháng 12 năm 2015: =
Mbqtl Tổng số tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của
10 năm (120 tháng) cuối trước khi nghỉ
việc 120
tháng
=
Mbqtl Tổng số tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của
15 năm (180 tháng) cuối trước khi nghỉ
việc 180
tháng e) Đối với người lao động bắt đầu tham gia bảo hiểm xã
hội từ ngày 01 tháng 01 năm 2020 đến ngày 31 tháng 12 năm
2024: =
Mbqtl Tổng số tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của
20 năm (240 tháng) cuối trước khi nghỉ
việc 240
tháng
g)
Đối
với người lao động bắt đầu tham gia bảo
hiểm xã hội từ ngày 01 tháng 01 năm 2025 trở
đi: =
Mbqtl Tổng số tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của
toàn bộ thời gian
đóng Tổng số tháng đóng bảo hiểm xã
hội
Trong đó: Mbqtl: mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo
hiểm xã hội. Tiền
lương tháng đóng bảo hiểm xã hội là tiền
lương theo ngạch, bậc, cấp bậc quân hàm và các khoản phụ cấp chức vụ, phụ cấp
thâm niên vượt khung, phụ cấp thâm niên nghề (nếu có).
Tiền lương này được tính trên mức lương cơ sở tại thời điểm tính mức bình quân
tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội. 2. Mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội
đối với người lao động có toàn bộ thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ
tiền lương do người sử dụng lao động quyết định quy định tại khoản 2 Điều 62 của
Luật bảo hiểm xã hội và khoản 2 Điều 9 Nghị định số 115/2015/NĐ-CP được hướng
dẫn như sau: Mbqtl Tổng số tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của
các tháng đóng bảo hiểm xã
hội =
Tổng số tháng đóng bảo hiểm xã
hội
Trong đó: Mbqtl: mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo
hiểm xã hội. Tiền
lương tháng đóng bảo hiểm xã hội là
tiền lương tháng đã
đóng bảo hiểm xã hội được điều chỉnh theo quy định tại khoản 2 Điều 63 của Luật
bảo hiểm xã hội và khoản
2 Điều 10 Nghị định số 115/2015/NĐ-CP. 3. Mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội
đối với người lao động vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội thuộc đối tượng
thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định, vừa có thời gian đóng bảo hiểm
xã hội theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định theo khoản 3
Điều 62 của Luật bảo hiểm xã hội và khoản 3 Điều 9 Nghị định số 115/2015/NĐ-CP
được hướng dẫn như sau: Mbqtl Tổng
số tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của các tháng đóng bảo hiểm xã
hội theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết
định = Tổng số tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội theo
chế độ tiền lương do Nhà nước quy
định + Tổng số tháng đóng bảo hiểm xã
hội Mbqtl
Trong đó: a) Tổng số tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội theo chế
độ tiền lương do Nhà nước quy định được tính bằng tích số giữa tổng số tháng
đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định với mức bình
quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội. Mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội được
tính theo quy định tại khoản 1 Điều này. b)
Trường hợp người lao động có từ 2 giai đoạn trở lên thuộc đối tượng thực hiện
chế độ tiền lương do Nhà nước quy định thì tổng số tiền lương tháng đóng bảo
hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định được tính như điểm a
khoản này. Trong đó, tổng số tháng đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương
do Nhà nước quy định là tổng số các tháng đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền
lương do Nhà nước quy định của các giai đoạn. Ví dụ 36: Ông Q nghỉ việc hưởng lương hưu khi đủ 60 tuổi,
có 23 năm 9 tháng đóng bảo hiểm xã hội. Diễn biến thời gian đóng bảo hiểm xã hội
của ông Q như sau: - Từ tháng 01/1990 đến tháng 12/1996 (7 năm) đóng bảo
hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy
định. - Từ tháng 01/1997 đến tháng 9/2006 (9 năm 9 tháng) đóng
bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết
định. - Từ tháng 10/2009 đến tháng 9/2016 (7 năm) đóng bảo hiểm
xã hội theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định. Ông Q hưởng lương hưu từ tháng
10/2016. Tổng số tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ
tiền lương do Nhà nước quy định của ông Q được tính theo điểm b nêu trên như
sau: - Tổng số tháng đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền
lương do Nhà nước quy định là: 7 năm + 7 năm = 14 năm (168
tháng). - Mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội
theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định của ông Q được tính như
sau:
Mbqtl
= Tổng số tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của 5
năm cuối đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định
(tính từ tháng 10/2011 đến tháng
9/2016) 60
tháng
-
Vậy, tổng số tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do Nhà
nước quy định của ông Q được tính là: 168 tháng x Mbqtl Ví dụ 37: Ông T nghỉ việc hưởng lương hưu khi đủ 60 tuổi,
có 22 năm đóng bảo hiểm xã hội. Diễn biến
thời gian đóng bảo hiểm xã hội của ông T như
sau: - Từ tháng 01/1996 đến tháng 12/2002 (7 năm) đóng bảo
hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy
định. - Từ tháng 01/2003 đến tháng 12/2013 (11 năm) đóng bảo
hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết
định. - Từ tháng 01/2014 đến tháng 12/2017 (4 năm) đóng bảo
hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy
định. Ông T hưởng lương hưu từ tháng
01/2018. Tổng số tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ
tiền lương do Nhà nước quy định của ông T được tính như
sau: - Tổng số tháng đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền
lương do Nhà nước quy định là: 7 năm + 4 năm = 11 năm (132
tháng). - Mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội
theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định của ông T được tính như
sau:
Mbqtl
= Tổng số tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của 6
năm cuối đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định
(24 tháng tính từ tháng 01/2001 đến tháng 12/2002 cộng 48 tháng tính từ
tháng 01/2014 đến tháng
12/2017) 72
tháng
-
Vậy, tổng số tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do Nhà
nước quy định của ông T được tính là: 132 tháng x Mbqtl
. 4.
Lương hưu của người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà
nước quy định đã
đóng bảo hiểm xã hội bao gồm phụ cấp thâm niên nghề sau đó chuyển sang
ngành
nghề có hoặc
không
có phụ
cấp thâm niên nghề rồi mới nghỉ hưu,
được
thực hiện theo quy định tại khoản 6 Điều 9 của Nghị định số 115/2015/NĐ-CP và
được hướng dẫn cụ thể như sau: a) Trường hợp người lao động
thuộc
đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định đã
đóng bảo hiểm xã hội bao gồm phụ cấp thâm niên nghề sau đó chuyển sang
ngành
nghề không có phụ
cấp thâm niên nghề và
trong tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội làm căn cứ tính lương hưu không có
phụ cấp thâm niên nghề thì được lấy mức bình quân tiền lương tháng làm căn cứ
đóng bảo hiểm xã hội tại thời điểm nghỉ hưu, cộng thêm khoản phụ cấp thâm niên
nghề cao
nhất (nếu
đã được
hưởng) tính theo thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội bao
gồm phụ cấp thâm niên nghề,
được chuyển đổi theo chế độ tiền lương quy định tại thời điểm nghỉ hưu để làm cơ
sở tính lương hưu. Ví
dụ 38: Ông H,
là Chánh Văn phòng Bộ, nghỉ việc hưởng chế độ hưu trí kể từ ngày 01/4/2016; có
tổng thời gian đóng bảo hiểm xã hội là 30 năm. Trước khi chuyển sang làm Chánh
Văn phòng Bộ, ông H là kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân, có 14 năm được tính
thâm niên nghề với hệ số lương là 5,08. Ông H có diễn biến tiền lương đóng bảo
hiểm xã hội 5 năm cuối như sau (giả sử tiền lương cơ sở tại thời điểm tháng
4/2016 là 1.150.000 đồng/tháng). - Từ tháng 4/2011 đến tháng 3/2014 = 36 tháng, hệ số
lương là 6,2: 1.150.000 đồng x 6,2 x 36 tháng = 256.680.000
đồng. - Từ tháng 4/2014 đến tháng 3/2016 = 24 tháng, hệ số
lương là 6,56: 1.150.000 đồng x 6,56 x 24 tháng = 181.056.000
đồng. - Mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội 5
năm cuối để làm cơ sở tính lương hưu của ông H là:
- Phụ cấp thâm niên nghề của ông H trước khi chuyển sang
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội được cộng vào mức bình quân tiền lương tháng
làm cơ sở tính lương hưu như sau: Ông H có hệ số lương trước khi chuyển sang Bộ Lao động -
Thương binh và Xã hội bằng 5,08; phụ cấp thâm niên nghề được tính là
14%: 1.150.000 đồng x 5,08 x 14% = 817.880
đồng. - Mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội để
làm cơ sở tính lương hưu là: 7.295.600 đồng + 817.880 đồng = 8.113.480
đồng. - Lương hưu hằng tháng của ông H
là: 8.113.480 đồng x 75% = 6.085.110
đồng/tháng. b) Trường hợp người lao động
thuộc
đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định đã
đóng bảo hiểm xã hội bao gồm phụ cấp thâm niên nghề sau đó chuyển sang
ngành
nghề được hưởng
phụ cấp thâm niên nghề và trong tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội làm căn cứ
tính lương hưu đã có phụ cấp thâm niên nghề thì mức bình quân tiền lương tháng
đóng bảo hiểm xã hội để tính lương hưu thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều
9 Nghị định số 115/2015/NĐ-CP và khoản 1 Điều này. Ví
dụ 39: Ông M
nguyên là công chức Hải quan, chuyển sang làm kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân
dân, nghỉ việc hưởng chế độ hưu trí kể từ ngày 01/4/2016; có tổng thời gian đóng
bảo hiểm xã hội là 27 năm, trong đó 11 năm được tính thâm niên nhà giáo, 16 năm
thâm niên ngành kiểm sát. Ông M có diễn biến tiền lương đóng bảo hiểm xã hội 5
năm cuối như sau (giả sử tiền lương cơ sở tại thời điểm tháng 4/2016 là
1.150.000 đồng/tháng). - Từ tháng 4/2011 đến tháng 3/2014 = 36 tháng, hệ số
lương là 5,76; thâm niên nghề là 25 %: 1.150.000 đồng x 5,76 x 1,25 x 36 tháng = 298.080.000
đồng. - Từ tháng 4/2014 đến tháng 3/2016 = 24 tháng, hệ số
lương là 6,10; thâm niên nghề là 27 %: 1.150.000 đồng x 6,10 x 1,27 x 24 tháng = 213.817.200
đồng. - Mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội 5
năm cuối để làm cơ sở tính lương hưu của ông M là:
- Lương hưu hằng tháng của ông M
là: 8.531.620 đồng/tháng x 69% = 5.886.818
đồng/tháng. c) Trường hợp người lao động
thuộc
đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định đã
đóng bảo hiểm xã hội bao gồm phụ cấp thâm niên nghề sau đó chuyển
sang các ngành
nghề không được hưởng phụ cấp thâm niên nghề và trong tiền lương tháng đóng bảo
hiểm xã hội không có phụ cấp thâm niên nghề, sau đó lại chuyển sang các ngành
nghề được hưởng phụ cấp thâm niên nghề và trong tiền lương tháng đóng bảo hiểm
xã hội có phụ cấp thâm niên nghề, hoặc ngược lại thì căn cứ vào ngành nghề cuối
cùng trước khi nghỉ hưu (ngành nghề có được hưởng phụ cấp thâm niên nghề hoặc
ngành nghề không được hưởng phụ cấp thâm niên nghề) để tính mức lương hưu theo
điểm a hoặc điểm b khoản này. d) Trường hợp người lao động
thuộc
đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định đã
đóng bảo hiểm xã hội bao gồm phụ cấp thâm niên nghề sau đó chuyển
sang các ngành
nghề có hoặc không có phụ cấp thâm niên nghề, khi nghỉ hưu trong tiền lương
tháng đóng bảo hiểm xã hội của những năm cuối để tính lương hưu có thời gian
đóng có phụ cấp thâm niên nghề có thời gian đóng không có phụ cấp thâm niên
nghề, nếu mức lương hưu tính theo điểm b khoản này thấp hơn thì được lấy tiền
lương tháng đóng bảo hiểm xã hội bao gồm phụ cấp thâm niên liền kề trước đó
tương ứng với số năm quy định tại khoản 1 Điều này, được
chuyển đổi theo chế độ tiền lương quy định tại thời điểm nghỉ hưu để
tính
mức bình quân
tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội. Ví
dụ 40: Ông P,
nguyên là công chức Hải quan, có 27 năm được tính thâm niên nghề, tháng 4/2013
chuyển sang làm Chuyên viên thuộc Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, nghỉ việc
hưởng chế độ hưu trí kể từ ngày 01/4/2016; có tổng thời gian đóng bảo hiểm xã
hội là 30 năm. Ông P có diễn biến tiền lương đóng bảo hiểm xã hội một số năm
cuối trước khi nghỉ hưu như sau (giả sử tiền lương cơ sở tại thời điểm tháng
4/2016 là 1.150.000 đồng/tháng). - Từ tháng 4/2008 đến tháng 3/2010 = 24 tháng, hệ số
lương là 6,2, phụ cấp thâm niên nghề được
tính là 24%; - Từ tháng 4/2010 đến tháng 3/2013 = 36 tháng, hệ số
lương là 6,56, phụ cấp thâm niên nghề được
tính là 27%; - Từ tháng 4/2013 đến tháng 3/2016 = 36 tháng, hệ số
lương là 6,92, không có phụ cấp thâm niên. Trường hợp ông P mức lương hưu tính theo số năm cuối
trước khi nghỉ hưu thấp hơn so với mức lương hưu tính theo số năm trước đó có
hưởng phụ cấp thâm niên. Do vậy, mức bình quân tiền lương tháng để tính lương
hưu của ông P được tính như sau: - Từ tháng 4/2008 đến tháng 3/2010 = 24 tháng, hệ số
lương là 6,2, phụ cấp thâm niên nghề được
tính là 24%: 1.150.000 đồng x 6,2 x 24 tháng x 1,24 = 212.188.800
đồng. - Từ tháng 4/2010 đến tháng 3/2013 = 36 tháng, hệ số
lương là 6,56, phụ cấp thâm niên nghề được
tính là 27%: 1.150.000 đồng x 6,56 x 36 tháng x 1,27 = 344.911.680
đồng. - Mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội để
làm cơ sở tính lương hưu của ông P là:
- Lương hưu hằng tháng của ông P
là: 9.285.008 đồng x 75% =
6.963.756
đồng/tháng. (Nếu tính theo số năm cuối trước khi nghỉ hưu thì mức
lương hưu của ông P là 6.455.364 đồng/tháng). e) Trường hợp người lao động
không thực sự đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội bao
gồm phụ cấp thâm niên nghề thì không thuộc diện áp
dụng quy định tại khoản
6 Điều 9 của Nghị định số 115/2015/NĐ-CP và quy định tại khoản này để tính lương
hưu. 5.
