|
BỘ TÀI CHÍNH --------
Số:
70/2015/TT-BTC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự
do - Hạnh phúc ---------------
Hà
Nội, ngày 08 tháng 5 năm 2015 |
THÔNG
TƯ
BAN HÀNH CHUẨN MỰC ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP KẾ TOÁN, KIỂM
TOÁN
Căn
cứ Luật kiểm toán độc lập số 67/2011/QH12 ngày 29/3/2011;
Căn
cứ Luật Kế toán số 03/2003/QH11 ngày 17/6/2003;
Căn
cứ Nghị định số 17/2012/NĐ-CP ngày 13/3/2012 của Chính phủ quy
định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật kiểm toán độc
lập;
Căn
cứ Nghị định số 129/2004/NĐ-CP ngày 31/5/2004 của Chính phủ quy định chi tiết và
hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Kế toán áp dụng trong hoạt động kinh
doanh;
Căn
cứ Nghị định số 215/2013/NĐ-CP ngày 23/12/2013 của Chính phủ quy định chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính;
Theo
đề nghị của Chủ tịch Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam, Vụ trưởng Vụ Chế độ
kế toán và kiểm toán,
Bộ
trưởng Bộ Tài chính ban hành Thông tư ban hành Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kế
toán, kiểm toán.
Điều
1.
Ban hành kèm theo Thông tư này Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kế toán, kiểm
toán.
Điều
2.
Thông tư này áp dụng đối với người có chứng chỉ hành nghề kế toán, người có
chứng chỉ kiểm toán viên, doanh nghiệp dịch vụ kế toán, doanh nghiệp kiểm toán,
chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam và các đối tượng được
quy định cụ thể trong nội dung Chuẩn mực, như sau:
1.
Phần A của Chuẩn mực áp dụng cho doanh nghiệp dịch vụ kế toán, doanh nghiệp kiểm
toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam và người có chứng
chỉ hành nghề kế toán, chứng chỉ kiểm toán viên.
2.
Phần B của Chuẩn mực áp dụng cho doanh nghiệp dịch vụ kế toán, doanh nghiệp kiểm
toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam và người có chứng
chỉ hành nghề kế toán, chứng chỉ kiểm toán viên làm việc trong doanh nghiệp dịch
vụ kế toán, doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài
tại Việt Nam.
3.
Phần C của Chuẩn mực áp dụng cho người có chứng chỉ hành nghề kế toán, chứng chỉ
kiểm toán viên làm việc trong doanh nghiệp.
Điều
3. Thông
tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2016.
Chuẩn
mực đạo đức nghề nghiệp kế toán, kiểm toán Việt Nam ban hành theo Quyết định số
87/2005/QĐ-BTC ngày 01/12/2005 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hết hiệu lực kể từ
ngày 01/01/2016.
Điều
4. Vụ
trưởng Vụ Chế độ kế toán và kiểm toán, doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh
nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam, kiểm toán viên, doanh nghiệp dịch vụ
kế toán, người có chứng chỉ hành nghề kế toán và các tổ chức, cá nhân có liên
quan chịu trách nhiệm thi hành Thông tư này./.
|
Nơi nhận: -
Văn phòng Tổng Bí thư; - Văn phòng Quốc hội; - Văn phòng Chủ tịch
nước; - Văn phòng TW và các Ban của Đảng; - Văn phòng Chính
phủ; - Viện Kiểm sát NDTC, Toà án NDTC; - Kiểm toán Nhà nước; -
Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc CP; - UBND tỉnh, TP trực thuộc
TW; - Cục kiểm tra văn bản - Bộ Tư pháp; - Các đơn vị thuộc và trực
thuộc Bộ Tài chính; - Hội Kế toán và kiểm toán Việt Nam; - Hội Kiểm
toán viên hành nghề Việt Nam; - Các doanh nghiệp kiểm toán; - Công
báo; VP Ban chỉ đạo TW về PC tham nhũng; - Website Chính phủ và Website
Bộ Tài chính; -
Lưu: VT, Vụ CĐKT. |
KT. BỘ TRƯỞNG THỨ TRƯỞNG
Trần
Xuân Hà |
----------------------------------------------------------------------------
CHUẨN
MỰC ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP KẾ TOÁN, KIỂM TOÁN
(Ban hành kèm theo Thông tư số 70/2015/TT-BTC ngày 08
tháng 5 năm 2015 của Bộ Tài chính)
Phần
A
QUY ĐỊNH CHUNG VÀ CÁC NGUYÊN TẮC ĐẠO ĐỨC CƠ BẢN
CHƯƠNG 100 - Giới thiệu và các nguyên tắc đạo đức cơ
bản
Giới
thiệu
100.1 Đặc điểm nổi bật của nghề kế toán, kiểm toán là
việc chấp nhận trách nhiệm vì lợi ích của công chúng. Do vậy, trách nhiệm của kế
toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp không chỉ dừng lại ở việc đáp ứng các
nhu cầu của khách hàng đơn lẻ hoặc doanh nghiệp nơi kế toán viên, kiểm toán viên
chuyên nghiệp làm việc mà còn phải nắm được và tuân thủ các quy định trong Chuẩn
mực này vì lợi ích của công chúng. Trường hợp kế toán viên, kiểm toán viên
chuyên nghiệp không thể tuân thủ một số quy định nhất định trong Chuẩn mực này
do pháp luật và các quy định có liên quan không cho phép, thì kế toán viên, kiểm
toán viên chuyên nghiệp vẫn phải tuân thủ các quy định khác trong Chuẩn mực
này.
100.2 Chuẩn mực này gồm ba
phần:
Phần
A: Quy định chung và các nguyên tắc đạo đức cơ bản;
Phần
B: Áp dụng cho kế toán viên, kiểm toán viên hành nghề;
Phần
C: Áp dụng cho kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp trong doanh
nghiệp.
Phần A đưa ra các nguyên tắc đạo đức cơ bản về nghề
nghiệp kế toán, kiểm toán, đồng thời, cung cấp một khuôn khổ mà kế toán viên,
kiểm toán viên chuyên nghiệp phải áp dụng
để:
(a) Xác định các nguy cơ ảnh hưởng tới việc tuân thủ các
nguyên tắc đạo đức cơ bản;
(b) Đánh giá mức độ nghiêm trọng của các nguy cơ
đó;
(c) Áp dụng các biện pháp bảo vệ cần thiết, nhằm loại trừ
hoặc làm giảm các nguy cơ xuống mức có thể chấp nhận được. Các biện pháp bảo vệ
là cần thiết khi kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp xác định rằng nguy
cơ đó sẽ khiến cho một bên thứ ba phù hợp và có đầy đủ thông tin, sau khi xem
xét các sự kiện và tình huống có sẵn cho kế toán viên, kiểm toán viên chuyên
nghiệp tại thời điểm đó, có thể kết luận một cách tương đối chắc chắn rằng các
nguyên tắc đạo đức cơ bản bị vi phạm.
Kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp phải sử dụng
xét đoán chuyên môn của mình trong việc áp dụng Chuẩn mực
này.
100.3 Phần B và C hướng dẫn việc áp dụng khuôn khổ nêu
tại phần A trong các trường hợp nhất định. Các phần này đưa ra một số ví dụ
về các biện pháp bảo vệ thích hợp nhằm khắc phục các nguy cơ ảnh hưởng tới việc
tuân thủ các nguyên tắc đạo đức cơ bản. Các phần này cũng đưa ra các tình huống
dẫn đến các nguy cơ mà không biện pháp bảo vệ nào có thể khắc phục được, do vậy,
cần phải tránh các tình huống hoặc mối quan hệ đó.
Phần
B áp dụng cho kế toán viên, kiểm toán viên hành nghề.
Phần C áp dụng cho kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp trong doanh
nghiệp. Tuy vậy, kế toán viên, kiểm toán viên hành nghề cũng có thể tham khảo
Phần C trong một số tình huống nhất định.
100.4
Việc sử dụng từ “phải”; “cần phải” trong Chuẩn mực này nhấn mạnh yêu cầu mà theo
đó, kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp hay doanh nghiệp dịch vụ kế toán,
doanh nghiệp kiểm toán (sau đây gọi tắt là “doanh nghiệp kế toán, kiểm toán)
phải tuân thủ, trừ các trường hợp ngoại lệ được nêu rõ trong Chuẩn mực
này.
Các
nguyên tắc đạo đức cơ bản
100.5 Kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp phải
tuân thủ các nguyên tắc đạo đức cơ bản sau:
(a) Tính chính trực: Phải thẳng thắn, trung thực
trong tất cả các mối quan hệ chuyên môn và kinh
doanh;
(b) Tính khách quan: Không cho phép sự thiên vị,
xung đột lợi ích hoặc bất cứ ảnh hưởng không hợp lý nào chi phối các xét đoán
chuyên môn và kinh doanh của mình;
(c) Năng lực chuyên môn và tính thận trọng: Thể
hiện, duy trì sự hiểu biết và kỹ năng chuyên môn cần thiết nhằm đảm bảo rằng
khách hàng hoặc chủ doanh nghiệp được cung cấp dịch vụ chuyên môn có chất lượng
dựa trên những kiến thức mới nhất về chuyên môn, pháp luật và kỹ thuật, đồng
thời hành động một cách thận trọng và phù hợp với các chuẩn mực nghề nghiệp và
kỹ thuật được áp dụng;
(d) Tính bảo mật: Phải bảo mật thông tin có được
từ các mối quan hệ chuyên môn và kinh doanh, vì vậy, không được tiết lộ bất cứ
thông tin nào cho bên thứ ba khi chưa được sự đồng ý của bên có thẩm quyền, trừ
khi có quyền hoặc nghĩa vụ phải cung cấp thông tin theo yêu cầu của pháp luật
hoặc cơ quan quản lý hoặc tổ chức nghề nghiệp, và cũng như không được sử dụng
thông tin vì lợi ích cá nhân của kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp hoặc
của bên thứ ba;
(e) Tư cách nghề nghiệp: Phải tuân thủ pháp luật
và các quy định có liên quan, tránh bất kỳ hành động nào làm giảm uy tín nghề
nghiệp của mình.
Các Chương từ 110 - 150 Chuẩn mực này quy định và hướng
dẫn chi tiết về các nguyên tắc đạo đức cơ bản này.
Phương
pháp tiếp cận dựa trên khuôn khổ
100.6 Môi trường làm việc của kế toán viên, kiểm toán
viên chuyên nghiệp có thể làm phát sinh các nguy cơ cụ thể đối với việc tuân thủ
các nguyên tắc đạo đức cơ bản. Việc xác định tất cả các tình huống có thể làm
phát sinh nguy cơ đối với việc tuân thủ các nguyên tắc đạo đức cơ bản và đưa ra
những biện pháp bảo vệ thích hợp là điều không thể. Hơn nữa, bản chất của mỗi
hợp đồng và công việc được giao có thể khác nhau, do đó, các nguy cơ phát sinh
cũng sẽ khác nhau và đòi hỏi những biện pháp bảo vệ khác nhau. Vì vậy, Chuẩn mực
này xây dựng một khuôn khổ, trong đó yêu cầu kế toán viên, kiểm toán viên chuyên
nghiệp xác định, đánh giá và khắc phục các nguy cơ ảnh hưởng tới việc tuân thủ
các nguyên tắc đạo đức cơ bản. Phương pháp tiếp cận dựa trên khuôn khổ sẽ hỗ trợ
kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp trong việc tuân thủ các yêu cầu về
đạo đức của Chuẩn mực này và trong việc thực hiện trách nhiệm hoạt động vì lợi
ích của công chúng. Chuẩn mực này đề cập đến rất nhiều tình huống có thể làm
phát sinh nguy cơ ảnh hưởng đến việc tuân thủ các nguyên tắc đạo đức cơ bản và
không cho phép một kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp thực hiện một hành
vi, kể cả khi hành vi đó không bị cấm một cách cụ
thể.
100.7
Khi
kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp xác định được các nguy cơ ảnh hưởng
đến việc tuân thủ các nguyên tắc đạo đức cơ bản và dựa trên việc đánh giá các
nguy cơ đó, xác định rằng nguy cơ đó không ở mức có thể chấp nhận được, kế toán
viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp phải xác định liệu có biện pháp bảo vệ nào
thích hợp không và có thể áp dụng các biện pháp đó để loại trừ hoặc làm giảm
nguy cơ đó xuống mức có thể chấp nhận được hay không. Để đưa ra kết luận này, kế
toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp phải sử dụng xét đoán chuyên môn và cân
nhắc xem liệu một bên thứ ba phù hợp và có đầy đủ thông tin, sau khi xem xét các
sự kiện và tình huống có sẵn cho kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp tại
thời điểm đó, có thể kết luận một cách tương đối chắc chắn rằng các nguy cơ sẽ
được loại trừ hoặc làm giảm xuống mức có thể chấp nhận được bằng cách áp dụng
các biện pháp bảo vệ, sao cho các nguyên tắc đạo đức cơ bản không bị vi phạm hay
không.
100.8 Kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp phải
đánh giá nguy cơ ảnh hưởng tới việc tuân thủ các nguyên tắc đạo đức cơ bản trong
các tình huống hay các mối quan hệ khi bản thân kế toán viên, kiểm toán viên
chuyên nghiệp biết hoặc được cho là phải biết các tình huống và mối quan hệ
này.
100.9 Kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp sẽ phải
dựa vào các yếu tố định lượng và định tính trong việc đánh giá mức độ nghiêm
trọng của nguy cơ. Khi áp dụng Chuẩn mực này, kế toán viên, kiểm toán viên
chuyên nghiệp có thể gặp phải những tình huống mà trong đó nguy cơ không thể bị
loại trừ hoặc làm giảm xuống mức có thể chấp nhận được, hoặc do nguy cơ quá
nghiêm trọng, hoặc do không có hoặc không thể áp dụng được biện pháp bảo vệ
thích hợp. Trong tình huống như vậy, kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp
phải từ chối hoặc chấm dứt việc cung cấp dịch vụ hoặc, nếu cần thiết, ngừng cung
cấp dịch vụ (trong trường hợp của kế toán viên, kiểm toán viên hành nghề) hoặc
ngừng làm việc với doanh nghiệp (trong trường hợp kế toán viên, kiểm toán viên
chuyên nghiệp trong doanh nghiệp).
100.10 Chương 290 và 291 Chuẩn mực này quy định và hướng
dẫn các điều khoản mà kiểm toán viên hành nghề phải tuân thủ khi phát hiện các
vi phạm về tính độc lập theo quy định của Chuẩn mực này. Khi kiểm toán viên hành
nghề phát hiện ra việc vi phạm bất cứ quy định nào khác của Chuẩn mực này, kiểm
toán viên hành nghề phải đánh giá mức độ nghiêm trọng của vi phạm và ảnh hưởng
của vi phạm đó đến việc tuân thủ các nguyên tắc đạo đức cơ bản. Kiểm toán viên
hành nghề phải sử dụng tất cả các biện pháp phù hợp ngay khi có thể, để giải
quyết một cách thỏa đáng hậu quả của vi phạm. Kiểm toán viên hành nghề phải xác
định liệu có cần báo cáo vi phạm này cho những người có thể bị ảnh hưởng bởi vi
phạm, tổ chức nghề nghiệp nơi họ là thành viên, cơ quan quản lý hoặc cơ quan
giám sát có liên quan hay không.
100.11 Khi một kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp
gặp phải tình huống bất thường mà việc áp dụng các quy định cụ thể trong Chuẩn
mực này sẽ dẫn đến một kết quả sai lệch hoặc kết quả không vì lợi ích của công
chúng thì kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp cần phải tham khảo ý kiến
tư vấn của tổ chức nghề nghiệp nơi họ là thành viên hay cơ quan quản lý có liên
quan.
Các
nguy cơ và biện pháp bảo vệ
100.12 Nguy cơ có thể phát sinh từ các mối quan hệ và
tình huống khác nhau. Khi một mối quan hệ hoặc tình huống làm phát sinh nguy cơ,
nguy cơ đó có thể ảnh hưởng, hoặc có thể được coi là ảnh hưởng tới việc tuân thủ
các nguyên tắc đạo đức cơ bản của kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp.
Một tình huống hoặc mối quan hệ có thể làm phát sinh nhiều hơn một nguy cơ, và
một nguy cơ có thể gây ảnh hưởng tới việc tuân thủ nhiều hơn một nguyên tắc đạo
đức cơ bản. Các nguy cơ sẽ thuộc ít nhất một trong các loại sau
đây:
(a)
Nguy
cơ do tư lợi:
Nguy cơ khi lợi ích tài chính hoặc lợi ích
khác gây ảnh hưởng tới xét đoán hay hành xử của kế toán viên, kiểm toán
viên chuyên nghiệp;
(b) Nguy cơ tự kiểm tra: Nguy cơ khi một kế toán
viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp không đánh giá được một cách hợp lý kết quả
xét đoán chuyên môn hay kết quả dịch vụ do chính họ hoặc do một cá nhân khác
trong doanh nghiệp kế toán, kiểm toán hoặc trong doanh nghiệp, tổ chức nơi họ
làm việc thực hiện trước đó, mà kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp sẽ
dựa vào đó để hình thành xét đoán khi thực hiện các hoạt động hiện tại hoặc cung
cấp dịch vụ hiện tại của mình;
(c) Nguy cơ về sự
bào chữa: Nguy cơ khi một kế
toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp tìm cách bênh vực khách hàng hoặc doanh
nghiệp, tổ chức nơi mình làm việc tới mức làm ảnh hưởng tới tính khách quan của
bản thân;
(d) Nguy cơ từ sự quen thuộc: Nguy cơ gây ra do
quan hệ lâu dài hoặc thân thiết với khách hàng hoặc doanh nghiệp, tổ chức nơi
mình làm việc, khiến kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp dễ thông cảm cho
quyền lợi hoặc dễ dàng chấp nhận cho việc làm của
họ;
(e) Nguy cơ bị đe dọa: Nguy cơ kế toán viên, kiểm
toán viên chuyên nghiệp bị ngăn cản hành xử một cách khách quan do các đe dọa có
thực hoặc do cảm nhận thấy, bao gồm sức ép gây ảnh hưởng không hợp lý đến kế
toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp.
Phần B của Chuẩn mực này hướng dẫn về các nguy cơ quy
định tại đoạn 100.12 nêu trên đối với kế toán viên, kiểm toán viên hành nghề
và Phần C của Chuẩn mực này hướng dẫn về các nguy cơ này đối với kế toán
viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp trong doanh nghiệp. Tuy vậy, cũng có thể tham
khảo Phần C trong một số tình huống nhất định.
100.13 Các biện pháp bảo vệ là các hành động hoặc phương
pháp khác nhằm loại trừ hoặc làm giảm các nguy cơ xuống mức có thể chấp nhận
được. Các biện pháp bảo vệ gồm hai nhóm sau:
(a) Các biện pháp bảo vệ do tổ chức nghề nghiệp quy định,
do pháp luật và các quy định có liên quan điều
chỉnh;
(b) Các biện pháp bảo vệ được xây dựng trong môi
trường làm việc.
100.14 Các biện pháp bảo vệ do tổ chức nghề nghiệp quy
định, do pháp luật và các quy định có liên quan điều chỉnh,
gồm:
(1) Các yêu cầu về học vấn, đào tạo và kinh nghiệm làm
việc trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán;
(2) Các yêu cầu về cập nhật kiến thức chuyên
môn;
(3) Các quy định về quản trị doanh
nghiệp;
(4) Các chuẩn mực nghề
nghiệp;
(5) Sự giám sát của tổ chức nghề nghiệp hoặc cơ quan quản
lý và các hình thức kỷ luật;
(6) Soát xét độc lập do bên thứ ba được trao quyền hợp
pháp thực hiện đối với các báo cáo, tờ khai, thông báo hay thông tin do kế toán
viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp cung cấp.
100.15 Phần B và C của Chuẩn mực này hướng dẫn các biện
pháp bảo vệ được xây dựng trong môi trường làm việc của kế toán viên,
kiểm toán viên hành nghề và kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp trong
doanh nghiệp.
100.16 Các biện pháp bảo vệ nhất định có thể làm tăng
tính chắc chắn của việc xác định hoặc ngăn chặn những hành vi phi đạo đức. Các
biện pháp bảo vệ này do tổ chức nghề nghiệp, pháp luật, cơ quan quản lý hay tổ
chức nơi kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp làm việc đưa ra, bao
gồm:
(1) Cơ chế tiếp
nhận, giải quyết khiếu nại công khai và hiệu quả của tổ chức mà kế toán viên,
kiểm toán viên chuyên nghiệp làm việc, tổ chức nghề nghiệp hoặc cơ quan quản lý,
cho phép các nhân viên, chủ doanh nghiệp và công chúng phản ánh về các hành vi
không chuyên nghiệp hoặc phi đạo đức;
(2) Quy định rõ ràng về trách nhiệm báo cáo các vi phạm
yêu cầu về đạo đức.
Xung
đột về lợi ích
100.17 Kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp có thể
gặp phải xung đột về lợi ích trong khi thực hiện hoạt động chuyên môn. Xung đột
về lợi ích có thể làm phát sinh nguy cơ ảnh hưởng đến tính khách quan và các
nguyên tắc đạo đức cơ bản khác. Các nguy cơ này có thể phát sinh
khi:
(1) Kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp thực hiện
hoạt động chuyên môn liên quan đến một vấn đề cụ thể cho hai hoặc nhiều bên bị
xung đột về lợi ích liên quan đến vấn đề đó; hoặc
(2) Lợi ích của kế
toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp liên quan đến một vấn đề cụ thể bị xung
đột với lợi ích của bên sử dụng dịch vụ chuyên môn do kế toán viên, kiểm toán
viên chuyên nghiệp cung cấp liên quan đến vấn đề
đó.
100.18 Phần B và C của Chuẩn mực này sẽ lần lượt thảo
luận về xung đột về lợi ích đối với kế toán viên, kiểm toán viên hành nghề và kế
toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp trong doanh
nghiệp.
Cách
giải quyết những xung đột về đạo đức
100.19 Kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp có thể
phải giải quyết những xung đột liên quan đến việc tuân thủ các nguyên tắc đạo
đức cơ bản.
100.20 Khi bắt đầu quá trình giải quyết xung đột một cách
chính thức hay không chính thức, kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp cần
xem xét các yếu tố sau đây một cách riêng rẽ hoặc trong mối quan hệ với các yếu
tố có liên quan:
(a)
Các sự kiện có liên quan;
(b)
Các vấn đề đạo đức có liên quan;
(c)
Các nguyên tắc đạo đức cơ bản có liên quan đến vấn đề đang được giải
quyết;
(d)
Các thủ tục nội bộ đã được thiết lập;
(e)
Các giải pháp thay thế.
Sau khi xem xét các yếu tố có liên quan, kế toán viên,
kiểm toán viên chuyên nghiệp phải xác định cách giải quyết thích hợp sau khi đã
cân nhắc hậu quả của từng giải pháp khả thi. Nếu vẫn không giải quyết được, kế
toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp có thể tham khảo ý kiến những người
thích hợp trong doanh nghiệp kế toán, kiểm toán hoặc doanh nghiệp, tổ chức nơi
họ làm việc để được hỗ trợ tìm ra giải pháp.
100.21 Khi gặp phải vấn đề làm phát sinh xung đột với tổ
chức hoặc trong nội bộ tổ chức đó, kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp
phải quyết định xem có nên tham khảo ý kiến Ban quản trị của tổ chức đó, như là
Hội đồng Quản trị hoặc Ủy ban Kiểm toán hay không.
100.22 Để bảo vệ quyền lợi của mình, kế toán viên, kiểm
toán viên chuyên nghiệp nên ghi chép lại nội dung, bản chất của vấn đề, chi tiết
cuộc thảo luận và các quyết định có liên quan đến vấn đề
đó.
100.23
Khi không thể giải quyết được các xung đột nghiêm trọng, kế toán viên, kiểm toán
viên chuyên nghiệp có thể tham khảo ý kiến tư vấn của tổ chức nghề nghiệp có
liên quan hoặc chuyên gia tư vấn pháp luật. Nhìn chung, kế toán viên, kiểm toán
viên chuyên nghiệp có thể được hướng dẫn về các vấn đề đạo đức mà không vi phạm
nguyên tắc bảo mật, bằng cách không nêu tên của khách hàng khi thảo luận với tổ
chức nghề nghiệp có liên quan hoặc sử dụng đặc quyền bảo vệ do pháp luật quy
định khi thảo luận với chuyên gia tư vấn pháp luật. Kế toán viên, kiểm toán viên
chuyên nghiệp có thể tham khảo ý kiến của chuyên gia tư vấn pháp luật trong
nhiều trường hợp khác nhau. Ví dụ, khi phát hiện gian lận mà việc báo cáo về
gian lận đó có thể vi phạm tính bảo mật của kế toán viên, kiểm toán viên chuyên
nghiệp, kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp có thể tham khảo ý kiến của
chuyên gia tư vấn pháp luật xem có cần phải báo cáo hay không.
100.24
Sau
khi sử dụng tất cả các giải pháp có thể, nếu xung đột về đạo đức vẫn không được
giải quyết thì kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp phải chấm dứt mối liên
quan đến các vấn đề làm phát sinh xung đột đó, nếu có thể. Kế toán viên, kiểm
toán viên chuyên nghiệp phải xác định liệu việc rút khỏi nhóm thực hiện hợp đồng
dịch vụ hoặc công việc cụ thể, hoặc từ chối thực hiện hợp đồng dịch vụ, hoặc
thôi việc ở doanh nghiệp kế toán, kiểm toán hay doanh nghiệp, tổ chức nơi họ làm
việc có thích hợp hay không.
Thảo
luận với Ban quản trị của khách hàng
100.25
Khi thảo luận với Ban quản trị của khách hàng theo quy định của Chuẩn mực này,
tùy thuộc vào bản chất và mức độ quan trọng của tình huống và vấn đề cần thảo
luận, kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp hoặc doanh nghiệp kế toán, kiểm
toán phải xác định (các) cá nhân phù hợp trong bộ máy quản trị của khách hàng để
thảo luận. Nếu kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp hoặc doanh nghiệp kế
toán, kiểm toán trao đổi với một bộ phận của Ban quản trị của khách hàng, ví dụ
như Ủy ban Kiểm toán hoặc một cá nhân, kế toán viên, kiểm toán viên chuyên
nghiệp hoặc doanh nghiệp kế toán, kiểm toán phải đánh giá sự cần thiết của việc
trao đổi vấn đề với toàn bộ Ban quản trị của khách hàng để Ban quản trị của
khách hàng được cung cấp thông tin đầy đủ.
CHƯƠNG 110 – Tính chính
trực
110.1 Nguyên tắc về tính chính trực yêu cầu tất cả kế
toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp phải thẳng thắn và trung thực trong tất
cả các mối quan hệ chuyên môn và kinh doanh. Tính chính trực cũng yêu cầu việc
hành xử một cách công bằng và đáng tin cậy.
110.2
Kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp không được để bị gắn tên với các báo
cáo, tờ khai, thông báo hoặc các thông tin khác mà họ cho rằng các thông tin
đó:
(a) Có sai sót trọng yếu hoặc gây hiểu
nhầm;
(b) Được đưa ra một cách thiếu thận trọng;
hoặc
(c) Bỏ sót hoặc che đậy những thông tin cần thiết mà việc
bỏ sót hoặc che đậy đó có thể dẫn tới việc thông tin bị hiểu
nhầm.
Khi kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp nhận thấy
họ đang bị gắn tên với các thông tin này, họ phải tiến hành các bước cần thiết
để chấm dứt việc bị gắn tên với các thông tin đó.
110.3
Kế
toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp được coi là không vi phạm quy định tại
đoạn 110.2 nêu trên, nếu họ cung cấp một báo cáo có kết luận không phải là chấp
nhận toàn phần để mô tả cho những vấn đề được liệt kê tại đoạn 110.2 nêu
trên.
CHƯƠNG 120 – Tính khách
quan
120.1 Nguyên tắc về
tính khách quan yêu cầu tất cả kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp không
để sự thiên vị, xung đột lợi ích hoặc ảnh hưởng không hợp lý của những đối tượng
khác chi phối các xét đoán chuyên môn hay kinh doanh của
mình.
120.2
Kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp có thể gặp những tình huống ảnh hưởng
tới tính khách quan. Việc xác định và chỉ rõ tất cả các tình huống đó là không
khả thi. Kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp không được thực hiện hoạt
động chuyên môn hoặc cung cấp dịch vụ chuyên môn nếu gặp phải một tình huống
hoặc một mối quan hệ tạo ra sự thiên vị hoặc ảnh hưởng không hợp lý đến xét đoán
chuyên môn của mình liên quan đến dịch vụ đó.
CHƯƠNG 130 – Năng lực chuyên môn và tính thận
trọng
130.1 Nguyên tắc về năng lực chuyên môn và tính thận
trọng yêu cầu tất cả kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp
phải:
(a)
Duy
trì kiến thức và kỹ năng chuyên môn ở mức cần thiết để đảm bảo cung cấp dịch vụ
chuyên môn đạt chất lượng cho khách hàng hoặc chủ doanh nghiệp;
(b) Hành động thận trọng theo các quy định tại chuẩn mực
nghề nghiệp và kỹ thuật phù hợp khi cung cấp các hoạt động hoặc dịch vụ chuyên
môn.
130.2 Để cung cấp dịch vụ chuyên môn đạt chất lượng, kế
toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp phải thực hiện các xét đoán hợp lý khi
áp dụng kiến thức và kỹ năng chuyên môn trong việc thực hiện dịch vụ đó. Năng
lực chuyên môn được hình thành thông qua 2 giai
đoạn:
(a) Đạt được năng lực chuyên
môn;
(b) Duy trì năng lực chuyên
môn.
130.3 Việc duy trì năng lực chuyên môn đòi hỏi kế toán
viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp phải hiểu và nắm được những kiến thức mới
nhất về kỹ thuật, chuyên môn và ngành nghề kinh doanh có liên quan. Việc cập
nhật kiến thức chuyên môn giúp kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp phát
triển và duy trì khả năng cung cấp dịch vụ đạt chất lượng trong môi trường làm
việc chuyên nghiệp.
130.4 Sự thận trọng bao gồm trách nhiệm hành động phù hợp
với các yêu cầu của công việc một cách cẩn thận, kỹ lưỡng và kịp
thời.
130.5 Kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp phải
tiến hành các bước thích hợp để đảm bảo rằng các nhân viên thuộc quyền quản lý
về mặt chuyên môn của họ được đào tạo và giám sát thích
hợp.
130.6 Khi thích hợp, kế toán viên, kiểm toán viên chuyên
nghiệp phải thông báo cho khách hàng, chủ doanh nghiệp hoặc đối tượng sử dụng
dịch vụ hoặc hoạt động của họ biết về các hạn chế vốn có của các dịch vụ hoặc
hoạt động đó.
CHƯƠNG 140 – Tính bảo
mật
140.1 Nguyên tắc về tính bảo mật yêu cầu kế toán viên,
kiểm toán viên chuyên nghiệp không được:
(a) Tiết lộ các thông tin có được từ mối quan hệ chuyên
môn và kinh doanh ra ngoài doanh nghiệp kế
toán, kiểm toán hay doanh nghiệp, tổ chức nơi họ làm việc khi chưa có sự đồng ý
của người có thẩm quyền, trừ khi có quyền hoặc nghĩa vụ phải công bố theo quy
định của pháp luật hoặc hướng dẫn của tổ chức nghề
nghiệp;
(b) Sử dụng những thông tin mật có được từ mối quan hệ
chuyên môn và kinh doanh để phục vụ lợi ích cá nhân hay lợi ích của bên thứ
ba.
140.2 Kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp phải duy
trì sự bảo mật thông tin ngay cả trong môi trường ngoài công việc, phải cảnh
giác với rủi ro tiết lộ thông tin một cách không cố ý, đặc biệt đối với các đối
tác thân thiết trong công việc kinh doanh hoặc đối với thành viên có quan hệ gia
đình gần gũi hoặc trực tiếp.
140.3 Kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp phải duy
trì sự bảo mật thông tin có được từ khách hàng tiềm năng hoặc đơn vị nơi họ có
khả năng được tuyển dụng trong tương lai.
140.4 Kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp phải duy
trì sự bảo mật thông tin trong nội bộ doanh nghiệp kế toán, kiểm toán hoặc doanh
nghiệp, tổ chức nơi họ làm việc.
140.5 Kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp phải
tiến hành các bước hợp lý để đảm bảo rằng các nhân viên thuộc quyền quản lý của
họ, những người cung cấp ý kiến tư vấn hoặc hỗ trợ họ cũng tôn trọng trách nhiệm
bảo mật của kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp
đó.
140.6 Việc tuân thủ các nguyên tắc về tính bảo mật vẫn
cần thiết ngay cả sau khi kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp đã kết thúc
mối quan hệ với khách hàng hay chủ doanh nghiệp. Khi một kế toán viên, kiểm toán
viên chuyên nghiệp thay đổi đơn vị làm việc hay tiếp nhận một khách hàng mới thì
họ có thể sử dụng các kinh nghiệm làm việc trước đó nhưng không được sử dụng hay
tiết lộ bất kỳ thông tin mật nào thu thập được hoặc nhận được từ các mối quan hệ
chuyên môn hay kinh doanh trước đó.
140.7 Sau đây là những trường hợp mà kế toán viên, kiểm
toán viên chuyên nghiệp được yêu cầu hoặc có thể được yêu cầu cung cấp thông tin
mật hoặc việc cung cấp thông tin là thích hợp:
(a) Việc cung cấp thông tin được pháp luật cho phép và
được khách hàng hoặc chủ doanh nghiệp chấp thuận;
(b) Việc cung cấp thông tin theo yêu cầu của pháp luật,
ví dụ:
(i) Cung cấp tài liệu hoặc chứng cứ khác trong quá trình
tố tụng; hoặc
(ii) Cung cấp thông tin cho cơ quan có thẩm quyền thích
hợp về một hành vi vi phạm pháp luật đã bị phát
hiện;
(c) Có quyền hoặc nghĩa vụ chuyên môn phải cung cấp, mà
quyền và nghĩa vụ này không bị cấm theo quy định của pháp luật,
nhằm:
(i) Tuân thủ quy trình soát xét chất lượng của tổ chức
nơi họ là thành viên hoặc tổ chức nghề nghiệp;
(ii) Cung cấp thông tin cho quá trình chất vấn hoặc kiểm
tra của tổ chức nghề nghiệp nơi họ là thành viên hoặc cơ quan có thẩm
quyền;
(iii) Bảo vệ quyền lợi của kế toán viên, kiểm toán viên
chuyên nghiệp trong quá trình tố tụng; hoặc
(iv) Tuân thủ các quy định của chuẩn mực về chuyên môn và
yêu cầu về đạo đức.
140.8 Khi quyết định có nên cung cấp thông tin mật hay
không, kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp cần xem xét các vấn đề
sau:
(1) Liệu quyền lợi
của các bên, bao gồm cả bên thứ ba mà quyền lợi của họ có thể bị ảnh hưởng, có
bị tổn hại hay không nếu khách hàng hoặc chủ doanh nghiệp đồng ý để kế toán
viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp cung cấp thông
tin;
(2)
Liệu kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp có biết và có chứng cứ rõ ràng,
trong điều kiện thực tế cho phép về các thông tin liên quan hay không. Khi không
có chứng cứ rõ ràng cho các sự kiện, không có đầy đủ thông tin hoặc không có đủ
bằng chứng cho các kết luận, kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp phải sử
dụng xét đoán chuyên môn để xác định hình thức cung cấp thông tin, nếu quyết
định cung cấp;
(3) Cách thức công bố thông tin phù hợp và đối tượng tiếp
nhận thông tin đó;
(4) Liệu đối tượng tiếp nhận thông tin có phải là đối
tượng phù hợp không.