Thời gian đóng bảo hiểm xã hội của người hoạt động không chuyên trách ở xã,
phường, thị trấn; thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo Nghị định số 09/1998/NĐ-CP
ngày 23 tháng 01 năm 1998 của Chính phủ sửa
đổi, bổ sung Nghị định số 50/CP ngày 26 tháng 7 năm 1995 của Chính phủ về chế độ
sinh hoạt phí đối với cán bộ xã, phường, thị trấn
(sau đây được
viết là Nghị định số 09/1998/NĐ-CP); thời gian công tác ở cấp xã đã được tính
hưởng bảo hiểm xã hội, được
tính là thời gian đóng bảo
hiểm xã hội
theo chế độ tiền lương do nhà nước quy định để làm cơ sở tính mức bình quân tiền
lương tháng đóng bảo
hiểm xã hội.
Điều 21. Chế độ bảo hiểm xã hội đối với người đang hưởng
lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng khi người đó ra nước ngoài để định
cư 1. Người đang hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội
hằng tháng ra nước ngoài để định cư mà có yêu cầu thì được hưởng trợ cấp một
lần. 2. Mức trợ cấp một lần đối với người đang hưởng lương hưu
được tính theo thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội trong đó mỗi năm đóng bảo hiểm
xã hội trước năm 2014 được tính bằng 1,5 tháng lương hưu đang hưởng, mỗi năm
đóng bảo hiểm xã hội từ năm 2014 trở đi được tính bằng 02 tháng lương hưu đang
hưởng; sau đó mỗi tháng đã hưởng lương hưu thì mức trợ cấp một lần trừ 0,5 tháng
lương hưu. Mức thấp nhất bằng 03 tháng lương hưu đang
hưởng. Trường hợp người đang hưởng lương hưu mà thời gian công
tác được tính quy đổi để tính tỷ lệ hưởng lương hưu thì trợ cấp một lần được
tính theo thời gian công tác thực tế. Ví dụ 41: Bà Th là người đang hưởng lương hưu, tháng
01/2017 bà Th ra nước ngoài để định cư. Thời gian đóng bảo hiểm xã hội của bà Th
là 24 năm (trong đó có 2 năm đóng bảo hiểm xã hội từ năm 2014 trở đi); tính đến
thời điểm trước khi ra nước ngoài định cư bà Th đã hưởng lương hưu được 01 năm,
mức lương hưu hiện hưởng là 4 triệu
đồng/tháng. Bà Th đề nghị hưởng trợ cấp một
lần. Mức trợ cấp một lần đối với bà Th được tính như
sau:
Mức trợ cấp một lần của bà Th là: 124 triệu
đồng. Ví dụ 42: Bà Q có thời gian đóng bảo hiểm xã hội là 25
năm, đã hưởng lương hưu là 10 năm, mức lương hưu hiện hưởng là 3,5 triệu đồng/tháng. Tháng
01/2018, bà Q ra nước ngoài để định cư và đề nghị hưởng trợ cấp một
lần. Mức trợ cấp một lần đối với bà Q được tính như
sau:
Mức trợ cấp một lần = - 22,5 x 3,5 triệu
đồng. Theo cách tính trợ cấp một lần bà Q đã hưởng quá số tiền
tính theo thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội. Do vậy, bà Q chỉ được hưởng trợ cấp
một lần bằng 3 tháng lương hưu đang hưởng (10,5 triệu
đồng). 3.
Mức trợ cấp một lần đối với người đang hưởng trợ
cấp hằng tháng theo Nghị định số 09/1998/NĐ-CP được
tính như quy định tại khoản 2 Điều này. 4.
Mức trợ cấp một lần đối với người đang hưởng trợ cấp mất sức lao động hằng
tháng, trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hằng tháng, trợ cấp tuất hằng
tháng, trợ cấp hằng tháng đối với công
nhân cao su, trợ cấp hằng tháng theo Quyết định số 91/2000/QĐ-TTg
ngày 04 tháng 8 năm 2000 của Thủ tướng Chính phủ về việc trợ cấp
cho những người đã hết tuổi lao động tại thời điểm ngừng hưởng trợ cấp mất sức
lao động hằng tháng (sau đây được viết là Quyết định số
91/2000/QĐ-TTg),
Quyết định số
613/QĐ-TTg ngày 06 tháng 5 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc trợ cấp hằng tháng
cho những người có từ đủ 15 năm đến dưới 20 năm công tác thực tế đã hết thời hạn
hưởng trợ cấp mất sức lao động (sau đây được viết là Quyết định số 613/QĐ-TTg)
bằng 03 tháng trợ cấp đang hưởng. Ví dụ 43: Ông V là người đang hưởng trợ cấp mất sức lao
động hằng tháng với mức hưởng 2 triệu đồng/tháng. Ông V theo các con ra nước
ngoài để định cư và có đề nghị được giải quyết hưởng trợ cấp một
lần. Mức trợ cấp một lần của ông V được tính bằng 03 tháng trợ
cấp đang hưởng: 3 x 2 triệu đồng = 6 triệu đồng. Điều
22. Chế độ hưu trí đối với người trước
đó có thời gian đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện
1. Chế
độ hưu trí đối với người trước đó có thời gian đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện
được thực hiện theo quy định tại Điều 11 của Nghị định số 115/2015/NĐ-CP và các
nội dung quy định chi tiết tại Thông tư này.
2. Khi
tính mức bình quân thu
nhập và tiền lương
tháng đóng bảo hiểm xã hội thì mức thu nhập tháng đóng bảo hiểm
xã hội tự nguyện là mức thu nhập tháng đã đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện được
điều chỉnh trên cơ sở chỉ số giá tiêu dùng quy định tại khoản 2 Điều 79 của Luật
bảo hiểm xã hội. Trường hợp người tham gia
bảo hiểm xã hội nông dân Nghệ An được chuyển đổi sang bảo hiểm xã hội tự nguyện
theo Quyết định số 41/2009/QĐ-TTg ngày 16 tháng 3 năm 2009 của Thủ tướng Chính
phủ thì mức thu nhập tháng đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện trước ngày 01 tháng 01
năm 2008 là mức thu
nhập tháng đã đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện được điều chỉnh theo mức
điều chỉnh tiền lương đã đóng bảo hiểm xã hội của năm tương ứng với người tham
gia bảo hiểm xã hội bắt buộc thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do
người sử dụng lao động quyết định. Điều 23. Tạm dừng, hưởng tiếp lương hưu, trợ cấp bảo hiểm
xã hội hằng tháng Việc tạm dừng, hưởng tiếp lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã
hội hằng tháng được thực hiện theo quy định tại Điều 64 của Luật bảo hiểm xã hội
và được hướng dẫn cụ thể như sau: 1.
Người bị dừng hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng do bị Toà án
tuyên bố là mất tích, sau đó được Tòa án hủy quyết định tuyên bố là mất tích thì
được tiếp tục hưởng và được nhận tiền lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng
tháng của những tháng chưa nhận, không bao
gồm tiền
lãi. 2. Người đang hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội
hằng tháng có thời gian gián đoạn chưa nhận lương hưu, trợ cấp thì được nhận
tiền lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng của những tháng chưa nhận,
không bao gồm tiền lãi. 3.
Người
hưởng lương hưu hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng mà chết trong thời gian
gián đoạn chưa nhận lương hưu, trợ cấp thì ngoài chế độ tử tuất thân nhân còn
được nhận tiền lương hưu, trợ cấp của những tháng chưa nhận, không bao gồm tiền
lãi. 4. Người đang hưởng lương hưu hoặc trợ cấp bảo hiểm xã
hội hằng tháng bị tạm dừng hưởng do bị Toà án tuyên bố là mất tích, sau đó bị
Tòa án tuyên bố là đã chết thì thân nhân không được nhận tiền lương hưu hoặc trợ
cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng trong thời gian tạm dừng
hưởng. Mục 4 CHẾ ĐỘ TỬ
TUẤT Điều 24. Trợ
cấp mai táng 1.
Trợ cấp mai táng được thực hiện theo quy định tại Điều
66 của Luật bảo hiểm xã hội và các khoản 2, 3 Điều 12 của Nghị định số
115/2015/NĐ-CP. Ví dụ 44: Ông Ch tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc được
10 tháng bị chết do tai nạn rủi ro. Trường hợp ông Ch chết do tai nạn rủi ro, có thời gian
đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc 10 tháng (chưa đủ 12 tháng) nên người lo mai táng
không được giải quyết trợ cấp mai táng. Thân nhân của ông Ch được giải quyết
hưởng trợ cấp tuất một lần theo quy định. Ví dụ 45: Bà T đang tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc bị
chết do bệnh tật. Bà T có thời gian đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện 4 năm 2
tháng, thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc là 10
tháng. Trường hợp bà T có tổng thời gian đóng bảo hiểm xã hội tự
nguyện và bảo hiểm xã hội bắt buộc là 60 tháng nên người lo mai táng được giải
quyết hưởng trợ cấp mai táng. 2.