CHƯƠNG 150 – Tư cách nghề
nghiệp
150.1 Nguyên tắc về tư cách nghề nghiệp yêu cầu kế toán
viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp phải tuân thủ pháp luật và các quy định có
liên quan và tránh bất kỳ hành vi nào mà họ biết hoặc cần phải biết rằng sẽ làm
giảm uy tín nghề nghiệp của mình. Đó là các hành vi khiến cho bên thứ ba phù hợp
và có đầy đủ thông tin, sau khi xem xét các sự kiện và tình huống sẵn có cho kế
toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp tại thời điểm đó, có thể kết luận một
cách tương đối chắc chắn rằng những hành vi đó có ảnh hưởng tiêu cực đến uy tín
nghề nghiệp.
150.2 Kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp phải
tránh làm giảm uy tín nghề nghiệp khi quảng bá về bản thân và công việc của
mình. Kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp phải trung thực, thẳng thắn và
không được:
(a) Cường điệu về các dịch vụ mà họ có thể thực hiện, về
trình độ hay kinh nghiệm của bản thân; hoặc
(b) Đưa ra những thông tin, giới thiệu làm mất uy tín hay
đưa ra những so sánh không có căn cứ về công việc của các bên
khác.
Phần
B
ÁP DỤNG CHO KẾ TOÁN VIÊN, KIỂM TOÁN VIÊN HÀNH
NGHỀ
CHƯƠNG 200 – Giới thiệu
Giới
thiệu
200.1 Phần B của Chuẩn mực này hướng dẫn việc áp dụng
khuôn khổ quy định trong Phần A vào một số tình huống cụ thể mà kế toán viên,
kiểm toán viên hành nghề gặp phải. Phần này sẽ không hướng dẫn tất cả các tình
huống và các mối quan hệ làm phát sinh hoặc có thể làm phát sinh nguy cơ kế toán
viên, kiểm toán viên hành nghề không tuân thủ các nguyên tắc đạo đức cơ bản. Kế
toán viên, kiểm toán viên hành nghề được khuyến khích luôn cảnh giác với những
tình huống và mối quan hệ như vậy.
200.2 Kế toán viên, kiểm toán viên hành nghề không được
cố tình tham gia bất kỳ một loại hình kinh doanh, công việc hay hoạt động nào
làm hoặc có thể làm ảnh hưởng đến tính chính trực, khách quan, uy tín nghề
nghiệp và điều đó có thể dẫn tới sự mâu thuẫn với các nguyên tắc đạo đức cơ
bản.
Nguy
cơ và biện pháp bảo vệ
200.3 Có rất nhiều tình huống và mối quan hệ có thể làm
phát sinh nguy cơ không tuân thủ các nguyên tắc đạo đức cơ bản. Bản chất và mức
độ nghiêm trọng của các nguy cơ là khác nhau tùy thuộc vào việc liệu nguy cơ này
phát sinh trong quá trình cung cấp dịch vụ cho: (i) Khách hàng kiểm toán hay
không và liệu khách hàng đó có phải là đơn vị có lợi ích công chúng hay không;
(ii) Khách hàng sử dụng dịch vụ đảm bảo mà không phải là khách hàng kiểm toán
hay không; (iii) Khách hàng sử dụng dịch vụ phi đảm bảo hay
không.
Các nguy cơ được phân loại như
sau:
(a) Nguy cơ do tư lợi;
(b) Nguy cơ tự kiểm tra;
(c) Nguy cơ về sự bào chữa;
(d)
Nguy
cơ từ sự quen thuộc;
(e) Nguy cơ bị đe dọa.
Phần A của Chuẩn mực này đã hướng dẫn chi tiết về các
nguy cơ trên.
200.4 Ví dụ về các trường hợp có thể làm phát sinh nguy
cơ do tư lợi, bao gồm:
(1) Thành viên nhóm thực hiện dịch vụ đảm bảo có lợi ích
tài chính trực tiếp tại khách hàng sử dụng dịch vụ đảm
bảo;
(2) Doanh nghiệp kế
toán, kiểm toán quá phụ thuộc vào phí dịch vụ từ khách
hàng;
(3) Thành viên nhóm thực hiện dịch vụ đảm bảo có quan hệ
kinh doanh mật thiết với khách hàng sử dụng dịch vụ đảm
bảo;
(4) Doanh nghiệp kế toán, kiểm toán quá quan tâm tới khả
năng bị mất khách hàng quan trọng;
(5) Thành viên nhóm kiểm toán có thương lượng với khách
hàng kiểm toán về cơ hội làm việc tại một vị trí cụ thể tại khách hàng kiểm toán
này;
(6) Doanh nghiệp kiểm toán cung cấp dịch vụ đảm bảo trên
cơ sở có thỏa thuận về phí tiềm tàng;
(7) Kế toán viên, kiểm toán viên hành nghề phát hiện có
sự nhầm lẫn đáng kể khi đánh giá kết quả một dịch vụ chuyên môn do chính thành
viên của doanh nghiệp kế toán, kiểm toán nơi họ làm việc đã cung cấp trước
đó.
200.5 Ví dụ về các trường hợp có thể làm phát sinh nguy
cơ tự kiểm tra, bao gồm:
(1) Doanh nghiệp kiểm toán đưa ra báo cáo dịch vụ đảm bảo
về hiệu quả hoạt động của hệ thống tài chính sau khi thiết kế và triển khai hệ
thống đó;
(2) Doanh nghiệp kiểm toán chuẩn bị thông tin tài chính
là đối tượng dịch vụ đảm bảo;
(3) Thành viên nhóm thực hiện dịch vụ đảm bảo năm trước
liền kề hoặc hiện đang là Giám đốc, nhân sự cấp cao của khách hàng
đó;
(4) Thành viên nhóm thực hiện dịch vụ đảm bảo năm trước
liền kề hoặc hiện đang là nhân sự chủ chốt của khách hàng sử dụng dịch vụ đảm
bảo, có thể gây ảnh hưởng đáng kể tới đối tượng dịch vụ đảm
bảo;
(5) Doanh nghiệp kiểm toán đồng thời thực hiện dịch vụ
khác cho khách hàng sử dụng dịch vụ đảm bảo có thể gây ảnh hưởng trực tiếp tới
thông tin về đối tượng dịch vụ đảm bảo.
200.6 Ví dụ về các trường hợp có thể làm phát sinh nguy
cơ về sự bào chữa, bao gồm:
(1) Doanh nghiệp kiểm toán giúp quảng bá các loại cổ
phiếu của khách hàng kiểm toán;
(2) Kiểm toán viên hành nghề là người bào chữa đại diện
cho khách hàng kiểm toán trong vụ kiện hoặc khi giải quyết các tranh chấp với
bên thứ ba.
200.7 Ví dụ về các
trường hợp có thể làm phát sinh nguy cơ từ sự quen thuộc, bao
gồm:
(1) Thành viên nhóm thực hiện hợp đồng dịch vụ có quan hệ
gia đình gần gũi hoặc trực tiếp với Giám đốc, nhân sự cấp cao của khách
hàng;
(2) Thành viên nhóm thực hiện hợp đồng dịch vụ có quan hệ
gia đình gần gũi hoặc trực tiếp với nhân sự chủ chốt có ảnh hưởng đáng kể đối
với đối tượng dịch vụ đảm bảo;
(3) Giám đốc, nhân sự cấp cao có ảnh hưởng đáng kể tới
đối tượng dịch vụ đảm bảo hiện tại là thành viên Ban Giám đốc phụ trách tổng thể
hợp đồng dịch vụ;
(4) Kế toán viên, kiểm toán viên hành nghề nhận quà biếu
hoặc nhận sự ưu đãi từ khách hàng, trừ trường hợp có giá trị
nhỏ;
(5) Nhân sự cấp cao của doanh nghiệp kiểm toán cung cấp
dịch vụ trong nhiều năm cho khách hàng sử dụng dịch vụ đảm
bảo.
200.8 Ví dụ về các trường hợp có thể làm phát sinh nguy
cơ bị đe dọa, bao gồm:
(1) Doanh nghiệp kế toán, kiểm toán bị khách hàng đe dọa
chấm dứt hợp đồng dịch vụ;
(2) Khách hàng kiểm toán đe dọa sẽ không ký hợp đồng dịch
vụ phi đảm bảo khác nếu doanh nghiệp kiểm toán không đồng ý với khách hàng về
cách thức xử lý kế toán cho một giao dịch cụ thể;
(3) Doanh nghiệp kế toán, kiểm toán bị khách hàng đe dọa
khởi tố;
(4) Doanh nghiệp kế toán, kiểm toán bị áp lực giảm phạm
vi công việc một cách không hợp lý nhằm giảm phí;
(5) Kế toán viên, kiểm toán viên hành nghề chịu sức ép
phải đồng ý với nhân viên của khách hàng có chuyên môn cao hơn trong một lĩnh
vực cụ thể;
(6) Kế toán viên, kiểm toán viên hành nghề bị lãnh đạo
doanh nghiệp mình đe dọa sẽ không thăng chức trừ khi phải đồng ý với cách xử lý
không phù hợp các nghiệp vụ kế toán của khách hàng.
200.9 Các biện pháp bảo vệ có thể loại trừ hoặc làm giảm
nguy cơ xuống mức có thể chấp nhận được gồm hai
loại:
(a) Các biện pháp bảo vệ do tổ chức nghề nghiệp quy định,
do pháp luật và các quy định có liên quan điều
chỉnh;
(b) Các biện pháp bảo vệ được xây dựng trong môi trường
làm việc.
Đoạn 100.14 Phần A
Chuẩn mực này đưa ra một số ví dụ về các biện pháp bảo vệ do tổ chức nghề nghiệp
quy định, do pháp luật và các quy định có liên quan điều
chỉnh.
200.10 Kế toán viên, kiểm toán viên hành nghề phải sử
dụng xét đoán chuyên môn để xác định phương
pháp hợp lý nhất nhằm xử lý với các nguy cơ cao hơn mức có thể chấp nhận được,
bằng cách áp dụng biện pháp bảo vệ để loại trừ hay làm giảm các nguy cơ đó xuống
mức có thể chấp nhận được bằng việc từ chối thực hiện hoặc rút khỏi hợp đồng
cung cấp dịch vụ. Khi thực hiện các xét đoán của mình, kế toán viên, kiểm toán
viên hành nghề phải xem xét liệu một bên thứ ba phù hợp và có đầy đủ thông tin,
sau khi xem xét các sự kiện và tình huống có sẵn cho kế toán viên, kiểm toán
viên hành nghề tại thời điểm đó, có thể kết luận một cách tương đối chắc chắn
rằng, sau khi áp dụng các biện pháp bảo vệ, các nguy cơ đó sẽ bị loại trừ hoặc
làm giảm xuống mức có thể chấp nhận được và các nguyên tắc đạo đức cơ bản không
bị vi phạm hay không. Khi xem xét vấn đề này, cần phải xem xét đến các yếu tố
như mức độ nghiêm trọng của nguy cơ, tính chất của hợp đồng cung cấp dịch vụ và
cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp kiểm toán.
200.11 Các biện pháp bảo vệ được xây dựng trong
môi trường làm việc sẽ khác nhau tùy thuộc vào từng trường hợp, bao gồm các
biện pháp bảo vệ ở cấp
độ doanh nghiệp kế toán, kiểm toán và cho từng hợp đồng cụ
thể.
200.12 Ví dụ về các biện pháp bảo vệ được xây dựng
trong môi trường làm việc ở cấp độ doanh nghiệp kế toán, kiểm toán, bao
gồm:
(1) Lãnh đạo doanh nghiệp kế toán, kiểm toán nhấn mạnh
tầm quan trọng của việc tuân thủ các nguyên tắc đạo đức cơ
bản;
(2) Lãnh đạo doanh nghiệp kiểm toán yêu cầu các thành
viên nhóm thực hiện dịch vụ đảm bảo hành động vì lợi ích của công
chúng;
(3) Chính sách, thủ tục thực hiện và giám sát chất lượng
hợp đồng dịch vụ;
(4)
Quy định bằng văn bản về sự cần thiết của việc: (i) Xác định các nguy cơ ảnh
hưởng đến việc tuân thủ các nguyên tắc đạo đức cơ bản; (ii) Đánh giá mức độ
nghiêm trọng của các nguy cơ này; và (iii) Áp dụng các biện pháp bảo vệ để loại
trừ hoặc làm giảm các nguy cơ xuống mức có thể chấp nhận được, hoặc từ chối thực
hiện hay rút khỏi hợp đồng dịch vụ có liên quan khi không có hoặc không thể áp
dụng các biện pháp bảo vệ thích hợp;
(5) Chính sách và thủ tục nội bộ quy định bằng văn bản
yêu cầu sự tuân thủ các nguyên tắc đạo đức cơ bản;
(6) Chính sách và thủ tục hỗ trợ cho việc xác định các
lợi ích hoặc các mối quan hệ giữa doanh nghiệp kế toán, kiểm toán hoặc giữa các
thành viên nhóm thực hiện hợp đồng dịch vụ và khách
hàng;
(7) Chính sách và thủ tục để giám sát và quản lý (nếu
cần), sự phụ thuộc vào doanh thu từ một khách hàng riêng
lẻ;
(8) Sử dụng thành viên Ban Giám đốc và các nhóm thực hiện
hợp đồng dịch vụ khác nhau với cơ chế báo cáo riêng để thực hiện dịch vụ phi đảm
bảo cho khách hàng đang sử dụng dịch vụ đảm bảo;
(9) Chính sách và thủ tục nghiêm cấm các thành viên không
phải là thành viên nhóm thực hiện hợp đồng dịch vụ gây ảnh hưởng không phù hợp
đến kết quả của hợp đồng dịch vụ;
(10) Trao đổi kịp thời về các chính sách và thủ tục của
doanh nghiệp kế toán, kiểm toán cũng như bất kỳ sự thay đổi trong các chính sách
và thủ tục này đến Ban Giám đốc và nhân viên chuyên nghiệp, và thực hiện đào
tạo, tập huấn đầy đủ về các chính sách và thủ tục
này;
(11) Phân công một
lãnh đạo cấp cao chịu trách nhiệm giám sát sự vận hành thích hợp hệ thống kiểm
soát chất lượng của doanh nghiệp kế toán, kiểm
toán;
(12) Thông báo cho các thành viên Ban Giám đốc và nhân
viên chuyên nghiệp về danh sách các khách hàng sử dụng dịch vụ đảm bảo và
các đơn vị có liên quan mà doanh nghiệp kiểm toán phải duy trì tính độc
lập;
(13) Cơ chế kỷ luật nhằm nâng cao sự tuân thủ các chính
sách và thủ tục;
(14)
Chính sách và thủ tục công khai để khuyến khích và tạo điều kiện cho nhân viên
trao đổi thông tin với các cấp quản lý trong doanh nghiệp kế
toán, kiểm toán về các vấn đề liên quan đến
việc tuân thủ các nguyên tắc đạo đức cơ bản mà họ quan
tâm.
200.13 Ví dụ về các biện pháp bảo vệ được xây dựng
trong môi trường làm việc ở cấp độ hợp đồng cụ thể, bao
gồm:
(1) Chỉ định một kế toán viên, kiểm toán viên chuyên
nghiệp khác không tham gia vào dịch vụ phi đảm bảo để soát xét lại các công việc
mà nhóm dịch vụ đó đã làm và đưa ra ý kiến tư vấn, nếu cần
thiết;
(2) Chỉ định một kiểm toán viên chuyên nghiệp không phải
là thành viên nhóm thực hiện dịch vụ đảm bảo để soát xét lại các công việc mà
nhóm dịch vụ đó đã làm và đưa ra ý kiến tư vấn, nếu cần
thiết;
(3) Tham khảo ý kiến tư vấn từ bên thứ ba độc lập như
thành viên Ban Giám đốc không tham gia trực tiếp điều hành, tổ chức nghề nghiệp
hoặc một kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp
khác;
(4) Thảo luận với Ban quản trị của khách hàng các vấn đề
đạo đức;
(5) Thông tin cho Ban quản trị của khách hàng về tính
chất và mức phí của dịch vụ cung cấp;
(6) Mời một doanh nghiệp kế toán, kiểm toán khác thực
hiện hoặc thực hiện lại toàn bộ hoặc một phần của hợp đồng dịch
vụ;
(7) Luân chuyển nhân sự cấp cao của nhóm thực hiện dịch
vụ đảm bảo.
200.14 Tùy thuộc vào tính chất hợp đồng dịch vụ, kế toán
viên, kiểm toán viên hành nghề có thể dựa vào những biện pháp bảo vệ mà khách
hàng đang áp dụng. Tuy nhiên, kế toán viên, kiểm toán viên hành nghề không thể
chỉ phụ thuộc vào biện pháp bảo vệ đó để làm giảm các nguy cơ xuống mức có thể
chấp nhận được.
200.15 Ví dụ về các
biện pháp bảo vệ trong hệ thống và các thủ tục của khách hàng, bao
gồm:
(1) Khách hàng yêu cầu nhân sự khác ngoài Ban Giám đốc
tham gia vào việc thông qua hoặc phê duyệt việc bổ nhiệm doanh nghiệp kế toán,
kiểm toán thực hiện cung cấp dịch vụ;
(2) Khách hàng có đội ngũ nhân viên giàu kinh nghiệm và
năng lực chuyên môn có thể đưa ra được các quyết định quản
lý;
(3) Khách hàng vận hành các thủ tục nội bộ để đảm bảo sự
lựa chọn khách quan trong việc thực hiện những hợp đồng dịch vụ phi đảm
bảo;
(4) Khách hàng có cơ cấu quản trị doanh nghiệp phù hợp để
kiểm soát và trao đổi về các dịch vụ được cung cấp với doanh nghiệp kế toán,
kiểm toán.
CHƯƠNG 210 - Bổ nhiệm cung cấp dịch vụ chuyên
môn
Chấp
nhận khách hàng
210.1 Trước khi chấp nhận một khách hàng mới, kế toán
viên, kiểm toán viên hành nghề phải xác định liệu việc chấp nhận cung cấp dịch
vụ cho khách hàng đó có thể làm phát sinh nguy cơ đối với việc tuân thủ các
nguyên tắc đạo đức cơ bản hay không. Các nguy cơ tiềm tàng đe dọa tính chính
trực hoặc tư cách nghề nghiệp có thể phát sinh từ những nghi vấn liên quan đến
khách hàng (bao gồm nghi vấn đối với chủ sở hữu doanh nghiệp, đội ngũ quản lý
hoặc các hoạt động).
210.2 Các vấn đề liên quan đến khách hàng có thể ảnh
hưởng đến việc tuân thủ các nguyên tắc đạo đức cơ bản, ví dụ việc khách hàng
liên quan đến các hoạt động bất hợp pháp (như hoạt động rửa tiền), sự thiếu
trung thực, hoặc có nghi vấn trong việc lập và trình bày báo cáo tài
chính.
210.3
Kế
toán viên, kiểm toán viên hành nghề phải đánh giá mức độ nghiêm trọng của các
nguy cơ và áp dụng các biện pháp bảo vệ cần thiết để loại trừ hoặc làm giảm nguy
cơ đó xuống mức có thể chấp nhận được. Các
biện pháp bảo vệ có thể gồm:
(1)
Thu thập kiến thức và hiểu biết về khách hàng, chủ sở hữu doanh nghiệp cũng như
các thành viên Ban quản trị và các hoạt động kinh doanh của khách hàng;
hoặc
(2)
Đảm bảo cam kết của khách hàng trong việc hoàn thiện hệ thống quản trị doanh
nghiệp hoặc kiểm soát nội bộ.
210.4
Trường hợp không thể làm giảm nguy cơ đó xuống mức có thể chấp nhận được, kế
toán viên, kiểm toán viên hành nghề phải từ chối khách hàng.
210.5
Đối với các khách hàng thường xuyên, kế toán viên, kiểm toán viên hành nghề
phải
định
kỳ thực hiện việc xem xét lại quyết định chấp nhận hợp đồng dịch vụ với khách
hàng.
Chấp
nhận hợp đồng dịch vụ
210.6 Nguyên tắc đạo đức cơ bản về năng lực chuyên môn và
tính thận trọng yêu cầu kế toán viên, kiểm toán viên hành nghề chỉ được cung cấp
dịch vụ mà họ có đủ năng lực chuyên môn để thực hiện. Trước khi chấp nhận một
hợp đồng dịch vụ cụ thể với khách hàng, kế toán viên, kiểm toán viên hành nghề
phải xác định liệu việc chấp nhận hợp đồng dịch vụ đó có làm phát sinh nguy cơ
ảnh hưởng đến việc tuân thủ các nguyên tắc đạo đức cơ bản hay không. Ví dụ, nguy
cơ do tư lợi sẽ ảnh hưởng tới năng lực chuyên môn và tính thận trọng nếu nhóm
thực hiện hợp đồng dịch vụ không đủ năng lực để thực hiện hợp
đồng.
210.7 Kế toán viên,
kiểm toán viên hành nghề phải đánh giá mức độ nghiêm trọng của các nguy cơ và áp
dụng các biện pháp bảo vệ cần thiết để loại trừ hoặc làm giảm các nguy cơ đó
xuống mức có thể chấp nhận được. Các biện pháp bảo vệ có thể bao
gồm:
(1) Tìm hiểu về lĩnh vực kinh doanh và mức độ phức tạp
trong hoạt động của khách hàng, cũng như các yêu cầu cụ thể của hợp đồng, nội
dung, lịch trình và phạm vi của công việc thực
hiện;
(2) Tìm hiểu về các lĩnh vực, ngành nghề và các vấn đề có
liên quan đến hoạt động kinh doanh của khách hàng;
(3) Tích lũy những kinh nghiệm phù hợp với các yêu cầu
pháp luật và yêu cầu về lập báo cáo tài chính;
(4) Phân công đầy đủ nhân sự với năng lực chuyên môn phù
hợp;
(5)
Sử dụng chuyên gia,
nếu
cần thiết;
(6)
Thống nhất khung thời gian phù hợp để thực hiện hợp đồng dịch vụ;
(7)
Tuân thủ chính sách và thủ tục kiểm soát chất lượng để có sự đảm bảo hợp lý rằng
các hợp đồng dịch vụ cụ thể chỉ được chấp nhận khi doanh nghiệp kiểm toán có đủ
năng lực để cung cấp dịch vụ.
210.8
Khi kế toán viên, kiểm toán viên hành nghề có ý định sử dụng công việc của
chuyên gia,
họ
phải xác định liệu việc sử dụng đó có đáng tin cậy hay không. Các yếu tố cần xem
xét bao gồm: uy tín, trình độ chuyên môn, nguồn lực sẵn có, cũng như các chuẩn
mực đạo đức và nghề nghiệp áp dụng. Các thông tin này có thể có được từ kinh
nghiệm làm việc trước đó với chuyên gia này hay qua tham vấn với các bên
khác.
Thay
đổi việc bổ nhiệm đơn vị cung cấp dịch vụ chuyên môn
210.9 Khi được yêu cầu để thay thế cho một kế toán viên,
kiểm toán viên hành nghề khác, hoặc đang cân nhắc nộp hồ sơ tham gia dự thầu
cung cấp dịch vụ cho khách hàng theo một hợp đồng đang được kế toán viên, kiểm
toán viên hành nghề khác thực hiện, kế toán viên, kiểm toán viên hành nghề sẽ
phải xác định liệu có lý do nào về mặt nghề nghiệp hoặc nguyên nhân khác để
không chấp nhận hợp đồng dịch vụ, như trường hợp nếu chấp nhận hợp đồng đó sẽ
làm phát sinh nguy cơ ảnh hưởng đến tính tuân thủ các nguyên tắc đạo đức cơ bản
mà không thể loại trừ hoặc làm giảm các nguy cơ đó xuống mức có thể chấp nhận
được bằng việc áp dụng các biện pháp bảo vệ. Ví dụ, nguy cơ ảnh hưởng đến năng
lực chuyên môn và tính thận trọng sẽ phát sinh khi kế toán viên, kiểm toán viên
hành nghề không nắm được đầy đủ các thông tin thích hợp trước khi chấp nhận hợp
đồng dịch vụ với khách hàng.
210.10 Kế toán viên, kiểm toán viên hành nghề phải đánh
giá mức độ nghiêm trọng của các nguy cơ. Tùy theo tính chất của hợp đồng dịch
vụ, đòi hỏi kế toán viên, kiểm toán viên hành nghề phải liên hệ trực tiếp với
bên cung cấp dịch vụ hiện tại để nắm được thực trạng dẫn đến việc thay đổi bên
cung cấp dịch vụ để xác định xem có chấp nhận hợp đồng dịch vụ hay không. Ví dụ,
những lý do dẫn đến thay đổi trong việc bổ nhiệm bên cung cấp dịch vụ có thể
không phản ánh một cách đầy đủ thực trạng nhưng có thể chỉ ra được những bất
đồng giữa bên cung cấp dịch vụ hiện tại với khách hàng. Những lý do này có thể
ảnh hưởng đến quyết định chấp nhận hợp đồng.
210.11 Kế toán viên,
kiểm toán viên hành nghề phải áp dụng các biện pháp bảo vệ cần thiết nhằm loại
trừ hoặc làm giảm các nguy cơ xuống mức có thể chấp nhận được. Ví dụ về các biện
pháp bảo vệ, bao gồm:
(1) Khi trả lời các yêu cầu của bên mời thầu, cần nêu rõ
trong hồ sơ dự thầu rằng, trước khi chấp nhận hợp đồng, cần phải liên lạc với
bên cung cấp dịch vụ hiện tại để thu thập thông tin nhằm xác định liệu có lý do
nào, kể cả về mặt nghề nghiệp hoặc nguyên nhân khác có thể dẫn đến việc không
thể chấp nhận hợp đồng hay không;
(2)
Yêu cầu bên cung cấp dịch vụ hiện tại cung cấp thông tin về các sự kiện hoặc
tình huống mà, theo đánh giá của họ, kế toán viên, kiểm toán viên được đề cử cần
nắm được trước khi quyết định có chấp nhận hợp đồng hay không; hoặc
(3) Thu thập thông tin cần thiết từ các nguồn khác
nhau.
Trường hợp việc áp dụng các biện pháp bảo vệ không thể
loại trừ hay làm giảm các nguy cơ xuống mức có thể chấp nhận được, kế toán viên,
kiểm toán viên hành nghề phải từ chối chấp nhận hợp đồng trừ khi có thể thu thập
được thông tin từ các nguồn khác đủ để loại trừ hoặc làm giảm nguy cơ đó xuống
mức có thể chấp nhận được.
210.12 Kế toán viên, kiểm toán viên hành nghề có thể được
yêu cầu thực hiện bổ sung hoặc hỗ trợ một phần công việc của bên cung cấp dịch
vụ hiện tại. Trường hợp này có thể làm phát sinh nguy cơ ảnh hưởng đến năng lực
chuyên môn và tính thận trọng của kế toán viên, kiểm toán viên hành nghề do bị
thiếu thông tin hoặc không được cung cấp đầy đủ thông tin. Cần đánh giá mức độ
nghiêm trọng của các nguy cơ và áp dụng các biện pháp bảo vệ thích hợp để loại
trừ hoặc làm giảm các nguy cơ đó xuống mức có thể chấp nhận được. Ví dụ, thông
báo tới bên cung cấp dịch vụ hiện tại để họ có thể cung cấp các thông tin cần
thiết cho việc thực hiện dịch vụ đó.
210.13 Do bên cung cấp dịch vụ hiện tại phải tuân thủ
tính bảo mật nên việc họ có được phép hoặc được yêu cầu thảo luận các vấn đề của
khách hàng với kế toán viên, kiểm toán viên hành nghề đang được đề nghị cung cấp
dịch vụ hay không còn phụ thuộc vào bản chất của hợp đồng dịch vụ và phụ thuộc
vào:
(a) Sự cho phép của khách hàng về việc cung cấp thông
tin; hoặc
(b) Quy định của pháp luật và yêu cầu về đạo đức nghề
nghiệp có liên quan.
Chương 140 Phần A Chuẩn mực này quy định các trường hợp
cho phép hoặc yêu cầu kế toán viên, kiểm toán viên hành nghề cung cấp thông tin
bảo mật.
210.14 Nhìn chung, kế toán viên, kiểm toán viên hành nghề
cần được khách hàng cho phép bằng văn bản để được thảo luận với bên cung cấp
dịch vụ hiện tại của khách hàng. Sau khi được cho phép, bên cung cấp dịch vụ
hiện tại phải tuân thủ pháp luật và các quy định có liên quan đến việc cung cấp
thông tin. Bên cung cấp dịch vụ hiện tại phải cung cấp thông tin một cách trung
thực và rõ ràng. Nếu kế toán viên, kiểm toán viên hành nghề được đề nghị cung
cấp dịch vụ không thể liên lạc được với bên cung cấp dịch vụ hiện tại thì họ
phải tìm hiểu về các nguy cơ có thể phát sinh bằng cách thức khác, như phỏng vấn
bên thứ ba hoặc tìm hiểu thông tin về lãnh đạo cấp cao hoặc Ban quản trị của
khách hàng.
CHƯƠNG 220 – Xung đột về lợi
ích
220.1 Kế toán viên, kiểm toán viên hành nghề có thể gặp
phải xung đột về lợi ích khi cung cấp dịch vụ chuyên môn. Xung đột về lợi ích
làm phát sinh nguy cơ ảnh hưởng đến tính khách quan và có thể làm phát sinh các
nguy cơ ảnh hưởng đến các nguyên tắc đạo đức cơ bản khác. Các nguy cơ này có thể
phát sinh khi:
(1) Kế toán viên, kiểm toán viên hành nghề cung cấp dịch
vụ chuyên môn liên quan đến một vấn đề cụ thể cho hai hoặc nhiều bên bị xung đột
về lợi ích liên quan đến vấn đề trên; hoặc
(2)
Lợi
ích của kế toán viên, kiểm toán viên hành nghề liên quan đến một vấn đề cụ thể
bị xung đột với lợi ích liên quan đến vấn đề đó của khách hàng sử dụng dịch vụ
chuyên môn do kế toán viên, kiểm toán viên hành nghề cung cấp.
Kế toán viên, kiểm toán viên hành nghề không được để xung
đột về lợi ích làm ảnh hưởng đến xét đoán chuyên môn hoặc quyết định kinh doanh
của mình.
Khi dịch vụ chuyên môn được cung cấp là dịch vụ đảm bảo,
việc tuân thủ nguyên tắc đạo đức cơ bản về tính khách quan còn yêu cầu kế toán
viên, kiểm toán viên hành nghề phải độc lập với khách hàng sử dụng dịch vụ đảm
bảo theo các quy định phù hợp tại Chương 290 hoặc Chương 291 Chuẩn mực
này.
220.2 Ví dụ về các trường hợp có thể làm phát sinh xung
đột về lợi ích, bao gồm:
(1) Cung cấp dịch vụ
tư vấn cho một khách hàng có nhu cầu mua lại một khách hàng kiểm toán của doanh
nghiệp kiểm toán khi doanh nghiệp kiểm toán đã thu thập được các thông tin bảo
mật trong quá trình kiểm toán có thể có liên quan đến giao dịch mua lại
đó;
(2) Tư vấn cùng lúc cho hai khách hàng đang cạnh tranh để
mua lại cùng một công ty, khi mà việc tư vấn này có thể có liên quan đến lợi thế
cạnh tranh của các bên;
(3) Cung cấp dịch vụ cho cả bên mua và bên bán trong cùng
một giao dịch;
(4) Cung cấp dịch vụ định giá tài sản cho hai khách hàng
đang có vị trí đối lập liên quan đến tài sản đó;
(5) Đại diện cho hai khách hàng liên quan đến cùng một
vấn đề mà hai khách hàng đó đang có tranh chấp pháp lý với nhau, ví dụ, trong
quá trình chia tách hoặc giải thể công ty;
(6) Cung cấp báo cáo dịch vụ đảm bảo cho bên cấp bản
quyền về phí bản quyền được nhận theo thỏa thuận, đồng thời, tư vấn cho bên trả
phí bản quyền về tính chính xác của khoản phí phải
trả;
(7) Tư vấn cho khách hàng về việc đầu tư vào một doanh
nghiệp, mà vợ hoặc chồng của kế toán viên, kiểm toán viên hành nghề có lợi ích
tài chính trong doanh nghiệp đó;
(8) Cung cấp dịch vụ tư vấn chiến lược liên quan đến vị
thế cạnh tranh cho một khách hàng trong khi kế toán viên, kiểm toán viên hành
nghề đang có lợi ích tương tự với đối thủ cạnh tranh lớn của khách hàng
đó;
(9) Cung cấp dịch vụ tư vấn cho khách hàng về việc mua
lại một doanh nghiệp mà doanh nghiệp kế toán, kiểm toán cũng đang quan tâm mua
lại doanh nghiệp đó;
(10) Cung cấp dịch vụ tư vấn cho khách hàng về việc mua
sản phẩm hoặc dịch vụ trong khi kế toán viên, kiểm toán viên hành nghề
đang có thỏa thuận được hưởng hoa hồng hoặc phí bản quyền với nhà
tiềm năng cung cấp sản phẩm hoặc dịch vụ đó.
220.3
Trong quá trình xác định, đánh giá các lợi ích và mối quan hệ có thể làm phát
sinh xung đột về lợi ích và thực hiện các biện pháp bảo vệ cần thiết để loại trừ
hoặc làm giảm nguy cơ đe dọa việc tuân thủ các nguyên tắc đạo đức cơ bản xuống
mức có thể chấp nhận được, kế toán viên, kiểm toán viên hành nghề phải sử dụng
xét đoán chuyên môn và cân nhắc liệu một bên thứ ba phù hợp và có đầy đủ thông
tin, sau khi xem xét các sự kiện và tình huống có sẵn cho kế toán viên, kiểm
toán viên hành nghề tại thời điểm đó, có thể kết luận rằng việc tuân thủ các
nguyên tắc đạo đức cơ bản có bị ảnh hưởng hay không.
220.4 Trong quá trình giải quyết xung đột về lợi ích, bao
gồm công bố hoặc chia sẻ thông tin bên trong doanh nghiệp kế toán, kiểm toán
hoặc trong công ty mạng lưới và tham khảo hướng dẫn của bên thứ ba, kế toán
viên, kiểm toán viên hành nghề phải luôn tuân thủ nguyên tắc đạo đức cơ bản về
bảo mật thông tin.
220.5
Nếu các nguy cơ phát sinh do xung đột về lợi ích lớn hơn mức có thể chấp nhận
được, kế toán viên, kiểm toán viên hành nghề phải áp dụng các biện pháp bảo
vệ
nhằm
loại trừ hoặc làm giảm nguy cơ đó xuống mức có thể chấp nhận được. Nếu các biện
pháp bảo vệ không thể làm giảm nguy cơ xuống mức có thể chấp nhận được thì kế
toán viên, kiểm toán viên hành nghề phải từ chối thực hiện hoặc ngừng cung cấp
dịch vụ chuyên môn mà dịch vụ đó làm phát sinh xung đột về lợi ích; hoặc chấm
dứt các mối quan hệ có liên quan, hoặc từ bỏ các lợi ích có liên quan nhằm loại
trừ hoặc làm giảm nguy cơ đó xuống mức có thể chấp nhận được.
220.6
Trước khi chấp nhận một khách hàng, hợp đồng hay mối quan hệ kinh doanh mới, kế
toán viên, kiểm toán viên hành nghề phải thực hiện các thủ tục phù hợp để xác
định các tình huống có thể làm phát sinh xung đột về lợi ích, bao gồm xác
định:
(1) Bản chất của các lợi ích và mối quan hệ liên quan
giữa các bên tham gia;
(2) Bản chất của dịch vụ và ảnh hưởng của dịch vụ đó đến
các bên tham gia.
Bản
chất của dịch vụ, các lợi ích và mối quan hệ liên quan có thể thay đổi trong quá
trình thực hiện hợp đồng dịch vụ, đặc biệt khi kế toán viên, kiểm toán viên hành
nghề được yêu cầu cung cấp dịch vụ trong tình huống mà các bên liên quan có thể
trở nên đối lập với nhau, ngay cả khi họ có thể không có tranh chấp từ ban đầu.
Kế toán viên, kiểm toán viên hành nghề phải luôn cảnh giác với những thay đổi
như vậy, nhằm xác định được các tình huống có thể làm phát sinh xung đột về lợi
ích.
220.7 Một quy trình hiệu quả để xác định các lợi ích và
mối quan hệ có thể làm phát sinh xung đột về lợi ích sẽ giúp kế toán viên, kiểm
toán viên hành nghề xác định được các xung đột về lợi ích thực tế hoặc tiềm tàng
trước khi quyết định liệu có chấp nhận hợp đồng dịch vụ hay không, hoặc trong
quá trình thực hiện hợp đồng dịch vụ. Quy trình này bao gồm các vấn đề phát sinh
từ bên thứ ba, như khách hàng khác và khách hàng tiềm năng. Xung đột về lợi ích
thực tế hoặc tiềm tàng được phát hiện càng sớm thì kế toán viên, kiểm toán viên
hành nghề càng có khả năng áp dụng các biện pháp bảo vệ cần thiết nhằm loại trừ
nguy cơ ảnh hưởng đến tính khách quan và bất kỳ nguy cơ nào ảnh hưởng đến việc
tuân thủ các nguyên tắc đạo đức cơ bản hoặc làm giảm nguy cơ này xuống mức có
thể chấp nhận được. Quy trình xác định xung đột lợi ích thực tế hoặc tiềm tàng
phụ thuộc vào các yếu tố sau:
(1) Bản chất của dịch vụ chuyên môn được cung
cấp;
(2) Quy mô doanh nghiệp kiểm
toán;
(3)
Quy mô và lĩnh vực hoạt động của các khách hàng của doanh nghiệp kiểm
toán;
(4) Cơ cấu của doanh nghiệp kế toán, kiểm toán, ví dụ, số
lượng và vị trí địa lý của các chi nhánh.
220.8 Nếu doanh
nghiệp kế toán, kiểm toán là thành viên của một mạng lưới thì phải xác định tất
cả các xung đột về lợi ích mà kế toán viên, kiểm toán viên hành nghề có lý do để
cho rằng có thể tồn tại hoặc phát sinh các xung đột đó do các lợi ích và mối
quan hệ của công ty mạng lưới. Các thủ tục phù hợp để xác định các lợi ích và
mối quan hệ liên quan đến một công ty mạng lưới phụ thuộc vào các yếu tố như:
bản chất của các dịch vụ chuyên môn đã cung cấp, các khách hàng sử dụng dịch vụ
chuyên môn của mạng lưới và vị trí địa lý của các bên liên
quan.
220.9 Nếu phát hiện xung đột về lợi ích thì kế toán viên,
kiểm toán viên hành nghề phải đánh giá:
(1) Tầm quan trọng của các lợi ích hoặc mối quan hệ có
liên quan;
(2) Mức độ nghiêm trọng của các nguy cơ phát sinh do việc
cung cấp dịch vụ chuyên môn. Nhìn chung, mức độ liên quan giữa dịch vụ chuyên
môn với vấn đề làm phát sinh xung đột lợi ích càng trực tiếp thì nguy cơ ảnh
hưởng đến tính khách quan và việc tuân thủ các nguyên tắc đạo đức cơ bản khác
càng nghiêm trọng.
220.10 Kế toán viên, kiểm toán viên hành nghề phải áp
dụng các biện pháp bảo vệ cần thiết nhằm loại trừ hoặc làm giảm các nguy cơ ảnh
hưởng đến việc tuân thủ các nguyên tắc đạo đức cơ bản do xung đột lợi ích gây ra
xuống mức có thể chấp nhận được. Ví dụ về các biện pháp bảo vệ, bao
gồm:
(1) Thực hiện các biện pháp để ngăn chặn việc tiết lộ
trái phép thông tin bảo mật khi kế toán viên, kiểm toán viên hành nghề cung cấp
dịch vụ chuyên môn liên quan đến một vấn đề cụ thể cho hai hoặc nhiều khách hàng
bị xung đột về lợi ích liên quan đến vấn đề trên, ví
dụ:
(i) Sử dụng các nhóm thực hiện hợp đồng dịch vụ khác nhau
và trao đổi rõ với họ về các chính sách và thủ tục nhằm duy trì tính bảo
mật;
(ii) Phân chia khu vực làm việc riêng biệt cho các bộ
phận chuyên môn khác nhau trong doanh nghiệp kế toán, kiểm toán nhằm ngăn chặn
việc tiết lộ thông tin bảo mật từ khu vực này sang khu vực khác trong doanh
nghiệp kế toán, kiểm toán;
(iii) Thiết lập và thực hiện các chính sách và thủ tục
nhằm hạn chế khả năng tiếp cận hồ sơ khách hàng, yêu cầu các nhân viên và thành
viên Ban Giám đốc của doanh nghiệp kế toán, kiểm toán ký cam kết bảo mật thông
tin, bao gồm thông tin trên giấy tờ và thông tin điện
tử.
(2) Cử người có kinh nghiệm không liên quan đến khách
hàng hoặc hợp đồng dịch vụ thường xuyên xem xét việc áp dụng các biện pháp bảo
vệ;
(3) Cử kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp không
tham gia nhóm cung cấp dịch vụ hoặc không chịu ảnh hưởng của xung đột, soát xét
lại công việc đã được thực hiện và đánh giá xem liệu các xét đoán và kết luận
quan trọng có phù hợp hay không;
(4) Tham khảo ý kiến
tư vấn của bên thứ ba, ví dụ, tổ chức nghề nghiệp, chuyên gia tư vấn pháp luật
hoặc kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp
khác.
220.11
Ngoài các biện pháp bảo vệ được hướng dẫn tại đoạn 220.10 nêu trên, kế
toán viên, kiểm toán viên hành nghề cần phải thông báo cho khách hàng bị ảnh
hưởng của xung đột về bản chất của xung đột về lợi ích và các biện pháp bảo vệ
liên quan (nếu có). Nếu các biện pháp bảo vệ là cần thiết nhằm làm giảm ảnh
hưởng của nguy cơ xuống mức có thể chấp nhận được thì các biện pháp này cần được
khách hàng chấp nhận để kế toán viên, kiểm toán viên hành nghề thực hiện
dịch vụ chuyên môn của mình.
Việc thông báo của kế toán viên, kiểm toán viên hành
nghề và sự chấp nhận của khách hàng có thể được thực hiện dưới nhiều
hình thức khác nhau, ví dụ:
(1) Thông báo một cách tổng quát cho khách hàng về các
trường hợp mà theo thông lệ chung thì kế toán viên, kiểm toán viên hành nghề
không chỉ cung cấp dịch vụ dành riêng cho bất kỳ một khách hàng nào (ví dụ, một
dịch vụ cụ thể trong một lĩnh vực cụ thể) để khách hàng đưa ra sự đồng ý chung.
Việc thông báo đó có thể được thực hiện bằng việc đưa vào các điều khoản và điều
kiện của hợp đồng dịch vụ.
(2)
Thông
báo một cách cụ thể cho khách hàng bị ảnh hưởng của xung đột về hoàn cảnh
của xung đột, bao gồm, trình bày chi tiết về hoàn cảnh và giải thích đầy đủ về
các biện pháp bảo vệ dự kiến và rủi ro có thể phát sinh để khách hàng có thể đưa
ra quyết định phù hợp đối với vấn đề đó và đưa ra chấp nhận rõ ràng để kế
toán viên, kiểm toán viên hành nghề thực hiện dịch vụ.
(3) Trong một số trường hợp, sự chấp nhận có thể được thể
hiện thông qua thái độ của khách hàng khi kế toán viên, kiểm toán viên hành nghề
có đủ bằng chứng để kết luận rằng khách hàng đã biết về hoàn cảnh cụ thể của
xung đột ngay từ đầu và không phản đối sự tồn tại của xung đột về lợi ích
đó.
Kế toán viên, kiểm toán viên hành nghề phải xem xét bản
chất và mức độ nghiêm trọng của xung đột về lợi ích để xác định có cần thiết
phải thông báo cụ thể với khách hàng và phải được sự chấp nhận của khách hàng
hay không. Vì mục đích này, kế toán viên, kiểm toán viên hành nghề phải sử dụng
xét đoán chuyên môn để đánh giá các trường hợp làm phát sinh xung đột về lợi
ích, bao gồm: các bên có thể bị ảnh hưởng, bản chất của xung đột và khả năng
phát triển theo chiều hướng không mong đợi của vấn đề làm phát sinh xung
đột.
220.12 Khi kế toán viên, kiểm toán viên hành nghề yêu cầu
có sự chấp nhận của khách hàng nhưng khách hàng không đồng ý, kế toán viên, kiểm
toán viên hành nghề phải từ chối thực hiện hoặc ngừng cung cấp dịch vụ làm phát
sinh xung đột về lợi ích; hoặc phải chấm dứt các mối quan hệ hoặc từ bỏ các lợi
ích liên quan nhằm loại trừ hoặc làm giảm ảnh hưởng của các xung đột này xuống
mức có thể chấp nhận được. Sau khi áp dụng các biện pháp bảo vệ bổ sung cần
thiết, kế toán viên, kiểm toán viên hành nghề có thể nhận được sự chấp
nhận của khách hàng.
220.13 Khi việc thông báo được thực hiện bằng lời, hoặc
sự chấp nhận cũng bằng lời hoặc thể hiện thông qua thái độ, kế toán viên, kiểm
toán viên hành nghề phải ghi chép và lưu lại bằng tài liệu, hồ sơ về bản
chất của tình huống làm phát sinh xung đột về lợi ích, các biện pháp bảo vệ đã
được áp dụng để làm giảm nguy cơ đó xuống mức có thể chấp nhận được và sự đồng ý
của khách hàng.
220.14 Trong một số trường hợp, nhằm mục đích có được sự
chấp nhận của khách hàng, việc thông báo một cách cụ thể có thể dẫn đến vi phạm
tính bảo mật. Ví dụ:
(1) Cung cấp dịch vụ
tư vấn về giao dịch cho một khách hàng liên quan đến việc “thâu tóm thù địch”
một khách hàng khác của doanh nghiệp kế toán, kiểm
toán;
(2) Thực hiện dịch vụ điều tra gian lận cho khách hàng có
liên quan đến hành vi bị nghi ngờ là gian lận mà doanh nghiệp kế toán, kiểm toán
thu thập được thông tin bí mật thông qua việc cung cấp dịch vụ chuyên môn cho
một khách hàng khác mà khách hàng khác này có thể liên quan đến hành vi gian lận
đó.
Doanh nghiệp kế toán, kiểm toán không được chấp nhận hoặc
duy trì hợp đồng dịch vụ trong những trường hợp trên, trừ
khi:
(1) Doanh nghiệp kế toán, kiểm toán không bênh vực
một khách hàng khi việc bênh vực này đòi hỏi doanh nghiệp kiểm toán phải đặt
mình vào vị trí đối lập với một khách hàng khác cùng liên quan đến vấn đề
đó;
(2)
Doanh
nghiệp kế toán, kiểm toán có cơ chế cụ thể nhằm ngăn chặn việc tiết lộ thông tin
bảo mật giữa các nhóm thực hiện hợp đồng dịch vụ cho hai khách hàng đó;
(3) Doanh nghiệp kế toán, kiểm toán đảm bảo rằng một bên
thứ ba phù hợp và có đầy đủ thông tin, sau
khi xem xét các sự kiện và tình huống có sẵn cho kế toán viên, kiểm toán viên
hành nghề tại thời điểm đó, có thể kết luận rằng doanh nghiệp kế toán, kiểm toán
có thể chấp nhận hoặc duy trì hợp đồng dịch vụ, bởi nếu doanh nghiệp kế toán,
kiểm toán không cung cấp dịch vụ đó thì có thể dẫn đến kết quả bất lợi cho khách
hàng hoặc các bên thứ ba có liên quan.
Kế toán viên, kiểm toán viên hành nghề phải lưu lại tài
liệu, hồ sơ về bản chất của từng trường hợp, bao gồm vai trò mà kế toán viên,
kiểm toán viên hành nghề đảm nhận, cơ chế cụ thể nhằm ngăn chặn việc tiết lộ
thông tin bảo mật giữa các nhóm thực hiện hợp đồng dịch vụ cho hai khách hàng đó
và cơ sở để kết luận việc chấp nhận hợp đồng dịch vụ là phù
hợp.
CHƯƠNG 230 – Đưa ra ý kiến thứ
hai
230.1
Khi kế toán viên, kiểm toán viên hành nghề được yêu cầu cung cấp ý kiến thứ
hai sau khi đã có ý kiến thứ nhất về việc áp dụng chuẩn mực kế toán, kiểm
toán, lập báo cáo hoặc các chuẩn mực khác, các nguyên tắc cho một trường hợp,
những giao dịch cụ thể hay đưa ra ý kiến thay cho một doanh nghiệp hoặc đơn vị
không phải là khách hàng hiện tại, thì có thể làm phát sinh nguy cơ không tuân
thủ các nguyên tắc đạo đức cơ bản. Ví dụ, nguy cơ ảnh hưởng đến nguyên tắc “Năng
lực chuyên môn và tính thận trọng” có thể làm phát sinh khi kế toán viên, kiểm
toán viên hành nghề đưa ra ý kiến thứ hai mà không có đầy đủ bằng chứng hoặc
không được cung cấp đầy đủ thông tin như bên cung cấp dịch vụ hiện tại. Sự tồn
tại và mức độ nghiêm trọng của bất cứ nguy cơ nào phụ thuộc vào tình huống làm
phát sinh yêu cầu đưa ra ý kiến thứ hai và phụ thuộc vào các thông tin sẵn có,
và giả định thích hợp để đưa ra xét đoán chuyên môn.
230.2 Khi được yêu
cầu đưa ra ý kiến thứ hai, kế toán viên, kiểm toán viên hành nghề phải đánh giá
mức độ nghiêm trọng của các nguy cơ và áp dụng các biện pháp bảo vệ cần thiết để
loại trừ hoặc làm giảm các nguy cơ đó xuống mức có thể chấp nhận được. Ví dụ,
thu thập sự đồng ý của khách hàng để được liên lạc với bên cung cấp dịch vụ hiện
tại, mô tả những hạn chế liên quan đến ý kiến thứ hai khi trao đổi với khách
hàng và cung cấp ý kiến đó cho bên cung cấp dịch vụ hiện
tại.
230.3 Nếu kế toán viên, kiểm toán viên hành nghề không
được khách hàng cho phép liên lạc với bên cung cấp dịch vụ hiện tại, họ phải xác
định liệu có đưa ra ý kiến thứ hai hay không dựa trên các tình huống và thông
tin có được.
Ví
dụ về đưa ra ý kiến thứ 2:
Nếu
một doanh nghiệp kiểm toán được một khách hàng yêu cầu cho ý kiến tư vấn hoặc
báo cáo bằng văn bản liên quan đến việc áp dụng chuẩn mực, chế độ kế toán, chuẩn
mực kiểm toán hoặc về việc lập và trình bày báo cáo tài chính mà khách hàng này
không phải là khách hàng kiểm toán của doanh nghiệp kiểm toán đó, thì doanh
nghiệp kiểm toán này cần đánh giá xem liệu việc cho ý kiến tư vấn hoặc báo cáo
bằng văn bản như vậy có vi phạm các nguyên tắc đạo đức cơ bản hay
không.
Doanh
nghiệp kiểm toán cho ý kiến tư vấn như vậy có thể không được tiếp cận với đầy đủ
thông tin như là doanh nghiệp kiểm toán đang thực hiện kiểm toán cho khách hàng
đó và do vậy có thể đưa ra ý kiến hoặc kết luận khác biệt. Việc đưa ra ý kiến và
kết luận khác biệt có thể tạo áp lực một cách không phù hợp đối với doanh nghiệp
kiểm toán đang thực hiện kiểm toán cho khách hàng đó.
Trong
trường hợp này nguy cơ vi phạm các nguyên tắc đạo đức cơ bản có thể được làm
giảm bằng cách doanh nghiệp kiểm toán cho ý kiến tư vấn trao đổi thông tin với
doanh nghiệp kiểm toán đang thực hiện kiểm toán cho khách hàng đó và/hoặc cung
cấp bản dự thảo ý kiến tư vấn/báo cáo cho doanh nghiệp kiểm toán đang thực hiện
kiểm toán cho khách hàng đó để tham khảo ý kiến.
Việc
một doanh nghiệp thực hiện kiểm toán lại một báo cáo tài chính đã được một doanh
nghiệp kiểm toán khác kiểm toán cũng làm phát sinh nguy cơ tương tự và có thể ở
mức độ nghiêm trọng hơn so với trường hợp trên. Vì vậy việc kiểm toán lại chỉ
được thực hiện khi có yêu cầu cụ thể của pháp luật hoặc cơ quan quản lý. Trong
trường hợp kiểm toán lại thì doanh nghiệp kiểm toán sau cần tham khảo ý kiến của
doanh nghiệp kiểm toán tiền nhiệm về các vấn đề kế toán, kiểm toán có sự khác
biệt trọng yếu trong quan điểm giữa hai doanh nghiệp kiểm toán. Nếu không thể
tham khảo ý kiến của doanh nghiệp kiểm toán tiền nhiệm thì cần tham khảo ý kiến
của tổ chức nghề nghiệp hoặc cơ quan quản lý phù hợp.
CHƯƠNG 240 – Giá phí dịch vụ và các khoản phụ phí
khác
240.1 Khi đàm phán giá phí dịch vụ, kế toán viên, kiểm
toán viên hành nghề có quyền đưa ra mức phí mà họ cho là phù hợp. Việc kế toán
viên, kiểm toán viên hành nghề có thể đưa ra một mức phí thấp hơn so với mức phí
của kế toán viên, kiểm toán viên hành nghề khác chưa hẳn đã là phi đạo đức,
nhưng có thể ảnh hưởng đến việc tuân thủ các nguyên tắc đạo đức cơ bản. Ví dụ có
thể phát sinh nguy cơ do tư lợi làm ảnh hưởng tới năng lực chuyên môn cũng như
tính thận trọng nếu mức phí đưa ra là quá thấp và kế toán viên, kiểm toán viên
hành nghề khó có thể thực hiện hợp đồng dịch vụ đó tuân thủ theo đúng quy định
của chuẩn mực nghề nghiệp và kỹ thuật phù hợp.
240.2 Việc phát sinh các nguy cơ cũng như mức độ nghiêm
trọng của các nguy cơ được xác định dựa trên các yếu tố như mức phí và dịch vụ
được cung cấp. Cần phải đánh giá mức độ nghiêm trọng của các nguy cơ và áp dụng
các biện pháp bảo vệ cần thiết nhằm loại trừ hoặc làm giảm các nguy cơ đó xuống
mức có thể chấp nhận được. Ví dụ về biện pháp bảo vệ, bao
gồm:
(1)
Đảm
bảo rằng khách hàng hiểu được các điều khoản của hợp đồng, trong đó có cơ sở
tính phí, nội dung và phạm vi công việc tương ứng với mức phí đó;
hoặc
(2) Sắp xếp thời gian phù hợp và bố trí nhân viên có đủ
năng lực chuyên môn thực hiện công việc.
240.3 Phí tiềm tàng được sử dụng rộng rãi trong các hợp
đồng dịch vụ phi đảm bảo. Chương 290 và Chương 291 Chuẩn mực này quy định và
hướng dẫn về phí tiềm tàng áp dụng đối với dịch vụ phi đảm bảo cung cấp cho
khách hàng kiểm toán và các khách hàng sử dụng dịch vụ đảm bảo. Tuy nhiên,
phí tiềm tàng có thể làm phát sinh nguy cơ ảnh hưởng tới sự tuân thủ các nguyên
tắc đạo đức cơ bản như nguy cơ do tư lợi làm ảnh hưởng đến tính khách quan. Việc
phát sinh các nguy cơ và mức độ nghiêm trọng của các nguy cơ phụ thuộc vào các
yếu tố sau:
(1) Tính chất của hợp đồng dịch
vụ;
(2) Khoảng phí tiềm tàng;
(3) Cơ sở xác định mức phí;
và
(4) Liệu kết quả của giao dịch có được bên thứ ba độc lập
soát xét hay không.
240.4 Mức độ nghiêm trọng của các nguy cơ phải được đánh
giá và biện pháp bảo vệ phải được áp dụng cần thiết nhằm loại trừ hoặc làm giảm
các nguy cơ đó xuống mức có thể chấp nhận được. Ví dụ về biện pháp bảo
vệ:
(1) Thỏa thuận trước với khách hàng bằng văn bản về cơ sở
xác định mức phí;
(2) Công bố công việc thực hiện và cơ sở xác định mức phí
với đối tượng sử dụng kết quả dịch vụ;
(3) Chính sách và thủ tục liên quan đến kiểm soát chất
lượng; hoặc
(4) Soát xét công việc của kế toán viên, kiểm toán viên
hành nghề bởi một bên thứ ba độc lập.
240.5 Trong một số trường hợp, kế toán viên, kiểm toán
viên hành nghề có thể nhận được phí giới thiệu hoặc hoa hồng liên quan đến khách
hàng. Ví dụ khi kế toán viên, kiểm toán viên hành nghề không cung cấp một số
dịch vụ mà khách hàng hiện tại yêu cầu, kế toán viên, kiểm toán viên hành nghề
này có thể nhận được khoản phí từ việc giới thiệu khách hàng đó cho kế toán
viên, kiểm toán viên hành nghề hoặc bên cung cấp dịch vụ chuyên môn khác. Kế
toán viên, kiểm toán viên hành nghề có thể nhận được hoa hồng từ bên thứ ba, như
bên cung cấp phần mềm, liên quan đến việc cung cấp hàng hóa hoặc dịch vụ cho
khách hàng. Việc nhận phí giới thiệu hoặc hoa hồng như vậy làm phát sinh nguy cơ
do tư lợi ảnh hưởng đến tính khách quan cũng như năng lực chuyên môn và tính
thận trọng của kế toán viên, kiểm toán viên hành nghề. Đối với hoạt
động cung cấp dịch vụ đảm bảo, doanh nghiệp kiểm toán, kiểm toán viên hành nghề
không được nhận phí giới thiệu hoặc hoa hồng từ việc giới thiệu khách hàng cho
dịch vụ đảm bảo.
240.6 Kế toán viên, kiểm toán viên hành nghề cũng có thể
phải trả phí giới thiệu để có được khách hàng, ví dụ, trường hợp khách hàng đang
sử dụng dịch vụ từ kế toán viên, kiểm toán viên hành nghề khác nhưng có nhu cầu
về một số dịch vụ khác mà bên cung cấp dịch vụ hiện tại không đáp ứng được. Việc
trả phí giới thiệu này có thể làm phát sinh nguy cơ do tư lợi ảnh hưởng đến tính
khách quan cũng như năng lực chuyên môn và tính thận trọng của kế toán viên,
kiểm toán viên hành nghề. Đối với hoạt động cung cấp dịch vụ đảm bảo, doanh
nghiệp kiểm toán, kiểm toán viên hành nghề không được trả phí giới thiệu hoặc
hoa hồng để có được khách hàng cho dịch vụ đảm
bảo.
240.7 Mức độ nghiêm trọng của các nguy cơ phải được đánh
giá và biện pháp bảo vệ phải được áp dụng nếu cần thiết nhằm loại trừ hoặc làm
giảm các nguy cơ đó xuống mức có thể chấp nhận được. Ví dụ về biện pháp bảo
vệ:
(1) Thông báo với khách hàng về thỏa thuận trả phí cho
việc được giới thiệu khách hàng từ kế toán viên, kiểm toán viên hành nghề
khác;
(2) Thông báo với khách hàng về thỏa thuận nhận phí trong
việc giới thiệu khách hàng cho kế toán hành viên, kiểm toán viên hành nghề khác;
hoặc
(3) Thu thập văn bản thỏa thuận trước từ khách hàng về
hoa hồng liên quan đến việc bên thứ ba cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho khách
hàng.
240.8 Kế toán viên, kiểm toán viên hành nghề có thể mua
một phần hoặc toàn bộ doanh nghiệp kế toán, kiểm toán khác và thanh toán cho các
chủ sở hữu doanh nghiệp hoặc người thừa kế. Những khoản thanh toán đó không được
coi là hoa hồng hoặc phí giới thiệu như quy định tại đoạn 240.5 – 240.7 Chuẩn
mực này.
CHƯƠNG 250 – Quảng bá dịch
vụ
250.1 Việc kế toán viên, kiểm toán viên hành nghề có được
hợp đồng mới thông qua các hình thức quảng bá hoặc tiếp thị nào đó có thể làm
phát sinh các nguy cơ ảnh hưởng đến việc tuân thủ các nguyên tắc đạo đức cơ bản.
Ví dụ, nguy cơ do tư lợi ảnh hưởng đến việc tuân thủ nguyên tắc “Tư cách nghề
nghiệp” sẽ phát sinh nếu kế toán viên, kiểm toán viên hành nghề quảng bá dịch
vụ, thành tích và sản phẩm của mình theo cách thức không tuân thủ nguyên tắc
đó.
250.2 Kế toán viên, kiểm toán viên hành nghề phải tránh
làm giảm uy tín nghề nghiệp khi quảng bá dịch vụ của mình. Kế toán viên, kiểm
toán viên hành nghề phải trung thực, thẳng thắn và không
được:
(a) Cường điệu về các dịch vụ mà họ có thể thực hiện, về
trình độ hay kinh nghiệm của bản thân; hoặc
(b) Đưa ra những thông tin, giới thiệu làm mất uy tín hay
đưa ra những so sánh không có căn cứ về công việc của các bên
khác.
Trường hợp kế toán viên, kiểm toán viên hành nghề không
chắc chắn về sự phù hợp của hình thức quảng bá hoặc tiếp thị thì họ phải cân
nhắc việc tham khảo ý kiến tư vấn của tổ chức nghề nghiệp có liên
quan.
CHƯƠNG 260 – Quà tặng và ưu
đãi
260.1 Kế toán viên, kiểm toán viên hành nghề hoặc thành
viên có quan hệ gia đình trực tiếp hoặc gần gũi với kế toán viên, kiểm toán viên
hành nghề có thể sẽ được đề nghị nhận quà tặng hoặc ưu đãi từ khách hàng. Các đề
nghị như vậy có thể làm phát sinh nguy cơ ảnh hưởng đến việc tuân thủ các nguyên
tắc đạo đức cơ bản. Ví dụ, nguy cơ do tư lợi hoặc nguy cơ từ sự quen thuộc ảnh
hưởng tới tính khách quan có thể phát sinh từ việc nhận quà tặng từ khách hàng.
Nếu các đề nghị này bị thông tin ra bên ngoài thì có thể làm phát sinh nguy cơ
bị đe dọa ảnh hưởng tới tính khách quan của kế toán viên, kiểm toán viên hành
nghề.
260.2
Việc phát sinh các nguy cơ cũng như mức độ nghiêm trọng của các nguy cơ được
xác
định dựa trên các yếu tố như bản chất, giá trị và mục đích của những đề nghị.
Nếu một bên thứ ba phù hợp và có đầy đủ thông tin, sau khi xem xét các sự kiện
và tình huống có sẵn cho kế toán viên, kiểm toán viên hành nghề tại thời điểm
đó, đánh giá là quà tặng và ưu đãi không có giá trị lớn và không đáng kể, thì kế
toán viên, kiểm toán viên hành nghề có thể kết luận rằng đề nghị này là bình
thường, không nhằm mục đích cụ thể để tác động tới việc ra ý kiến hay thu thập
thông tin. Trường hợp này, kế toán viên, kiểm toán viên hành nghề có thể kết
luận rằng nguy cơ ảnh hưởng tới việc tuân thủ các nguyên tắc đạo đức cơ bản là ở
mức có thể chấp nhận được.
260.3 Kế toán viên, kiểm toán viên hành nghề phải đánh
giá mức độ nghiêm trọng của các nguy cơ và áp dụng các biện pháp bảo vệ cần
thiết nhằm loại trừ hoặc làm giảm các nguy cơ đó xuống mức có thể chấp nhận
được. Trường hợp các nguy cơ không thể bị loại trừ hay làm giảm xuống mức có thể
chấp nhận được dù đã áp dụng các biện pháp bảo vệ cần thiết, kế toán viên, kiểm
toán viên hành nghề phải từ chối đề nghị từ khách
hàng.
CHƯƠNG 270 – Giữ hộ tài sản của khách
hàng
270.1 Kế toán viên, kiểm toán viên hành nghề không được
phép giữ hộ tiền hoặc các tài sản khác của khách hàng trừ khi được pháp luật cho
phép. Trường hợp pháp luật cho phép thì họ phải tuân thủ các nghĩa vụ pháp lý
liên quan đến việc nắm giữ các tài sản.
270.2 Việc giữ hộ tài sản của khách hàng sẽ làm phát sinh
nguy cơ ảnh hưởng tới việc tuân thủ các nguyên tắc đạo đức cơ bản. Ví dụ, việc
giữ hộ tài sản của khách hàng có thể làm phát sinh nguy cơ do tư lợi ảnh hưởng
tới tư cách nghề nghiệp và tính khách quan. Trường hợp được ủy thác giữ tiền
hoặc tài sản của khách hàng, kế toán viên, kiểm toán viên hành nghề
phải:
(a) Giữ riêng biệt các tài sản đó với tài sản cá nhân
hoặc tài sản của đơn vị;
(b) Chỉ sử dụng các tài sản đó cho mục đích định
trước;
(c) Chịu trách nhiệm
trước chủ sở hữu tài sản về tài sản đó, cũng như thu nhập, cổ tức hoặc các khoản
thu nhập khác thu được từ tài sản tại bất cứ thời điểm
nào;
(d) Tuân thủ pháp luật và các quy định có liên quan đến
việc nắm giữ và chịu trách nhiệm về các tài sản đó.
270.3
Khi thực hiện các thủ tục đánh giá chấp nhận khách hàng và hợp đồng dịch vụ,
trong đó có điều khoản giữ hộ tài sản của khách hàng, kế toán viên, kiểm toán
viên hành nghề phải tìm hiểu một cách hợp lý về nguồn gốc của tài sản đó cũng
như các nghĩa vụ pháp lý và các quy định có liên quan. Ví dụ, nếu tài sản được
hình thành từ những hoạt động bất hợp pháp, như hoạt động rửa tiền, có thể làm
phát sinh các nguy cơ ảnh hưởng đến việc tuân thủ các nguyên tắc đạo đức cơ bản.
Trường hợp đó, kế toán viên, kiểm toán viên hành nghề phải cân nhắc việc tham
khảo ý kiến chuyên gia tư vấn pháp luật.
CHƯƠNG 280 – Tính khách quan - Áp dụng cho tất cả các
dịch vụ
280.1 Trước khi cung cấp dịch vụ, kế toán viên, kiểm toán
viên hành nghề phải xác định các nguy cơ ảnh hưởng đến tính khách quan phát sinh
từ việc nắm giữ cổ phần của khách hàng, có mối quan hệ với khách hàng hoặc với
thành viên Ban quản trị, Ban Giám đốc cũng như nhân viên của khách hàng. Ví dụ,
có thể phát sinh nguy cơ từ sự quen thuộc đe dọa tính khách quan do mối quan hệ
gia đình, mối quan hệ cá nhân thân thiết hoặc mối quan hệ kinh
doanh.
280.2 Kiểm toán viên hành nghề cung cấp dịch vụ đảm bảo
phải độc lập với khách hàng sử dụng dịch vụ đảm bảo. Độc lập về tư tưởng và độc
lập về hình thức là cần thiết để kiểm toán viên hành nghề đưa ra kết luận hoặc
được coi là đưa ra kết luận một cách không thiên vị, không mâu thuẫn về lợi ích
hoặc không bị ảnh hưởng một cách bất hợp lý từ người khác. Chương 290 và 291
Chuẩn mực này quy định và hướng dẫn cụ thể về tính độc lập đối với kiểm toán
viên hành nghề khi cung cấp dịch vụ đảm bảo.
280.3 Việc phát sinh các nguy cơ ảnh hưởng đến tính khách
quan khi cung cấp dịch vụ chuyên môn phụ thuộc vào hoàn cảnh cụ thể của hợp đồng
dịch vụ cũng như tính chất của công việc mà kế toán viên, kiểm toán viên hành
nghề thực hiện.
280.4 Kế toán viên,
kiểm toán viên hành nghề phải đánh giá mức độ nghiêm trọng của các nguy cơ và áp
dụng các biện pháp bảo vệ cần thiết nhằm loại trừ hoặc làm giảm các nguy cơ đó
xuống mức có thể chấp nhận được. Ví dụ về các biện pháp bảo
vệ:
(1) Rút khỏi nhóm thực hiện hợp đồng dịch
vụ;
(2) Thực hiện thủ tục kiểm tra, giám
sát;
(3) Chấm dứt các mối quan hệ tài chính hoặc kinh doanh
làm phát sinh các nguy cơ;
(4) Thảo luận vấn đề với các cấp lãnh đạo cao hơn trong
doanh nghiệp kế toán, kiểm toán; hoặc
(5) Thảo luận vấn đề với Ban quản trị của khách
hàng.
Nếu các biện pháp bảo vệ được áp dụng không thể loại trừ
hay làm giảm các nguy cơ xuống mức có thể chấp nhận được, kế toán viên, kiểm
toán viên hành nghề phải từ chối hoặc chấm dứt hợp đồng dịch vụ với khách
hàng.
CHƯƠNG 290 - Tính độc lập - Áp dụng cho dịch vụ kiểm toán
và dịch vụ soát xét
Cấu
trúc Chương
290.1 Chương này quy định các yêu cầu về tính độc lập đối
với dịch vụ kiểm toán và dịch vụ soát xét. Đây là các dịch vụ đảm bảo yêu cầu
kiểm toán viên hành nghề phải đưa ra kết luận độc lập về báo cáo tài chính. Các
dịch vụ này bao gồm dịch vụ kiểm toán và dịch vụ soát xét để đưa ra báo cáo về
một bộ báo cáo tài chính đầy đủ hoặc một báo cáo tài chính riêng lẻ. Yêu cầu về
tính độc lập khi thực hiện dịch vụ đảm bảo không phải là dịch vụ kiểm toán hay
dịch vụ soát xét được quy định tại Chương 291 Chuẩn mực
này.
290.2 Trong một số cuộc kiểm toán mà báo cáo kiểm toán có
hạn chế việc cung cấp và sử dụng báo cáo và nếu đáp ứng một số
điều kiện cụ thể, các yêu cầu về tính độc lập trong Chương này có thể được thay
đổi như quy định tại các đoạn từ 290.500 - 290.514 Chuẩn mực này. Các cuộc kiểm
toán báo cáo tài chính theo quy định của pháp luật không được phép áp dụng các
thay đổi này.