Người đang hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hằng tháng không
nghỉ việc có thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc dưới 12 tháng hoặc
có
tổng
thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc và bảo hiểm xã hội tự nguyện dưới 60
tháng khi chết thì người lo mai táng được hưởng trợ cấp mai táng quy định tại
khoản 1 Điều này. 3.
Người đang hưởng trợ cấp mất sức lao động hằng tháng; công nhân cao su đang
hưởng trợ cấp hằng tháng; người đang hưởng trợ cấp hằng tháng theo Quyết định số
91/2000/QĐ-TTg, Quyết định số
613/QĐ-TTg;
người đang hưởng trợ cấp hằng tháng theo Nghị định số 09/1998/NĐ-CP khi chết thì
người lo mai táng được nhận trợ cấp mai táng bằng 10 lần mức lương cơ
sở. Điều 25. Các
trường hợp hưởng trợ cấp tuất hằng tháng 1.
Các
trường hợp hưởng trợ cấp tuất hằng tháng
được thực hiện theo quy định tại Điều
67 của Luật bảo hiểm xã hội và các khoản 4, 5 Điều 12 của Nghị định số
115/2015/NĐ-CP. 2.
Đối với người
lao động có thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc chưa đủ 15 năm (kể cả người
lao động đang bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội) còn thiếu không quá 6
tháng mà bị chết, nếu có thân nhân đủ điều kiện hưởng chế độ tuất hằng tháng thì
thân
nhân được lựa chọn đóng tiếp một lần cho số tháng còn thiếu vào quỹ hưu trí và
tử tuất với mức đóng hằng tháng bằng 22% mức tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã
hội của người lao động trước khi chết (hoặc trước khi nghỉ việc đối với người
lao động đang bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội) để giải quyết trợ cấp tuất
hằng tháng. Trường hợp thân nhân người lao động không đóng cho số tháng còn
thiếu thì giải quyết hưởng trợ cấp tuất một lần. 3.
Người đang hưởng trợ cấp mất sức lao động hằng tháng, người
đang hưởng trợ cấp hằng tháng theo Nghị định số 09/1998/NĐ-CP chết
nếu có thân nhân đủ
điều kiện quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 67 của Luật bảo hiểm xã hội thì
được giải quyết hưởng trợ cấp tuất hằng tháng. 4.
Trong thời hạn quy định tại khoản 4 Điều 67 của Luật bảo hiểm xã hội, thân nhân
của người lao động được
chủ động đi khám
giám
định mức suy giảm khả năng lao động để
làm cơ sở giải quyết trợ cấp tuất hằng tháng, trừ trường hợp thân nhân người lao
động đã được tổ chức có thẩm quyền kết luận bị suy giảm khả năng lao động từ 81%
trở lên hoặc được cấp giấy xác nhận khuyết tật đặc biệt
nặng. Điều 26. Mức
trợ cấp tuất hằng tháng 1. Mức trợ cấp tuất hằng tháng được thực hiện theo quy định tại Điều 68
của Luật bảo hiểm xã hội. 2. Đối với trường hợp thân nhân không có người trực tiếp
nuôi dưỡng thì mức trợ cấp tuất hằng tháng bằng 70% mức lương cơ sở.
Ví dụ 46: Bà Tr có thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt
buộc 20 năm, có một con 5 tuổi. Hai vợ
chồng bà Tr không may bị chết trong một vụ tai nạn giao
thông. Trong trường hợp này, con của bà Tr được hưởng trợ cấp
tuất hằng tháng bằng 70% mức lương cơ sở. Ví dụ 47: Ông P là đối tượng đang tham gia bảo hiểm xã
hội bắt buộc, bị chết do tai nạn lao động; ông P có vợ 56 tuổi (không có nguồn
thu nhập), có một con 13 tuổi. Trợ cấp tuất hằng tháng đối với thân nhân của ông
P được giải quyết như sau: - Con ông P hưởng trợ cấp tuất hằng tháng bằng 50% mức
lương cơ sở; - Vợ ông P được hưởng trợ cấp tuất hằng tháng bằng 70%
mức lương cơ sở cho đến khi con ông P đủ 18 tuổi, sau đó hưởng trợ cấp tuất hằng
tháng bằng 50% mức lương cơ sở. Ví dụ 48: Ông V là con duy nhất trong gia đình, mẹ đã
chết, bố 62 tuổi (không có nguồn thu nhập). Ông V là đối tượng đang tham gia bảo
hiểm xã hội bắt buộc, bị chết do tai nạn lao động. Trong trường hợp này, bố ông V thuộc diện được hưởng trợ
cấp tuất hằng tháng bằng 70% mức lương cơ sở. Ví dụ 49: Bà K 57 tuổi (không có nguồn thu nhập), chồng
đã chết, có một con gái duy nhất đã lấy chồng (hiện đã chết). Con rể bà K có
thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc 16 năm, bị chết do tai nạn rủi
ro. Trong trường hợp này, bà K thuộc diện được hưởng trợ cấp
tuất hằng tháng bằng 70% mức lương cơ sở. Ví dụ 50: Hai vợ chồng bà T đều đang tham gia bảo hiểm xã
hội bắt buộc, có một con duy nhất 6 tuổi. Cả hai vợ chồng bà T bị chết do tai
nạn lao động. Do vậy, con của vợ chồng bà T sẽ được hưởng 02 lần mức trợ cấp
tuất hằng tháng (bằng 2 lần của 70% mức lương cơ
sở). Điều
27. Mức trợ cấp tuất một lần 1.
Mức trợ cấp tuất một lần được thực hiện theo quy định tại Điều
70 của Luật bảo hiểm xã hội và khoản 6 Điều 12 của Nghị định số
115/2015/NĐ-CP. Người
đang hưởng trợ cấp hằng tháng theo Nghị định số 09/1998/NĐ-CP khi chết mà không
có thân
nhân đủ
điều kiện quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 67 của Luật bảo hiểm xã hội thì
thân nhân được giải quyết theo quy
định tại khoản 2 Điều
70 của Luật bảo hiểm xã hội. 2.
Đối với người
lao động đã nghỉ việc hưởng bảo hiểm xã hội một lần mà đang
hưởng
trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hằng tháng với mức suy giảm khả năng
lao động dưới 61%; công
nhân cao su đang hưởng trợ cấp hằng tháng; người đang hưởng trợ cấp hằng tháng
theo Quyết định số 91/2000/QĐ-TTg, Quyết định số 613/QĐ-TTg
khi
chết
thì
thân nhân được hưởng trợ cấp tuất một lần bằng 3 tháng trợ cấp người lao động
đang hưởng trước khi chết. 3.
Đối
với người
lao động đã nghỉ việc hưởng bảo hiểm xã hội một lần mà đang
hưởng
trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hằng tháng với mức suy giảm khả năng
lao động từ 61% trở lên, người đang hưởng trợ cấp mất sức lao động hằng tháng
khi chết mà không
có thân nhân hưởng trợ cấp hằng tháng theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều
67 của Luật bảo hiểm xã hội thì thân
nhân được hưởng trợ cấp tuất một lần bằng 3 tháng trợ cấp người lao động đang
hưởng trước khi chết. 4. Khi tính trợ cấp tuất một lần đối với người đang đóng
bảo hiểm xã hội hoặc đang bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội chết mà thời
gian đóng bảo hiểm xã hội có tháng lẻ thì từ 01 tháng đến 06 tháng được tính là
nửa năm, từ 07 tháng đến 11 tháng được tính là một
năm. Trường hợp tính đến trước ngày 01 tháng 01 năm 2014 nếu
thời gian đóng bảo hiểm xã hội có tháng lẻ thì những tháng lẻ đó được chuyển
sang giai đoạn từ ngày 01 tháng 01 năm 2014 trở đi để làm căn cứ tính trợ cấp
tuất một lần. Ví dụ 51: Ông T bị ốm chết, có thời gian đóng bảo hiểm xã
hội từ tháng 10/2005 đến 3/2017. Ông T có mức bình quân tiền lương tháng đóng
bảo hiểm xã hội là 5.000.000 đồng/tháng. - Ông T có 8 năm 03 tháng đóng bảo hiểm xã hội ở giai
đoạn trước ngày 01/01/2014; có 3 năm 03 tháng đóng bảo hiểm xã hội ở giai đoạn
từ ngày 01/01/2014 trở đi. - Mức trợ cấp tuất một lần đối với thân nhân của ông T
được tính như sau (08 năm đóng trước năm 2014 và 3 năm 6 tháng đóng từ năm 2014
trở đi): ((8 x 1,5) + (3,5 x 2)) x 5.000.000 đồng = 95.000.000
đồng. Chương III QUỸ BẢO
HIỂM XÃ HỘI Điều
28. Tạm
dừng đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất
1.
Tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất được thực hiện theo quy định tại khoản
1 Điều
88 của Luật bảo hiểm xã hội, các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 16 của Nghị định số
115/2015/NĐ-CP. 2.
Thẩm quyền, trình tự, thủ tục xác định số lao động thuộc diện tham gia bảo hiểm
xã hội tạm thời nghỉ việc, giá trị tài sản bị thiệt hại quy định tại khoản 2
Điều 16 của
Nghị định số 115/2015/NĐ-CP được quy định như sau: a)
Thẩm
quyền xác định số lao động thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội tạm thời nghỉ
việc đối với cơ quan, đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp thuộc Uỷ ban nhân dân địa
phương quản lý do cơ quan Lao động - Thương binh và Xã hội địa phương xác định;
đối với cơ quan, đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp thuộc Bộ, ngành Trung ương quản
lý do Bộ, ngành xác định. Số lao động thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội tạm
thời nghỉ việc được tính so với tổng số lao động có mặt trước khi tạm dừng sản
xuất, kinh doanh. Thẩm quyền xác định giá trị tài sản bị thiệt hại đối với
cơ quan, đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp thuộc Uỷ ban nhân dân địa phương quản lý
do cơ quan tài chính địa phương xác định; đối với cơ quan, đơn vị, tổ chức,
doanh nghiệp thuộc Bộ, ngành Trung ương quản lý do cơ quan tài chính của Bộ,
ngành hoặc Bộ Tài chính xác định. Giá trị tài sản bị thiệt hại được tính so với
giá trị tài sản theo báo cáo kiểm kê tài sản gần nhất trước thời điểm bị thiệt
hại. b)
Người sử dụng lao động thuộc đối tượng quy định tại điểm a khoản 2 Điều 16
của
Nghị định số 115/2015/NĐ-CP, làm văn bản đề nghị kèm theo danh sách lao động tại
thời điểm trước khi tạm dừng sản xuất, kinh doanh và tại thời điểm đề nghị; danh
sách lao động thuộc
diện tham gia bảo hiểm xã hội phải tạm thời nghỉ việc.
Người
sử dụng lao động thuộc đối tượng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 16
của
Nghị định số 115/2015/NĐ-CP, làm văn bản đề nghị kèm theo Báo cáo kiểm kê tài
sản gần nhất trước thời điểm bị thiệt hại; Biên bản kiểm kê tài sản thiệt hại do
thiên tai, hoả hoạn, dịch bệnh, mất mùa. c)
Trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ khi nhận được đề nghị của người sử dụng
lao động, cơ quan quy định tại điểm a khoản này có trách nhiệm xem xét, xác định
và có văn bản trả lời người
sử dụng lao động.
3.
Người sử dụng lao động đảm
bảo điều kiện quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 16 của Nghị định số
115/2015/NĐ-CP có văn bản đề nghị tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất, kèm
theo văn bản xác định số lao động thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội tạm thời
nghỉ việc hoặc văn bản xác định giá trị tài sản bị thiệt hại gửi cơ quan bảo
hiểm xã hội. 4.
Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị của người sử
dụng lao động, cơ quan bảo hiểm xã hội có trách nhiệm giải quyết tạm dừng đóng
vào quỹ hưu trí và tử tuất; trường
hợp không giải quyết thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.