290.3 Trong Chương này, các thuật ngữ dưới đây được hiểu
như sau:
(a) Thuật ngữ “kiểm toán”, “nhóm kiểm toán”, “cuộc kiểm
toán”, “khách hàng kiểm toán” và “báo cáo kiểm toán” được hiểu là gồm cả soát
xét, nhóm soát xét, hợp đồng soát xét, khách hàng dịch vụ soát xét và báo cáo
soát xét. Ví dụ,“kiểm toán” được hiểu là gồm cả kiểm toán và soát
xét.
(b) Thuật ngữ “doanh
nghiệp kiểm toán” bao gồm cả công ty mạng lưới, trừ khi có quy định khác. Ví
dụ,“doanh nghiệp kiểm toán” bao gồm cả chi
nhánh.
Phương
pháp tiếp cận tính độc lập dựa trên khuôn khổ
290.4 Do cuộc kiểm toán được thực hiện vì lợi ích của
công chúng, thành viên nhóm kiểm toán, các doanh nghiệp kiểm toán và các công ty
mạng lưới phải duy trì tính độc lập đối với khách hàng kiểm toán theo quy định
của Chuẩn mực này.
290.5 Mục tiêu của Chương này nhằm hỗ trợ các doanh
nghiệp kiểm toán và thành viên nhóm kiểm toán trong việc áp dụng phương pháp
tiếp cận tính độc lập dựa trên khuôn khổ như các quy định dưới đây để đạt được
và duy trì tính độc lập.
290.6 Tính độc lập bao gồm:
(a) Độc lập về tư tưởng: Là trạng thái tư tưởng
cho phép đưa ra kết luận mà không bị tác động bởi những yếu tố có ảnh hưởng
đến xét đoán chuyên môn, cho phép một cá nhân hành động một cách chính trực và
vận dụng được tính khách quan cũng như thái độ hoài nghi nghề nghiệp của
mình;
(b) Độc lập về hình thức: Là việc cần tránh các sự
kiện và tình huống nghiêm trọng tới mức một bên thứ ba phù hợp và có đầy đủ
thông tin sau khi đánh giá sự kiện và tình huống thực tế, có thể kết luận
rằng tính chính trực, tính khách quan và thái độ hoài nghi nghề nghiệp của doanh
nghiệp kiểm toán hoặc thành viên nhóm kiểm toán đã bị ảnh
hưởng.
290.7 Kiểm toán viên hành nghề áp dụng phương pháp tiếp
cận tính độc lập dựa trên khuôn khổ nhằm:
(a) Xác định nguy cơ đe dọa tính độc
lập;
(b) Đánh giá mức độ nghiêm trọng của các nguy cơ đã được
xác định;
(c) Áp dụng các biện pháp bảo vệ cần thiết, nhằm loại trừ
hoặc làm giảm các nguy cơ đó xuống mức có thể chấp nhận
được.
Khi
kiểm toán viên hành nghề nhận thấy không có hoặc không thể áp dụng các biện pháp
bảo vệ thích hợp để loại trừ hoặc làm giảm các nguy cơ đó xuống mức có thể chấp
nhận được, họ phải loại bỏ những tình huống hoặc mối quan hệ làm phát sinh các
nguy cơ này hoặc từ chối hoặc chấm dứt cuộc kiểm toán đó.
Kiểm toán viên hành nghề phải sử dụng xét đoán chuyên môn
để áp dụng phương pháp tiếp cận tính độc lập dựa trên khuôn khổ
này.
290.8 Trong các tình huống hay nhóm các tình huống khác
nhau thì việc đánh giá các nguy cơ đe dọa tính độc lập cũng khác nhau. Việc xác
định tất cả các tình huống có thể làm phát sinh nguy cơ đe dọa tính độc lập và
đưa ra những biện pháp bảo vệ thích hợp là điều không thể. Vì vậy, Chuẩn mực này
đã xây dựng một khuôn khổ trong đó, yêu cầu các doanh nghiệp kiểm toán và các
thành viên nhóm kiểm toán xác định, đánh giá và khắc phục các nguy cơ đe dọa
tính độc lập. Phương pháp tiếp cận dựa trên khuôn khổ hỗ trợ kiểm toán viên hành
nghề trong việc tuân thủ các yêu cầu về đạo đức của Chuẩn mực này. Phương pháp
này đề cập đến rất nhiều tình huống có thể làm phát sinh nguy cơ đe dọa tính độc
lập và không cho phép kiểm toán viên hành nghề kết luận rằng tình huống đó là
được phép nếu tình huống đó không bị cấm một cách cụ
thể.
290.9 Các đoạn từ 290.100 - 290.514 Chuẩn mực này
hướng dẫn việc áp dụng phương pháp tiếp cận tính độc lập dựa trên khuôn khổ.
Các đoạn này không hướng dẫn tất cả các tình huống cũng như các mối quan hệ làm
phát sinh hoặc có thể làm phát sinh các nguy cơ đe dọa tính độc
lập.
290.10 Khi quyết
định có chấp nhận hoặc duy trì hợp đồng dịch vụ, hoặc một cá nhân có là thành
viên nhóm kiểm toán hay không, doanh nghiệp kiểm toán phải xác định và đánh giá
các nguy cơ đe dọa tính độc lập. Khi đưa ra các quyết định này, nếu các nguy cơ
không ở mức có thể chấp nhận được thì các doanh nghiệp kiểm toán phải xác định
liệu có biện pháp bảo vệ nào để loại trừ hoặc làm giảm các nguy cơ đó xuống mức
có thể chấp nhận được hay không. Khi cân nhắc quyết định tiếp tục duy trì hợp
đồng dịch vụ, doanh nghiệp kiểm toán phải xác định liệu các biện pháp bảo vệ
hiện tại có hiệu quả để loại trừ hoặc làm giảm các nguy cơ đó xuống mức có thể
chấp nhận được hay không; hoặc cần phải áp dụng các biện pháp bảo vệ khác; hoặc
phải chấm dứt hợp đồng dịch vụ đó. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, nếu xuất
hiện các thông tin mới về nguy cơ đe dọa tính độc lập, doanh nghiệp kiểm toán
phải đánh giá mức độ nghiêm trọng của các nguy cơ theo phương pháp tiếp cận dựa
trên khuôn khổ quy định tại Chuẩn mực này.
290.11 Mức độ nghiêm trọng của các nguy cơ đe dọa tính
độc lập được quy định trong suốt Chương này. Các yếu tố định tính và định lượng
đều phải được xem xét trong quá trình đánh giá mức độ nghiêm trọng của các nguy
cơ.
290.12 Trong hầu hết các trường hợp, Chương này không quy
định trách nhiệm cụ thể của các cá nhân trong doanh nghiệp kiểm toán đối với các
hành động liên quan đến tính độc lập vì trách nhiệm này có thể khác biệt, tùy
thuộc vào quy mô, cấu trúc và tổ chức của doanh nghiệp kiểm toán. Theo yêu cầu
của Chuẩn mực kiểm soát chất lượng số 1 - Kiểm soát chất lượng doanh
nghiệp thực hiện kiểm toán, soát xét báo cáo tài chính, dịch vụ đảm bảo và các
dịch vụ liên quan khác (sau đây gọi là Chuẩn mực kiểm soát chất lượng số 1),
doanh nghiệp kiểm toán phải xây dựng các chính sách và thủ tục để có sự đảm bảo
hợp lý rằng tính độc lập được duy trì tuân theo yêu cầu về đạo đức nghề nghiệp
có liên quan. Ngoài ra, chuẩn mực kiểm toán Việt Nam (VSA) yêu cầu thành viên
Ban Giám đốc phụ trách tổng thể hợp đồng dịch vụ phải đưa ra kết luận về việc
tuân thủ các yêu cầu về tính độc lập áp dụng cho hợp đồng dịch vụ
đó.
Mạng
lưới và các công ty mạng lưới
290.13 Nếu doanh nghiệp kiểm toán là công ty mạng lưới,
doanh nghiệp kiểm toán sẽ phải độc lập với các khách hàng kiểm toán của các
doanh nghiệp khác trong cùng mạng lưới (trừ trường hợp có quy định khác tại
Chuẩn mực này). Các yêu cầu về tính độc lập trong Chương này áp dụng cho công ty
mạng lưới cũng áp dụng cho bất kỳ đơn vị nào, chẳng hạn như bộ phận tư vấn, hay
bộ phận luật, nếu thỏa mãn định nghĩa công ty mạng lưới, không phụ thuộc vào
việc bản thân đơn vị đó có thỏa mãn định nghĩa về doanh nghiệp kiểm toán hay
không.
290.14 Để nâng cao khả năng cung cấp một dịch vụ chuyên
môn, các doanh nghiệp kiểm toán thường xuyên liên kết với các doanh nghiệp kiểm
toán và các đơn vị khác. Việc kết hợp này có hình thành mạng lưới hay không phụ
thuộc và các sự kiện và tình huống cụ thể mà không phụ thuộc vào việc doanh
nghiệp kiểm toán và các đơn vị này có phải là pháp nhân độc lập hay không. Ví
dụ, việc kết hợp này có thể chỉ nhằm mục đích giới thiệu khách hàng, bản thân
việc kết hợp này không đáp ứng các yêu cầu cần thiết để hình thành một mạng
lưới. Mặt khác, việc kết hợp này cũng có thể nhằm mục đích hợp tác và sử dụng
chung một thương hiệu, hệ thống kiểm soát chất lượng, các nguồn lực quan trọng
và do đó được coi là một mạng lưới.
290.15
Việc đánh giá sự kết hợp này có được coi là một mạng lưới hay không phụ thuộc
vào việc một bên thứ ba phù hợp và có đầy đủ thông tin, sau khi xem xét các sự
kiện và tình huống có sẵn cho kiểm toán viên hành nghề tại thời điểm đó, có thể
kết luận rằng các đơn vị đó đang được kết hợp với nhau theo phương thức của một
mạng lưới. Việc đánh giá này sẽ được áp dụng thống nhất trên toàn mạng
lưới.
290.16 Nếu việc kết hợp các doanh nghiệp nhằm mục đích
hợp tác và chia sẻ lợi nhuận hoặc chi phí, thì việc kết hợp này hình thành một
mạng lưới. Tuy nhiên, việc kết hợp này không được coi là một mạng lưới trong các
trường hợp sau: (i) Các chi phí được chia sẻ là không trọng yếu; (ii) Các chi
phí được chia sẻ chỉ giới hạn ở chi phí để phát triển phương pháp kiểm toán,
hướng dẫn sử dụng hoặc các khóa đào tạo; (iii) Doanh nghiệp hợp tác với một đơn
vị không liên quan khác nhằm cung cấp dịch vụ hoặc phát triển sản
phẩm.
290.17 Nếu việc kết hợp các doanh nghiệp với mục đích hợp
tác và các doanh nghiệp tham gia cùng nắm quyền sở hữu, kiểm soát hay quản trị,
thì việc kết hợp này hình thành một mạng lưới. Mạng lưới này có thể được thiết
lập thông qua ký kết hợp đồng hoặc các hình thức
khác.
290.18 Nếu việc kết hợp các doanh nghiệp với mục đích hợp
tác và các doanh nghiệp tham gia có cùng chính sách và thủ tục kiểm soát chất
lượng thì việc kết hợp này hình thành một mạng lưới. Dưới hình thức này, các
chính sách và thủ tục kiểm soát chất lượng sẽ được thiết kế, thực hiện và giám
sát trong tất cả các doanh nghiệp tham gia.
290.19 Nếu việc kết hợp các doanh nghiệp với mục đích hợp
tác và các doanh nghiệp tham gia có cùng chiến lược kinh doanh thì việc kết hợp
này hình thành một mạng lưới. Việc chia sẻ chiến lược kinh doanh nghĩa là các
doanh nghiệp tham gia cùng đồng thuận để đạt được mục tiêu chiến lược chung. Một
doanh nghiệp không được coi là công ty mạng lưới nếu nó hợp tác với doanh nghiệp
khác chỉ nhằm mục đích nộp hồ sơ thầu để cung cấp một dịch vụ chuyên
môn.
290.20 Nếu việc kết hợp các doanh nghiệp với mục đích hợp
tác và các doanh nghiệp tham gia sử dụng chung một thương hiệu thì việc kết hợp
này hình thành một mạng lưới. Một thương hiệu bao gồm các ký hiệu chữ cái chung
hoặc một tên chung. Một doanh nghiệp được coi là đang sử dụng một thương hiệu
chung nếu doanh nghiệp đó sử dụng thương hiệu chung đó như một phần của tên
doanh nghiệp hay cùng với tên doanh nghiệp.
290.21
Kể cả khi doanh nghiệp kiểm toán không thuộc một mạng lưới và không sử dụng tên
thương hiệu chung như một phần của tên doanh nghiệp đó, thì doanh nghiệp vẫn có
thể bị nhầm tưởng là thành viên của mạng lưới nếu doanh nghiệp ghi trên văn
phòng phẩm hay tài liệu quảng bá với tư cách như là một thành viên của mạng
lưới. Theo đó, nếu không cẩn trọng xem xét cách thức doanh nghiệp thể hiện quyền
thành viên của mình thì sẽ dễ nhầm tưởng doanh nghiệp thuộc một mạng
lưới.
290.22 Nếu doanh nghiệp bán một bộ phận kinh doanh, đôi
khi thỏa thuận mua bán có quy định rằng trong một khoảng thời gian nhất định, bộ
phận đó vẫn có thể tiếp tục sử dụng tên của doanh nghiệp, hay một phần tên doanh
nghiệp, kể cả khi bộ phận này không còn thuộc doanh nghiệp nữa. Trong trường hợp
đó, mặc dù hai đơn vị hoạt động dưới cùng một tên thương hiệu, nhưng trên thực
tế chúng không còn kết hợp vì mục đích hợp tác và do đó không thuộc cùng một
mạng lưới. Những doanh nghiệp này phải xác định cách thức thông báo với các đối
tượng bên ngoài rằng họ không thuộc cùng một mạng
lưới.
290.23 Việc kết hợp các doanh nghiệp với mục đích hợp tác
và các doanh nghiệp tham gia chia sẻ một phần quan trọng các nguồn lực chuyên
môn, thì việc kết hợp này hình thành một mạng lưới. Các nguồn lực chuyên môn bao
gồm:
(1) Các hệ thống chung cho phép các doanh nghiệp trao đổi
các thông tin như cơ sở dữ liệu khách hàng, sổ hóa đơn, các bảng chấm
công;
(2) Thành viên Ban Giám đốc và các nhân
viên;
(3)
Bộ phận chuyên môn tư vấn về các vấn đề kỹ thuật hoặc các vấn đề cụ thể của
ngành, các giao dịch hoặc các sự kiện cho các hợp đồng dịch vụ đảm
bảo;
(4) Phương pháp luận hoặc sổ tay hướng dẫn kiểm
toán;
(5) Các khóa đào tạo và cơ sở vật
chất.
290.24 Việc xác định liệu các nguồn lực chuyên môn được
chia sẻ có trọng yếu hay không và do đó các doanh nghiệp kiểm toán có phải là
công ty mạng lưới hay không phụ thuộc vào các sự kiện và tình huống thích hợp.
Nếu các nguồn lực được chia sẻ chỉ bao gồm phương pháp luận và sổ tay hướng dẫn
kiểm toán mà không có sự trao đổi về nguồn nhân lực, khách hàng, hoặc thông tin
về thị trường thì sự chia sẻ này không được coi là trọng yếu. Tương tự, nếu các
doanh nghiệp chỉ chia sẻ nguồn lực đào tạo thì sự chia sẻ này cũng không được
coi là trọng yếu. Tuy nhiên, nếu các nguồn lực được chia sẻ bao gồm việc trao
đổi nguồn lực hoặc thông tin, ví dụ, có một nguồn nhân lực (hoặc một phòng hỗ
trợ kỹ thuật để cung cấp các tư vấn kỹ thuật) mà các doanh nghiệp thành viên có
thể được sử dụng chung hoặc phải tuân theo và một bên thứ ba phù hợp thì có đầy
đủ thông tin có thể kết luận rằng các nguồn lực được chia sẻ này là đáng
kể.
Đơn
vị có lợi ích công chúng
290.25 Chương 290 Chuẩn mực này bao gồm các quy định bổ
sung phản ánh mức độ đại chúng của một số đơn vị nhất định. Trong chương này,
đơn vị có lợi ích công chúng bao gồm:
(a) Tổ chức niêm yết;
(b) Đơn vị:
(i) Được pháp luật quy định là đơn vị có lợi ích công
chúng; hoặc
(ii) Mà việc kiểm toán đơn vị đó phải tuân thủ các yêu
cầu về tính độc lập do pháp luật quy định như đối với các tổ chức niêm yết. Các
yêu cầu này còn có thể do cơ quan quản lý có liên quan ban
hành.
290.26 Các doanh nghiệp kiểm toán và các tổ chức nghề
nghiệp mà họ là thành viên phải xác định liệu có đối xử với đơn vị hoặc một nhóm
các đơn vị không được đề cập trong định nghĩa tại đoạn 290.25 nêu trên như đơn
vị có lợi ích công chúng hay không, do các đơn vị này có số lượng lớn các bên có
lợi ích liên quan. Các yếu tố được xem xét bao gồm:
(1) Bản chất ngành nghề kinh doanh, ví dụ, giữ hộ tài sản
cho một số lượng lớn các bên có lợi ích liên quan, các định chế tài chính như
ngân hàng, các công ty bảo hiểm và quỹ hưu trí;
(2)
Quy mô;
(3)
Số lượng nhân viên.
Các
bên liên quan
290.27 Đối với khách hàng kiểm toán là tổ chức niêm yết,
thì khái niệm khách hàng kiểm toán được nêu trong Chương này được bao gồm cả các
bên liên quan của khách hàng đó (trừ khi có quy định khác). Đối với tất cả các
khách hàng kiểm toán khác, thì khái niệm khách hàng kiểm toán được nêu
trong Chương này bao gồm các bên có liên quan mà khách hàng kiểm toán nắm quyền
kiểm soát trực tiếp hay gián tiếp. Khi nhóm thực hiện hợp đồng dịch vụ có căn cứ
để tin rằng mối quan hệ hoặc tình huống liên quan đến các bên liên quan khác của
khách hàng có ảnh hưởng đến tính độc lập của doanh nghiệp kiểm toán với khách
hàng kiểm toán, nhóm thực hiện hợp đồng dịch vụ phải xem xét cả các bên liên
quan này khi xác định và đánh giá các nguy cơ đe dọa tính độc lập cũng như áp
dụng các biện pháp bảo vệ thích hợp.
Ban
quản trị của khách hàng
290.28 Kể cả khi Chuẩn mực này, các chuẩn mực kiểm toán
Việt Nam, pháp luật và các quy định khác không yêu cầu thì doanh nghiệp kiểm
toán và Ban quản trị của khách hàng nên trao đổi thường xuyên với nhau về các
mối quan hệ và vấn đề khác mà theo đánh giá của doanh nghiệp kiểm toán là có ảnh
hưởng đến tính độc lập. Việc trao đổi này cho phép Ban quản trị của khách
hàng:
(a) Xem xét các xét đoán của doanh nghiệp kiểm toán về
việc xác định và đánh giá các nguy cơ đe dọa tính độc
lập;
(b) Đánh giá sự phù hợp của các biện pháp bảo vệ áp dụng
để loại trừ hoặc làm giảm các nguy cơ đó xuống mức có thể chấp nhận
được;
(c) Có biện pháp xử lý thích
hợp.
Việc trao đổi thường xuyên này cũng có thể đặc biệt hữu
dụng đối với các nguy cơ bị đe dọa và nguy cơ từ sự quen
thuộc.
Khi thảo luận với Ban quản trị của khách hàng theo quy
định của Chuẩn mực này, tùy thuộc vào bản chất và mức độ quan trọng của tình
huống và vấn đề cần thảo luận, doanh nghiệp kiểm toán phải xác định (các) cá
nhân phù hợp trong Ban quản trị của khách hàng để thảo luận. Nếu doanh nghiệp
kiểm toán trao đổi với một bộ phận của Ban quản trị của khách hàng, ví dụ như Ủy
ban Kiểm toán hoặc một cá nhân, doanh nghiệp kiểm toán phải đánh giá sự cần
thiết của việc trao đổi vấn đề với toàn bộ Ban quản trị của khách hàng để Ban
quản trị của khách hàng được cung cấp thông tin đầy
đủ.
Tài
liệu, hồ sơ
290.29 Các tài liệu, hồ sơ cung cấp bằng chứng làm cơ sở
đưa ra kết luận của kiểm toán viên hành nghề liên quan đến
việc tuân thủ các yêu cầu về tính độc lập. Việc thiếu tài liệu, hồ sơ không phải
là yếu tố quyết định liệu doanh nghiệp kiểm toán đã cân nhắc một vấn đề cụ thể
hay chưa hoặc liệu doanh nghiệp kiểm toán có độc lập hay
không.
Kiểm
toán viên hành nghề phải ghi chép kết luận về việc tuân thủ các yêu cầu về tính
độc lập cũng như nội dung các thảo luận liên quan làm căn cứ đưa ra kết luận
này. Theo đó:
(a) Khi biện pháp bảo vệ là cần thiết để làm giảm các
nguy cơ xuống mức có thể chấp nhận được, kiểm toán viên hành nghề phải ghi chép
lại bản chất của nguy cơ và các biện pháp bảo vệ đã được áp
dụng;
(b) Khi có các nguy cơ cần phải được phân tích một cách
tỉ mỉ và kỹ càng để xác định liệu có cần các biện pháp bảo vệ hay không và kiểm
toán viên hành nghề kết luận rằng không cần các biện pháp bảo vệ do các nguy cơ
đã ở mức có thể chấp nhận được, kiểm toán viên hành nghề phải ghi chép lại bản
chất của các nguy cơ và cơ sở để đưa ra kết luận.
Thời
gian thực hiện hợp đồng dịch vụ
290.30 Kiểm toán viên hành nghề cần phải độc lập với
khách hàng kiểm toán trong suốt thời gian thực hiện hợp đồng dịch vụ và kỳ kế
toán được lập báo cáo tài chính.
Thời gian thực hiện hợp đồng dịch vụ được tính từ khi
nhóm kiểm toán bắt đầu thực hiện công việc cho đến khi báo cáo kiểm toán được
phát hành. Nếu hợp đồng cung cấp cho nhiều kỳ báo cáo, thời gian thực hiện hợp
đồng dịch vụ sẽ kết thúc vào ngày một trong hai bên thông báo kết thúc hợp đồng
hoặc ngày phát hành báo cáo kiểm toán cuối cùng, tùy theo ngày nào muộn
hơn.
290.31 Khi một đơn vị trở thành khách hàng kiểm toán
trong hoặc sau giai đoạn báo cáo tài chính mà doanh nghiệp kiểm toán cần đưa ý
kiến, thì doanh nghiệp kiểm toán phải xác định liệu có các nguy cơ đe dọa tính
độc lập phát sinh từ:
(a) Các mối quan hệ về tài chính hoặc kinh doanh với các
khách hàng kiểm toán trong hoặc sau giai đoạn báo cáo tài chính nhưng trước khi
chấp thuận cung cấp dịch vụ kiểm toán hay không;
hoặc
(b) Các dịch vụ đã cung cấp trước đó cho khách hàng kiểm
toán hay không.
290.32 Nếu doanh nghiệp kiểm toán đã cung cấp dịch vụ phi
đảm bảo cho khách hàng trong hoặc sau giai đoạn báo cáo tài chính nhưng trước
khi bắt đầu thực hiện dịch vụ kiểm toán mà dịch vụ phi đảm bảo đó không được
phép thực hiện trong thời gian thực hiện kiểm toán, thì doanh nghiệp kiểm toán
phải đánh giá các nguy cơ đe dọa tính độc lập phát sinh từ việc cung cấp dịch vụ
phi đảm bảo này. Nếu nguy cơ không ở mức có thể chấp nhận được, thì cuộc kiểm
toán chỉ được chấp thuận nếu các biện pháp bảo vệ đã được áp dụng nhằm loại trừ
hoặc làm giảm các nguy cơ đó xuống mức có thể chấp nhận được. Ví dụ về các biện
pháp bảo vệ, bao gồm:
(1) Không đưa nhân viên cung cấp dịch vụ phi đảm bảo vào
nhóm cung cấp dịch vụ kiểm toán;
(2) Bố trí kiểm toán viên chuyên nghiệp rà soát lại công
việc của nhóm cung cấp dịch vụ kiểm toán và nhóm cung cấp dịch vụ phi đảm bảo;
hoặc
(3) Thuê doanh nghiệp kiểm toán khác đánh giá kết quả
công việc của nhóm dịch vụ phi đảm bảo hoặc thực hiện lại dịch vụ phi đảm bảo
trong phạm vi thích hợp đủ để đơn vị đó chịu trách nhiệm về dịch vụ được cung
cấp.
Sáp
nhập và mua bán
290.33 Khi việc sáp nhập hoặc mua bán làm cho một đơn vị
trở thành bên liên quan của khách hàng kiểm toán, doanh nghiệp kiểm toán phải
xác định và đánh giá các lợi ích trước và sau sáp nhập hoặc mua bán, các mối
quan hệ của doanh nghiệp kiểm toán với bên liên quan, có tính đến các biện pháp
bảo vệ sẵn có, có thể đe dọa tính độc lập, và do đó ảnh hưởng đến khả năng tiếp
tục thực hiện cuộc kiểm toán sau ngày sáp nhập hoặc mua
bán.
290.34 Doanh nghiệp kiểm toán phải có các thủ tục cần
thiết để chấm dứt bất kỳ lợi ích hay mối quan hệ nào không được cho phép theo
quy định của Chuẩn mực này tại ngày sáp nhập hoặc mua bán có hiệu lực. Tuy
nhiên, trong trường hợp không thể chấm dứt, ví dụ, bên liên quan chưa thể chuyển
đổi dịch vụ phi đảm bảo chưa hoàn thành sang bên cung cấp dịch vụ khác thì doanh
nghiệp kiểm toán phải đánh giá nguy cơ phát sinh từ những lợi ích và mối quan hệ
đó. Mức độ nghiêm trọng của nguy cơ càng cao thì tính khách quan của doanh
nghiệp kiểm toán càng giảm và doanh nghiệp kiểm toán càng không thể tiếp tục
kiểm toán cho khách hàng kiểm toán đó. Mức độ nghiêm trọng của nguy cơ phụ thuộc
vào các yếu tố sau:
(1) Bản chất và mức độ ảnh hưởng của lợi ích hoặc mối
quan hệ;
(2) Bản chất và mức độ ảnh hưởng của mối quan hệ của bên
liên quan (ví dụ, bên liên quan là công ty con hoặc công ty
mẹ);
(3) Khoảng thời gian đến khi lợi ích hoặc mối quan hệ
được chấm dứt một cách hợp lý.
Doanh
nghiệp kiểm toán phải trao đổi với Ban quản trị của khách hàng về lý do mà lợi
ích hoặc mối quan hệ không thể được chấm dứt một cách hợp lý tại ngày sáp nhập
hoặc mua bán có hiệu lực và về việc đánh giá mức độ nghiêm trọng của nguy cơ
phát sinh từ vấn đề này.
290.35 Nếu Ban quản trị của khách hàng vẫn yêu cầu doanh
nghiệp kiểm toán thực hiện kiểm toán thì doanh nghiệp chỉ được tiếp tục cung cấp
dịch vụ kiểm toán khi:
(a) Lợi ích hoặc mối quan hệ phải được chấm dứt ngay khi
có thể, hoặc tối đa trong vòng sáu tháng kể từ ngày sáp nhập hoặc mua bán có
hiệu lực;
(b) Bất kỳ một cá nhân nào có lợi ích hoặc mối quan hệ
với khách hàng không đúng theo quy định của Chương này, bao gồm cả lợi ích hoặc
mối quan hệ phát sinh trong quá trình cung cấp dịch vụ phi đảm bảo, thì không
được tham gia nhóm kiểm toán hoặc không được giữ vai trò là cá nhân chịu trách
nhiệm soát xét chất lượng hợp đồng dịch vụ;
(c) Các thủ tục bổ sung thích hợp cần được áp dụng sau
khi trao đổi với Ban quản trị của khách hàng, ví
dụ:
(1) Cử một kiểm toán viên chuyên nghiệp rà soát lại công
việc kiểm toán hoặc công việc cung cấp dịch vụ phi đảm
bảo;
(2) Mời một kiểm toán viên chuyên nghiệp không là nhân
viên của doanh nghiệp kiểm toán đã đưa ý kiến kiểm toán về báo cáo tài
chính thực hiện việc soát xét tương tự như soát xét việc kiểm soát chất
lượng hợp đồng dịch vụ; hoặc
(3) Thuê một doanh nghiệp kiểm toán khác đánh giá kết quả
công việc của nhóm dịch vụ phi đảm bảo hoặc thực hiện lại dịch vụ phi đảm bảo
trong phạm vi thích hợp đủ để doanh nghiệp kiểm toán đó chịu trách nhiệm về dịch
vụ được cung cấp.
290.36 Doanh nghiệp kiểm toán có thể đã hoàn thành đáng
kể khối lượng công việc kiểm toán trước ngày sáp nhập hoặc mua bán có hiệu lực
và có khả năng hoàn thành các thủ tục còn lại trong một khoảng thời gian ngắn.
Trong trường hợp này, Ban quản trị của khách hàng yêu cầu doanh nghiệp tiếp tục
thực hiện kiểm toán mà vẫn tồn tại các lợi ích hoặc mối quan hệ theo quy định
tại đoạn 290.33 Chuẩn mực này, thì doanh nghiệp kiểm toán chỉ được tiếp tục cung
cấp dịch vụ kiểm toán khi:
(a) Đã đánh giá và trao đổi với Ban quản trị của khách
hàng về mức độ nghiêm trọng của nguy cơ phát sinh từ các lợi ích hoặc mối quan
hệ đó;
(b) Tuân thủ các yêu cầu quy định tại đoạn 290.35 (b) -
(c) Chuẩn mực này;
(c) Chấm dứt việc tiếp tục cung cấp dịch vụ kiểm toán
ngay sau khi phát hành báo cáo kiểm toán kỳ này.
290.37 Ngay cả khi xác định các lợi ích hoặc mối quan hệ
trước và sau khi sáp nhập hoặc mua bán đã tuân thủ các quy định từ đoạn 290.33 -
290.36 Chuẩn mực này, doanh nghiệp kiểm toán vẫn phải xác định liệu các lợi ích
và mối quan hệ có còn làm phát sinh các nguy cơ có ảnh hưởng đáng kể đến tính
khách quan hay không và nếu có thì doanh nghiệp kiểm toán không được tiếp tục
cung cấp dịch vụ kiểm toán cho khách hàng.
290.38 Kiểm toán viên hành nghề phải ghi chép lại bất cứ
lợi ích hoặc mối quan hệ nào theo quy định tại đoạn 290.34 và đoạn 290.36 Chuẩn
mực này chưa được chấm dứt tại ngày sáp nhập hoặc mua bán có hiệu lực và lý do
tương ứng, các thủ tục bổ sung phù hợp đã được áp dụng, kết quả của các cuộc
trao đổi với Ban quản trị của khách hàng và nguyên nhân tại sao các lợi ích
trước và sau ngày sáp nhập hoặc mua bán cũng như các mối quan hệ không thể làm
phát sinh các nguy cơ có ảnh hưởng đáng kể đến tính khách
quan.
Vi
phạm quy định của Chương 290 Chuẩn mực này
290.39 Các quy định của Chương này vẫn có thể bị vi phạm
mặc dù doanh nghiệp kiểm toán đã có các chính sách và thủ tục để có sự đảm bảo
hợp lý rằng tính độc lập được duy trì. Hậu quả của việc vi phạm các quy định này
có thể dẫn đến việc cần thiết phải chấm dứt hợp đồng kiểm
toán.
290.40 Khi doanh nghiệp kiểm toán kết luận rằng các
quy định của Chương này đã bị vi phạm, doanh nghiệp phải chấm dứt, tạm ngừng
hoặc loại bỏ lợi ích hoặc mối quan hệ là nguyên nhân dẫn đến việc vi phạm các
quy định và phải xử lý hậu quả của vi phạm đó.
290.41
Khi phát hiện vi phạm, doanh nghiệp kiểm toán phải xem xét liệu có quy định pháp
luật nào về xử lý các vi phạm đó hay không, nếu có thì phải tuân thủ theo các
quy định đó. Doanh nghiệp kiểm toán phải xem xét việc báo cáo vi phạm này lên tổ
chức nghề nghiệp nơi họ là thành viên, cơ quan quản lý hoặc cơ quan giám sát có
liên quan theo quy định.
290.42 Khi phát hiện vi phạm, nhóm kiểm toán phải
khẩn trương thông báo (theo các chính sách và thủ tục của doanh nghiệp) cho
thành viên Ban Giám đốc phụ trách tổng thể hợp đồng dịch vụ, những người chịu
trách nhiệm về các chính sách và thủ tục liên quan đến tính độc lập, những nhân
sự có liên quan khác trong doanh nghiệp, mạng lưới (khi thích hợp), và những đối
tượng phải tuân thủ các quy định về tính độc lập để có biện pháp giải quyết
thích hợp. Doanh nghiệp kiểm toán phải đánh giá mức độ nghiêm trọng của vi phạm
và ảnh hưởng của vi phạm đó đến tính khách quan và khả năng phát hành báo cáo
kiểm toán. Mức độ nghiêm trọng của vi phạm phụ thuộc vào các yếu tố
sau:
(1) Tính chất và thời gian của vi
phạm;
(2) Số lượng và tính chất của các vi phạm trước đó có
liên quan đến cuộc kiểm toán hiện tại;
(3) Liệu các thành viên trong nhóm kiểm toán đã có hiểu
biết về lợi ích hoặc mối quan hệ là nguyên nhân dẫn đến vi phạm hay
không;
(4) Liệu cá nhân gây ra vi phạm có là thành viên nhóm
kiểm toán hay là một cá nhân khác phải tuân thủ các quy định về tính độc lập hay
không;
(5) Vai trò của thành viên trong nhóm kiểm toán, nếu vi
phạm liên quan đến thành viên đó;
(6) Ảnh hưởng của dịch vụ chuyên môn (nếu có) đối với tài
liệu kế toán hoặc báo cáo tài chính mà doanh nghiệp kiểm toán đưa ra ý kiến, nếu
vi phạm là do việc cung cấp dịch vụ chuyên môn đó gây
ra;
(7) Mức độ nghiêm trọng của các nguy cơ do tư lợi, nguy
cơ về sự bào chữa, nguy cơ bị đe dọa hoặc các nguy cơ khác phát sinh do vi
phạm.
290.43 Tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của vi phạm,
doanh nghiệp kiểm toán có thể phải chấm dứt hợp đồng kiểm toán hoặc phải áp dụng
các biện pháp phù hợp để xử lý thỏa đáng hậu quả của vi phạm. Doanh nghiệp kiểm
toán phải xác định liệu biện pháp xử lý đó có thể thực hiện được hay không và có
phù hợp với hoàn cảnh cụ thể hay không. Doanh nghiệp kiểm toán phải sử dụng xét
đoán chuyên môn và xem xét việc liệu một bên thứ ba phù hợp và có đầy đủ thông
tin, sau khi xem xét mức độ nghiêm trọng của vi phạm, biện pháp xử lý được thực
hiện và tất cả các sự kiện và tình huống có sẵn cho kiểm toán viên tại thời điểm
đó, có thể kết luận rằng tính khách quan của doanh nghiệp sẽ bị ảnh hưởng và do
đó doanh nghiệp kiểm toán không thể phát hành báo cáo kiểm toán hay
không.
290.44 Ví dụ về các biện pháp mà doanh nghiệp kiểm toán
có thể áp dụng, bao gồm:
(1) Rút thành viên có liên quan đến vi phạm ra khỏi nhóm
kiểm toán;
(2) Cử một thành viên khác soát xét lại công việc kiểm
toán bị ảnh hưởng hoặc thực hiện lại công việc đó ở mức độ cần
thiết;
(3) Đề xuất với
khách hàng kiểm toán thuê doanh nghiệp kiểm toán khác soát xét hoặc thực hiện
lại công việc kiểm toán bị ảnh hưởng ở mức độ cần
thiết;
(4) Khi vi phạm liên quan đến một dịch vụ phi đảm bảo có
ảnh hưởng đến tài liệu, sổ kế toán hoặc báo cáo tài chính, doanh nghiệp kiểm
toán phải thuê một doanh nghiệp kiểm toán khác đánh giá kết quả của dịch vụ phi
đảm bảo hoặc thực hiện lại dịch vụ phi đảm bảo ở mức độ cần thiết để đảm bảo
trách nhiệm của doanh nghiệp kiểm toán đối với dịch vụ mình cung
cấp.
290.45
Nếu xác định rằng không có biện pháp nào có thể xử lý thỏa đáng hậu quả của vi
phạm, thì doanh nghiệp kiểm toán phải thông báo ngay khi có thể với Ban quản trị
của khách hàng và thực hiện các thủ tục cần thiết để chấm dứt hợp đồng kiểm toán
theo pháp luật và các quy định có liên quan đến việc chấm dứt hợp đồng kiểm
toán. Nếu pháp luật và các quy định không cho phép chấm dứt hợp đồng, doanh
nghiệp kiểm toán phải tuân thủ tất cả các quy định về báo cáo hoặc thuyết
minh.
290.46
Nếu
xác định được biện pháp có thể xử lý thỏa đáng hậu quả của vi phạm, doanh nghiệp
kiểm toán phải trao đổi với Ban quản trị của khách hàng về vi phạm và biện pháp
xử lý mà doanh nghiệp kiểm toán đã thực hiện hoặc đề xuất thực hiện. Việc trao
đổi đó phải được thực hiện ngay khi có thể, trừ khi Ban quản trị của khách hàng
đã quy định thời gian khác cho việc báo cáo về các vi phạm ít nghiêm trọng hơn.
Các
vấn đề cần phải trao đổi gồm:
(1)
Mức độ nghiêm trọng của vi phạm, bao gồm tính chất và thời gian vi
phạm;
(2)
Vi phạm đã diễn ra như thế nào và được phát hiện như thế nào;
(3)
Biện pháp xử lý đã thực hiện hoặc đề xuất thực hiện và giải thích lý do các biện
pháp đó có thể xử lý thỏa đáng hậu quả của vi phạm và vẫn có thể đảm bảo việc
phát hành được báo cáo kiểm toán;
(4)
Kết luận của doanh nghiệp kiểm toán, dựa trên xét đoán chuyên môn, rằng tính
khách quan không bị ảnh hưởng và cơ sở đưa ra kết luận đó;
(5)
Những biện pháp mà doanh nghiệp kiểm toán đã thực hiện hoặc đề xuất thực hiện
nhằm làm giảm hoặc tránh rủi ro xảy ra các vi phạm khác.
290.47 Doanh nghiệp kiểm toán phải trao đổi bằng văn bản
với Ban quản trị của khách hàng về các vấn đề quy định tại đoạn 290.46 Chuẩn mực
này và phải đạt được sự nhất trí của Ban quản trị về các biện pháp có thể được
thực hiện hoặc đã được thực hiện để xử lý thỏa đáng hậu quả của vi phạm. Nội
dung trao đổi phải bao gồm: (i) Mô tả về các chính sách và thủ tục của doanh
nghiệp kiểm toán liên quan đến vi phạm được thiết kế để có sự đảm bảo hợp lý
rằng tính độc lập được duy trì; (ii) Các biện pháp mà doanh nghiệp kiểm toán đã
thực hiện hoặc đề xuất thực hiện để làm giảm hoặc tránh rủi ro xảy ra các vi
phạm khác. Nếu Ban quản trị của khách hàng không đồng ý rằng biện pháp mà
doanh nghiệp kiểm toán đã thực hiện hoặc đề xuất thực hiện đã xử lý thỏa
đáng hậu quả của vi phạm, nếu pháp luật và các quy định cho phép thì doanh
nghiệp kiểm toán phải chấm dứt hợp đồng kiểm toán theo quy định. Nếu pháp luật
và các quy định không cho phép chấm dứt hợp đồng, doanh nghiệp kiểm toán phải
tuân thủ tất cả các quy định về báo cáo hoặc thuyết
minh.
290.48
Nếu vi phạm xảy ra trước khi phát hành báo cáo kiểm toán kỳ trước, doanh nghiệp
kiểm toán phải tuân thủ các quy định tại Chương này đối với việc đánh giá mức độ
nghiêm trọng của vi phạm và ảnh hưởng của vi phạm đến tính khách quan của doanh
nghiệp kiểm toán và khả năng phát hành báo cáo kiểm toán cho kỳ hiện tại. Doanh
nghiệp kiểm toán phải xem xét ảnh hưởng của vi phạm (nếu có) đến mục tiêu của
doanh nghiệp kiểm toán liên quan đến bất kỳ báo cáo kiểm toán nào đã phát hành
trước đó, và khả năng thu hồi các báo cáo kiểm toán đó, và trao đổi vấn đề này
với Ban quản trị của khách hàng.
290.49
Doanh nghiệp kiểm toán phải lưu lại tài liệu, hồ sơ về vi phạm, biện pháp xử lý
đã thực hiện, các quyết định quan trọng đã đưa ra và tất cả những vấn đề đã trao
đổi với Ban quản trị của khách hàng, với tổ chức nghề nghiệp nơi họ là thành
viên, cơ quan quản lý hoặc cơ quan giám sát có liên quan. Nếu quyết định tiếp
tục thực hiện hợp đồng kiểm toán, doanh nghiệp kiểm toán cũng phải ghi chép và
lưu lại tài liệu, hồ sơ các kết luận, dựa trên xét đoán chuyên môn, rằng tính
khách quan không bị ảnh hưởng và giải thích lý do, biện pháp thực hiện giúp xử
lý thỏa đáng hậu quả vi phạm, và do đó doanh nghiệp kiểm toán có thể phát hành
báo cáo kiểm toán.
Áp
dụng phương pháp tiếp cận tính độc lập dựa trên khuôn khổ
290.100 Các đoạn từ 290.102 - 290.228 Chuẩn mực này hướng
dẫn các tình huống, trường hợp cụ thể có thể làm phát sinh nguy cơ đe dọa tính
độc lập; các nguy cơ tiềm tàng và biện pháp bảo vệ thích hợp để loại trừ hoặc
làm giảm các nguy cơ đó xuống mức có thể chấp nhận được; chỉ ra các tình huống
cụ thể mà không biện pháp bảo vệ nào có thể làm giảm các nguy cơ đó xuống mức có
thể chấp nhận được. Khó có thể hướng dẫn tất cả các tình huống và trường hợp làm
phát sinh nguy cơ đe dọa tính độc lập. Doanh nghiệp kiểm toán và các thành viên
nhóm kiểm toán phải đánh giá tác động của các tình huống và mối quan hệ tương
tự, và xác định liệu các biện pháp bảo vệ, bao gồm các biện pháp quy định từ
đoạn 200.12 - 200.15 Chuẩn mực này, có thể được áp dụng khi cần thiết nhằm loại
trừ hoặc làm giảm nguy cơ đe dọa tính độc lập đó xuống mức có thể chấp nhận được
hay không.
290.101 Các đoạn từ 290.102 - 290.125 Chuẩn mực này đưa
ra các ví dụ tham khảo về tính trọng yếu của lợi ích tài chính, khoản vay hay
bảo lãnh, hoặc tầm quan trọng của mối quan hệ kinh doanh. Để xác định lợi ích
nào là trọng yếu đối với các cá nhân, có thể xem xét giá trị lợi ích tổng thể
của cá nhân và những thành viên có quan hệ gia đình trực tiếp với cá nhân
đó.
Lợi
ích tài chính
290.102
Việc nắm giữ lợi ích tài chính ở khách hàng kiểm toán có thể làm phát sinh nguy
cơ do tư lợi. Sự hiện hữu và mức độ nghiêm trọng của các nguy cơ phụ thuộc
vào:
(a) Vai trò của người nắm giữ lợi ích tài
chính;
(b) Lợi ích tài chính trực tiếp hoặc gián
tiếp;
(c) Tính trọng yếu của lợi ích tài
chính.
290.103 Lợi ích tài chính có thể được nắm giữ thông qua
tổ chức trung gian (ví dụ, quỹ đầu tư tài chính, tổ chức đầu tư bất động sản
hoặc ủy thác). Việc xác định lợi ích tài chính là trực tiếp hay gián tiếp phụ
thuộc vào việc liệu chủ sở hữu lợi ích có quyền kiểm soát đầu tư hoặc có khả
năng ảnh hưởng đến quyết định đầu tư hay không. Khi chủ sở hữu có quyền kiểm
soát đầu tư hoặc có khả năng ảnh hưởng đến quyết định đầu tư, Chuẩn mực này định
nghĩa rằng lợi ích tài chính đó là lợi ích tài chính trực tiếp. Ngược lại, khi
chủ sở hữu không có quyền kiểm soát đầu tư hoặc không có khả năng ảnh hưởng đến
quyết định đầu tư thì lợi ích tài chính đó được coi là lợi ích tài chính gián
tiếp.
290.104
Nếu thành viên nhóm kiểm toán, thành viên có quan hệ gia đình trực tiếp của họ
hoặc doanh nghiệp kiểm toán có lợi ích tài chính trực tiếp hoặc có lợi ích tài
chính gián tiếp trọng yếu trong khách hàng kiểm toán, thì nguy cơ do tư
lợi trở nên đáng kể tới mức không có biện pháp bảo vệ nào có thể làm giảm nguy
cơ đó xuống mức có thể chấp nhận được. Do đó, các đối tượng không được có lợi
ích tài chính trực tiếp hoặc có lợi ích tài chính gián tiếp trọng yếu trong
khách hàng kiểm toán bao gồm: thành viên nhóm kiểm toán, thành viên có quan hệ
gia đình trực tiếp của họ và doanh nghiệp kiểm toán.
290.105 Khi thành viên nhóm kiểm toán biết rằng có thành
viên có quan hệ gia đình gần gũi của họ có lợi ích tài chính trực tiếp hoặc có
lợi ích tài chính gián tiếp trọng yếu trong khách hàng kiểm toán sẽ làm phát
sinh nguy cơ do tư lợi. Mức độ nghiêm trọng của nguy cơ phụ thuộc vào yếu tố
như:
(1) Bản chất của mối quan hệ giữa thành viên nhóm kiểm
toán với thành viên có quan hệ gia đình gần gũi của
họ;
(2) Mức trọng yếu của lợi ích tài chính đối với thành
viên có quan hệ gia đình gần gũi của thành viên nhóm kiểm
toán.
Doanh nghiệp kiểm toán phải đánh giá mức độ nghiêm trọng
của nguy cơ và phải áp dụng biện pháp bảo vệ cần thiết để loại trừ hoặc làm giảm
nguy cơ đó xuống mức có thể chấp nhận được. Ví dụ về các biện pháp bảo
vệ:
(1) Thành viên có quan hệ gia đình gần gũi chuyển nhượng,
ngay khi có thể, tất cả lợi ích tài chính trực tiếp hoặc một phần đáng kể lợi
ích tài chính gián tiếp để phần lợi ích tài chính còn lại là không đáng
kể;
(2) Mời một kiểm toán viên chuyên nghiệp khác soát xét
lại công việc của thành viên đó của nhóm kiểm toán;
hoặc
(3) Rút thành viên đó ra khỏi nhóm kiểm
toán.
290.106 Nếu thành viên nhóm kiểm toán, thành viên có quan
hệ gia đình trực tiếp của họ hoặc doanh nghiệp kiểm toán có lợi ích tài chính
trực tiếp hoặc có lợi ích tài chính gián tiếp trọng yếu trong một đơn vị có
quyền kiểm soát đối với khách hàng kiểm toán mà khách hàng kiểm toán này lại có
ảnh hưởng đáng kể với đơn vị đó thì nguy cơ do tư lợi có thể trở nên đáng kể tới
mức không có biện pháp bảo vệ nào có thể làm giảm nguy cơ đó xuống mức có thể
chấp nhận được. Do đó, các đối tượng không được có lợi ích tài chính trong đơn
vị có quyền kiểm soát với khách hàng kiểm toán bao gồm: thành viên nhóm kiểm
toán, thành viên có quan hệ gia đình trực tiếp của họ hoặc doanh nghiệp kiểm
toán.
290.107 Việc nắm giữ lợi ích tài chính trực tiếp hoặc
gián tiếp từ các hoạt động phúc lợi của khách hàng kiểm toán có thể làm phát
sinh nguy cơ do tư lợi. Mức độ nghiêm trọng của nguy cơ cần được đánh giá và áp
dụng các biện pháp bảo vệ để làm giảm nguy cơ đó xuống mức có thể chấp nhận
được.
290.108 Nếu các thành viên Ban Giám đốc khác ngoài thành
viên Ban Giám đốc phụ trách tổng thể cuộc kiểm toán hoặc thành viên có quan hệ
gia đình trực tiếp của họ có lợi ích tài chính trực tiếp hoặc có lợi ích tài
chính gián tiếp trọng yếu trong khách hàng kiểm toán thì nguy cơ do tư lợi có
thể trở nên đáng kể tới mức không có biện pháp bảo vệ nào có thể làm giảm nguy
cơ đó xuống mức có thể chấp nhận được. Do đó, các thành viên Ban Giám đốc này
hoặc thành viên có quan hệ gia đình trực tiếp của họ không được nắm giữ lợi ích
tài chính trực tiếp hoặc gián tiếp trọng yếu trong khách hàng kiểm
toán.
290.109 Một thành
viên Ban Giám đốc có thể được phân công phụ trách tổng thể cuộc kiểm toán tại
một chi nhánh không phải là chi nhánh mà thành viên đó phụ trách. Do đó, khi
thành viên Ban Giám đốc phụ trách tổng thể cuộc kiểm toán lại phụ trách một chi
nhánh khác với chi nhánh mà các thành viên nhóm kiểm toán làm việc, cần xác định
xem thành viên Ban Giám đốc đó thực hiện hoạt động cho chi nhánh
nào.
290.110 Nếu các thành viên Ban Giám đốc khác và các nhân
sự cấp quản lý cung cấp dịch vụ không phải là dịch vụ kiểm toán cho khách hàng
kiểm toán (trừ những người tham gia không đáng kể), hoặc thành viên có quan hệ
gia đình trực tiếp của họ, nắm giữ lợi ích tài chính trực tiếp hoặc lợi ích tài
chính gián tiếp trọng yếu trong khách hàng kiểm toán thì nguy cơ do tư lợi có
thể trở nên đáng kể đến mức không có biện pháp bảo vệ nào có thể làm giảm nguy
cơ đó xuống mức có thể chấp nhận được. Do đó, những người này hoặc thành viên có
quan hệ gia đình trực tiếp của họ không được nắm giữ lợi ích tài chính trực tiếp
hoặc lợi ích tài chính gián tiếp trọng yếu trong khách hàng kiểm
toán.
290.111 Mặc dù đã quy định tại đoạn 290.108 và đoạn
290.110 Chuẩn mực này, nhưng việc nắm giữ lợi ích tài chính trong một khách hàng
kiểm toán bởi thành viên có quan hệ gia đình trực tiếp
của:
(a) Một thành viên Ban Giám đốc khác trong cùng doanh
nghiệp kiểm toán với thành viên Ban Giám đốc phụ trách tổng thể cuộc kiểm toán;
hoặc
(b) Một thành viên Ban Giám đốc hoặc nhân sự cấp quản lý
cung cấp dịch vụ không phải là dịch vụ kiểm toán cho khách hàng kiểm
toán
sẽ không được coi là ảnh hưởng đến tính độc lập nếu lợi
ích tài chính này có được từ quyền lợi nhân viên của họ (ví dụ, quyền chọn mua
cổ phiếu) và có thể áp dụng các biện pháp bảo vệ thích hợp (khi cần thiết) để
loại trừ hoặc làm giảm các nguy cơ đe dọa tính độc lập xuống mức có thể chấp
nhận được.
Tuy nhiên, khi các thành viên có quan hệ gia đình trực
tiếp có quyền chuyển nhượng các lợi ích tài chính hoặc có thể thực hiện quyền
chọn mua cổ phiếu thì các lợi ích tài chính phải được chuyển nhượng hoặc loại bỏ
ngay khi có thể.
290.112
Nguy cơ do tư lợi có thể xảy ra nếu doanh nghiệp kiểm toán, thành viên nhóm kiểm
toán hoặc thành viên có quan hệ gia đình trực tiếp của họ có lợi ích trong một
đơn vị và khách hàng kiểm toán cũng có lợi ích tài chính trong đơn vị này. Tuy
nhiên, tính độc lập không được coi là bị ảnh hưởng nếu các lợi ích đó là không
trọng yếu và khách hàng kiểm toán không có ảnh hưởng đáng kể đối với đơn vị này.
Nếu lợi ích đó là trọng yếu đối với bất cứ bên nào và khách hàng kiểm toán có
ảnh hưởng đáng kể đối với đơn vị này thì sẽ không có bất cứ biện pháp bảo vệ nào
có thể làm giảm nguy cơ đó xuống mức có thể chấp nhận được. Theo đó, doanh
nghiệp kiểm toán không được nắm giữ lợi ích đó và bất cứ thành viên nào có nắm
giữ lợi ích như vậy thì trước khi trở thành thành viên nhóm kiểm toán cần
phải:
(a) Chuyển nhượng toàn bộ lợi ích;
hoặc
(b) Chuyển nhượng một phần lợi ích, sao cho phần còn lại
là không đáng kể.
290.113 Nguy cơ do tư lợi, nguy cơ từ sự quen thuộc hoặc
nguy cơ bị đe dọa có thể phát sinh nếu thành viên nhóm kiểm toán, thành viên có
quan hệ gia đình trực tiếp của họ, hoặc doanh nghiệp kiểm toán có lợi ích tài
chính trong một đơn vị mà Giám đốc, nhân sự cấp cao hoặc chủ sở hữu của khách
hàng kiểm toán cũng được biết là có lợi ích tài chính trong đơn vị đó. Sự tồn
tại và mức độ nghiêm trọng của nguy cơ phụ thuộc vào các yếu tố
như:
(1) Vai trò của thành viên đó trong nhóm kiểm
toán;
(2) Liệu đơn vị đó có một số hay nhiều chủ sở
hữu;
(3) Liệu lợi ích tài chính nắm giữ có mang lại cho nhà
đầu tư quyền kiểm soát hoặc có ảnh hưởng đáng kể đến đơn vị này hay
không;
(4) Mức trọng yếu của lợi ích tài
chính.
Doanh nghiệp kiểm toán phải đánh giá mức độ nghiêm trọng
của nguy cơ và phải áp dụng biện pháp bảo vệ cần thiết để loại trừ hoặc làm giảm
nguy cơ đó xuống mức có thể chấp nhận được. Ví dụ về các biện pháp bảo vệ
gồm:
(1) Rút thành viên có lợi ích tài chính ra khỏi nhóm kiểm
toán; hoặc
(2) Mời một kiểm toán viên chuyên nghiệp khác soát xét
lại công việc của thành viên đó.
290.114 Việc thành viên nhóm kiểm toán, thành viên có
quan hệ gia đình trực tiếp của họ hoặc doanh nghiệp kiểm toán được ủy thác nắm
giữ lợi ích tài chính trực tiếp hoặc lợi ích tài chính gián tiếp trọng yếu trong
khách hàng kiểm toán làm phát sinh nguy cơ do tư lợi. Tương tự, nguy cơ do tư
lợi phát sinh khi các thành viên dưới đây được ủy thác nắm giữ lợi ích tài chính
trực tiếp hoặc gián tiếp trọng yếu trong khách hàng kiểm
toán:
(a) Thành viên Ban Giám đốc khác trong cùng doanh nghiệp
kiểm toán với thành viên Ban Giám đốc phụ trách tổng thể cuộc kiểm
toán;
(b) Thành viên Ban Giám đốc khác và các nhân sự cấp quản
lý, cung cấp dịch vụ phi đảm bảo cho khách hàng kiểm toán, trừ những người tham
gia không đáng kể; hoặc
(c) Thành viên có quan hệ gia đình trực tiếp của các đối
tượng trên.
Lợi ích này không được nắm giữ trừ
khi:
(a) Bên được ủy thác, thành viên có quan hệ gia đình trực
tiếp của họ, hoặc doanh nghiệp kiểm toán không được hưởng lợi từ bên ủy
thác;
(b) Lợi ích trong khách hàng kiểm toán do bên ủy thác nắm
giữ là không trọng yếu với bên ủy thác;
(c) Bên ủy thác không có khả năng gây ảnh hưởng đáng kể
đối với khách hàng kiểm toán;
(d) Bên được ủy
thác, thành viên có quan hệ gia đình trực tiếp của người được ủy thác, hoặc
doanh nghiệp kiểm toán không có ảnh hưởng đáng kể đến quyết định đầu tư liên
quan đến lợi ích tài chính trong khách hàng kiểm
toán.
290.115 Thành viên nhóm kiểm toán phải xác định liệu nguy
cơ do tư lợi có phát sinh từ lợi ích tài chính trong khách hàng kiểm toán do các
cá nhân khác nắm giữ hay không. Các cá nhân khác đó bao
gồm:
(a) Các thành viên Ban Giám đốc và các nhân viên chuyên
nghiệp khác trong doanh nghiệp kiểm toán ngoài những người được đề cập ở trên,
hoặc thành viên có quan hệ gia đình trực tiếp của
họ;
(b) Các cá nhân có
mối quan hệ cá nhân gần gũi với thành viên nhóm kiểm
toán.
Liệu các lợi ích này có làm phát sinh nguy cơ do tư lợi
hay không phụ thuộc vào các yếu tố như:
(1) Cơ cấu, tổ chức hoạt động và báo cáo của doanh nghiệp
kiểm toán;
(2) Bản chất mối quan hệ giữa cá nhân với các thành viên
nhóm kiểm toán.
Doanh nghiệp kiểm toán phải đánh giá mức độ nghiêm trọng
của nguy cơ và phải áp dụng biện pháp bảo vệ cần thiết để loại trừ hoặc làm giảm
nguy cơ đó xuống mức có thể chấp nhận được. Ví dụ về các biện pháp bảo vệ
gồm:
(1) Rút thành viên
nhóm kiểm toán có mối quan hệ cá nhân ra khỏi nhóm kiểm
toán;
(2) Thành viên nhóm kiểm toán không được tham gia vào quá
trình ra quyết định quan trọng liên quan đến cuộc kiểm toán;
hoặc
(3) Mời một kiểm toán viên chuyên nghiệp khác soát xét
lại công việc của thành viên nhóm kiểm toán.
290.116 Nếu doanh nghiệp kiểm toán hoặc thành viên Ban
Giám đốc hoặc các nhân viên chuyên nghiệp trong doanh nghiệp kiểm toán, hoặc
thành viên có quan hệ gia đình trực tiếp của họ nhận được lợi ích tài chính trực
tiếp hoặc nhận được lợi ích tài chính gián tiếp trọng yếu từ khách hàng kiểm
toán, ví dụ, một khoản thừa kế, quà biếu hay do kết quả từ việc sáp nhập doanh
nghiệp, mà các lợi ích như vậy không được phép nắm giữ theo quy định của Chuẩn
mực này, thì:
(a) Nếu doanh nghiệp kiểm toán nhận được các lợi ích, thì
phải chuyển nhượng ngay các lợi ích tài chính trực tiếp hoặc chuyển nhượng một
phần lợi ích tài chính gián tiếp, sao cho phần còn lại là không đáng
kể;
(b) Nếu thành viên nhóm kiểm toán hoặc thành viên có quan
hệ gia đình trực tiếp của họ nhận được các lợi ích, thì phải chuyển nhượng ngay
các lợi ích tài chính trực tiếp hoặc chuyển nhượng một phần lợi ích tài chính
gián tiếp, sao cho phần còn lại là không đáng kể;
hoặc
c) Nếu cá nhân không
phải là thành viên nhóm kiểm toán, hoặc thành viên có quan hệ gia đình trực tiếp
của họ nhận được các lợi ích, thì phải chuyển nhượng ngay các lợi ích tài chính
này hoặc chuyển nhượng một phần lợi ích tài chính gián tiếp sao cho phần còn lại
là không đáng kể. Trong khi chưa chuyển nhượng được như vậy thì doanh nghiệp
kiểm toán phải quyết định xem liệu có cần áp dụng các biện pháp bảo vệ hay
không.
Các
khoản cho vay và bảo lãnh
290.117 Một khoản cho vay, hoặc bảo lãnh vay cho thành
viên nhóm kiểm toán, cho thành viên có quan hệ gia đình trực tiếp với họ hay cho
doanh nghiệp kiểm toán từ khách hàng kiểm toán là một ngân hàng hay tổ chức
tương tự có thể làm phát sinh nguy cơ đe dọa tính độc lập. Nếu khoản cho vay
hoặc bảo lãnh vay không được thực hiện theo các thủ tục, điều khoản và điều kiện
cho vay thông thường thì có thể làm phát sinh nguy cơ do tư lợi nghiêm trọng đến
mức không có biện pháp bảo vệ nào có thể làm giảm nguy cơ đó xuống mức có thể
chấp nhận được. Do vậy, bất kỳ thành viên nhóm kiểm toán, thành viên có quan hệ
gia đình trực tiếp với họ hoặc doanh nghiệp kiểm toán không được nhận khoản vay
hay bảo lãnh vay như vậy.
290.118
Nếu doanh nghiệp kiểm toán vay từ khách hàng kiểm toán là một ngân hàng hoặc một
tổ chức tương tự theo các thủ tục, điều khoản và điều kiện vay thông thường và
khoản vay này là trọng yếu đối với khách hàng kiểm toán hoặc doanh nghiệp kiểm
toán thì có thể áp dụng các biện pháp bảo vệ nhằm làm giảm nguy cơ do tư lợi
xuống mức có thể chấp nhận được. Ví dụ về biện pháp bảo vệ là sắp xếp một kiểm
toán viên hành nghề từ một công ty trong mạng lưới không tham gia vào cuộc kiểm
toán cũng như không nhận khoản vay thực hiện soát xét lại công việc.
290.119
Nếu thành viên nhóm kiểm toán, thành viên có quan hệ gia đình trực tiếp của họ
vay hoặc được bảo lãnh vay từ khách hàng kiểm toán là ngân hàng hoặc một tổ chức
tương tự theo các thủ tục, điều khoản, và điều kiện cho vay thông thường thì sẽ
không làm phát sinh nguy cơ đe dọa tính độc lập. Ví dụ về các khoản vay: vay thế
chấp nhà đất, vay thấu chi, vay mua ô tô và cung cấp hạn mức thẻ tín
dụng.
290.120 Nếu doanh nghiệp kiểm toán, thành viên nhóm kiểm
toán hoặc thành viên có quan hệ gia đình trực tiếp của họ nhận khoản vay hoặc
bảo lãnh vay từ khách hàng kiểm toán mà không phải là ngân hàng hay một tổ chức
tương tự thì sẽ làm phát sinh nguy cơ do tư lợi nghiêm trọng đến mức không có
biện pháp bảo vệ nào có thể làm giảm nguy cơ đó xuống mức có thể chấp nhận được,
trừ trường hợp khoản vay hoặc bảo lãnh vay đó không đáng kể đối với cả: (i)
Doanh nghiệp kiểm toán, thành viên nhóm kiểm toán, thành viên có quan hệ gia
đình trực tiếp với họ; và (ii) Khách hàng kiểm
toán.
290.121
Tương tự, nếu doanh nghiệp kiểm toán, thành viên nhóm kiểm toán hoặc thành viên
có quan hệ gia đình trực tiếp của họ cho vay hoặc bảo lãnh vay cho khách hàng
kiểm toán, thì có thể làm phát sinh nguy cơ do tư lợi nghiêm trọng đến mức không
có biện pháp bảo vệ nào có thể làm giảm nguy cơ đó xuống mức có thể chấp nhận
được, trừ trường hợp khoản vay hoặc bảo lãnh vay đó không đáng kể đối với cả:
(i) Doanh nghiệp kiểm toán, thành viên nhóm kiểm toán và thành viên có quan hệ
gia đình trực tiếp của thành viên nhóm kiểm toán; và (ii) Khách hàng kiểm
toán.
290.122 Nếu một doanh nghiệp kiểm toán hoặc thành viên
nhóm kiểm toán hoặc thành viên có quan hệ gia đình trực tiếp với thành viên nhóm
kiểm toán có tài khoản tiền gửi hoặc tài khoản môi giới với khách hàng kiểm toán
là một ngân hàng, công ty môi giới chứng khoán hay một tổ chức tương tự thì
không làm phát sinh nguy cơ đe dọa tính độc lập nếu tài khoản tiền gửi hay tài
khoản môi giới đó được thực hiện theo các điều khoản thương mại thông
thường.
Các
mối quan hệ kinh doanh
290.123 Mối quan hệ kinh doanh mật thiết giữa doanh
nghiệp kiểm toán, thành viên nhóm kiểm toán hoặc thành viên có quan hệ gia đình
trực tiếp của họ với khách hàng kiểm toán hoặc Ban Giám đốc của khách hàng phát
sinh từ mối quan hệ thương mại hoặc lợi ích tài chính chung sẽ có thể làm phát
sinh nguy cơ do tư lợi hoặc nguy cơ bị đe dọa. Ví dụ về các mối quan hệ bao
gồm:
(1) Có lợi ích tài chính trong một doanh nghiệp liên
doanh với khách hàng hoặc chủ sở hữu, Giám đốc, nhân viên cao cấp hoặc cá nhân
khác có quyền thực hiện các hoạt động quản lý cấp cao của khách hàng
đó;
(2) Thỏa thuận kết
hợp một hoặc nhiều dịch vụ hoặc sản phẩm của doanh nghiệp kiểm toán với một hoặc
nhiều dịch vụ hoặc sản phẩm của khách hàng và quảng bá gói sản phẩm này ra thị
trường dưới danh nghĩa của cả hai bên;
(3)
Các
thỏa thuận về phân phối hoặc tiếp thị, theo đó, doanh nghiệp kiểm toán phân phối
hoặc tiếp thị dịch vụ hoặc sản phẩm của khách hàng, hoặc khách hàng phân phối
hoặc tiếp thị dịch vụ hoặc sản phẩm của doanh nghiệp kiểm toán.
Trừ
khi lợi ích tài chính là không đáng kể và mối quan hệ kinh doanh là không quan
trọng đối với doanh nghiệp kiểm toán và khách hàng kiểm toán hoặc Ban Giám đốc
của khách hàng, các nguy cơ phát sinh có thể nghiêm trọng đến mức không có biện
pháp bảo vệ thích hợp nào có thể làm giảm các nguy cơ đó xuống mức có thể chấp
nhận được. Do vậy, các mối quan hệ kinh doanh sẽ không được phép thiết lập hoặc
sẽ bị giảm đến mức không quan trọng hoặc bị chấm dứt, trừ khi lợi ích tài chính
là không đáng kể và mối quan hệ kinh doanh là không quan trọng.
Đối
với hợp đồng kiểm toán, thành viên nhóm kiểm toán phải rút khỏi nhóm kiểm toán,
trừ khi lợi ích tài chính là không đáng kể và mối quan hệ đó là không quan trọng
đối với thành viên đó.
Nếu thành viên có quan hệ gia đình trực tiếp của thành
viên nhóm kiểm toán và khách hàng kiểm toán hoặc Ban Giám đốc của khách hàng có
mối quan hệ kinh doanh thì phải đánh giá mức độ nghiêm trọng của các nguy cơ và
phải áp dụng các biện pháp bảo vệ cần thiết để loại trừ hoặc làm giảm các nguy
cơ đó xuống mức có thể chấp nhận được.
290.124
Một mối quan hệ kinh doanh liên quan đến việc doanh nghiệp kiểm toán, thành viên
nhóm kiểm toán hoặc thành viên có quan hệ gia đình trực tiếp của họ nắm giữ lợi
ích trong đơn vị có một số ít chủ sở hữu mà khách hàng kiểm toán, Giám đốc hoặc
nhân sự cấp cao hay bất cứ một nhóm của các đối tượng này cũng nắm giữ lợi ích
trong đơn vị đó, sẽ không làm phát sinh nguy cơ đe dọa tính độc lập
nếu:
(a)
Mối quan hệ kinh doanh là không quan trọng đối với doanh nghiệp kiểm toán, thành
viên nhóm kiểm toán hoặc thành viên có quan hệ gia đình trực tiếp của họ và
khách hàng kiểm toán;
(b)
Lợi ích tài chính nắm giữ là không đáng kể đối với nhà đầu tư hoặc nhóm các nhà
đầu tư;
(c)
Lợi ích tài chính không cho phép nhà đầu tư hoặc nhóm các nhà đầu tư quyền kiểm
soát đơn vị này.
290.125
Việc doanh nghiệp kiểm toán, thành viên nhóm kiểm toán hoặc thành viên có quan
hệ gia đình trực tiếp của họ mua hàng hóa hoặc dịch vụ từ khách hàng kiểm toán
thường không làm phát sinh nguy cơ đe dọa tính độc lập nếu giao dịch được thực
hiện theo điều kiện kinh doanh thông thường và theo giá cả thị trường. Tuy
nhiên, bản chất hoặc quy mô của giao dịch có thể làm phát sinh nguy cơ do tư
lợi. Doanh nghiệp kiểm toán phải đánh giá mức độ nghiêm trọng của các nguy cơ và
phải áp dụng biện pháp bảo vệ cần thiết để loại trừ hoặc làm giảm các nguy cơ đó
xuống mức có thể chấp nhận được. Ví dụ về các biện pháp bảo vệ gồm:
(1)
Loại bỏ hoặc giảm quy mô giao dịch; hoặc
(2)
Rút thành viên đó ra khỏi nhóm kiểm toán.
Các
mối quan hệ cá nhân và mối quan hệ gia đình
290.126 Quan hệ cá nhân và quan hệ gia đình giữa thành
viên nhóm kiểm toán với Giám đốc, nhân sự cấp cao hoặc nhân viên khác (tùy theo
vai trò của họ) của khách hàng kiểm toán, có thể làm phát sinh các nguy cơ do tư
lợi, nguy cơ từ sự quen thuộc hoặc nguy cơ bị đe dọa. Sự tồn tại và mức độ
nghiêm trọng của các nguy cơ này phụ thuộc vào các yếu tố, bao gồm: trách nhiệm
của cá nhân đó trong nhóm kiểm toán, vai trò của thành viên gia đình hoặc cá
nhân khác đối với khách hàng và mức độ gần gũi của mối quan
hệ.
290.127 Khi thành viên có quan hệ gia đình trực tiếp với
thành viên nhóm kiểm toán hiện đang là:
(a) Giám đốc, nhân sự cấp cao của khách hàng kiểm toán;
hoặc
(b) Nhân viên của khách hàng kiểm toán nắm giữ vị trí có
ảnh hưởng đáng kể đối với việc ghi sổ kế toán và lập báo cáo tài chính mà doanh
nghiệp kiểm toán sẽ đưa ra ý kiến kiểm toán;
hoặc đã giữ vị trí nêu ở mục (a) hoặc (b) trong thời gian
thực hiện hợp đồng dịch vụ hoặc trong kỳ lập báo cáo tài chính thì nguy cơ đe
dọa tính độc lập chỉ có thể được giảm xuống mức có thể chấp nhận được bằng cách
rút thành viên đó ra khỏi nhóm kiểm toán.