Thời
điểm tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất tính từ tháng người sử dụng lao
động có văn bản đề nghị. Điều 29. Tạm dừng đóng vào quỹ bảo hiểm xã
hội 1. Tạm dừng đóng bảo hiểm xã hội đối với người lao động
đang tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc mà bị tạm giam được thực hiện theo quy
định tại khoản 5 Điều 16 của Nghị định số
115/2015/NĐ-CP. 2.
Người
lao động bị tạm đình chỉ công việc thì người lao động và người sử dụng lao động
được tạm dừng đóng bảo hiểm xã hội. Hết
thời hạn tạm đình chỉ công việc, nếu người lao động được trả đủ tiền lương cho
thời gian bị tạm đình chỉ công việc thì người lao động và người sử dụng lao
động
thực hiện việc đóng bù bảo hiểm xã hội cho thời gian bị tạm đình chỉ công việc.
Số tiền đóng bù không phải tính lãi chậm đóng theo quy định tại khoản 3 Điều 122
của Luật bảo hiểm xã hội. Điều
30. Tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc Tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội đối với người lao
động đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định được quy định như
sau: 1. Từ
ngày 01 tháng 01 năm 2016 đến ngày 31 tháng 12 năm 2017, tiền lương tháng đóng
bảo hiểm xã hội là mức lương và phụ cấp
lương theo quy định tại khoản 1 và điểm a khoản 2 Điều 4 của Thông tư số
47/2015/TT-BLĐTBXH ngày 16 tháng 11 năm 2015 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã
hội hướng dẫn
thực hiện một số điều về hợp đồng lao động, kỷ luật lao động, trách nhiệm vật
chất của Nghị định số 05/2015/NĐ-CP ngày 12 tháng 01 năm 2015 của Chính phủ quy
định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ luật lao động (sau
đây được viết là Thông
tư số 47/2015/TT-BLĐTBXH). Phụ
cấp lương theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 4 của Thông tư số
47/2015/TT-BLĐTBXH là các khoản phụ cấp
lương để bù đắp yếu tố về điều kiện lao động, tính chất phức tạp công việc, điều
kiện sinh hoạt, mức độ thu hút lao động mà mức lương thỏa thuận trong hợp đồng
lao động chưa được tính đến hoặc tính chưa đầy đủ như phụ cấp chức vụ, chức
danh; phụ cấp trách nhiệm; phụ
cấp nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm;
phụ cấp thâm niên; phụ cấp khu vực; phụ cấp lưu động; phụ cấp thu hút và các phụ
cấp có tính chất tương tự. 2. Từ ngày 01 tháng 01 năm 2018 trở đi, tiền lương tháng
đóng bảo hiểm xã hội là mức lương, phụ cấp lương theo quy định tại khoản 1 Điều
này và các khoản bổ sung khác theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 4 của Thông
tư số 47/2015/TT-BLĐTBXH. 3.
Tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc không bao gồm các khoản
chế độ và phúc
lợi khác, như tiền thưởng theo quy định tại Điều 103 của Bộ luật lao động, tiền
thưởng sáng kiến; tiền ăn giữa ca; các khoản hỗ trợ xăng xe, điện thoại, đi lại,
tiền nhà ở, tiền giữ trẻ, nuôi con nhỏ; hỗ trợ khi người lao động có thân nhân
bị chết, người lao động có người thân kết hôn, sinh nhật của người lao động, trợ
cấp cho người lao động gặp hoàn cảnh khó khăn khi bị tai nạn lao động, bệnh nghề
nghiệp và các khoản hỗ trợ, trợ cấp khác ghi thành mục riêng trong hợp đồng lao
động theo khoản 11 Điều 4 của Nghị định số 05/2015/NĐ-CP ngày 12 tháng 01 năm
2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung của
Bộ luật lao động. 4. Tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội đối với người
quản lý doanh nghiệp có hưởng tiền lương quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 2 của
Nghị định số 115/2015/NĐ-CP là tiền lương do doanh nghiệp quyết định, trừ viên
chức quản lý chuyên trách trong công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do
nhà nước làm chủ sở hữu. Tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội đối với người quản
lý điều hành hợp tác xã có hưởng tiền lương quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 2
của Nghị định số 115/2015/NĐ-CP là tiền lương do đại hội thành viên quyết
định. 5.
Tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội đối với người đại diện phần vốn nhà nước
không chuyên trách tại các tập đoàn kinh tế, tổng công ty, công ty
nhà nước sau cổ phần hóa; công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên
(sau đây được viết là tập đoàn, tổng công ty, công ty) là tiền lương theo chế độ
tiền lương của cơ quan, tổ chức đang công
tác trước khi được cử làm đại
diện phần vốn nhà nước. Tiền
lương tháng đóng bảo hiểm xã hội đối với người đại diện phần vốn nhà nước chuyên
trách tại các tập
đoàn, tổng công ty, công ty là tiền
lương theo chế độ tiền lương do tập
đoàn, tổng công ty, công ty quyết định.
6.
Trong
thời gian người
lao động ngừng việc theo quy định của pháp luật về lao động mà vẫn được hưởng
tiền lương thì người lao động và người sử dụng lao động thực hiện đóng bảo hiểm
xã hội bắt buộc theo mức tiền lương người lao động được hưởng trong thời gian
ngừng việc. Chương IV QUY
ĐỊNH CHUYỂN TIẾP Điều 31. Phụ cấp khu vực đối với người hưởng bảo hiểm xã
hội 1.
Phụ cấp khu vực đối với người hưởng bảo hiểm xã hội được
thực hiện theo quy định tại Điều 21 của Nghị định số
115/2015/NĐ-CP. Trường
hợp người lao động trước ngày 01 tháng 01 năm 1995 công tác tại nơi có phụ cấp
khu vực và từ ngày 01 tháng 01 năm 1995 trở đi đóng bảo hiểm xã hội không bao
gồm phụ cấp khu vực khi nghỉ việc đủ điều kiện hưởng lương hưu hoặc bảo hiểm xã
hội một lần hoặc chết kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2016 trở đi thì được giải quyết
trợ cấp một lần theo quy
định tại Điều 21 của Nghị định số 115/2015/NĐ-CP. 2. Cách tính mức trợ cấp một lần đối với trường hợp quy
định tại điểm a khoản 2 Điều 21 của Nghị định số 115/2015/NĐ-CP được tính như
sau: a) Mức trợ cấp một lần đối với người hưởng lương hưu hoặc
hưởng bảo hiểm xã hội một lần hoặc thân nhân của người lao động chết được tính
như sau: Trong đó: M: mức trợ cấp một lần đối với thời gian đóng bảo hiểm xã
hội có bao gồm phụ cấp khu vực; Hi:
hệ số phụ cấp khu vực i nơi người lao
động đóng bảo hiểm xã hội. Hệ số phụ cấp khu vực i được xác định theo quy định tại khoản
3 Điều
21 của Nghị định số 115/2015/NĐ-CP. Đối với thời gian công tác trước ngày 01 tháng 01 năm
1995 thì tính theo hệ số phụ cấp khu vực
quy định tại Thông tư liên tịch số 11/2005/TTLT-BNV-BLĐTBXH-BTC-UBDT ngày 05
tháng 01 năm 2005 của liên Bộ Nội vụ, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ
Tài chính và Uỷ ban Dân tộc. Tj: số tháng đóng bảo hiểm xã hội vào quỹ bảo
hiểm xã hội có bao gồm phụ cấp khu vực hệ số
Hi; 15%: tỷ lệ đóng bảo hiểm xã hội vào quỹ hưu trí và tử
tuất theo tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của người lao
động; Lmin: mức lương cơ sở tại tháng người lao động
bắt đầu hưởng lương hưu hoặc bảo hiểm xã hội một lần hoặc tháng người lao động
chết. Ví dụ 52: Ông A nghỉ việc hưởng lương hưu vào tháng
3/2016, trước đó đã có thời gian đóng bảo hiểm xã hội bao gồm phụ cấp khu vực
như sau:
Mức lương cơ sở tại thời điểm tháng 3/2016 là 1.150.000
đồng. Mức trợ cấp một lần đối với ông A được tính như
sau: {(0,5 x 24 x 15%) + (0,7 x 72 x 15%)} x 1.150.000 =
10.764.000 đồng b)
Trường hợp người lao động thuộc đối
tượng quy định tại điểm
a khoản 2 Điều 21 của Nghị định số 115/2015/NĐ-CP có thời gian là hạ sĩ
quan, chiến sĩ quân đội nhân dân và công an nhân dân thuộc diện hưởng phụ cấp
quân hàm thì mức hưởng trợ cấp một lần đối với thời gian đóng bảo hiểm xã hội có
bao gồm phụ cấp khu vực đối với thời gian này được tính theo công thức
sau: Trong đó: N: mức trợ cấp một lần đối với thời gian là hạ sĩ quan,
chiến sĩ quân đội nhân dân, công an nhân dân đóng bảo hiểm xã hội có bao gồm phụ
cấp khu vực; Hi: hệ số phụ cấp khu vực nơi hạ sĩ quan,
chiến sĩ quân đội nhân dân và công an nhân dân đóng bảo hiểm xã hội thuộc diện
hưởng phụ cấp quân hàm; Tj:
số tháng đóng bảo hiểm xã hội vào quỹ bảo hiểm xã hội có bao gồm phụ cấp khu vực
hệ số Hi cho
thời gian là hạ sĩ quan, chiến sĩ quân đội nhân dân và công an nhân
dân; 0,4: hệ số phụ cấp quân hàm binh
nhì; Lmin: mức lương cơ sở tại tháng bắt đầu hưởng
lương hưu hoặc bảo hiểm xã hội một lần hoặc tháng người lao động
chết. Điều 32. Chế độ đối với người đang hưởng trợ cấp ốm đau
do mắc bệnh cần chữa trị dài ngày trước ngày 01 tháng 01 năm
2016 Người
lao động nghỉ việc do mắc bệnh thuộc Danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày
do
Bộ Y tế ban hành đang hưởng
chế
độ ốm đau
trước ngày 01 tháng 01 năm 2016 và từ ngày 01 tháng 01 năm 2016 vẫn đang hưởng
trợ cấp ốm đau thì được tiếp tục thực hiện chế độ ốm đau, không bị khống chế
thời hạn hưởng trợ cấp theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 26 của Luật bảo
hiểm xã hội. Trường hợp người lao động đang hưởng trợ cấp ốm đau mà có
thời gian đóng bảo hiểm xã hội dưới 15 năm thì không điều chỉnh mức hưởng theo
quy định tại điểm c khoản 2 Điều 28 của Luật bảo hiểm xã
hội. Ví dụ 53: Bà S có thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc
được 2 năm, nghỉ việc hưởng trợ cấp ốm đau do mắc bệnh thuộc danh mục bệnh cần
chữa trị dài ngày từ ngày 01/01/2013 đến ngày 01/01/2016 bà S vẫn đang hưởng trợ
cấp ốm đau và vẫn phải tiếp tục điều trị. Bà
S được tiếp tục hưởng trợ cấp ốm đau mà không bị khống chế thời
gian hưởng tối đa bằng thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội quy định tại
điểm b khoản 2 Điều 26 của Luật bảo hiểm xã hội, nhưng mức hưởng trợ cấp ốm đau
không được điều chỉnh. Điều
33. Tính thời gian công tác đối với quân nhân, công an nhân dân phục viên, xuất
ngũ, thôi việc trước ngày 01 tháng 01 năm 1995 và người lao động
đã có thời gian làm cán bộ cấp xã và được điều động, tuyển dụng vào quân đội
nhân dân, công an nhân dân hoặc vào làm việc trong các cơ quan, đơn vị, doanh
nghiệp của nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội trước ngày 01
tháng 01 năm 1998 1. Tính thời gian công tác đối với quân nhân, công an
nhân dân phục viên, xuất ngũ, thôi việc trước ngày 01 tháng 01 năm
1995. a)
Tính thời gian công tác đối
với quân nhân, công an nhân dân phục viên, xuất ngũ, thôi việc trước ngày 01
tháng 01 năm 1995 để
tính hưởng bảo hiểm xã hội được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 23 của
Nghị định số 115/2015/NĐ-CP và được hướng dẫn cụ thể như
sau: Quân
nhân, công an nhân nhân dân được cử đi hợp tác lao động, khi về nước được giải
quyết phục viên, xuất ngũ về địa phương trước ngày 15 tháng 12 năm 1993, sau đó
tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc mà
không hưởng chế độ trợ cấp theo quy định tại các văn bản nêu tại khoản
2 Điều 23 của Nghị định số 115/2015/NĐ-CP thì được
cộng nối thời gian công tác trước khi đi hợp tác lao động với thời gian công tác
có đóng bảo hiểm xã hội sau này để tính hưởng bảo hiểm xã hội; thời
gian đi hợp tác lao động nếu chưa được giải quyết hưởng trợ cấp thôi việc, trợ
cấp một lần thì được tính hưởng bảo hiểm xã hội. b)
Quân nhân, công an nhân dân phục viên, xuất ngũ, thôi việc trước ngày 15 tháng
12 năm 1993, tham
gia bảo hiểm xã hội tự nguyện sau đó mới tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc cũng
được áp dụng quy định tại
khoản
2 Điều 23 của Nghị định số 115/2015/NĐ-CP để tính hưởng bảo hiểm xã hội.