Quan
hệ này gần gũi đến mức không có biện pháp bảo vệ nào khác có thể làm giảm nguy
cơ đe dọa đến tính độc lập xuống mức có thể chấp nhận được. Do vậy, thành viên
có quan hệ gia đình gần gũi đó không được là thành viên nhóm kiểm
toán.
290.128 Nguy cơ đe dọa tính độc lập có thể phát sinh khi
thành viên có quan hệ gia đình trực tiếp với thành viên nhóm kiểm toán là nhân
viên của khách hàng giữ vị trí có ảnh hưởng đáng kể đến tình hình tài chính, kết
quả hoạt động kinh doanh hoặc lưu chuyển tiền tệ của khách hàng. Mức độ nghiêm
trọng của nguy cơ này phụ thuộc vào:
(1) Vị trí của thành viên có quan hệ gia đình trực tiếp
đó tại khách hàng;
(2) Vai trò của thành viên đó trong nhóm kiểm
toán.
Doanh nghiệp kiểm toán phải đánh giá mức độ nghiêm trọng
của nguy cơ và phải áp dụng biện pháp bảo vệ cần thiết để loại trừ hoặc làm giảm
nguy cơ đó xuống mức có thể chấp nhận được. Ví dụ về các biện pháp bảo vệ
gồm:
(1) Rút thành viên đó ra khỏi nhóm kiểm toán;
hoặc
(2) Phân công lại trách nhiệm trong nhóm kiểm toán để
thành viên đó không phụ trách các vấn đề thuộc phạm vi trách nhiệm của thành
viên có quan hệ gia đình trực tiếp của họ.
290.129 Nguy cơ đe dọa tính độc lập có thể phát sinh khi
thành viên có quan hệ gia đình gần gũi với thành viên nhóm kiểm toán
là:
(a) Giám đốc, nhân sự cấp cao của khách hàng kiểm toán;
hoặc
(b) Nhân viên của khách hàng kiểm toán nắm giữ vị trí có
ảnh hưởng đáng kể đối với việc ghi sổ kế toán và lập báo cáo tài chính mà doanh
nghiệp kiểm toán sẽ đưa ra ý kiến kiểm toán.
Mức độ nghiêm trọng của nguy cơ phụ thuộc
vào:
(1) Tính chất của mối quan hệ giữa thành viên nhóm kiểm
toán với thành viên có quan hệ gia đình gần gũi đó;
(2) Vị trí của thành viên có quan hệ gia đình gần gũi tại
khách hàng kiểm toán;
(3) Vai trò của thành viên đó trong nhóm kiểm
toán.
Doanh nghiệp kiểm toán phải đánh giá mức độ nghiêm trọng
của nguy cơ và phải áp dụng biện pháp bảo vệ cần thiết để loại trừ hoặc làm giảm
nguy cơ đó xuống mức có thể chấp nhận được. Ví dụ về các biện pháp bảo vệ
gồm:
(1) Rút thành viên đó ra khỏi nhóm kiểm toán;
hoặc
(2) Phân công lại trách nhiệm trong nhóm kiểm toán để
thành viên đó không phụ trách các vấn đề thuộc phạm vi trách nhiệm của thành
viên có quan hệ gia đình gần gũi của họ.
290.130 Nguy cơ đe dọa tính độc lập có thể phát sinh khi
thành viên nhóm kiểm toán có mối quan hệ gần gũi với người không phải là thành
viên có quan hệ gia đình trực tiếp hoặc gần gũi của họ nhưng là: (i) Giám đốc,
nhân sự cấp cao của khách hàng kiểm toán; hoặc là (ii) Nhân viên của khách hàng
kiểm toán nắm giữ vị trí có ảnh hưởng đáng kể đối với việc ghi sổ kế toán và lập
báo cáo tài chính mà doanh nghiệp kiểm toán sẽ đưa ra ý kiến kiểm toán. Thành
viên nhóm kiểm toán có mối quan hệ như vậy phải tham khảo ý kiến tư vấn theo các
chính sách và thủ tục của doanh nghiệp kiểm toán. Mức độ nghiêm trọng của nguy
cơ này phụ thuộc vào:
(1) Tính chất của mối quan hệ giữa thành viên nhóm kiểm
toán với người đó;
(2) Vị trí của người đó tại khách hàng kiểm
toán;
(3) Vai trò của thành viên đó trong nhóm kiểm
toán.
Doanh nghiệp kiểm toán phải đánh giá mức độ nghiêm trọng
của nguy cơ và phải áp dụng biện pháp bảo vệ cần thiết để loại trừ hoặc làm giảm
nguy cơ đó xuống mức có thể chấp nhận được. Ví dụ về các biện pháp bảo vệ
gồm:
(1) Rút thành viên đó ra khỏi nhóm kiểm toán;
hoặc
(2) Phân công lại trách nhiệm trong nhóm kiểm toán để
thành viên đó không phụ trách các vấn đề thuộc phạm vi trách nhiệm của người mà
thành viên đó có quan hệ gần gũi.
290.131 Nguy cơ do tư lợi, nguy cơ từ sự quen thuộc hoặc
nguy cơ bị đe dọa có thể phát sinh từ mối quan hệ cá nhân hay quan hệ gia đình
giữa: (i) Thành viên Ban Giám đốc hoặc nhân viên chuyên nghiệp của doanh nghiệp
kiểm toán không thuộc nhóm kiểm toán; và (ii) Giám đốc, nhân sự cấp cao hoặc
nhân viên khác của khách hàng kiểm toán nắm giữ vị trí có ảnh hưởng đáng kể đối
với việc ghi sổ kế toán và lập báo cáo tài chính mà doanh nghiệp kiểm toán sẽ
đưa ra ý kiến kiểm toán. Khi biết được mối quan hệ này, thành viên Ban Giám đốc
và nhân viên chuyên nghiệp của doanh nghiệp kiểm toán phải tham khảo ý kiến tư
vấn theo các chính sách và thủ tục của doanh nghiệp kiểm toán. Sự tồn tại và mức
độ nghiêm trọng của nguy cơ này phụ thuộc vào:
(1) Tính chất của mối quan hệ giữa thành viên Ban Giám
đốc và nhân viên chuyên nghiệp của doanh nghiệp kiểm toán với Giám đốc, nhân sự
cấp cao hoặc nhân viên khác của khách hàng kiểm
toán;
(2) Mối quan hệ giữa thành viên Ban Giám đốc và nhân viên
chuyên nghiệp đó của doanh nghiệp kiểm toán với nhóm kiểm
toán;
(3) Vị trí của thành viên Ban Giám đốc và nhân viên
chuyên nghiệp đó trong doanh nghiệp kiểm toán;
(4) Vị trí của Giám đốc, nhân sự cấp cao hoặc nhân viên
khác của khách hàng kiểm toán trong khách hàng kiểm
toán.
Doanh nghiệp kiểm toán phải đánh giá mức độ nghiêm trọng
của nguy cơ và phải áp dụng biện pháp bảo vệ cần thiết để loại trừ hoặc làm giảm
nguy cơ đó xuống mức có thể chấp nhận được. Ví dụ về các biện pháp bảo vệ
gồm:
(1) Phân công lại trách nhiệm của thành viên Ban Giám đốc
và nhân viên chuyên nghiệp của doanh nghiệp kiểm toán để làm giảm ảnh hưởng có
thể có đối với cuộc kiểm toán; hoặc
(2) Cử kiểm toán viên chuyên nghiệp khác soát xét lại các
công việc kiểm toán đã thực hiện.
Làm
việc cho khách hàng kiểm toán
290.132 Nguy cơ từ sự quen thuộc hoặc nguy cơ bị đe dọa
có thể phát sinh nếu Giám đốc, nhân sự cấp cao của khách hàng kiểm toán hoặc
nhân viên nắm giữ vị trí có ảnh hưởng đáng kể đối với việc ghi sổ kế toán và lập
báo cáo tài chính mà doanh nghiệp kiểm toán sẽ đưa ra ý kiến kiểm toán đã từng
là thành viên nhóm kiểm toán hoặc của Ban Giám đốc doanh nghiệp kiểm
toán.
290.133 Nếu thành viên trước đây của nhóm kiểm toán hoặc
của Ban Giám đốc doanh nghiệp kiểm toán hiện đang giữ vị trí tương đương tại
khách hàng kiểm toán và vẫn có mối liên hệ đáng kể với doanh nghiệp kiểm toán
thì nguy cơ đe dọa tính độc lập sẽ nghiêm trọng đến mức không biện pháp bảo vệ
nào có thể làm giảm nguy cơ đó xuống mức có thể chấp nhận được. Do đó, tính độc
lập có thể bị đe dọa nếu thành viên trước đây của nhóm kiểm toán hoặc của Ban
Giám đốc doanh nghiệp kiểm toán hiện đang là Giám đốc, nhân sự cấp cao hoặc nhân
viên nắm giữ vị trí có ảnh hưởng đáng kể đối với việc ghi sổ kế toán và lập báo
cáo tài chính mà doanh nghiệp kiểm toán sẽ đưa ra ý kiến kiểm toán, trừ
khi:
(a)
Cá nhân đó không nhận được bất kỳ lợi ích hay khoản thanh toán nào từ doanh
nghiệp kiểm toán, trừ trường hợp lợi ích hay khoản thanh toán đó được chi trả
theo các thỏa thuận cụ thể từ trước, và bất kỳ khoản tiền phải trả nào cho cá
nhân đó đều không trọng yếu đối với doanh nghiệp kiểm toán;
(b) Cá nhân đó không tiếp tục tham gia hoặc thể hiện có
tham gia vào hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động chuyên môn của doanh nghiệp
kiểm toán.
290.134 Nếu thành viên trước đây của nhóm kiểm toán hoặc
của Ban Giám đốc doanh nghiệp kiểm toán hiện đang giữ vị trí tương đương tại
khách hàng kiểm toán nhưng không có mối liên hệ đáng kể với doanh nghiệp kiểm
toán thì sự tồn tại và mức độ nghiêm trọng của nguy cơ từ sự quen thuộc hoặc
nguy cơ bị đe dọa phụ thuộc vào các yếu tố sau:
(1) Vị trí của thành viên đó tại khách hàng kiểm
toán;
(2) Mức độ liên quan của thành viên đó đối với nhóm kiểm
toán;
(3) Khoảng thời gian từ khi thành viên đó không còn là
thành viên nhóm kiểm toán hoặc là thành viên của Ban Giám đốc doanh nghiệp kiểm
toán đến thời gian thực hiện cuộc kiểm toán;
(4) Vị trí trước đây của thành viên đó trong nhóm kiểm
toán hoặc trong doanh nghiệp kiểm toán, ví dụ, liệu thành viên đó có chịu trách
nhiệm liên lạc thường xuyên với Ban Giám đốc hoặc Ban quản trị của khách hàng
kiểm toán hay không.
Doanh nghiệp kiểm toán phải đánh giá mức độ nghiêm trọng
của nguy cơ và phải áp dụng biện pháp bảo vệ cần thiết để loại trừ hoặc làm giảm
nguy cơ đó xuống mức có thể chấp nhận được. Ví dụ về các biện pháp bảo vệ
gồm:
(1) Điều chỉnh lại kế hoạch kiểm
toán;
(2) Phân công vào
nhóm kiểm toán một thành viên có kinh nghiệm phù hợp để làm việc với thành viên
đã chuyển sang làm cho khách hàng kiểm toán đó; hoặc
(3) Bố trí một kiểm toán viên chuyên nghiệp khác soát xét
lại công việc do thành viên trước đây của nhóm kiểm toán thực
hiện.
290.135 Nếu thành viên trước đây của Ban Giám đốc doanh
nghiệp kiểm toán giữ vị trí tương đương tại một đơn vị và sau đó đơn vị này trở
thành khách hàng kiểm toán, doanh nghiệp kiểm toán phải đánh giá mức độ nghiêm
trọng của bất kỳ nguy cơ nào đe dọa tính độc lập và phải áp dụng biện pháp bảo
vệ cần thiết để loại trừ hoặc làm giảm các nguy cơ đó xuống mức có thể chấp nhận
được.
290.136 Nguy cơ do tư lợi có thể phát sinh khi một thành
viên nhóm kiểm toán biết rằng trong tương lai họ có thể hoặc sẽ làm cho khách
hàng kiểm toán. Các chính sách và các thủ tục của doanh nghiệp kiểm toán phải
yêu cầu thành viên nhóm kiểm toán thông báo ngay cho doanh nghiệp kiểm toán khi
bắt đầu thỏa thuận các điều khoản tuyển dụng với khách hàng kiểm toán. Khi nhận
được thông báo như vậy, doanh nghiệp kiểm toán phải đánh giá mức độ nghiêm trọng
của bất kỳ nguy cơ nào đe dọa tính độc lập và phải áp dụng biện pháp bảo vệ cần
thiết để loại trừ hoặc làm giảm các nguy cơ đó xuống mức có thể chấp nhận được.
Ví dụ về các biện pháp bảo vệ gồm:
(1) Rút thành viên đó ra khỏi nhóm kiểm toán;
hoặc
(2) Xem xét lại các xét đoán quan trọng của cá nhân đó
khi còn là thành viên nhóm kiểm toán.
Khách
hàng kiểm toán là đơn vị có lợi ích công chúng
290.137 Nguy cơ từ sự quen thuộc hoặc nguy cơ bị đe dọa
có thể phát sinh khi thành viên có vai trò chủ chốt trong cuộc kiểm toán chuyển
sang nắm giữ các chức vụ sau tại các đơn vị có lợi ích công chúng là
khách hàng kiểm toán:
(a) Giám đốc, nhân sự cấp cao của đơn vị;
hoặc
(b)
Nhân viên nắm giữ vị trí có ảnh hưởng đáng kể đối với việc ghi sổ kế toán và lập
báo cáo tài chính mà doanh nghiệp kiểm toán sẽ đưa ra ý kiến kiểm
toán.
Tính độc lập sẽ bị vi phạm, trừ khi thành viên có vai trò
chủ chốt trong cuộc kiểm toán hoặc kiểm toán viên hành nghề đã thực hiện kiểm
toán nắm giữ các chức vụ nói trên sau 12 tháng, kể từ ngày kết thúc cuộc kiểm
toán của đơn vị có lợi ích công chúng đó.
290.138 Nguy cơ bị đe dọa phát sinh khi một cá nhân đã
từng là Tổng Giám đốc hoặc Phó Tổng Giám đốc (Giám đốc điều hành hoặc tương
đương) của doanh nghiệp kiểm toán hiện đang nắm giữ các chức vụ sau tại đơn vị
có lợi ích công chúng:
(a) Nhân viên nắm giữ vị trí có ảnh hưởng đáng kể đối với
việc ghi sổ kế toán và lập báo cáo tài chính; hoặc
(b) Giám đốc, hoặc nhân sự cao cấp của đơn
vị.
Tính độc lập sẽ bị vi phạm, trừ khi thời gian cá nhân này
thôi không còn giữ chức vụ Tổng Giám đốc hoặc Phó Tổng Giám đốc (Giám đốc điều
hành hoặc tương đương) của doanh nghiệp kiểm toán tối thiểu là 12
tháng.
290.139 Tính độc lập được xem như không vi phạm nếu, do
việc hợp nhất kinh doanh, thành viên có vai trò chủ chốt trong cuộc kiểm toán
trước đây hoặc cá nhân trước đây từng là Tổng Giám đốc hoặc Phó Tổng Giám đốc
của doanh nghiệp kiểm toán hiện đang nắm giữ chức vụ được đề cập trong các đoạn
290.137 và 290.138 Chuẩn mực này tại đơn vị có lợi ích công chúng,
và:
(a)
Vị trí đó không được dự tính trước khi hợp nhất kinh doanh;
(b)
Bất kỳ khoản thanh toán nào cho thành viên này trước đây đã được doanh nghiệp
kiểm toán thanh toán đầy đủ, trừ khi việc chưa thanh toán là dựa theo các thỏa
thuận cụ thể từ trước và bất kỳ khoản nợ chưa thanh toán nào cho thành viên này
đều là không trọng yếu với doanh nghiệp kiểm toán;
(c)
Thành viên này không tiếp tục tham gia hoặc không thể hiện là có tham gia vào
hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động chuyên môn của doanh nghiệp kiểm
toán;
(d)
Việc thành viên này nắm giữ các chức vụ trong khách hàng kiểm toán phải được
trao đổi với Ban quản trị của khách hàng kiểm toán.
Cử
nhân viên đến làm việc tạm thời cho khách hàng kiểm toán
290.140
Việc doanh nghiệp kiểm toán cử nhân viên chuyên nghiệp đến làm việc tạm thời cho
khách hàng kiểm toán có thể làm phát sinh nguy cơ tự kiểm tra. Sự hỗ trợ này có
thể được thực hiện nhưng chỉ trong thời gian ngắn và nhân sự của doanh nghiệp
kiểm toán không được tham gia vào:
(a) Cung cấp các dịch vụ phi đảm bảo mà các dịch vụ này
không được cho phép theo nội dung của Chương này (từ đoạn 290.154 - 290.216
Chuẩn mực này); hoặc
(b) Nắm giữ các trách nhiệm quản lý của khách hàng kiểm
toán.
Trong tất cả các trường hợp, khách hàng kiểm toán phải
chịu trách nhiệm chỉ đạo và giám sát các hoạt động của nhân viên tạm thời
này.
Doanh nghiệp kiểm toán phải đánh giá mức độ nghiêm trọng
của nguy cơ và phải áp dụng biện pháp bảo vệ cần thiết để loại trừ hoặc làm giảm
nguy cơ đó xuống mức có thể chấp nhận được. Ví dụ về các biện pháp bảo vệ
gồm:
(1) Thực hiện soát xét bổ sung đối với công việc của nhân
viên này;
(2) Không giao cho nhân viên này bất kỳ công việc kiểm
toán nào liên quan đến các chức năng và hoạt động mà nhân viên này thực hiện
trong quá trình làm việc tạm thời; hoặc
(3) Không bố trí nhân viên này vào nhóm kiểm
toán.
Các
dịch vụ gần đây cung cấp cho khách hàng kiểm toán
290.141 Các nguy cơ do tư lợi, nguy cơ tự kiểm tra hay
nguy cơ từ sự quen thuộc có thể phát sinh nếu thành viên nhóm kiểm toán gần đây
đã từng là Giám đốc, nhân sự cấp cao hoặc nhân viên của khách hàng kiểm toán.
Các nguy cơ này có thể xảy ra khi thành viên nhóm kiểm toán đánh giá các phần
của báo cáo tài chính được lập từ các sổ, tài liệu kế toán do chính thành viên
nhóm kiểm toán đó đã chịu trách nhiệm khi còn làm việc tại khách hàng kiểm
toán.
290.142 Trong giai đoạn thuộc kỳ kế toán được kiểm toán,
nếu thành viên nhóm kiểm toán đã từng là Giám đốc, nhân sự cấp cao của khách
hàng kiểm toán, hoặc từng là nhân viên nắm giữ vị trí có ảnh hưởng đáng kể đối
với việc ghi sổ kế toán và lập báo cáo tài chính mà doanh nghiệp kiểm toán sẽ
đưa ra ý kiến kiểm toán thì nguy cơ phát sinh có thể nghiêm trọng tới mức không
có biện pháp bảo vệ nào có thể làm giảm nguy cơ đó xuống mức có thể chấp nhận
được. Vì vậy, thành viên này không được tham gia nhóm kiểm
toán.
290.143
Các nguy cơ do tư lợi, nguy cơ tự kiểm tra hoặc nguy cơ từ sự quen thuộc có thể
phát sinh nếu trước giai đoạn thuộc kỳ kế toán được kiểm toán, thành viên nhóm
kiểm toán đã từng là Giám đốc, nhân sự cấp cao của khách hàng kiểm toán, hoặc
từng là nhân viên nắm giữ vị trí có ảnh hưởng đáng kể đối với việc ghi sổ kế
toán và lập báo cáo tài chính mà doanh nghiệp kiểm toán sẽ đưa ý kiến kiểm toán.
Các nguy cơ này có thể xảy ra khi một quyết định hay công việc của cá nhân đó
khi còn làm việc cho khách hàng kiểm toán trong giai đoạn trước được đánh giá
trong giai đoạn này như là một phần phạm vi công việc của cuộc kiểm toán cho
giai đoạn này. Sự tồn tại và mức độ nghiêm trọng của nguy cơ phụ thuộc vào các
yếu tố như:
(1)
Vị trí mà cá nhân đã nắm giữ trong khách hàng kiểm toán;
(2)
Khoảng thời gian từ khi cá nhân đó không còn làm việc tại khách hàng kiểm
toán;
(3)
Vai trò của cá nhân đó trong nhóm kiểm toán.
Doanh
nghiệp kiểm toán phải đánh giá mức độ nghiêm trọng của nguy cơ và phải áp dụng
biện pháp bảo vệ cần thiết để loại trừ hoặc làm giảm nguy cơ đó xuống mức có thể
chấp nhận được. Ví dụ về biện pháp bảo vệ có thể là soát xét công việc do cá
nhân đó thực hiện trong quá trình tham gia nhóm kiểm toán.
Làm
việc với vai trò là Giám đốc, nhân sự cấp cao của khách hàng kiểm
toán
290.144 Nếu thành viên Ban Giám đốc hoặc nhân viên chuyên
nghiệp của doanh nghiệp kiểm toán làm việc với vai trò là Giám đốc, nhân sự cấp
cao của khách hàng kiểm toán thì sẽ làm phát sinh nguy cơ do tư lợi và nguy cơ
tự kiểm tra nghiêm trọng đến mức không có biện pháp bảo vệ nào có thể làm giảm
nguy cơ đó xuống mức có thể chấp nhận được. Do đó, thành viên Ban Giám đốc hay
nhân viên chuyên nghiệp của doanh nghiệp kiểm toán không được nắm giữ chức vụ là
Giám đốc, nhân sự cấp cao của khách hàng kiểm toán.
290.145
Vị trí Thư ký Công ty có vai trò khác nhau trong từng doanh nghiệp, có thể bao
gồm nhiệm vụ hành chính, ví dụ việc quản lý nhân sự, lưu giữ tài liệu, danh sách
đăng ký của doanh nghiệp, đến các nhiệm vụ như đảm bảo cho doanh nghiệp tuân thủ
các quy định của pháp luật hoặc tư vấn về quản trị doanh nghiệp. Nhìn chung, vị
trí này có mối quan hệ chặt chẽ với doanh nghiệp.
290.146 Nếu thành viên Ban Giám đốc hoặc nhân viên chuyên
nghiệp của doanh nghiệp kiểm toán giữ vai trò là Thư ký Công ty của khách hàng
kiểm toán thì nguy cơ tự kiểm tra và nguy cơ về sự bào chữa sẽ nghiêm trọng đến
mức không có biện pháp bảo vệ nào có thể làm giảm các nguy cơ đó xuống mức có
thể chấp nhận được. Mặc dù đã được quy định tại đoạn 290.144 Chuẩn mực này nhưng
khi việc nắm giữ vị trí Thư ký Công ty
là phù hợp với pháp luật và chuẩn mực chuyên môn, và với điều kiện là Ban
Giám đốc tự đưa ra tất cả các quyết định, thì nhiệm vụ và hoạt động của Thư ký Công ty của khách hàng kiểm toán
chỉ giới hạn ở các công việc có tính chất hành chính và theo thủ tục như chuẩn
bị các biên bản họp, lưu giữ tài liệu, báo cáo của khách hàng kiểm toán. Trong
trường hợp đó, doanh nghiệp kiểm toán phải đánh giá mức độ nghiêm trọng của nguy
cơ và phải áp dụng các biện pháp bảo vệ cần thiết để làm giảm nguy cơ đó xuống
mức có thể chấp nhận được.
290.147 Nếu nhân viên của doanh nghiệp kiểm toán chỉ hỗ
trợ thực hiện công việc có tính chất hành chính và theo thủ tục của khách hàng
kiểm toán hoặc tư vấn các vấn đề liên quan đến hành chính của khách hàng kiểm
toán thì thường không làm ảnh hưởng đến tính độc lập, với điều kiện là Ban Giám
đốc của khách hàng kiểm toán tự đưa ra tất cả các quyết định có liên
quan.
Cung
cấp dịch vụ kiểm toán cho khách hàng kiểm toán trong nhiều năm (bao gồm việc
luân chuyển kiểm toán viên hành nghề ký báo cáo và thành viên Ban Giám đốc phụ
trách tổng thể cuộc kiểm toán)
Quy
định chung
290.148 Việc nhân sự cấp cao của doanh nghiệp kiểm toán
tham gia nhóm kiểm toán cho cùng một khách hàng trong nhiều năm có thể làm phát
sinh nguy cơ từ sự quen thuộc và nguy cơ do tư lợi. Mức độ nghiêm trọng của nguy
cơ phụ thuộc vào các yếu tố như:
(1) Khoảng thời gian mà cá nhân đó là thành viên nhóm
kiểm toán;
(2) Vai trò của cá nhân đó trong nhóm kiểm
toán;
(3) Cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp kiểm
toán;
(4) Tính chất của cuộc kiểm
toán;
(5) Liệu thành viên
Ban Giám đốc của khách hàng kiểm toán có thay đổi hay
không;
(6) Liệu có sự thay
đổi nào liên quan đến tính chất hoặc mức độ phức tạp của các vấn đề về kế toán
và lập báo cáo tài chính của khách hàng kiểm toán hay
không.
Doanh nghiệp kiểm toán phải đánh giá mức độ nghiêm trọng
của nguy cơ và phải áp dụng các biện pháp bảo vệ cần thiết để làm giảm nguy cơ
đó xuống mức có thể chấp nhận được. Ví dụ về các biện pháp bảo vệ
gồm:
(1) Định kỳ thay đổi người ký báo cáo kiểm toán
hoặc thay đổi thành viên cấp cao của nhóm kiểm toán (nếu kiểm toán cho đơn vị
có lợi ích công chúng);
(2) Cử một kiểm toán viên chuyên nghiệp khác không phải
là thành viên nhóm kiểm toán soát xét công việc do nhân sự cấp cao này thực
hiện; hoặc
(3) Định kỳ thực hiện kiểm soát chất lượng nội bộ hoặc
độc lập từ bên ngoài đối với các cuộc kiểm toán
này.
Khách
hàng kiểm toán là đơn vị có lợi ích công chúng
290.149 Trường hợp
kiểm toán cho đơn vị có lợi ích công chúng, thành viên Ban Giám đốc phụ trách
tổng thể cuộc kiểm toán và kiểm toán viên hành nghề ký báo cáo kiểm toán không
được phép ký báo cáo kiểm toán quá 3 năm liên tục cho một khách hàng kiểm
toán.
Kiểm
toán viên hành nghề không được tham gia thực hiện kiểm toán cho một đơn vị có
lợi ích công chúng trong 5 năm tài chính liên tục.
Thời gian nói trên được tính kể từ năm tài chính mà kiểm toán viên bắt đầu ký
báo cáo kiểm toán hoặc bắt đầu được giao trách nhiệm là kiểm toán viên hành nghề
tham gia cuộc kiểm toán và không phụ thuộc vào vị trí được giao trong cuộc kiểm
toán. Nếu kiểm toán viên hành nghề đã tham gia kiểm toán cho một đơn vị
có lợi ích công chúng trong 4 năm tài chính liên tục, các cá nhân này không được
phép là thành viên nhóm kiểm toán hoặc là thành viên có vai trò chủ chốt trong
cuộc kiểm toán
trong
vòng 1 năm tiếp theo cho khách hàng kiểm toán đó.
Trong giai đoạn này, các cá nhân này không được phép tham gia nhóm kiểm toán,
cũng không được là thành viên soát xét việc kiểm soát chất lượng, cũng như đưa
ra ý kiến tư vấn cho nhóm kiểm toán hoặc khách hàng kiểm toán về các vấn đề đặc
thù liên quan đến kỹ thuật và đặc thù ngành, các giao dịch, sự kiện khác, nếu
không, sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả của cuộc kiểm
toán.
290.151 Việc một thành viên Ban Giám đốc doanh nghiệp
kiểm toán không phải là thành viên có vai trò chủ chốt trong cuộc kiểm toán
nhưng tham gia nhóm kiểm toán cho đơn vị có lợi ích công chúng trong nhiều năm
liền, có thể làm phát sinh nguy cơ từ sự quen thuộc và nguy cơ do tư lợi. Mức độ
nghiêm trọng của nguy cơ phụ thuộc vào các yếu tố
như:
(1) Khoảng thời gian cá nhân đó làm việc với đơn vị có
lợi ích công chúng;
(2) Vai trò của cá nhân đó trong nhóm kiểm toán (nếu
có);
(3) Bản chất, mức độ thường xuyên và phạm vi của công
việc giữa cá nhân đó với Ban Giám đốc hoặc Ban quản trị của khách hàng kiểm
toán.
Doanh nghiệp kiểm toán phải đánh giá mức độ nghiêm trọng
của nguy cơ và phải áp dụng các biện pháp bảo vệ cần thiết để làm giảm nguy cơ
đó xuống mức có thể chấp nhận được. Ví dụ về các biện pháp bảo vệ
gồm:
(1) Luân chuyển thành viên Ban Giám đốc khỏi cuộc kiểm
toán hoặc chấm dứt mối quan hệ làm việc với khách hàng kiểm toán;
hoặc
(2) Định kỳ thực hiện kiểm soát chất lượng nội bộ hoặc
độc lập từ bên ngoài đối với các cuộc kiểm toán
này.
290.152
Khi một khách hàng kiểm toán trở thành đơn
vị có lợi ích công chúng thì doanh nghiệp kiểm toán không được bố trí thành viên
có vai trò chủ chốt trong cuộc kiểm toán thực hiện kiểm toán cho khách hàng này
trong năm năm tài chính liên tục kể từ năm tài chính mà khách hàng trở thành đơn
vị có lợi ích công chúng.
Cung
cấp dịch vụ phi đảm bảo cho khách hàng kiểm toán
290.154 Doanh nghiệp kiểm toán thường cung cấp cho khách
hàng kiểm toán các dịch vụ phi đảm bảo phù hợp với trình độ chuyên môn và kinh
nghiệm của họ. Tuy nhiên, việc cung cấp dịch vụ phi đảm bảo có thể làm phát sinh
nguy cơ đe dọa tính độc lập của doanh nghiệp kiểm toán, hay các thành viên nhóm
kiểm toán. Các nguy cơ đe dọa tính độc lập thường thấy là nguy cơ tự kiểm tra,
nguy cơ do tư lợi và nguy cơ tự bào chữa.
290.155 Do sự biến
động không ngừng trong môi trường kinh doanh, môi trường tài chính cũng như công
nghệ thông tin nên gần như không thể đưa ra một danh sách đầy đủ các dịch vụ phi
đảm bảo cho khách hàng kiểm toán. Trong trường hợp Chương này không hướng dẫn cụ
thể về một dịch vụ phi đảm bảo nào đó, doanh nghiệp kiểm toán phải áp
dụng khuôn khổ chung khi đánh giá từng trường hợp cụ
thể.
290.156 Trước khi chấp nhận hợp đồng dịch vụ phi đảm bảo
cho khách hàng kiểm toán, doanh nghiệp kiểm toán phải cân nhắc liệu việc chấp
nhận đó có làm phát sinh nguy cơ đe dọa tính độc lập của doanh nghiệp kiểm toán
hay không. Khi đánh giá mức độ nghiêm trọng của các nguy cơ phát sinh từ việc
cung cấp một dịch vụ phi đảm bảo, doanh nghiệp kiểm toán cần xem xét nguy cơ
phát sinh từ việc cung cấp dịch vụ phi đảm bảo khác có liên quan. Nếu phát sinh
nguy cơ nghiêm trọng đến mức không có biện pháp bảo vệ nào có thể làm giảm nguy
cơ đó xuống mức có thể chấp nhận được thì doanh nghiệp kiểm toán không được cung
cấp dịch vụ phi đảm bảo đó.
290.157 Doanh nghiệp kiểm toán có thể cung cấp các dịch
vụ phi đảm bảo, mà thông thường sẽ bị giới hạn bởi các quy định trong Chương
này, cho các bên liên quan sau đây của khách hàng kiểm
toán:
(a)
Một đơn vị không phải là khách hàng kiểm toán nhưng có quyền kiểm soát trực tiếp
hoặc gián tiếp với khách hàng kiểm toán;
(b)
Một đơn vị không phải là khách hàng kiểm toán có lợi ích tài chính trực tiếp
trong khách hàng kiểm toán mà đơn vị đó có ảnh hưởng đáng kể đối với khách hàng
kiểm toán và lợi ích trong khách hàng kiểm toán là trọng yếu đối với đơn vị đó;
hoặc
(c)
Một đơn vị không phải là khách hàng kiểm toán cùng chịu sự kiểm soát chung với
khách hàng kiểm toán,
nếu
có thể kết luận rằng: (i) Dịch vụ đó không làm phát sinh nguy cơ tự kiểm tra do
kết quả của dịch vụ đó không phải là đối tượng của các thủ tục kiểm toán; và
(ii) Bất kỳ nguy cơ nào phát sinh từ việc cung cấp dịch vụ trên được loại trừ
hoặc làm giảm xuống mức có thể chấp nhận được nhờ việc áp dụng các biện pháp bảo
vệ.
290.158
Dịch vụ phi đảm bảo đã cung cấp cho khách hàng kiểm toán không ảnh hưởng đến
tính độc lập của doanh nghiệp kiểm toán khi khách hàng kiểm toán đó trở thành
đơn vị có lợi ích công chúng nếu:
(a)
Dịch vụ phi đảm bảo trước đó đã tuân thủ với các quy định và hướng dẫn trong
Chương này liên quan đến khách hàng không phải là đơn vị có lợi ích công
chúng;
(b)
Dịch vụ phi đảm bảo không được phép thực hiện cho khách hàng là đơn vị có lợi
ích công chúng theo quy định trong Chương này, đã chấm dứt trước hoặc ngay sau
khi khách hàng trở thành đơn vị có lợi ích công chúng;
(c)
Doanh nghiệp kiểm toán áp dụng các biện pháp bảo vệ cần thiết để loại trừ hoặc
làm giảm nguy cơ đe dọa tính độc lập xuống mức có thể chấp nhận
được.
Trách
nhiệm quản lý
290.159
Trách
nhiệm quản lý một doanh nghiệp bao gồm nhiều
hoạt động để đảm bảo lợi ích cao nhất cho các cổ đông và các bên có lợi ích
liên quan của đơn vị. Không thể xác định được cụ thể từng hoạt động liên
quan đến trách nhiệm quản lý. Tuy nhiên, trách nhiệm quản lý thường liên quan
đến việc định hướng và lãnh đạo hoạt động của doanh nghiệp, kể cả việc đưa ra
các quyết định quan trọng liên quan đến việc mua bán doanh nghiệp, triển khai và
kiểm soát các nguồn lực về nhân sự, tài chính, hữu hình và vô
hình.
290.160 Liệu một hoạt động có được coi là thuộc trách
nhiệm quản lý hay không phụ thuộc vào hoàn cảnh và xét đoán chuyên môn. Ví dụ về
các hoạt động có thể coi là thuộc trách nhiệm quản lý, bao
gồm:
(1) Định hướng chiến lược và xây dựng chính
sách;
(2) Chỉ đạo và chịu trách nhiệm về hành vi của nhân viên
đơn vị;
(3) Phê duyệt các giao dịch;
(4) Quyết định việc thực hiện các đề xuất của doanh
nghiệp kiểm toán hoặc bên thứ ba khác;
(5) Chịu trách nhiệm lập và trình bày báo cáo tài chính
phù hợp với khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính được áp
dụng;
(6) Chịu trách nhiệm thiết kế, thực hiện và duy trì kiểm
soát nội bộ.
290.161
Các hoạt động hành chính và mang tính chất thủ tục hoặc các vấn đề liên quan
không quan trọng thường không được coi là trách nhiệm quản lý, như thực hiện một
giao dịch không quan trọng đã được Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc ủy quyền
hoặc giám sát thời hạn nộp báo cáo theo quy định của pháp luật và tư vấn cho
khách hàng kiểm toán về các thời hạn này. Ngoài ra việc tư vấn và khuyến nghị để
hỗ trợ Ban Giám đốc trong việc thực hiện trách nhiệm quản lý của mình sẽ không
được coi là trách nhiệm quản lý của Ban Giám đốc.
290.162 Trường hợp doanh nghiệp kiểm toán thực hiện trách
nhiệm quản lý cho một khách hàng kiểm toán thì sẽ làm phát sinh nguy cơ nghiêm
trọng đến mức không có biện pháp bảo vệ nào có thể làm giảm nguy cơ đó xuống mức
có thể chấp nhận được. Ví dụ, việc quyết định áp dụng các khuyến nghị của doanh
nghiệp kiểm toán sẽ làm phát sinh nguy cơ tự kiểm tra và nguy cơ do tư lợi. Hơn
nữa, việc này sẽ làm phát sinh nguy cơ từ sự quen thuộc do doanh nghiệp kiểm
toán trở nên quá gắn kết với quan điểm và lợi ích của khách hàng kiểm toán. Do
đó, doanh nghiệp kiểm toán không được đảm nhận trách nhiệm quản lý
cho khách hàng kiểm toán.
290.163
Để tránh rủi ro thực hiện trách nhiệm quản lý khi cung cấp dịch vụ phi đảm bảo
cho khách hàng kiểm toán, doanh nghiệp kiểm toán phải đảm bảo rằng mỗi thành
viên Ban Giám đốc của khách hàng phải có trách nhiệm: (i) Đưa ra xét đoán và
quyết định quan trọng thuộc phạm vi trách nhiệm của Ban Giám đốc, (ii) Đánh giá
kết quả của dịch vụ, và (iii) Chịu trách nhiệm về các hành động phát sinh từ kết
quả của dịch vụ đó. Điều này giúp doanh nghiệp kiểm toán tránh được rủi ro của
việc đưa ra các quyết định và xét đoán quan trọng thay cho khách hàng kiểm toán.
Rủi ro này sẽ giảm hơn nữa khi doanh nghiệp kiểm toán để khách hàng tự đánh giá
và quyết định dựa trên các phân tích khách quan, minh bạch của doanh nghiệp kiểm
toán.
Cung
cấp dịch vụ ghi sổ kế toán và lập báo cáo tài chính cho khách hàng kiểm
toán
Quy định chung
290.164 Ban Giám đốc của khách hàng kiểm toán chịu trách
nhiệm lập và trình bày trung thực và hợp lý báo cáo tài chính theo khuôn khổ về
lập và trình bày báo cáo tài chính được áp dụng. Các trách nhiệm đó bao
gồm:
(1) Lập và ghi sổ kế toán các nghiệp vụ kinh tế phát
sinh;
(2) Lập và lưu chuyển chứng từ kế toán bằng giấy, chứng
từ điện tử hoặc các hình thức khác, chứng minh các nghiệp vụ kinh tế phát sinh
(ví dụ, đề nghị mua hàng, bảng chấm công, đơn đặt
hàng...).
290.165 Việc cung cấp dịch vụ kế toán cho khách hàng kiểm
toán, như việc ghi sổ kế toán, lập báo cáo tài chính có thể làm phát sinh nguy
cơ tự kiểm tra khi doanh nghiệp kiểm toán lại là đơn vị kiểm toán báo cáo tài
chính đó. Do đó doanh nghiệp kiểm toán không được thực hiện kiểm toán trong
trường hợp đang thực hiện hoặc đã thực hiện trong năm trước liền kề dịch vụ ghi
sổ kế toán, lập báo cáo tài chính cho khách hàng kiểm
toán.
290.166 Trong quá trình kiểm toán, doanh nghiệp kiểm
toán cần phải trao đổi với Ban Giám đốc của khách hàng kiểm toán về các
nội dung sau:
(1) Việc áp dụng các chuẩn mực, chính sách kế toán hoặc
yêu cầu về thuyết minh báo cáo tài chính;
(2) Sự phù hợp của các biện pháp kiểm soát về kế toán,
tài chính và các phương pháp xác định giá trị khoản mục tài sản hoặc nợ phải
trả; hoặc
(3) Đưa ra các bút toán điều
chỉnh.
Những nội dung này thuộc quy trình kiểm toán thông thường
nên không làm phát sinh nguy cơ đe dọa tính độc
lập.
290.167 Khách hàng kiểm toán có thể yêu cầu doanh nghiệp
kiểm toán cung cấp các dịch vụ hỗ trợ kỹ thuật nhằm giải quyết các vấn đề khác
về kế toán hoặc phân tích, tổng hợp các thông tin phục vụ mục đích báo cáo cho
cơ quan quản lý nhà nước. Khách hàng có thể yêu cầu hỗ trợ kỹ thuật về các vấn
đề kế toán như chuyển đổi báo cáo tài chính từ cơ sở kế toán này sang cơ sở kế
toán khác (ví dụ, để tuân thủ theo chính sách kế toán của tập đoàn hoặc chuyển
đổi báo cáo tài chính lập theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam sang báo cáo tài chính
lập theo Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế). Nói chung các dịch vụ nêu trên
không làm phát sinh nguy cơ đe dọa tính độc lập nếu doanh nghiệp kiểm toán không
thực hiện trách nhiệm quản lý đối với khách hàng kiểm
toán.
Cung
cấp dịch vụ định giá cho khách hàng kiểm toán
Quy định chung
290.172 Định giá bao gồm việc đưa ra các giả định về sự
phát triển trong tương lai, áp dụng các phương pháp và kỹ thuật thích hợp để xác
định giá trị cụ thể hoặc khoảng giá trị cho tài sản, nợ phải trả hoặc toàn bộ
doanh nghiệp.
290.173 Thực hiện dịch vụ định giá cho khách hàng kiểm
toán có thể làm phát sinh nguy cơ tự kiểm tra. Sự tồn tại và mức độ nghiêm trọng
của nguy cơ phụ thuộc vào các yếu tố sau:
(1)
Kết quả định giá có ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài chính hay
không;
(2)
Mức độ tham gia của khách hàng trong quá trình xác định và phê duyệt phương pháp
định giá và các xét đoán quan trọng khác;
(3)
Mức độ sẵn có của các phương pháp đã được chuẩn hóa cũng như các hướng dẫn
chuyên môn cho việc định giá;
(4)
Mức độ chủ quan vốn có của đối tượng được định giá đối với định giá liên quan
đến các phương pháp đã được chuẩn hóa;
(5)
Độ tin cậy và phạm vi dữ liệu cần dùng;
(6)
Mức độ phụ thuộc vào các sự kiện trong tương lai có thể tạo ra các biến động
đáng kể đối với số liệu định giá;
(7)
Phạm vi và tính rõ ràng của các thuyết minh báo cáo tài chính.
Doanh
nghiệp kiểm toán phải đánh giá mức độ nghiêm trọng của nguy cơ và phải áp dụng
biện pháp bảo vệ cần thiết để loại trừ hoặc làm giảm nguy cơ đó xuống mức có thể
chấp nhận được. Ví dụ về các biện pháp bảo vệ gồm:
(1)
Cử cá nhân không thực hiện dịch vụ định giá soát xét lại công việc kiểm toán hay
định giá; hoặc
(2)
Không bố trí nhân sự thực hiện dịch vụ định giá tham gia nhóm kiểm
toán.
290.174
Một số công việc định giá không có mức độ chủ quan đáng kể, như trường hợp các
giả định, kỹ thuật và phương pháp định giá đã được chuẩn hóa theo pháp luật và
các quy định có liên quan, hoặc đã được chấp nhận rộng rãi. Trường hợp đó, kết
quả định giá do hai hay nhiều bên thực hiện sẽ không có khác biệt trọng
yếu.
290.175
Trường hợp doanh nghiệp kiểm toán được yêu cầu cung cấp dịch vụ định giá nhằm hỗ
trợ khách hàng về nghĩa vụ báo cáo thuế hoặc cho mục đích hoạch định thuế và kết
quả định giá không có ảnh hưởng trực tiếp đến báo cáo tài chính thì sẽ áp dụng
quy định tại đoạn 290.188 Chuẩn mực này.
Khách
hàng kiểm toán không phải là đơn vị có lợi ích công chúng
290.176
Trường hợp khách hàng kiểm toán không phải là đơn vị có lợi ích công chúng, nếu
dịch vụ định giá có ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài chính mà doanh nghiệp
kiểm toán đưa ra ý kiến và kết quả định giá có mức độ chủ quan đáng kể, thì
không có biện pháp bảo vệ nào có thể làm giảm nguy cơ tự kiểm tra xuống mức có
thể chấp nhận được. Do đó, doanh nghiệp kiểm toán không được cung cấp dịch vụ
định giá này cho khách hàng.
Khách
hàng kiểm toán là đơn vị có lợi ích công chúng
290.177
Doanh nghiệp kiểm toán không được cung cấp dịch vụ định giá cho khách hàng là
đơn vị có lợi ích công chúng nếu việc định giá có ảnh hưởng trọng yếu, khi xét
riêng lẻ hay tổng hợp, đến báo cáo tài chính mà doanh nghiệp kiểm toán đưa ra ý
kiến.
Cung
cấp dịch vụ thuế cho khách hàng kiểm toán
290.178 Dịch vụ thuế bao gồm nhiều loại, ví
dụ:
(1)
Lập tờ khai thuế;
(2)
Tính thuế cho mục đích ghi sổ kế toán;
(3)
Hoạch định thuế và các dịch vụ tư vấn thuế khác;
(4)
Hỗ trợ giải quyết các tranh chấp về thuế.
Tuy
các dịch vụ thuế mà doanh nghiệp kiểm toán cung cấp cho khách hàng kiểm toán
được phân loại riêng theo các loại như
trên,
nhưng trên thực tế, các dịch vụ đó thường liên quan đến nhau.
290.179 Việc cung cấp một số dịch vụ thuế có thể làm phát
sinh nguy cơ tự kiểm tra và nguy cơ về sự bào chữa. Sự tồn tại và mức độ nghiêm
trọng của nguy cơ phụ thuộc vào các yếu tố sau đây:
(1) Hệ thống đánh giá, quản lý thuế của cơ quan thuế và
vai trò của doanh nghiệp kiểm toán trong hệ thống
đó;
(2) Mức độ phức tạp của chính sách thuế có liên quan và
mức độ xét đoán cần thiết khi áp dụng chính sách
đó;
(3) Các đặc điểm cụ thể của hợp
đồng;
(4) Trình độ chuyên môn về thuế của nhân viên khách
hàng.
Lập
tờ khai thuế
290.180 Dịch vụ lập tờ khai thuế bao gồm hỗ trợ khách
hàng thực hiện các nghĩa vụ báo cáo về thuế bằng cách lập và hoàn thiện thông
tin cần thiết (thường là điền vào các biểu mẫu chuẩn) cho cơ quan thuế, bao gồm
cả số thuế phải nộp. Dịch vụ này cũng bao gồm tư vấn cách xử lý thuế cho các
giao dịch trong quá khứ và thay mặt cho khách hàng kiểm toán đáp ứng các yêu cầu
của cơ quan thuế về cung cấp thông tin và phân tích bổ sung (kể cả việc giải
thích và hỗ trợ kỹ thuật cho phương pháp được áp dụng). Dịch vụ lập tờ khai thuế
thường dựa vào thông tin quá khứ và chủ yếu liên quan đến tính toán, trình bày
thông tin đó theo luật hiện hành, cũng như những tiền lệ và thông lệ đã có. Các
tờ khai thuế sẽ được cơ quan thuế soát xét và phê duyệt. Việc cung cấp các dịch
vụ này thường không làm phát sinh nguy cơ đe dọa tính độc lập nếu Ban Giám đốc
của khách hàng kiểm toán chịu trách nhiệm về các tờ khai thuế và các xét đoán
quan trọng có liên quan.
Tính thuế cho mục đích ghi sổ kế
toán
Khách hàng kiểm toán không phải là đơn vị có lợi ích công
chúng
290.181
Việc
tính toán thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành hoặc thuế thu nhập hoãn lại phải
trả (hoặc tài sản thuế thu nhập hoãn lại) cho khách hàng kiểm toán nhằm mục đích
ghi sổ kế toán và sau đó doanh nghiệp kiểm toán thực hiện kiểm toán làm phát
sinh nguy cơ tự kiểm tra. Mức độ nghiêm trọng của nguy cơ phụ thuộc
vào:
(a) Mức độ phức tạp của pháp luật và các quy định về thuế
có liên quan, mức độ xét đoán cần thiết khi áp dụng pháp luật và các quy định
này;
(b) Trình độ chuyên môn về thuế của nhân viên khách
hàng;
(c) Mức độ trọng yếu của số liệu thuế đối với báo cáo tài
chính.
Doanh nghiệp kiểm toán phải áp dụng biện pháp bảo vệ cần
thiết để loại trừ hoặc làm giảm nguy cơ đó xuống mức có thể chấp nhận được. Ví
dụ:
(1) Cử cá nhân không phải là thành viên nhóm kiểm toán
thực hiện dịch vụ;
(2) Cử một thành viên Ban Giám đốc hoặc trưởng nhóm kiểm
toán có kinh nghiệm phù hợp không phải là thành viên nhóm kiểm toán soát xét lại
các bảng tính thuế, nếu dịch vụ đó do một thành viên nhóm kiểm toán thực hiện;
hoặc
(3) Tham khảo ý kiến tư vấn về dịch vụ từ chuyên gia thuế
bên ngoài doanh nghiệp kiểm toán.
Khách hàng kiểm toán là đơn vị có lợi ích công
chúng
290.182 Nếu khách hàng kiểm toán là đơn vị có lợi ích
công chúng, trừ trường hợp khẩn cấp, doanh nghiệp kiểm toán không được cung cấp
dịch vụ tính thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành hoặc thuế thu nhập hoãn lại
phải trả (hoặc tài sản thuế thu nhập hoãn lại) cho mục đích ghi sổ kế toán vì có
ảnh hưởng trọng yếu đối với báo cáo tài chính mà doanh nghiệp kiểm toán đưa ra ý
kiến.
290.183 Trường hợp khẩn cấp hoặc tình huống bất thường,
khi khách hàng kiểm toán không thể lựa chọn được bên cung cấp dịch vụ nào khác,
doanh nghiệp kiểm toán có thể cung cấp dịch vụ tính thuế thu nhập doanh nghiệp
hiện hành hoặc thuế thu nhập hoãn lại phải trả (hoặc tài sản thuế thu nhập hoãn
lại) cho mục đích ghi sổ kế toán mà trong các tình huống khác sẽ là không được
phép theo quy định của Chương này. Trường hợp này có thể xảy ra khi: (i) Chỉ
doanh nghiệp kiểm toán đó mới có nguồn lực và hiểu biết cần thiết về ngành nghề
hoạt động của khách hàng để giúp khách hàng tính thuế thu nhập doanh nghiệp hiện
hành hoặc thuế thu nhập hoãn lại phải trả (hoặc tài sản thuế thu nhập hoãn lại)
kịp thời; và (ii) Nếu doanh nghiệp kiểm toán đó không cung cấp các dịch vụ này
thì sẽ gây ra khó khăn đáng kể cho khách hàng (ví dụ, trong việc đáp ứng các yêu
cầu báo cáo theo quy định của pháp luật). Trường hợp này doanh nghiệp kiểm toán
cần phải thỏa mãn các điều kiện sau:
(a) Thành viên thực hiện dịch vụ không được là thành viên
nhóm kiểm toán;
(b) Dịch vụ được thực hiện trong thời gian ngắn và không
lặp lại;
(c) Tình huống này phải được thảo luận với Ban quản trị
của khách hàng.
Hoạch định thuế và các dịch vụ tư vấn thuế
khác
290.184 Dịch vụ hoạch định thuế hoặc các dịch vụ tư vấn
thuế khác gồm nhiều loại dịch vụ, như tư vấn cho khách hàng cách thức tiến hành
giao dịch để tối ưu hóa lợi ích về thuế hoặc tư vấn về việc áp dụng luật hoặc
quy định mới về thuế.
290.185 Nguy cơ tự kiểm tra có thể làm phát sinh khi ý
kiến tư vấn ảnh hưởng đến các vấn đề được phản ánh trong báo cáo tài chính. Sự
tồn tại và mức độ nghiêm trọng của nguy cơ phụ thuộc vào các yếu tố
như:
(1) Mức độ chủ quan khi xác định cách xử lý các vấn đề về
thuế khi lập báo cáo tài chính;
(2) Mức độ ảnh hưởng của kết quả tư vấn về thuế đối với
báo cáo tài chính;
(3) Liệu hiệu quả của ý kiến tư vấn về thuế có phụ thuộc
vào phương thức hạch toán kế toán hoặc trình bày báo cáo tài chính hay không và
có nghi ngờ nào về tính thích hợp của phương thức hạch toán kế toán hoặc trình
bày báo cáo tài chính theo khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính có
liên quan hay không;
(4) Trình độ chuyên môn về thuế của nhân viên khách
hàng;
(5) Mức độ phù hợp của ý kiến tư vấn so với pháp luật và
các quy định về thuế, tiền lệ hoặc thông lệ khác đã
có;
(6) Liệu cách xử lý về thuế có tuân thủ hướng dẫn riêng
của cơ quan thuế hay đã được cơ quan thuế làm rõ trước khi lập và trình bày báo
cáo tài chính hay không.
Ví dụ, khi cung cấp dịch vụ hoạch định thuế hoặc các dịch
vụ tư vấn thuế khác, nguy cơ đe dọa tính độc lập thường không phát sinh nếu ý
kiến tư vấn được cơ quan thuế chấp thuận, hoặc phù hợp với tiền lệ khác, thông
lệ đã có, hoặc có căn cứ rõ ràng theo quy định của pháp luật về
thuế.
290.186
Doanh
nghiệp kiểm toán phải đánh giá mức độ nghiêm trọng của bất kỳ nguy cơ nào và
phải áp dụng các biện pháp bảo vệ cần thiết để loại trừ hoặc làm giảm nguy cơ đó
xuống mức có thể chấp nhận được. Ví dụ về các biện pháp bảo vệ gồm:
(1) Sử dụng chuyên gia không phải là thành viên nhóm kiểm
toán để thực hiện dịch vụ;
(2) Cử chuyên gia về thuế, mà chuyên gia này không tham
gia cung cấp dịch vụ thuế, tư vấn cho nhóm kiểm toán về dịch vụ và soát xét các
cách xử lý thuế trong báo cáo tài chính;
(3) Tham khảo ý kiến tư vấn về dịch vụ từ một chuyên gia
thuế bên ngoài doanh nghiệp kiểm toán; hoặc
(4) Xin ý kiến chấp thuận trước hoặc ý kiến tư vấn từ cơ
quan thuế.
290.187 Nếu hiệu quả của ý kiến tư vấn về thuế phụ thuộc
vào phương thức hạch toán kế toán hoặc trình bày cụ thể trong báo cáo tài chính
và:
(a) Nhóm kiểm toán có nghi ngờ về tính thích hợp của
phương thức hạch toán kế toán hoặc trình bày báo cáo tài chính theo khuôn khổ về
lập và trình bày báo cáo tài chính có liên quan;
(b) Kết quả hoặc hệ quả của ý kiến tư vấn về thuế sẽ có
ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài chính mà doanh nghiệp kiểm toán sẽ đưa ra ý
kiến;
thì nguy cơ tự kiểm tra sẽ nghiêm trọng đến mức không có
biện pháp bảo vệ nào có thể làm giảm nguy cơ đó xuống mức có thể chấp nhận được.
Trường hợp này doanh nghiệp kiểm toán không được cung cấp ý kiến tư vấn về thuế
đó cho khách hàng kiểm toán.
290.188 Khi cung cấp các dịch vụ thuế cho khách hàng kiểm
toán, doanh nghiệp kiểm toán có thể được yêu cầu cung cấp dịch vụ định giá nhằm
hỗ trợ khách hàng thực hiện nghĩa vụ báo cáo thuế hoặc cho mục đích hoạch định
thuế. Nếu kết quả định giá có ảnh hưởng trực tiếp đến báo cáo tài chính thì phải
áp dụng quy định tại các đoạn từ 290.172 - 290.177 Chuẩn mực này liên quan đến
các dịch vụ định giá. Nếu việc định giá chỉ được thực hiện cho mục đích về thuế
và kết quả định giá không ảnh hưởng trực tiếp đến báo cáo tài chính (mà chỉ ảnh
hưởng gián tiếp đến các chỉ tiêu liên quan đến thuế trên báo cáo tài chính) thì
thường không phát sinh nguy cơ đe dọa tính độc lập, nếu ảnh hưởng đến báo cáo
tài chính là không trọng yếu hoặc nếu kết quả định giá được cơ quan thuế hoặc cơ
quan quản lý có thẩm quyền tương đương soát xét độc lập. Nếu kết quả định giá
không được soát xét độc lập từ bên ngoài và có ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo
tài chính, thì sự tồn tại và mức độ nghiêm trọng của bất kỳ nguy cơ nào phát
sinh sẽ phụ thuộc vào các yếu tố như:
(1) Mức độ phù hợp của phương pháp định giá với pháp luật
và các quy định có liên quan về thuế, tiền lệ và thông lệ đã có khác và mức độ
chủ quan trong việc định giá;
(2) Độ tin cậy và phạm vi của dữ liệu làm cơ sở định
giá;
Doanh
nghiệp kiểm toán phải đánh giá mức độ nghiêm trọng của bất kỳ nguy cơ nào phát
sinh và áp dụng các biện pháp bảo vệ cần thiết để loại trừ hoặc làm giảm nguy cơ
đó xuống mức có thể chấp nhận được. Ví dụ về các biện pháp bảo vệ
gồm:
(1) Sử dụng chuyên gia không phải là thành viên nhóm kiểm
toán để thực hiện dịch vụ;
(2) Cử chuyên gia
soát xét công việc kiểm toán hoặc kết quả của dịch vụ thuế;
hoặc
(3) Xin ý kiến chấp thuận trước hoặc ý kiến tư vấn từ cơ
quan thuế.
Hỗ trợ giải quyết các tranh chấp về
thuế
290.189 Nguy cơ về sự bào chữa hay nguy cơ tự kiểm tra có
thể phát sinh khi doanh nghiệp kiểm toán đại diện cho khách hàng kiểm toán giải
quyết tranh chấp về thuế của một vấn đề cụ thể khi cơ quan thuế không chấp nhận
giải trình của khách hàng, và vấn đề đó đang được phán xử trong một vụ kiện
tụng. Sự tồn tại và mức độ nghiêm trọng của nguy cơ phụ thuộc vào các yếu tố
như:
(1) Liệu doanh nghiệp kiểm toán đã đưa ra ý kiến tư vấn
mà ý kiến đó có là chủ đề của tranh chấp về thuế hay
không;
(2) Mức độ ảnh hưởng trọng yếu của kết quả vụ tranh chấp
đến báo cáo tài chính mà doanh nghiệp kiểm toán sẽ đưa ra ý
kiến;
(3) Mức độ phù hợp của vấn đề với pháp luật và các quy
định có liên quan về thuế, tiền lệ hoặc thông lệ đã có
khác;
(4) Liệu vụ kiện có được xét xử công khai hay
không;
(5) Vai trò của Ban Giám đốc của khách hàng trong việc
giải quyết tranh chấp.
Doanh nghiệp kiểm toán phải đánh giá mức độ nghiêm trọng
của bất kỳ nguy cơ nào và áp dụng các biện pháp bảo vệ cần thiết để loại trừ
hoặc làm giảm nguy cơ đó xuống mức có thể chấp nhận được. Ví dụ về các biện pháp
bảo vệ gồm:
(1) Sử dụng chuyên gia không phải là thành viên nhóm kiểm
toán để thực hiện dịch vụ;
(2) Cử chuyên gia về thuế, mà chuyên gia này không tham
gia cung cấp dịch vụ về thuế, tư vấn cho nhóm kiểm toán về dịch vụ và soát xét
các số liệu thuế trong báo cáo tài chính; hoặc
(3) Tham khảo ý kiến tư vấn từ chuyên gia về thuế bên
ngoài doanh nghiệp kiểm toán.
290.190 Nếu các dịch vụ về thuế bao gồm việc giữ vai trò
người bào chữa cho một khách hàng kiểm toán trong một phiên tòa xét xử công khai
về một vấn đề về thuế và các số liệu có liên quan là trọng yếu đối với báo cáo
tài chính mà doanh nghiệp kiểm toán sẽ đưa ra ý kiến, nguy cơ về sự bào chữa
phát sinh sẽ nghiêm trọng đến mức không có biện pháp bảo vệ nào có thể loại trừ
hoặc làm giảm nguy cơ đó xuống mức có thể chấp nhận được. Trường hợp này, doanh
nghiệp kiểm toán không được cung cấp dịch vụ đó cho khách hàng kiểm
toán.
290.191 Doanh nghiệp
kiểm toán vẫn được tiếp tục cung cấp dịch vụ tư vấn về thuế (ví dụ, cung cấp
thông tin cụ thể, cung cấp bằng chứng, lời khai về công việc đã được thực hiện
hoặc trợ giúp khách hàng phân tích các vấn đề thuế) cho khách hàng kiểm toán
liên quan đến vấn đề được xem xét trong một phiên tòa xét xử công
khai.
Cung
cấp dịch vụ kiểm toán nội bộ cho khách hàng kiểm toán
Quy định chung
290.192 Phạm vi và mục tiêu của hoạt động kiểm toán nội
bộ là khác nhau đáng kể và phụ thuộc vào quy mô, cơ cấu tổ chức của đơn vị, yêu
cầu của Ban Giám đốc và Ban quản trị của khách hàng. Hoạt động kiểm toán nội bộ
có thể bao gồm:
(1) Giám sát kiểm soát nội bộ - soát xét các kiểm soát,
giám sát hoạt động kiểm soát và đề xuất hướng hoàn
thiện;
(2) Kiểm tra thông tin tài chính và thông tin hoạt động -
kiểm tra các phương tiện được sử dụng để xác định, đo lường, phân loại và báo
cáo thông tin tài chính, thông tin hoạt động, và kiểm tra cụ thể từng khoản mục,
bao gồm kiểm tra chi tiết các giao dịch, số dư và thủ
tục;
(3) Kiểm tra tính kinh tế, hiệu quả và hiệu suất của các
hoạt động, kể cả hoạt động phi tài chính của đơn
vị;
(4) Kiểm tra tính
tuân thủ pháp luật và các quy định, các yêu cầu bên ngoài khác, các chính sách,
chỉ thị của Ban Giám đốc và các quy định nội bộ
khác.
290.193 Dịch vụ kiểm toán nội bộ bao gồm trợ giúp khách
hàng thực hiện các hoạt động kiểm toán nội bộ. Do đó doanh nghiệp kiểm toán
không được cung cấp dịch vụ kiểm toán nội bộ cho khách hàng kiểm
toán.
Cung
cấp dịch vụ về công nghệ thông tin cho khách hàng kiểm toán
Quy định chung
290.198 Dịch vụ liên quan đến công nghệ thông tin (IT)
bao gồm thiết kế hoặc xây dựng hệ thống phần cứng hoặc phần mềm. Các hệ thống
này có thể tổng hợp dữ liệu nguồn, hình thành một phần của kiểm soát nội bộ đối
với việc lập và trình bày báo cáo tài chính hoặc tạo ra thông tin ảnh hưởng đến
sổ, tài liệu kế toán hoặc báo cáo tài chính, hoặc các hệ thống này có thể không
liên quan đến sổ, tài liệu kế toán, kiểm soát nội bộ đối với việc lập và trình
bày báo cáo tài chính của khách hàng kiểm toán. Việc cung cấp dịch vụ về công
nghệ thông tin có thể làm phát sinh nguy cơ tự kiểm tra, tùy thuộc vào đặc điểm
của dịch vụ và của hệ thống công nghệ thông tin.
290.199 Khi nhân viên của doanh nghiệp kiểm toán không
giữ trách nhiệm quản lý trong khách hàng kiểm toán, các dịch vụ về công nghệ
thông tin sau đây không làm phát sinh nguy cơ đe dọa tính độc
lập:
(a) Thiết kế hoặc xây dựng hệ thống công nghệ thông tin
không liên quan đến kiểm soát nội bộ đối với việc lập và trình bày báo cáo tài
chính;
(b) Thiết kế hoặc xây dựng hệ thống công nghệ thông tin
không tạo ra thông tin hình thành nên một phần quan trọng của sổ, tài liệu kế
toán hoặc báo cáo tài chính;
(c) Sửa đổi phần mềm kế toán hoặc phần mềm lập và trình
bày báo cáo tài chính bán sẵn trên thị trường mà không do doanh nghiệp kiểm toán
thiết kế nếu việc sửa đổi phần mềm đó để đáp ứng nhu cầu của khách hàng là không
đáng kể;
(d) Đánh giá và đưa
ra các khuyến nghị về hệ thống công nghệ thông tin do một nhà cung cấp dịch vụ
khác hoặc khách hàng thiết kế, xây dựng, hoặc vận
hành.
Khách hàng kiểm toán không phải là đơn vị có lợi ích công
chúng
290.200 Nguy cơ tự kiểm tra sẽ phát sinh nếu việc cung
cấp dịch vụ cho khách hàng kiểm toán không phải là đơn vị có lợi ích công chúng
bao gồm thiết kế hoặc xây dựng hệ thống công nghệ thông tin mà hệ thống này: (i)
Hình thành một phần quan trọng của kiểm soát nội bộ đối với việc lập và trình
bày báo cáo tài chính; hoặc (ii) Tạo ra thông tin quan trọng đối với sổ, tài
liệu kế toán hoặc báo cáo tài chính của khách hàng mà doanh nghiệp kiểm toán sẽ
đưa ra ý kiến.
290.201 Nguy cơ tự kiểm tra phát sinh do các dịch vụ
quy định tại đoạn 290.200 nêu trên sẽ nghiêm trọng đến mức doanh nghiệp
kiểm toán không được phép thực hiện các dịch vụ đó trừ khi áp dụng các biện pháp
bảo vệ thích hợp để đảm bảo rằng:
(a) Khách hàng thừa nhận trách nhiệm đối với việc xây
dựng và giám sát hệ thống kiểm soát nội bộ;
(b) Khách hàng phân công một cá nhân có năng lực, tốt
nhất là lãnh đạo cấp cao, chịu trách nhiệm đưa ra các quyết định quản lý đối với
việc thiết kế và áp dụng hệ thống phần cứng hoặc phần
mềm;
(c) Khách hàng đưa ra các quyết định quản lý đối với quy
trình thiết kế và áp dụng hệ thống phần cứng hoặc phần
mềm;
(d) Khách hàng đánh giá tính đầy đủ và kết quả của việc
thiết kế và áp dụng hệ thống phần cứng hoặc phần
mềm;
(e) Khách hàng chịu trách nhiệm vận hành hệ thống phần
cứng hoặc phần mềm và chịu trách nhiệm đối với dữ liệu mà hệ thống sử dụng hoặc
tạo ra.
290.202
Tùy thuộc vào mức độ sử dụng hệ thống công nghệ thông tin cụ thể để thu thập
bằng chứng kiểm toán trong mỗi cuộc kiểm toán, doanh nghiệp kiểm toán phải
đưa ra quyết định về việc liệu có cung cấp dịch vụ phi đảm bảo đó bằng cách cử
nhân viên không phải là thành viên nhóm kiểm toán để thực hiện dịch vụ và nhân
viên này có cơ chế báo cáo riêng trong doanh nghiệp kiểm toán. Doanh nghiệp kiểm
toán phải đánh giá mức độ nghiêm trọng của các nguy cơ còn lại khác và phải áp
dụng các biện pháp bảo vệ cần thiết để loại trừ hoặc làm giảm nguy cơ đó xuống
mức có thể chấp nhận được. Ví dụ về biện pháp bảo vệ là cử kiểm toán viên hành
nghề soát xét dịch vụ kiểm toán hoặc dịch vụ phi đảm bảo.
Khách hàng kiểm toán là đơn vị có lợi ích công
chúng
290.203 Trường hợp khách hàng kiểm toán là đơn vị có lợi
ích công chúng, doanh nghiệp kiểm toán không được cung cấp các dịch vụ bao gồm
thiết kế hoặc xây dựng hệ thống công nghệ thông tin mà hệ thống này: (i) Hình
thành một phần quan trọng của kiểm soát nội bộ đối với việc lập và trình bày báo
cáo tài chính; hoặc (ii) Tạo ra thông tin quan trọng đối với sổ, tài liệu kế
toán hoặc báo cáo tài chính của khách hàng mà doanh nghiệp kiểm toán sẽ đưa ra ý
kiến.
Cung
cấp dịch vụ hỗ trợ kiện tụng, tranh chấp cho khách hàng kiểm
toán
290.204 Dịch vụ hỗ trợ kiện tụng, tranh chấp có thể bao
gồm các hoạt động như làm nhân chứng chuyên môn, ước tính thiệt hại hoặc tính
toán các số liệu về các khoản phải thu hoặc phải trả do kết quả kiện tụng hoặc
tranh chấp, hỗ trợ quản lý và khôi phục tài liệu. Các dịch vụ này có thể làm
phát sinh nguy cơ tự kiểm tra hoặc nguy cơ về sự bào
chữa.
290.205
Nếu doanh nghiệp kiểm toán cung cấp dịch vụ hỗ trợ kiện tụng, tranh chấp cho
khách hàng kiểm toán và dịch vụ này bao gồm việc ước tính thiệt hại hoặc các số
liệu khác có ảnh hưởng đến chính báo cáo tài chính mà doanh nghiệp kiểm toán sẽ
đưa ra ý kiến, thì phải tuân theo các quy định về dịch vụ định giá quy định từ
đoạn 290.172 - 290.177 Chuẩn mực này. Trường hợp cung cấp dịch vụ hỗ trợ kiện
tụng, tranh chấp khác, doanh nghiệp kiểm toán phải đánh giá mức độ nghiêm trọng
của bất kỳ nguy cơ nào phát sinh và áp dụng các biện pháp bảo vệ cần thiết để
loại trừ hoặc làm giảm nguy cơ đó xuống mức có thể chấp nhận được.
Cung
cấp dịch vụ tư vấn về luật cho khách hàng kiểm toán
290.206 Trong Chương này, dịch vụ tư vấn về luật được
định nghĩa là bất kỳ dịch vụ nào mà người cung cấp dịch vụ phải được phép hành
nghề về luật trước tòa án theo luật định hoặc được đào tạo chính quy để hành
nghề về luật. Dịch vụ tư vấn về luật có thể bao gồm nhiều lĩnh vực, kể cả dịch
vụ tư vấn doanh nghiệp và tư vấn thương mại cho khách hàng, như tư vấn về hợp
đồng, kiện tụng, mua bán, sáp nhập hoặc hỗ trợ cho bộ phận pháp chế nội bộ của
khách hàng. Việc cung cấp dịch vụ tư vấn về luật cho khách hàng kiểm toán có thể
làm phát sinh nguy cơ tự kiểm tra và nguy cơ về sự bào
chữa.