2.
Người
lao động có thời gian đảm nhiệm các chức danh (kể cả chức danh khác có trong định
biên được phê duyệt thuộc Ủy ban nhân dân)
thuộc đối tượng đóng bảo hiểm xã hội theo quy định tại Nghị định số
09/1998/NĐ-CP mà được điều động, tuyển dụng vào quân đội nhân dân, công an nhân
dân hoặc vào làm việc trong các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp của nhà nước, tổ
chức chính trị, tổ chức chính trị- xã hội trước
ngày 01 tháng 01 năm 1998 thì được tính là
thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội để cộng nối với thời gian đóng bảo hiểm xã hội
sau khi được điều động, tuyển dụng để tính hưởng bảo hiểm xã
hội. Trong thời gian đảm nhiệm các chức danh nêu trên, được cơ
quan có thẩm quyền cử đi học chuyên môn, chính trị, sau khi hoàn thành khóa học
tiếp tục giữ các chức danh này hoặc được điều động, tuyển dụng ngay vào quân đội
nhân dân, công an nhân dân hoặc vào làm việc trong các cơ quan, đơn vị, doanh
nghiệp của nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thì thời gian
đi học được tính để hưởng bảo hiểm xã hội. Trong thời
gian đảm nhiệm các chức danh nêu trên, có thời gian gián đoạn giữ các chức danh
này không quá 12 tháng thì được tính cộng nối thời gian công tác trước đó với
thời gian công tác sau này để tính hưởng bảo hiểm xã hội, trừ thời gian gián
đoạn. Điều
34. Tính thời gian công tác đối với người
lao động làm việc thuộc khu vực nhà nước, nghỉ chờ việc từ ngày 01 tháng 11 năm
1987 đến trước ngày 01 tháng 01 năm 1995 1. Người lao động làm việc thuộc khu vực nhà nước, nghỉ
chờ việc từ ngày 01 tháng 11 năm 1987 đến trước ngày 01 tháng 01 năm 1995 do
doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức không sắp xếp, bố trí được việc làm, chưa giải
quyết trợ cấp thôi việc hoặc bảo hiểm xã hội một lần, tính đến ngày 31 tháng 12
năm 1994 vẫn còn có tên trong danh sách lao động của đơn vị thì được tính thời
gian công tác trước khi nghỉ chờ việc để tính hưởng bảo hiểm xã
hội. 2. Hồ sơ đề nghị tính thời gian
công tác trước khi nghỉ chờ việc bao gồm: a) Tờ khai tham gia bảo hiểm xã hội của người lao
động. b) Lý lịch gốc và lý lịch bổ
sung (nếu có) của người lao động, quyết định tiếp nhận, hợp đồng lao động, các
giấy tờ có liên quan khác như: quyết định nâng bậc lương, quyết định điều động
hoặc quyết định chuyển công tác, quyết định phục viên xuất ngũ, chuyển ngành,
giấy thôi trả lương. c) Danh sách của đơn vị có tên người lao động đến ngày 31 tháng 12
năm 1994 hoặc các giấy tờ xác định người lao động có tên trong danh sách của đơn
vị đến ngày 31 tháng 12 năm 1994; d) Quyết định nghỉ chờ việc. Trường hợp không có quyết định nghỉ
chờ việc thì phải có xác nhận bằng văn bản của thủ trưởng đơn vị tại thời điểm
lập hồ sơ đề nghị cấp sổ bảo hiểm xã hội, trong đó đảm bảo người lao động có tên
trong danh sách của đơn vị tại thời điểm có quyết định nghỉ chờ việc và
chưa giải quyết trợ cấp thôi việc hoặc bảo hiểm xã hội
một lần. Trường hợp đơn vị đó giải thể, thì do cơ quan
quản lý cấp trên trực tiếp xác nhận. 3. Trình tự, thời hạn giải quyết: a) Người lao động và người sử dụng lao động
hoàn thiện hồ sơ quy định tại khoản 2 Điều này gửi cơ quan bảo hiểm xã
hội;
b) Trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ từ người sử
dụng lao động, cơ quan bảo hiểm xã hội phải giải quyết;
trường
hợp không giải quyết thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.
Điều
35. Tính thời gian công tác đối với người
lao động đi hợp tác lao động trước ngày 01 tháng 01 năm 1995 Tính
thời gian công tác đối với người
lao động đi hợp tác lao động trước ngày 01 tháng 01 năm 1995 để
tính hưởng chế độ hưu trí, tử tuất được quy định tại khoản 4 và khoản 5 Điều 23
của Nghị định số 115/2015/NĐ-CP và được hướng dẫn cụ thể như
sau: 1.
Thời gian công
tác, học tập, làm việc ở nước ngoài trong thời hạn cho phép bao
gồm: a) Thời gian công tác, học tập, làm việc thực tế trong
thời hạn được ghi trong quyết định của đơn vị cử đi công tác, học tập, làm việc
ở nước ngoài, kể cả thời gian được gia hạn do đơn vị cử đi cho
phép. b) Trường hợp một người có nhiều lần đi công tác, học
tập, làm việc ở nước ngoài thì được cộng thời gian của các lần ở nước ngoài
trong thời hạn cho phép thành thời gian công tác để tính hưởng chế độ hưu trí,
tử tuất. c) Người lao động đang làm việc ở trong nước, được đơn vị
cử đi nâng cao tay nghề ở nước ngoài, sau đó chuyển sang hợp tác lao động theo
Hiệp định của Chính phủ thì thời gian nâng
cao tay nghề được tính để hưởng chế độ hưu trí, tử
tuất. 2. Mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã
hội a)
Mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội để tính lương hưu, trợ cấp
một lần khi nghỉ hưu, bảo hiểm xã hội một lần và trợ cấp tuất của các đối tượng
quy
định tại khoản 4 và khoản 5 Điều 23 của Nghị định số 115/2015/NĐ-CP
được tính theo quy định tại Điều
62 của Luật bảo hiểm xã hội, Điều
9 của Nghị định số 115/2015/NĐ-CP
và Điều 20 của Thông tư này. b) Đối với trường hợp có
thời gian công tác trong quân đội, công an nhân dân tiếp đó đi hợp tác lao động
ở nước ngoài, sau khi về nước được chuyển ngành sang
làm việc tại các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp nhà nước thuộc diện được tính
cộng phụ cấp thâm niên nghề trong lương hưu theo quy định thì mức phụ cấp thâm
niên quân đội, công an nhân dân được tính
trên
cơ sở mức
lương sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân và
sĩ quan, hạ sĩ quan công an nhân dân
tại thời điểm trước
khi đi
hợp tác lao động ở nước ngoài,
được chuyển đổi theo chế độ tiền lương quy định tại thời điểm nghỉ hưu để làm cơ
sở tính lương hưu. 3. Hồ sơ đề nghị tính thời gian công tác
3.1. Hồ sơ của người đi lao động có thời hạn ở nước ngoài
theo Hiệp định của Chính phủ và của người đi làm đội trưởng, phiên dịch, cán bộ
vùng do nước ngoài trả lương bao gồm: a) Lý lịch gốc, lý lịch bổ sung (nếu có), các giấy tờ gốc
có liên quan đến thời gian làm việc, tiền lương của người lao động trước khi đi
làm việc ở nước ngoài; quyết định tiếp nhận trở lại làm việc đối với trường hợp
người lao động về nước và tiếp tục làm việc trước ngày 01 tháng 01 năm 1995.
Trường hợp không có Quyết định tiếp nhận thì được thay thế bằng Lý lịch do người
lao động khai khi được tiếp nhận trở lại làm việc hoặc lý lịch của người lao
động khai có xác nhận của đơn vị tiếp nhận. b) Bản chính “Thông báo chuyển trả” hoặc “Quyết định
chuyển trả” của Cục Hợp tác quốc tế về lao động (nay là Cục Quản lý lao động
ngoài nước) cấp; Trường hợp không còn bản chính “Thông báo chuyển
trả” hoặc “Quyết định chuyển trả” thì phải có Giấy xác nhận về thời gian đi hợp
tác lao động để giải quyết chế độ bảo hiểm xã hội của Cục Quản lý lao động ngoài
nước trên cơ sở đơn đề nghị của người
lao động (theo Mẫu số 1và số 2 ban hành kèm theo Thông tư
này). c)
Giấy xác nhận chưa
được giải quyết trợ cấp thôi việc, trợ cấp một lần (hoặc
trợ cấp một lần,
trợ cấp phục viên, xuất ngũ đối với trường hợp quân
nhân, công an nhân dân phục viên, xuất ngũ, thôi việc trong khoảng thời gian
ngày 15 tháng 12 năm 1993 đến ngày 31 tháng 12 năm 1994) sau
khi về nước của cơ quan, đơn vị trực tiếp quản lý người lao động trước khi đi
công tác, làm việc có thời hạn ở nước ngoài. Trường hợp cơ quan, đơn vị đã giải
thể thì cơ quan, đơn vị quản lý cấp trên trực tiếp xác
nhận. d) Đơn đề nghị tính thời gian công tác hưởng chế độ hưu
trí, tử tuất đối với người lao động đã nghỉ việc. 3.2. Hồ sơ của người đi làm việc ở nước ngoài theo hình
thức hợp tác trực tiếp giữa các Bộ, địa phương của Nhà nước ta với các tổ chức
kinh tế của nước ngoài bao gồm: a) Hồ sơ quy định tại tiết a, c và d điểm 3.1 khoản 3
Điều này; b) Bản chính Quyết định cử đi công tác, làm việc có thời
hạn ở nước ngoài hoặc bản sao Quyết định trong trường hợp người lao
động được cử đi công tác, làm
việc có thời hạn ở nước ngoài bằng một Quyết định chung cho nhiều
người. Trường hợp không còn bản chính Quyết định cử đi công tác,
làm việc có thời hạn ở nước ngoài thì được thay thế bằng bản sao Quyết định có
xác nhận của Bộ chủ quản đối với người lao động làm việc ở nước ngoài theo hình
thức hợp tác do Bộ cử đi hoặc xác nhận của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội
địa phương đối với người lao động do địa phương cử
đi. Đối
với trường hợp không có Quyết định cử đi công tác, làm việc, học tập, thực tập
có thời hạn ở nước ngoài thì phải có xác nhận bằng văn bản của thủ trưởng cơ
quan, đơn vị cử người lao động, trong đó ghi rõ thời gian người lao động được cử
đi công tác, làm việc, học tập, thực tập có thời hạn ở nước ngoài và phải chịu
trách nhiệm trước pháp luật về nội dung xác nhận. Trường hợp cơ quan, đơn vị cử
đi không còn tồn tại thì cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp xác nhận và chịu
trách nhiệm trước pháp luật về nội dung xác nhận. 3.3. Hồ sơ của người đi học tập, thực tập ở nước ngoài
bao gồm: a) Hồ sơ quy định tại tiết a, c và d điểm 3.1 khoản 3
Điều này; b) Bản chính Quyết định cử đi học tập, thực tập có thời
hạn ở nước ngoài hoặc bản sao Quyết định trong trường hợp người lao
động được cử đi học tập, thực tập có thời hạn ở nước ngoài bằng một
Quyết định chung cho nhiều người. Trường hợp không còn bản chính Quyết định cử đi học tập,
thực tập có thời hạn ở nước ngoài thì được thay thế bằng bản sao Quyết định có
xác nhận của đơn vị cử đi. Đối
với trường hợp không có Quyết định cử đi công tác, làm việc, học tập, thực tập
có thời hạn ở nước ngoài thì phải có xác nhận bằng văn bản của thủ trưởng cơ
quan, đơn vị cử người lao động, trong đó ghi rõ thời gian người lao động được cử
đi công tác, làm việc, học tập, thực tập có thời hạn ở nước ngoài và phải chịu
trách nhiệm trước pháp luật về nội dung xác nhận. Trường hợp cơ quan, đơn vị cử
đi không còn tồn tại thì cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp xác nhận và chịu
trách nhiệm trước pháp luật về nội dung xác nhận. 3.4. Hồ sơ của người đi làm chuyên gia theo Hiệp định của
Chính phủ bao gồm: a) Hồ sơ quy định tại tiết a, c và d điểm 3.1 khoản 3
Điều này; b) Bản chính Quyết định cử đi làm chuyên gia ở nước ngoài
hoặc bản sao Quyết định trong trường hợp người lao động được cử
đi làm chuyên gia bằng một Quyết định chung cho nhiều
người; Trường hợp không còn bản chính Quyết định cử đi làm
chuyên gia ở nước ngoài thì được thay thế bằng bản sao Quyết định có xác nhận
của đơn vị cử đi. Đối
với trường hợp không có Quyết định cử đi công tác, làm việc, học tập, thực tập
có thời hạn ở nước ngoài thì phải có xác nhận bằng văn bản của thủ trưởng cơ
quan, đơn vị cử người lao động, trong đó ghi rõ thời gian người lao động được cử
đi công tác, làm việc, học tập, thực tập có thời hạn ở nước ngoài và phải chịu
trách nhiệm trước pháp luật về nội dung xác nhận. Trường hợp cơ quan, đơn vị cử
đi không còn tồn tại thì cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp xác nhận và chịu
trách nhiệm trước pháp luật về nội dung xác nhận. c) Giấy xác nhận của cơ quan quản lý
chuyên gia về việc đã hoàn thành nghĩa vụ đóng góp cho ngân sách nhà nước và
đóng bảo hiểm xã hội theo quy định của Nhà nước của chuyên gia trong thời gian
làm việc ở nước ngoài. 4. Trách nhiệm thực hiện của người lao động, người sử
dụng lao động và cơ quan bảo hiểm xã hội: 4.1. Đối với trường hợp người lao động đang nghỉ
việc: a) Người lao động nộp hồ sơ quy định tại khoản 3
Điều này cho đơn vị quản lý cuối cùng nơi người lao động làm việc. Trường hợp
đơn vị đã giải thể thì người lao động nộp hồ sơ cho cơ quan quản lý cấp trên
trực tiếp. b) Đơn vị quản lý cuối cùng của người lao động có trách
nhiệm tiếp nhận hồ sơ và chuyển hồ sơ của người lao động kèm theo văn bản đề
nghị gửi cơ quan bảo hiểm xã hội nơi đơn vị đóng bảo hiểm xã
hội. c) Cơ quan bảo
hiểm xã hội có trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ và giải quyết chế độ đối với người
lao động đã đủ điều kiện hưởng chế độ hưu trí trong thời hạn quy định tại khoản
4 Điều 110 của Luật bảo hiểm xã hội; cấp sổ bảo hiểm xã hội đối với người lao
động chưa được cấp sổ bảo hiểm xã hội trong thời hạn quy định tại khoản 3 Điều
99 của Luật bảo hiểm xã hội; ghi bổ sung thời gian công tác đối với người lao
động đã được cấp sổ bảo hiểm xã hội trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ khi
nhận đủ hồ sơ theo quy định. Trường hợp không giải quyết thì cơ quan bảo hiểm xã
hội phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. 4.2. Đối với trường hợp người lao động đang đóng bảo hiểm
xã hội: a) Người lao động có trách nhiệm bổ sung hồ sơ quy định
tại khoản 3 Điều này cho đơn vị sử dụng lao động khi được yêu
cầu. b) Đơn vị sử dụng lao động có trách nhiệm chuyển hồ sơ
của người lao động kèm theo văn bản đề nghị gửi cơ quan bảo hiểm xã hội nơi đơn
vị đóng bảo hiểm xã hội. c) Cơ quan bảo
hiểm xã hội có trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ và giải quyết chế độ đối với người
lao động theo quy định tại tiết c điểm 4.1 khoản này. 4.3. Đối với trường hợp người lao động đã chết sau khi về
nước nhưng thân nhân chưa được hưởng chế độ tử tuất: a) Thân nhân của người lao động nộp hồ sơ theo quy định
tại khoản 3 Điều này kèm theo sổ bảo hiểm xã hội của người lao động (nếu đã được
cấp), Giấy chứng tử hoặc Giấy báo tử, tờ khai của thân nhân theo mẫu do cơ quan
bảo hiểm xã hội quy định kèm theo đơn đề nghị giải quyết chế độ tử tuất cho đơn
vị quản lý cuối cùng của người lao động
(theo Mẫu số 3 ban hành kèm theo Thông tư này). b) Đơn vị quản lý cuối cùng của người lao động có trách
nhiệm tiếp nhận, hướng dẫn thân nhân người lao động hoàn thiện hồ sơ và chuyển
đến cơ quan bảo hiểm xã hội nơi đơn vị đóng bảo hiểm xã hội kèm theo công văn đề
nghị giải quyết chế độ. c) Cơ quan bảo
hiểm xã hội có trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ và giải quyết chế độ tử tuất đối với
thân nhân của người lao động trong thời hạn quy định tại khoản 3 Điều 112 của
Luật bảo hiểm xã hội. Trường hợp không giải quyết thì cơ quan bảo hiểm xã hội
phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Điều
36. Nâng bậc lương để làm cơ sở tính lương hưu đối với người lao động có thời
gian làm chuyên gia ở nước ngoài về nước đúng hạn Người
có thời gian làm chuyên gia ở nước ngoài về nước đúng hạn, đủ điều kiện nâng
thêm bậc lương để làm cơ sở tính lương hưu theo quy định tại Thông tư số
02/LĐTBXH-TT ngày 11 tháng 2 năm 1998 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
(sau đây được viết là Thông tư số 02/LĐTBXH-TT) thì việc giải quyết nâng lương
để tính lương hưu được thực hiện theo quy định sau: 1.
Trường hợp chưa xếp bậc lương cuối cùng trong ngạch hoặc chức danh thì thực hiện
nâng lên bậc lương cao hơn trong ngạch hoặc trong chức danh theo chế độ nâng bậc
lương thường xuyên. 2.
Trường hợp đã xếp bậc lương cuối cùng trong ngạch hoặc chức danh hoặc đã được
hưởng phụ cấp thâm niên vượt khung thì được tính hưởng phụ cấp thâm niên vượt
khung theo quy định tại Thông tư số 04/2005/TT-BNV ngày 05 tháng 01 năm 2005 của
Bộ Nội vụ hướng dẫn thực hiện chế độ phụ cấp thâm niên vượt khung đối với cán
bộ, công chức, viên chức. Ví
dụ 54: Ông
H, nguyên là giảng viên chính của Trường Đại học C, nghỉ hưu tháng 6/2008, trước
khi nghỉ hưu hưởng lương bậc 8/8, ngạch Giảng viên chính, hệ số lương 6,78.
Thời gian để tính nâng lương theo Thông tư
số 02/LĐTBXH-TT của ông H là 4 năm 7 tháng. Như vậy, ông H được tính 5% phụ cấp thâm niên vượt khung cho 3 năm đầu và 2%
phụ cấp thâm niên vượt khung cho 1 năm 7 tháng còn lại. Hệ
số lương
sau khi điều chỉnh của ông H là 6,78 cộng với 7% phụ cấp thâm niên vượt
khung. Ông
H được lấy hệ số lương 6,78 cộng với 7% phụ cấp thâm niên vượt khung để tính mức
bình
quân tiền lương đã đóng bảo hiểm xã hội trong 3 năm cuối cùng, và lấy
hệ số lương 6,78 cộng với 5% phụ cấp thâm niên vượt khung để tính mức
bình
quân tiền lương đã đóng bảo hiểm xã hội trong 2 năm còn lại làm cơ sở tính hưởng
lương hưu, trợ cấp một lần khi nghỉ hưu. Ví
dụ 55: Bà
K, nguyên là bác sĩ Bệnh viện T, nghỉ hưu tháng 02/2016, trước khi nghỉ hưu
hưởng lương bậc 9/9, ngạch bác sĩ, hệ số lương 4,98 cộng với 5% phụ cấp thâm
niên vượt khung. Thời gian để tính nâng
lương theo Thông tư số 02/LĐTBXH-TT của bà K là 3 năm 2 tháng. Như vậy, bà K được tính thêm 3% phụ cấp thâm niên vượt khung cho 3 năm 2
tháng. Hệ số lương sau khi
điều chỉnh của bà K là 4,98 cộng với 8% phụ cấp thâm niên vượt
khung. Bà
K được lấy hệ số lương 4,98 cộng với 8% phụ cấp thâm niên vượt khung để tính mức
bình quân tiền lương tháng đã đóng bảo hiểm
xã hội trong 3 năm cuối cùng, và lấy hệ số lương 4,98 cộng với 5% phụ cấp
thâm niên vượt khung để tính mức bình quân
tiền lương đã đóng bảo hiểm xã hội trong 2 năm còn lại làm cơ sở tính hưởng
lương hưu, trợ cấp một lần khi nghỉ hưu. Điều
37. Chế độ đối với người đang hưởng trợ cấp hằng tháng mà trước đó có thời gian
đóng bảo hiểm xã hội chưa được tính hưởng bảo hiểm xã hội 1.
Người lao động có đủ điều kiện hưởng trợ cấp hằng tháng theo Quyết
định số 91/2000/QĐ-TTg và
Quyết
định số 613/QĐ-TTg mà có thời gian đóng bảo hiểm xã hội (không bao gồm thời gian
công tác đã được tính hưởng trợ cấp mất sức lao động) quy định tại Điều 24 của
Nghị định số 115/2015/NĐ-CP, việc giải quyết được hướng dẫn như
sau: a) Người lao động có thời gian đóng bảo hiểm xã hội đủ
điều kiện hưởng lương hưu thì được hưởng một chế độ có mức hưởng cao hơn. Trường
hợp mức lương hưu cao hơn thì được giải quyết hưởng lương hưu, dừng hưởng trợ
cấp hằng tháng kể từ tháng hưởng lương hưu. Trường
hợp mức hưởng trợ cấp hằng tháng theo Quyết
định số 91/2000/QĐ-TTg và
Quyết
định số 613/QĐ-TTg cao hơn lương hưu thì tiếp tục hưởng trợ cấp hằng tháng. Thời
gian đã đóng bảo hiểm xã hội (không bao gồm thời gian công tác đã được tính
hưởng trợ cấp mất sức lao động) được giải quyết bảo hiểm xã hội một lần theo quy
định tại Điều 60 của Luật bảo hiểm xã hội, Điều 8 của Nghị định số
115/2015/NĐ-CP và Điều 19 của Thông tư này. b) Người lao động chưa đủ điều kiện về thời gian đóng bảo
hiểm xã hội để hưởng lương hưu, nếu có nguyện vọng thì được đóng bảo hiểm xã hội
tự nguyện để được hưởng lương hưu với mức cao hơn.
Trường hợp không có nguyện vọng đóng tiếp bảo hiểm xã hội
tự nguyện thì tiếp tục hưởng trợ cấp hằng tháng và giải quyết hưởng bảo hiểm xã
hội một lần đối với thời gian đã đóng bảo hiểm xã
hội. 2. Người lao động đang hưởng trợ cấp mất sức lao động
hàng háng mà có thời gian đóng bảo hiểm xã hội (không bao gồm thời gian công tác
đã được tính hưởng trợ cấp mất sức lao động) thì được áp dụng quy định tại khoản
1 Điều này để giải quyết. Điều
38. Chế độ đối với người lao động đã có quyết định nghỉ việc chờ giải quyết chế
độ hưu trí, trợ cấp hằng tháng Chế độ đối với người lao động đã có quyết định nghỉ việc
chờ giải quyết chế độ hưu trí, trợ cấp hằng tháng được thực hiện theo Điều 25
của Nghị định số 115/2015/NĐ-CP và được hướng dẫn như
sau: 1. Cán bộ xã
thuộc đối tượng điều chỉnh của Nghị
định số 09/1998/NĐ-CP đã
có quyết định hoặc giấy chứng nhận chờ đủ điều kiện về tuổi đời để hưởng trợ cấp
hằng tháng của cơ quan bảo hiểm xã hội thì được hưởng trợ cấp hằng tháng khi nam
đủ 55 tuổi, nữ đủ 50 tuổi.
Mức trợ cấp hằng tháng được tính theo quy định của Nghị định số 09/1998/NĐ-CP và
được tính trên mức bình quân sinh hoạt phí của 5 năm cuối trước khi nghỉ việc,
sau đó được điều chỉnh theo các quy định về trợ cấp hằng tháng của từng thời
kỳ. Trong
thời gian nghỉ chờ để hưởng trợ cấp hằng tháng mà bị chết, thì người lo mai táng
được nhận trợ cấp mai táng bằng 10 tháng lương cơ sở. Thân nhân của người lao
động được giải quyết chế độ tử tuất theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội năm
2014. Mức trợ cấp tuất một lần được tính trên
mức bình quân sinh hoạt phí của 5 năm cuối trước khi nghỉ việc được quy đổi theo
mức lương cơ sở tại tháng người lao động chết. 2.
Trường hợp trong thời gian chờ
đủ điều kiện về tuổi đời để hưởng lương hưu hoặc trợ cấp hằng tháng mà người lao
động tiếp tục tham gia bảo hiểm xã hội thì được tính cộng nối thời gian công tác
đã được ghi nhận trong quyết
định hoặc giấy chứng nhận chờ đủ điều kiện về tuổi đời để hưởng lương hưu hoặc
trợ cấp hằng tháng
với thời gian đóng bảo hiểm xã hội sau này để tính hưởng bảo hiểm xã hội theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội và
các văn bản hướng dẫn thi hành. Điều 39. Người lao động đủ điều kiện và hưởng các chế độ
bảo hiểm xã hội trước ngày 01 tháng 01 năm 2016 1. Người lao động bị ốm đau, tai nạn rủi ro phải nghỉ
việc trước ngày 01 tháng 01 năm 2016 thì giải quyết chế độ ốm đau theo quy định
của Luật bảo hiểm xã hội năm 2006 và các văn bản hướng dẫn thi
hành. 2. Chế độ thai sản đối với lao động nữ sinh con hoặc
người lao động nhận nuôi con nuôi dưới 6 tháng tuổi trước ngày 01 tháng 01 năm
2016 được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Nghị định số
115/2015/NĐ-CP và được hướng dẫn cụ thể như sau: a) Lao động nữ sinh con hoặc người lao động nhận nuôi con
nuôi dưới 6 tháng tuổi trước ngày 01 tháng 01 năm 2016 được giải quyết chế độ
thai sản theo quy định của Bộ luật lao động năm 2012, Luật bảo hiểm xã hội năm
2006 và các văn bản hướng dẫn thi hành. b) Lao động nữ sinh con hoặc con của lao động nữ tại điểm
a nêu trên mà chết từ ngày 01 tháng 01 năm 2016 trở đi thì chế độ đối với người
cha hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng hoặc chế độ đối với người mẹ được thực hiện
theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi
hành. c)
Chế độ dưỡng
sức, phục hồi sức khoẻ sau thai sản của lao động nữ sau thời gian hưởng chế độ
khi sinh con được căn cứ vào quy định của chính sách tại thời điểm bắt đầu nghỉ
việc hưởng chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe để giải quyết, cụ
thể: Trường
hợp thời điểm bắt đầu nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe từ trước ngày 01 tháng
01 năm 2016 thì thực hiện theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội năm 2006,
mức
hưởng một ngày bằng 25% mức lương cơ sở nếu nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ
tại gia đình; bằng 40% mức lương cơ sở nếu nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ tại
cơ sở tập trung. Trường hợp thời điểm bắt đầu nghỉ dưỡng
sức, phục hồi sức khỏe từ ngày 01 tháng 01 năm 2016 trở đi thì thực hiện theo
quy định của Luật bảo hiểm xã hội năm 2014, mức hưởng chế độ dưỡng sức, phục hồi
sức khoẻ sau thai sản một
ngày bằng 30%
mức
lương
cơ sở. Ví dụ 56: Bà H đang đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc và sinh
con ngày 20/12/2015 (sinh thường). Chế độ thai sản đối với bà H được thực hiện
như sau: a)
Chế
độ thai sản khi sinh con được thực hiện theo Luật bảo hiểm xã hội năm
2006; b)
Sau thời gian hưởng chế độ thai sản, trong thời gian 30 ngày đầu làm việc mà sức
khoẻ chưa phục hồi thì bà H được xem xét giải quyết nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức
khoẻ theo
Luật bảo hiểm xã hội năm 2014.
3.
Lao động nữ sinh từ ngày 31 tháng 12 năm 1970 trở về trước, lao động nam sinh từ
ngày 31 tháng 12 năm 1965 trở về trước và có kết luận của Hội đồng giám định y
khoa bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên trước ngày 01 tháng 01 năm
2016 mà đề nghị được hưởng lương hưu kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2016 thì chế độ
hưu trí được thực hiện theo quy định của pháp luật trước ngày 01 tháng 01 năm
2016, cụ thể như sau: a) Điều kiện về tuổi đời hưởng lương hưu: nam đủ 50 tuổi,
nữ đủ 45 tuổi; b) Mỗi năm nghỉ hưu trước tuổi quy định thì tỷ lệ hưởng
lương hưu của người lao động giảm 1%. Không áp dụng các quy định nêu trên đối với các trường
hợp có kết luận của Hội đồng giám định y khoa bị suy giảm khả năng lao động từ
61% trở lên từ ngày 01 tháng 01 năm 2016 trở đi. Ví dụ 57: Bà M sinh ngày 31/12/1970, làm nghề nặng nhọc,
độc hại; có thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc 25 năm. Ngày 20/12/2015,
được Hội đồng giám định y khoa kết luận bị suy giảm khả năng lao động 61%. Cơ
quan nơi bà M làm việc đề nghị cơ quan bảo hiểm xã hội giải quyết để bà M hưởng
lương hưu từ ngày 01/01/2016. Việc giải
quyết chế độ đối với bà M được thực hiện như
sau: Trường hợp bà M được xem xét giải quyết chế độ hưu trí
theo quy định tại Luật bảo hiểm xã hội năm 2006, cụ
thể: - Bà M đủ điều kiện hưởng lương hưu hằng tháng (đủ 45
tuổi và đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội); - Tỷ lệ hưởng lương hưu của bà M được tính như
sau: + 15 năm đầu tính bằng 45%; + Từ năm thứ 16 đến năm thứ 25 là 10 năm, tính thêm: 10 x
3% = 30%; + Tổng 2 tỷ lệ trên là: 45% + 30% =
75%. + Bà M nghỉ hưu khi 45 tuổi (nghỉ hưu trước tuổi 50 theo
quy định là 5 năm) nên tỷ lệ giảm trừ do nghỉ hưu trước tuổi là
5%; Như vậy, tỷ lệ hưởng lương hưu hằng tháng của bà M sẽ là
75% - 5% = 70%. Ví dụ 58: Ông K sinh ngày 31/12/1965, có thời gian đóng
bảo hiểm xã hội bắt buộc 23 năm. Ngày 15/01/2016, được Hội đồng giám định y khoa
kết luận bị suy giảm khả năng lao động 61%. Cơ quan nơi ông K làm việc đề nghị
cơ quan bảo hiểm xã hội giải quyết để ông K hưởng lương hưu từ ngày 01/01/2016.
Ngày 15/01/2016, Hội đồng giám định y khoa mới kết luận
ông K bị suy giảm khả năng lao động 61%. Do vậy, việc giải quyết chế độ hưu trí
đối với ông K thực hiện theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội năm
2014. Tính đến thời điểm có kết luận của Hội đồng giám định y
khoa, ông K mới 50 tuổi 01 tháng nên chưa đủ điều kiện hưởng lương hưu do suy
giảm khả năng lao động theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội năm 2014 (nghỉ hưu
trong năm 2016 thì nam đủ 51 tuổi, nữ đủ 46 tuổi). 4.
Người lao động có đủ 20
năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên
trong đó có đủ
15 năm trở lên làm nghề hoặc công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm
thuộc danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế ban hành và
có
kết luận của Hội đồng giám định y khoa bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở
lên trước ngày 01 tháng 01 năm 2016 mà đề nghị được hưởng lương hưu kể từ ngày
01 tháng 01 năm 2016 thì chế độ hưu trí được thực hiện theo quy định của pháp
luật trước ngày 01 tháng 01 năm 2016. 5. Người lao động chết trước ngày 01 tháng 01 năm 2016
thì chế độ tử tuất được thực hiện theo quy định của pháp luật trước ngày 01
tháng 01 năm 2016, cụ thể như sau: a)
Người
lo mai táng được nhận trợ cấp mai táng mà không cần điều kiện về thời gian đóng
bảo hiểm xã hội đủ 12 tháng trở lên; b)
Trợ cấp tuất một lần đối với thân
nhân của người lao động đang làm việc hoặc người lao động đang bảo lưu thời gian
đóng bảo hiểm xã hội chết được tính theo số năm đã đóng bảo hiểm xã hội, cứ mỗi
năm tính bằng 1,5 tháng mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm
xã hội; mức thấp nhất bằng ba tháng mức bình quân tiền lương, tiền công
tháng. c) Thân nhân thuộc diện hưởng trợ cấp tuất hằng tháng
theo quy định không được lựa chọn hưởng trợ cấp tuất một
lần; d)
Thân nhân dưới 18 tuổi đang hưởng trợ cấp tuất hằng tháng trước ngày
01 tháng 01 năm 2016
thì
từ
ngày 01 tháng 01 năm 2016 được
tiếp tục hưởng trợ cấp tuất hằng tháng cho đến khi đủ 18 tuổi, trừ trường hợp bị
suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên.
Chương V ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH Điều 40. Hiệu
lực thi hành 1. Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 15 tháng 02
năm 2016. 2.
Các
chế độ tại Thông tư này được thực hiện kể từ ngày Nghị định số 115/2015/NĐ-CP
có
hiệu lực thi hành.
Riêng
người
làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn
từ đủ 01 tháng đến dưới 03 tháng
được áp dụng quy định tại Thông tư này kể từ ngày 01 tháng 01 năm
2018. 3.
Các văn bản sau đây hết hiệu lực thi hành kể từ ngày Thông tư này có hiệu lực
thi hành: a)
Thông tư số 03/2007/TT-BLĐTBXH ngày 30 tháng 01 năm 2007 của Bộ Lao động -
Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện một số
điều của Nghị định số 152/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ
hướng dẫn một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội bắt
buộc; b)
Thông tư số
19/2008/TT-BLĐTBXH ngày 23 tháng 9 năm 2008 của Bộ
Lao động - Thương binh và Xã hội sửa đổi, bổ sung Thông tư
số 03/2007/TT-BLĐTBXH ngày 30
tháng 01 năm 2007 về hướng dẫn thực hiện một
số điều của Nghị định số 152/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ
hướng dẫn một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội bắt
buộc; c)
Thông
tư số 41/2009/TT-BLĐTBXH ngày 30 tháng 12 năm 2009 của Bộ Lao động - Thương binh
và Xã hội hướng
dẫn sửa đổi, bổ sung Thông tư số 03/2007/TT-BLĐTBXH ngày 30 tháng 01 năm 2007 về
hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 152/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 12
năm 2006 của Chính phủ hướng dẫn một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo
hiểm xã hội bắt buộc; d)
Thông
tư số 23/2012/TT-BLĐTBXH ngày 18 tháng 10 năm 2012 của Bộ Lao động - Thương binh
và Xã hội sửa
đổi, bổ sung một số nội dung của Thông tư số 19/2008/TT-BLĐTBXH ngày 23 tháng 9
năm 2008 sửa đổi, bổ sung Thông tư số 03/2007/TT-BLĐTBXH ngày 30
tháng 01 năm 2007 về hướng dẫn thực hiện một
số điều của Nghị định số 152/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ
hướng dẫn một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội bắt
buộc; đ) Thông
tư số 24/2007/TT-BLĐTBXH ngày 09 tháng 11 năm 2007 của Bộ Lao động - Thương binh
và Xã hội hướng dẫn tính thời gian để hưởng chế độ bảo
hiểm xã hội theo Quyết định số 107/2007/QĐ-TTg ngày 13 tháng 7 năm 2007 e)
Thông
tư số 26/2010/TT-BLĐTBXH ngày 13 tháng 9 năm 2010 của Bộ Lao động - Thương binh
và Xã hội về
sửa đổi, bổ sung Thông tư số 24/2007/TT-BLĐTBXH ngày 09 tháng 11 năm 2007 về
hướng dẫn tính thời gian để hưởng chế độ bảo hiểm xã hội theo Quyết định số
107/2007/QĐ-TTg ngày 13 tháng 7 năm 2007 của Thủ tướng Chính
phủ; g) Thông
tư số 03/2009/TT-BLĐTBXH ngày 22 tháng 01 năm 2009 của Bộ Lao động - Thương binh
và Xã hội hướng
dẫn thực hiện phụ cấp khu vực đối với người hưởng lương hưu, bảo hiểm xã hội một
lần, trợ cấp mất sức lao động và trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hằng
tháng theo Nghị định số 122/2008/NĐ-CP ngày 04 tháng 12 năm 2008 của Chính
phủ.
h) Thông
tư số 24/2013/TT-BLĐTBXH ngày 17 tháng 10 năm 2013 của Bộ Lao động - Thương binh
và Xã hội hướng
dẫn khoản 2 Điều 1 Nghị định số 29/2013/NĐ-CP
ngày 08 tháng 4 năm 2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị
định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22 tháng 10 năm 2009 của Chính phủ về chức danh, số
lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị
trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã.
Điều 41. Tổ chức thực
hiện 1.
Uỷ ban nhân dân
các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm chỉ đạo Sở Lao động -
Thương binh và Xã hội và các cơ quan có liên quan kiểm tra, đôn đốc việc thực
hiện Thông tư này. 2. Bảo hiểm xã hội Việt Nam có trách nhiệm triển khai
thực hiện Thông tư này. 3.
Trong quá trình thực hiện nếu có vướng mắc, đề nghị phản ánh về Bộ Lao động -
Thương binh và Xã hội để kịp thời nghiên cứu, giải quyết./.
Phụ lục: CÔNG VIỆC KHAI THÁC THAN TRONG
HẦM LÒ (Ban hành kèm theo Thông tư số 59/2015/TT-BLĐTBXH
ngày 29 tháng 12 năm 2015 của Bộ Lao động - Thương binh
và Xã hội)
1. Khai thác mỏ hầm lò. 2.
Khoan
đá bằng búa máy cầm tay trong hầm lò. 3.
Đội viên cứu hộ
mỏ. 4. Sửa chữa cơ điện trong hầm
lò. 5. Vận hành trạm quạt khí nén, điện, diezel, trạm xạc ắc
quy trong hầm lò. 6. Thợ sắt, thợ thoát nước trong hầm
lò. 7.
Vận
tải than trong hầm lò. 8. Đo khí, đo gió, trực cửa gió, trắc địa, KCS trong hầm
lò. 9. Công nhân vận hành, sửa chữa các thiết bị trong hầm
lò. 10. Vận hành và phụ tàu điện, tàu ắc quy trong hầm
lò. 11. Vận hành, sửa chữa, nạp ắc quy trong hầm
lò. 12. Nghiệm thu các sản phẩm trong hầm
lò. 13. Thủ kho các loại trong hầm
lò. 14. Bảo vệ kho trong hầm lò. 15. Quét dọn hầm vệ sinh, nạo vét bùn trong hầm
lò. 16. Vận chuyển vật liệu trong hầm
lò. 17. Trực gác tín hiệu trong hầm
lò. 18. Phục vụ bồi dưỡng trong hầm
lò. 19. Lắp đặt, sửa chữa hệ thống thông tin liên lạc trong
hầm lò. 20. Vận hành trạm mạng trong hầm
lò. 21. Trực gác cửa gió trong hầm
lò. 22. Chỉ đạo kỹ thuật trực tiếp trong hầm
lò. 23. Chỉ đạo sản xuất trực tiếp trong hầm lò (quản đốc,
phó quản đốc, đội trưởng lò, lò trưởng). 24.
Nhân viên, công nhân giám sát an toàn trong hầm lò.
Mẫu
số 1
kèm theo Thông tư số 59/2015/TT-BLĐTBXH
(
Dành cho người lao động) CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
VIỆT NAM
ĐƠN ĐỀ NGHỊ XÁC NHẬN Về thời gian đi hợp tác lao động để giải quyết chế độ bảo
hiểm xã hội (
Đối với người đi lao động có thời hạn ở nước ngoài,
kể cả người
đi làm đội trưởng, phiên dịch, cán bộ vùng)
Kính gửi : Cục Quản lý lao động ngoài
nước. Tên tôi là
…………………………………………………………….……...…….. Sinh ngày :
…………………………..…………………………………...……….. Đơn vị cử đi hợp tác lao động :
…………………………..……………………….. Cơ quan chủ quản (Bộ, ngành) :
….………………………………….......……….. Nước đến hợp tác lao động :
…………………………..………………………….. Tên đơn vị, nhà máy đến làm việc:
…………………………..…………………… Thời hạn đi hợp tác lao động theo Hiệp định từ……….…..
đến…………….…… Thời điểm về nước : ngày.......tháng ......
năm........... Lý do về nước :
……………………………..……….…....…..……….……….. Được chuyển trả về đơn vị:
..................................................................................... Hồ sơ kèm theo (nếu có) gồm:
…………………………..………...…….……….. …………………………..…………………………..……………...……………………………………..…………………………..…………………..........………… Khi về nước tôi chưa được giải quyết trợ cấp thôi việc
theo quy định tại Thông tư số 12/ TT-LB
ngày 3/8/1992 và Thông tư số
24/LB-TT ngày 19/9/1994 của Liên Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội – Tài chính.
Tôi xin cam đoan lời khai trên đây của tôi là đúng sự
thật. Tôi xin chịu trách nhiệm trước pháp luật về lời khai của
mình.
......, ngày…....
tháng....... năm .......
Người viết
đơn
(Ký và ghi rõ họ
tên)
Mẫu số 2 kèm theo Thông tư số
59/2015/TT-BLĐTBXH
GIẤY XÁC NHẬN Về thời gian đi hợp tác lao động để giải quyết chế độ bảo
hiểm xã hội (
Đối với người đi lao động có thời hạn ở nước ngoài,
kể cả người
đi làm đội trưởng, phiên dịch, cán bộ vùng) Căn cứ hồ sơ do người lao động xuất trình (nếu có) và Sổ
gốc lưu trữ, Cục Quản lý lao động ngoài nước xác nhận
: Ông (bà) :
………………………………………………..……………………….. Đi hợp tác lao động tại
………………….từ………………….đến………….…… Thời điểm về nước : ngày.......tháng ......
năm........... Về nước với lý do
:……………………………………………………….…….. Được chuyển trả về đơn vị:
................................................................................... Ông
(bà) ……………………………. (có
hoặc không)………….…….tên
trong danh sách đã được Cục Quản lý lao động ngoài nước duyệt hồ sơ để nhận trợ
cấp cấp thôi việc theo quy định tại Thông tư số 12/ TT-LB ngày 3/8/1992 và Thông tư số 24/LB-TT ngày 19/9/1994
của Liên Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội – Tài chính
. Xác nhận này có giá trị thay thế Giấy chứng nhận của Ban
quản lý lao động Việt Nam tại …………………….. và Thông báo chuyển trả của Cục Quản lý
lao động ngoài nước để xem xét tính thời gian công tác hưởng bảo hiểm xã hội
theo quy định tại Thông tư số 24/2007/TT-BLĐTBXH ngày 09 tháng 11 năm 2007 của Bộ Lao
động- Thương binh và Xã hội. Nơi nhận
:
CỤC TRƯỞNG
- Ông (bà) ..........
- Lưu VT Cục QLLĐNN.
Mẫu số 3 kèm theo Thông tư số
59/2015/TT-BLĐTBXH
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
VIỆT NAM
ĐƠN ĐỀ NGHỊ GIẢI QUYẾT CHẾ ĐỘ TỬ
TUẤT Đối với người được
cử
đi công tác, học tập, làm việc có thời hạn ở nước
ngoài đã chết sau khi về nước
nhưng thân nhân chưa được hưởng trợ cấp
tuất
Kính
gửi :……………………………………….. Tên tôi là ………………………… Số
CMTND………………..………….…….. Hộ khẩu thường trú :
……………………………………………….…...………… là
thân nhân (nêu
rõ mối quan hệ thân nhân với người lao động):……………………………….. của ông (bà) …………………..………Sinh ngày:
……………..…….……….… Được
cử đi
(hợp tác lao động, học tập, thực tập, làm chuyên gia):…………………………. tại
(tên
đơn vị, tổ chức và tên nước)
………………………………………………..... Đơn vị cử đi :
………………………………………………………………...…… Cơ quan chủ quản (Bộ, ngành) :
….…………………………………....….…..….. Thời hạn làm việc ghi trong Quyết định của đơn vị cử
đi: từ……….
đến……..... Thời điểm về nước : ngày.......tháng ......
năm........... Lý do về nước :
……………………………..……….………..………….…….. Được chuyển trả về đơn vị:
.................................................................................... Ông (bà).................................. đã từ trần
ngày.... tháng .... năm....... Từ khi về nước đến khi từ trần, ông (bà)………………………………….
chưa được giải quyết trợ cấp thôi việc, chế độ bảo hiểm xã
hội. Tôi xin cam đoan lời khai trên đây của tôi là đúng sự
thật. Tôi xin chịu trách nhiệm trước pháp luật về lời khai của
mình. Đề
nghị................................. lập hồ sơ và làm thủ tục giải quyết chế độ
tử tuất đối với ông (bà).........................
./. ..……, ngày….. tháng…… năm …….
..……, ngày….. tháng…… năm ……. Xác nhận của UBND xã, phường
nơi cư trú
Người viết
đơn
(Ký, đóng dấu)
(Ký và ghi rõ họ
tên) Ghi chú: - Mẫu này áp dụng đối với thân nhân của
người lao động đã chết sau khi về nước nhưng thân nhân chưa được hưởng trợ cấp
tuất; - Uỷ ban nhân dân xã, phường xác nhận mối
quan hệ của người viết đơn với người lao động. |
ĐƠN VỊ HỖ TRỢ
|