290.207 Dịch vụ tư vấn về luật hỗ trợ khách hàng kiểm
toán thực hiện một giao dịch (ví dụ, tư vấn về hợp đồng, tư vấn pháp luật, soát
xét tổng thể và tái cơ cấu về pháp lý) có thể làm phát sinh nguy cơ tự kiểm tra.
Sự tồn tại và mức độ nghiêm trọng của bất kỳ nguy cơ tự kiểm tra nào phụ thuộc
vào các yếu tố như:
(1) Đặc điểm của dịch vụ;
(2) Liệu dịch vụ có do thành viên nhóm kiểm toán cung cấp
hay không;
(3) Mức độ trọng yếu của bất kỳ vấn đề nào liên quan đến
báo cáo tài chính của khách hàng kiểm toán.
Doanh nghiệp kiểm toán phải đánh giá mức độ nghiêm trọng
của bất kỳ nguy cơ nào và áp dụng các biện pháp bảo vệ cần thiết để loại trừ
hoặc làm giảm nguy cơ đó xuống mức có thể chấp nhận được. Ví dụ về các biện pháp
bảo vệ gồm:
(1) Sử dụng chuyên gia không phải là thành viên nhóm kiểm
toán để thực hiện dịch vụ tư vấn về luật; hoặc
(2) Cử chuyên gia không cung cấp dịch vụ tư vấn về luật
cho khách hàng để tư vấn cho nhóm kiểm toán về dịch vụ và soát xét cách thức xử
lý đối với báo cáo tài chính.
290.208 Việc giữ vai trò bào chữa cho khách hàng kiểm
toán để giải quyết một vụ kiện tụng hoặc tranh chấp khi các số liệu có liên quan
là trọng yếu đối với báo cáo tài chính mà doanh nghiệp kiểm toán sẽ đưa ra ý
kiến sẽ làm phát sinh nguy cơ về sự bào chữa và nguy cơ tự kiểm tra nghiêm trọng
đến mức không có biện pháp bảo vệ nào có thể làm giảm nguy cơ đó xuống mức có
thể chấp nhận được. Trường hợp này, doanh nghiệp kiểm toán không được thực hiện
loại dịch vụ đó cho khách hàng kiểm toán.
290.209 Khi doanh nghiệp kiểm toán được yêu cầu giữ vai
trò bào chữa cho khách hàng kiểm toán để giải quyết một vụ kiện tụng hoặc tranh
chấp khi các số liệu có liên quan là không trọng yếu đối với báo cáo tài chính
mà doanh nghiệp kiểm toán sẽ đưa ra ý kiến, doanh nghiệp kiểm toán phải đánh giá
mức độ nghiêm trọng của bất kỳ nguy cơ về sự bào chữa và nguy cơ tự kiểm tra nào
phát sinh và áp dụng các biện pháp bảo vệ cần thiết để loại trừ hoặc làm giảm
nguy cơ đó xuống mức có thể chấp nhận được. Ví dụ về các biện pháp bảo vệ
gồm:
(1) Sử dụng chuyên gia không phải là thành viên nhóm kiểm
toán để thực hiện dịch vụ; hoặc
(2) Cử chuyên gia không cung cấp dịch vụ tư vấn về luật
cho khách hàng để tư vấn cho nhóm kiểm toán về dịch vụ và soát xét cách thức xử
lý đối với báo cáo tài chính.
290.210 Việc bổ
nhiệm thành viên Ban Giám đốc hoặc nhân viên của doanh nghiệp kiểm toán làm
Trưởng ban pháp chế của khách hàng kiểm toán sẽ làm phát sinh nguy cơ tự kiểm
tra và nguy cơ về sự bào chữa nghiêm trọng đến mức không có biện pháp bảo vệ nào
có thể làm giảm nguy cơ đó xuống mức có thể chấp nhận được. Chức vụ Trưởng ban
pháp chế thường dành cho lãnh đạo cấp cao, có trách nhiệm tổng thể đối với các
hoạt động pháp lý của đơn vị, và do đó không cá nhân nào của doanh nghiệp kiểm
toán được chấp nhận đảm nhiệm vị trí đó cho khách hàng kiểm
toán.
Cung
cấp dịch vụ tuyển dụng cho khách hàng kiểm toán
Quy định chung
290.211 Việc cung cấp dịch vụ tuyển dụng cho khách hàng
kiểm toán có thể làm phát sinh nguy cơ do tư lợi, nguy cơ từ sự quen thuộc và
nguy cơ bị đe dọa. Sự tồn tại và mức độ nghiêm trọng của các nguy cơ phụ thuộc
vào các yếu tố như:
(1) Nội dung yêu cầu hỗ trợ;
(2) Vai trò của người được tuyển
dụng.
Doanh nghiệp kiểm toán phải đánh giá mức độ nghiêm trọng
của bất kỳ nguy cơ nào và phải áp dụng các biện pháp bảo vệ cần thiết để loại
trừ hoặc làm giảm nguy cơ đó xuống mức có thể chấp nhận được. Trong mọi trường
hợp, doanh nghiệp kiểm toán không được giữ trách nhiệm quản lý trong khách hàng
kiểm toán, kể cả đóng vai trò là người đàm phán thay mặt cho khách hàng, và phải
để cho khách hàng đưa ra quyết định tuyển dụng.
Doanh nghiệp kiểm toán có thể cung cấp dịch vụ như soát
xét bằng cấp, trình độ chuyên môn của các ứng viên và tư vấn về sự phù hợp của
họ với vị trí ứng tuyển. Ngoài ra, doanh nghiệp kiểm toán có thể phỏng vấn các
ứng viên và tư vấn về năng lực của họ cho vị trí kế toán tài chính, vị trí quản
lý hoặc kiểm soát.
Khách hàng kiểm toán là đơn vị có lợi ích công
chúng
290.212 Liên quan đến Giám đốc, nhân sự cấp cao hoặc lãnh
đạo cấp cao của khách hàng kiểm toán có ảnh hưởng đáng kể đối với việc lập chứng
từ, ghi sổ kế toán hoặc lập báo cáo tài chính của khách hàng kiểm toán là đơn vị
có lợi ích công chúng mà doanh nghiệp kiểm toán sẽ đưa ra ý kiến, doanh nghiệp
kiểm toán không được cung cấp các dịch vụ tuyển dụng sau
đây:
(1) Tìm kiếm các ứng viên cho các vị trí
đó;
(2) Thực hiện điều tra về các ứng viên cho các vị trí
đó.
Cung
cấp dịch vụ tài chính doanh nghiệp cho khách hàng kiểm toán
290.213 Việc cung cấp dịch vụ tài chính doanh nghiệp sau
đây có thể làm phát sinh nguy cơ về sự bào chữa và nguy cơ tự kiểm
tra:
(1) Hỗ trợ khách hàng kiểm toán phát triển chiến lược tài
chính doanh nghiệp;
(2) Xác định các công ty mục tiêu để khách hàng kiểm toán
mua lại;
(3) Tư vấn về các giao dịch giải thể doanh
nghiệp;
(4) Hỗ trợ các giao dịch huy động nguồn tài
chính;
(5) Tư vấn về cơ cấu doanh
nghiệp.
Doanh nghiệp kiểm toán phải đánh giá mức độ nghiêm trọng
của bất kỳ nguy cơ nào và áp dụng các biện pháp bảo vệ cần thiết để loại trừ
hoặc làm giảm nguy cơ đó xuống mức có thể chấp nhận được. Ví dụ về các biện pháp
bảo vệ gồm:
(1) Sử dụng chuyên gia không phải là thành viên nhóm kiểm
toán thực hiện dịch vụ; hoặc
(2) Cử chuyên gia không tham gia cung cấp dịch vụ tài
chính doanh nghiệp cho khách hàng để tư vấn cho nhóm kiểm toán về dịch vụ và
soát xét phương thức hạch toán kế toán và trình bày báo cáo tài
chính.
290.214 Nguy cơ tự kiểm tra có thể phát sinh từ việc cung
cấp dịch vụ tài chính doanh nghiệp, ví dụ tư vấn về cơ cấu một giao dịch tài
chính doanh nghiệp hoặc về các thỏa thuận cấp vốn sẽ có ảnh hưởng trực tiếp đến
các số liệu được trình bày trong báo cáo tài chính mà doanh nghiệp kiểm toán sẽ
đưa ra ý kiến. Sự tồn tại và mức độ nghiêm trọng của nguy cơ phụ thuộc vào các
yếu tố như:
(1) Mức độ chủ quan khi xác định cách thức phù hợp để xử
lý kết quả hoặc hệ quả của ý kiến tư vấn về tài chính doanh nghiệp đến báo cáo
tài chính;
(2) Mức độ ảnh hưởng trực tiếp của kết quả ý kiến tư vấn
về tài chính doanh nghiệp đối với các số liệu được ghi nhận trong báo cáo tài
chính và mức độ trọng yếu của các số liệu đó đối với báo cáo tài
chính;
(3) Liệu hiệu quả của ý kiến tư vấn về tài chính doanh
nghiệp có phụ thuộc vào phương thức hạch toán kế toán hoặc việc trình bày trên
báo cáo tài chính, hay có nghi ngờ nào về sự phù hợp của phương thức hạch toán
kế toán hoặc trình bày báo cáo tài chính theo khuôn khổ về lập và trình bày báo
cáo tài chính có liên quan hay không.
Doanh nghiệp kiểm toán phải đánh giá mức độ nghiêm trọng
của bất kỳ nguy cơ nào và áp dụng các biện pháp bảo vệ cần thiết để loại trừ
hoặc làm giảm nguy cơ đó xuống mức có thể chấp nhận được. Ví dụ về các biện pháp
bảo vệ gồm:
(1) Sử dụng chuyên gia không phải là thành viên nhóm kiểm
toán để thực hiện dịch vụ; hoặc
(2) Cử chuyên gia không cung cấp dịch vụ tài chính doanh
nghiệp cho khách hàng để tư vấn cho nhóm kiểm toán về dịch vụ và soát xét phương
thức hạch toán kế toán và trình bày báo cáo tài
chính.
290.215 Nếu hiệu quả của ý kiến tư vấn về tài chính doanh
nghiệp có phụ thuộc vào phương thức hạch toán kế toán hoặc trình bày trên báo
cáo tài chính và:
(a) Nhóm kiểm toán có sự nghi ngờ về tính thích hợp của
phương thức hạch toán kế toán và trình bày báo cáo tài chính theo khuôn khổ về
lập và trình bày báo cáo tài chính có liên quan;
(b) Kết quả hoặc hệ quả của ý kiến tư vấn về tài chính
doanh nghiệp sẽ có ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài chính mà doanh nghiệp
kiểm toán sẽ đưa ra ý kiến,
thì nguy cơ tự kiểm tra sẽ nghiêm trọng đến mức không có
biện pháp bảo vệ nào có thể làm giảm nguy cơ đó xuống mức có thể chấp nhận được,
và trường hợp này doanh nghiệp kiểm toán không được cung cấp dịch vụ tư vấn về
tài chính doanh nghiệp cho khách hàng.
290.216 Việc cung cấp dịch vụ tài chính doanh nghiệp bao
gồm quảng bá, giao dịch hoặc bảo lãnh phát hành cổ phiếu của khách hàng kiểm
toán sẽ làm phát sinh nguy cơ về sự bào chữa hoặc nguy cơ tự kiểm tra nghiêm
trọng đến mức không có biện pháp bảo vệ nào có thể làm giảm nguy cơ đó xuống mức
có thể chấp nhận được. Trường hợp này, doanh nghiệp kiểm toán không được cung
cấp các dịch vụ đó cho khách hàng kiểm toán.
Phí
dịch vụ
Phí
dịch vụ lớn
290.217 Khi tổng mức phí dịch vụ từ một khách hàng kiểm
toán chiếm một phần lớn trong tổng doanh thu của doanh nghiệp kiểm toán, sự phụ
thuộc và mối lo ngại về việc mất khách hàng đó sẽ làm phát sinh nguy cơ do tư
lợi hoặc nguy cơ bị đe dọa. Mức độ nghiêm trọng của các nguy cơ đó phụ thuộc vào
các yếu tố như:
(1) Cơ cấu hoạt động của doanh nghiệp kiểm
toán;
(2) Liệu doanh nghiệp kiểm toán mới được thành lập hay đã
hoạt động ổn định;
(3) Tầm quan trọng của khách hàng đối với doanh nghiệp
kiểm toán, xét về mặt định lượng và/hoặc định tính.
Doanh nghiệp kiểm toán phải đánh giá mức độ nghiêm trọng
của nguy cơ và áp dụng các biện pháp bảo vệ cần thiết để loại trừ hoặc làm giảm
nguy cơ đó xuống mức có thể chấp nhận được. Ví dụ về các biện pháp bảo vệ
gồm:
(1) Giảm sự phụ thuộc vào khách
hàng;
(2) Soát xét kiểm soát chất lượng độc lập;
hoặc
(3) Tham khảo ý kiến tư vấn của bên thứ ba, như tổ chức
nghề nghiệp hoặc kiểm toán viên chuyên nghiệp về các xét đoán kiểm toán quan
trọng.
290.218 Nguy cơ do tư lợi hay nguy cơ bị đe dọa cũng có
thể phát sinh khi phí dịch vụ từ một khách hàng kiểm toán chiếm một phần lớn
trong tổng doanh thu từ các khách hàng của một thành viên Ban Giám đốc hoặc
chiếm một phần lớn trong tổng doanh thu của một chi nhánh doanh nghiệp kiểm
toán. Mức độ nghiêm trọng của nguy cơ đó phụ thuộc vào các yếu tố
như:
(1) Tầm quan trọng của khách hàng đối với thành viên Ban
Giám đốc hoặc chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán, xét về mặt định lượng và/hoặc
định tính;
(2) Mức độ thù lao của thành viên Ban Giám đốc, hoặc các
thành viên Ban Giám đốc chi nhánh phụ thuộc vào phí dịch vụ thu được từ khách
hàng.
Doanh nghiệp kiểm toán phải đánh giá mức độ nghiêm trọng
của nguy cơ và phải áp dụng các biện pháp bảo vệ cần thiết để loại trừ hoặc làm
giảm nguy cơ đó xuống mức có thể chấp nhận được. Ví dụ về các biện pháp bảo vệ
gồm:
(1) Giảm sự phụ thuộc vào khách hàng kiểm
toán;
(2) Cử một kiểm toán viên chuyên nghiệp khác soát xét lại
công việc hoặc tư vấn khi cần thiết; hoặc
(3) Thường xuyên soát xét nội bộ hoặc bên ngoài một cách
độc lập về chất lượng hợp đồng dịch vụ.
Khách hàng kiểm toán là đơn vị có lợi ích công
chúng
290.219 Nếu đơn vị có lợi ích công chúng là khách hàng
của doanh nghiệp kiểm toán trong hai năm liên tiếp có tổng mức phí dịch vụ từ
khách hàng này và các đơn vị có liên quan của khách hàng (đơn vị có liên quan
được quy định tại đoạn 290.27 Chuẩn mực này) chiếm hơn mức 15% tổng doanh thu
của doanh nghiệp kiểm toán, doanh nghiệp kiểm toán phải công bố với Ban quản trị
của khách hàng rằng tổng phí dịch vụ đó chiếm hơn mức 15% tổng doanh thu của
doanh nghiệp, và trao đổi về biện pháp bảo vệ nào sau đây sẽ được áp dụng để làm
giảm nguy cơ do tư lợi hay nguy cơ bị đe dọa xuống mức có thể chấp nhận được, và
phải áp dụng biện pháp bảo vệ được lựa chọn:
(1) Trước khi phát hành báo cáo kiểm toán về báo cáo tài
chính năm thứ hai, mời kiểm toán viên chuyên nghiệp không phải là nhân viên của
doanh nghiệp kiểm toán và không phải là thành viên nhóm kiểm toán, hoặc mời
tổ chức nghề nghiệp thực hiện soát xét độc lập cuộc kiểm toán đó tương đương với
việc chuyên gia độc lập soát xét việc kiểm soát chất lượng cuộc kiểm toán
(“soát xét trước phát hành”); hoặc
(2) Sau khi đã phát hành báo cáo kiểm toán về báo cáo tài
chính năm thứ hai, và trước khi phát hành báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính
năm thứ ba, cử kiểm toán viên chuyên nghiệp không phải là nhân viên của doanh
nghiệp kiểm toán và không phải là thành viên nhóm kiểm toán toán, hoặc mời tổ
chức nghề nghiệp thực hiện soát xét độc lập cuộc kiểm toán cho năm thứ hai tương
đương với việc chuyên gia độc lập soát xét kiểm soát chất lượng cuộc kiểm
toán (“soát xét sau phát hành”).
Nếu tổng mức phí dịch vụ cao hơn nhiều mức 15% trong tổng
doanh thu của doanh nghiệp, doanh nghiệp kiểm toán phải xác định liệu nguy cơ do
tư lợi hay nguy cơ bị đe dọa đó có nghiêm trọng đến mức việc soát xét sau phát
hành sẽ không làm giảm nguy cơ đó xuống mức có thể chấp nhận được nên phải soát
xét trước phát hành.
Sau đó, nếu mức phí dịch vụ mỗi năm tiếp tục vượt quá mức
15%, doanh nghiệp kiểm toán phải trình bày và thảo luận với Ban quản trị của
khách hàng và áp dụng một trong các biện pháp bảo vệ trên. Nếu mức phí dịch vụ
cao hơn nhiều mức 15%, doanh nghiệp kiểm toán phải xác định liệu nguy cơ do tư
lợi hay nguy cơ bị đe dọa đó có nghiêm trọng đến mức việc soát xét sau phát hành
không làm giảm nguy cơ đó xuống mức có thể chấp nhận được nên phải áp dụng việc
soát xét trước phát hành.
Phí
quá hạn
290.220 Nguy cơ do tư lợi có thể phát sinh nếu khách hàng
kiểm toán vẫn chưa thanh toán phí trong một thời gian dài, đặc biệt nếu không
thanh toán một phần lớn phí trước khi phát hành báo cáo kiểm toán cho năm tiếp
theo. Thông thường doanh nghiệp kiểm toán yêu cầu thanh toán phí trước khi phát
hành báo cáo kiểm toán. Nếu phí kiểm toán vẫn chưa được thanh toán sau khi đã
phát hành báo cáo kiểm toán, doanh nghiệp kiểm toán phải đánh giá sự tồn tại và
mức độ nghiêm trọng của bất kỳ nguy cơ nào và áp dụng các biện pháp bảo vệ cần
thiết để loại trừ hoặc làm giảm nguy cơ đó xuống mức có thể chấp nhận được. Ví
dụ về biện pháp bảo vệ là cử một kiểm toán viên chuyên nghiệp không tham gia
nhóm kiểm toán cho ý kiến tư vấn hoặc soát xét lại công việc đã thực hiện. Doanh
nghiệp kiểm toán phải xác định liệu phí quá hạn có thể được coi là tương đương
với một khoản cho khách hàng vay hay không, và liệu rằng do mức độ trọng yếu của
khoản phí quá hạn này thì doanh nghiệp kiểm toán có được tiếp tục cuộc kiểm toán
hoặc tái bổ nhiệm hay không.
Phí
tiềm tàng
290.221 Phí tiềm tàng là phí dịch vụ được xác định phụ
thuộc vào kết quả của giao dịch hoặc dịch vụ mà doanh nghiệp kiểm toán thực hiện
và dựa trên cơ sở được thỏa thuận trước. Trong Chương này, mức phí do tòa án
hoặc cơ quan có thẩm quyền khác ấn định không được coi là phí tiềm
tàng.
290.222 Phí tiềm tàng của một cuộc kiểm toán được doanh
nghiệp kiểm toán tính trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua một bên trung gian
phụ thuộc vào kết quả cuộc kiểm toán sẽ làm phát sinh nguy cơ do tư lợi
nghiêm trọng đến mức không có biện pháp bảo vệ nào có thể làm giảm nguy cơ đó
xuống mức có thể chấp nhận được. Do đó, doanh nghiệp kiểm toán không được ký kết
thỏa thuận phí kiểm toán theo cách tính phí tiềm
tàng.
290.223 Phí tiềm tàng của một dịch vụ phi đảm bảo cho một
khách hàng kiểm toán được doanh nghiệp kiểm toán tính trực tiếp hoặc gián tiếp
thông qua một bên trung gian cũng có thể làm phát sinh nguy cơ do tư lợi. Nguy
cơ phát sinh sẽ nghiêm trọng đến mức không có biện pháp bảo vệ nào có thể làm
giảm nguy cơ đó xuống mức có thể chấp nhận được
nếu:
(a) Phí do doanh nghiệp kiểm toán thực hiện kiểm toán báo
cáo tài chính tính và khoản phí này là trọng yếu hoặc dự kiến là trọng yếu đối
với doanh nghiệp kiểm toán đó;
(b) Phí do một công ty mạng lưới tham gia vào một phần
quan trọng của cuộc kiểm toán tính và khoản phí đó là trọng yếu hoặc dự kiến là
trọng yếu đối với công ty mạng lưới đó; hoặc
(c) Kết quả của dịch vụ phi đảm bảo và giá trị của khoản
phí phụ thuộc vào xét đoán hiện tại hoặc tương lai liên quan đến việc kiểm toán
một khoản mục trọng yếu trong báo cáo tài chính.
Trong những trường hợp này, doanh nghiệp kiểm toán không
được chấp nhận thỏa thuận tính phí tiềm
tàng.
290.224 Đối với các thỏa thuận tính phí tiềm tàng khác do
doanh nghiệp kiểm toán tính cho một dịch vụ phi đảm bảo cung cấp cho khách hàng
kiểm toán, sự tồn tại và mức độ nghiêm trọng của bất kỳ nguy cơ nào sẽ phụ thuộc
vào các yếu tố như:
(1)
Khoảng phí tiềm tàng (ví
dụ: phí và tỷ lệ % của kết quả);
(2)
Liệu có một cơ quan có thẩm quyền nào có quyền định đoạt kết quả của vấn đề mà
khoản phí tiềm tàng được tính dựa trên kết quả đó hay không;
(3)
Nội dung của dịch vụ;
(4)
Ảnh hưởng của sự kiện hoặc giao dịch đối với báo cáo tài chính.
Doanh
nghiệp kiểm toán phải đánh giá mức độ nghiêm trọng của bất kỳ nguy cơ nào và áp
dụng các biện pháp bảo vệ cần thiết để loại trừ hoặc làm giảm nguy cơ đó xuống
mức có thể chấp nhận được, ví dụ:
(1)
Cử kiểm toán viên chuyên nghiệp không tham gia nhóm cung cấp dịch vụ soát
xét công việc kiểm toán hoặc tư vấn khi cần thiết; hoặc
(2)
Sử dụng chuyên gia không phải là thành viên nhóm kiểm toán để thực hiện dịch vụ
phi đảm bảo.
Chính
sách đánh giá và thưởng
290.225 Nguy cơ do tư lợi phát sinh khi một thành viên
nhóm kiểm toán được đánh giá hoặc được thưởng cho việc ký kết các hợp đồng dịch
vụ phi đảm bảo cho khách hàng kiểm toán. Mức độ nghiêm trọng của nguy cơ phụ
thuộc vào:
(1) Tỷ trọng phần tiền thưởng hoặc đánh giá công việc của
cá nhân dựa vào việc ký kết các hợp đồng dịch vụ
đó;
(2) Vai trò của cá nhân trong nhóm kiểm
toán;
(3) Liệu quyết định thăng chức có chịu ảnh hưởng của việc
ký kết các hợp đồng dịch vụ đó hay không.
Doanh
nghiệp kiểm toán phải đánh giá mức độ nghiêm trọng của nguy cơ và nếu nguy cơ đó
ở mức không thể chấp nhận được, doanh nghiệp kiểm toán phải xem xét lại chính
sách đánh giá và thưởng đối với cá nhân đó hoặc áp dụng các biện pháp bảo vệ để
loại trừ hoặc làm giảm nguy cơ đó xuống mức có thể chấp nhận được, ví
dụ:
(1) Rút thành viên đó ra khỏi nhóm kiểm toán;
hoặc
(2) Cử kiểm toán viên chuyên nghiệp không tham gia
nhóm cung cấp dịch vụ soát xét công việc của thành viên
đó.
290.226 Doanh nghiệp kiểm toán không được đánh giá hoặc
thưởng cho thành viên có vai trò chủ chốt trong cuộc kiểm toán dựa vào thành
công của người đó trong việc ký kết hợp đồng dịch vụ phi đảm bảo cho khách hàng
kiểm toán. Điều này không nhằm làm hạn chế thỏa thuận chia sẻ lợi nhuận thông
thường giữa các thành viên Ban Giám đốc của doanh nghiệp kiểm
toán.
Quà
tặng và ưu đãi
290.227 Việc chấp nhận quà tặng hoặc ưu đãi từ một khách
hàng kiểm toán có thể làm phát sinh nguy cơ do tư lợi và nguy cơ từ sự quen
thuộc. Nếu một doanh nghiệp kiểm toán hoặc thành viên nhóm kiểm toán chấp nhận
quà tặng hoặc ưu đãi, trừ khi giá trị không đáng kể, các nguy cơ phát sinh sẽ
nghiêm trọng đến mức không có biện pháp bảo vệ nào có thể làm giảm nguy cơ đó
xuống mức có thể chấp nhận được. Do đó, doanh nghiệp kiểm toán hoặc thành viên
nhóm kiểm toán không được chấp nhận quà tặng hoặc ưu đãi
đó.
Tranh
chấp hoặc nguy cơ xảy ra tranh chấp pháp lý
290.228 Khi xảy ra hoặc có khả năng xảy ra kiện tụng,
tranh chấp giữa doanh nghiệp kiểm toán hoặc một thành viên nhóm kiểm toán với
khách hàng kiểm toán sẽ làm phát sinh nguy cơ do tư lợi và nguy cơ bị đe dọa.
Mối quan hệ giữa Ban Giám đốc của khách hàng và các thành viên nhóm kiểm toán
phải dựa trên nguyên tắc hoàn toàn vô tư và công khai về tất cả các mặt hoạt
động kinh doanh của khách hàng. Khi doanh nghiệp kiểm toán và Ban Giám đốc của
khách hàng rơi vào tình thế đối đầu do xảy ra kiện tụng, tranh chấp hoặc có nguy
cơ xảy ra kiện tụng, tranh chấp, ảnh hưởng đến việc Ban Giám đốc sẵn sàng công
khai đầy đủ các thông tin cần thiết thì sẽ làm phát sinh nguy cơ do tư lợi và
nguy cơ bị đe dọa. Mức độ nghiêm trọng của các nguy cơ phụ thuộc vào các yếu tố
như:
(1) Mức trọng yếu của vụ kiện tụng, tranh
chấp;
(2) Liệu vụ kiện tụng, tranh chấp có liên quan đến một
cuộc kiểm toán trước đây hay không.
Doanh nghiệp kiểm toán phải đánh giá mức độ nghiêm trọng
của các nguy cơ và áp dụng các biện pháp bảo vệ cần thiết để loại trừ hoặc làm
giảm các nguy cơ đó xuống mức có thể chấp nhận được, ví
dụ:
(1) Rút thành viên ra khỏi nhóm kiểm toán nếu vụ kiện
tụng, tranh chấp có liên quan đến thành viên đó;
hoặc
(2) Cử chuyên gia soát xét công việc đã được thực hiện
của nhóm cung cấp dịch vụ.
Nếu
các biện pháp bảo vệ không làm giảm các nguy cơ đó xuống mức có thể chấp nhận
được, biện pháp thích hợp duy nhất là rút khỏi hoặc từ chối cuộc kiểm
toán.
Báo
cáo kiểm toán có đoạn "Hạn chế việc cung cấp và sử dụng báo cáo"
Quy
định chung
290.500 Các yêu cầu về tính độc lập trong Chương 290 được
áp dụng cho tất cả các cuộc kiểm toán. Tuy nhiên, trong một số tình huống liên
quan đến cuộc kiểm toán dẫn đến báo cáo kiểm toán có đoạn "Hạn chế việc cung cấp
và sử dụng báo cáo", và đáp ứng các điều kiện quy định từ đoạn 290.501 - 290.502
Chương này, các yêu cầu về tính độc lập trong Chương này có thể được sửa đổi
theo quy định từ đoạn 290.505 - 290.514 Chương này. Các quy định này chỉ áp dụng
cho cuộc kiểm toán báo cáo tài chính cho mục đích đặc biệt: (i) Nhằm mục đích
đưa ra kết luận dạng khẳng định hoặc phủ định rằng báo cáo tài chính đã được
lập, trên các khía cạnh trọng yếu, phù hợp với khuôn khổ về lập và trình bày báo
cáo tài chính được áp dụng, kể cả trường hợp khuôn khổ về trình bày hợp lý, rằng
báo cáo tài chính đã phản ánh trung thực và hợp lý, trên các khía cạnh trọng
yếu, phù hợp với khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính được áp dụng;
và (ii) Khi báo cáo kiểm toán có đoạn "Hạn chế việc cung cấp và sử dụng báo
cáo". Việc sửa đổi là không được phép trong trường hợp cuộc kiểm toán báo cáo
tài chính được thực hiện theo yêu cầu của pháp luật và các quy định có liên
quan.
290.501 Các quy định của Chương 290 sẽ được phép sửa đổi
nếu người sử dụng báo cáo kiểm toán: (i) Biết được mục đích và sự hạn chế của
báo cáo; và (ii) Hoàn toàn đồng ý áp dụng sửa đổi các yêu cầu về tính độc lập.
Người sử dụng báo cáo có thể tìm hiểu về mục đích và hạn chế của báo cáo thông
qua việc tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp (thông qua người đại diện được ủy
quyền) vào việc xác định nội dung và phạm vi của cuộc kiểm toán. Sự tham gia đó
sẽ làm tăng khả năng trao đổi các vấn đề về tính độc lập giữa doanh nghiệp kiểm
toán và người sử dụng báo cáo, bao gồm các trường hợp có liên quan đến việc đánh
giá các nguy cơ đe dọa tính độc lập và các biện pháp bảo vệ cần thiết được áp
dụng để loại trừ hoặc làm giảm nguy cơ đó xuống mức có thể chấp nhận được và để
nhận được sự đồng ý của người sử dụng về việc áp dụng những sửa đổi đối với các
yêu cầu về tính độc lập.
290.502
Doanh nghiệp kiểm toán phải trao đổi (ví dụ, thể hiện trong hợp đồng kiểm toán)
với người sử dụng báo cáo về việc áp dụng các yêu cầu về tính độc lập trong việc
cung cấp dịch vụ kiểm toán. Nếu người sử dụng là một nhóm đối tượng (ví dụ, các
bên cho vay trong một thỏa thuận cho vay hợp vốn) chưa được nêu đích danh tại
thời điểm ký kết hợp đồng kiểm toán thì sau đó họ phải được người đại diện
nhóm thông báo về các yêu cầu về tính độc lập đã được thống nhất (ví dụ,
người đại diện nhóm cung cấp hợp đồng kiểm toán đã ký kết cho tất cả người sử
dụng).
290.503
Nếu
doanh nghiệp kiểm toán cũng phát hành một báo cáo kiểm toán không có đoạn "Hạn
chế việc cung cấp và sử dụng báo cáo" cho cùng một khách hàng kiểm toán đó, các
quy định từ đoạn 290.500 - 290.514 không làm thay đổi yêu cầu phải áp dụng các
quy định từ đoạn 290.1 - 290.228 Chương này cho cuộc kiểm toán đó.
290.504 Các quy định của Chương 290 Chuẩn mực này sẽ được
phép sửa đổi trong các tình huống cụ thể được trình bày tại đoạn từ 290.505 -
290.514 dưới đây. Ngoài ra, tất cả các điều khoản của Chương 290 vẫn phải được
tuân thủ.
Đơn
vị có lợi ích công chúng
290.505
Khi cuộc kiểm toán đáp ứng được các điều kiện quy định từ đoạn 290.500 - 290.502
nêu trên, thì không cần phải thực hiện các quy định áp dụng bổ sung cho cuộc
kiểm toán các đơn vị có lợi ích công chúng quy định từ đoạn 290.100 - 290.228
Chương này.
Các
bên liên quan
290.506
Khi cuộc kiểm toán đáp ứng được các điều kiện quy định từ đoạn 290.500 - 290.502
nêu trên, thì không cần phải đề cập đến các bên liên quan của khách hàng kiểm
toán. Tuy nhiên, khi nhóm kiểm toán biết hoặc có cơ sở để tin rằng một mối quan
hệ hoặc tình huống có liên quan đến bên liên quan của khách hàng là thích hợp
cho việc đánh giá tính độc lập của doanh nghiệp kiểm toán với khách hàng đó,
nhóm kiểm toán phải xem xét cả bên liên quan đó khi xác định và đánh giá các
nguy cơ đe dọa tính độc lập và áp dụng các biện pháp bảo vệ thích
hợp.
Mạng
lưới và các công ty mạng lưới
290.507
Khi cuộc kiểm toán đáp ứng được các điều kiện quy định từ đoạn 290.500 - 290.502
nêu trên, thì không cần phải đề cập đến các công ty mạng lưới. Tuy nhiên, khi
doanh nghiệp kiểm toán biết hoặc có cơ sở để tin rằng mối quan hệ hoặc lợi ích
của một công ty mạng lưới có thể làm phát sinh nguy cơ thì doanh nghiệp kiểm
toán phải xem xét các công ty mạng lưới khi đánh giá các nguy cơ đe dọa tính độc
lập.
Lợi
ích tài chính, các khoản vay và bảo lãnh, quan hệ kinh doanh mật thiết, quan hệ
cá nhân và gia đình gần gũi
290.508
Khi cuộc kiểm toán đáp ứng được các điều kiện quy định từ đoạn 290.500 - 290.502
nêu trên, thì các quy định có liên quan từ đoạn 290.102 - 290.143 Chương này chỉ
áp dụng cho các thành viên nhóm kiểm toán, thành viên có quan hệ gia đình trực
tiếp hoặc thành viên có quan hệ gia đình gần gũi của họ.
290.509
Ngoài ra, doanh nghiệp kiểm toán phải xác định liệu có nguy cơ đe dọa tính độc
lập phát sinh từ các lợi ích và mối quan hệ, theo quy định từ đoạn 290.102 -
290.143 Chương này, giữa khách hàng kiểm toán và các thành viên sau đây của nhóm
kiểm toán hay không:
(a) Người cung cấp ý kiến tư vấn về chuyên môn và các vấn
đề đặc thù ngành;
(b) Người cung cấp dịch vụ kiểm soát chất lượng, kể cả
người thực hiện soát xét kiểm soát chất lượng.
Nhóm
kiểm toán phải đánh giá mức độ nghiêm trọng của bất kỳ nguy cơ nào mà nhóm kiểm
toán có lý do tin rằng nguy cơ đó phát sinh là do những lợi ích và mối quan hệ
giữa khách hàng kiểm toán và các cá nhân khác trong doanh nghiệp kiểm toán -
những người có ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả của cuộc kiểm toán, kể cả người
đề xuất tiền thưởng, người trực tiếp giám sát, quản lý hoặc giám sát thành viên
Ban Giám đốc phụ trách tổng thể cuộc kiểm toán trong việc thực hiện hợp đồng
kiểm toán (gồm những người quản lý ở cấp cao hơn thành viên Ban Giám đốc phụ
trách tổng thể cuộc kiểm toán, ví dụ, thành viên Ban Giám đốc điều hành, hoặc
Tổng Giám đốc).
290.510
Nhóm kiểm toán phải đánh giá mức độ nghiêm trọng của bất kỳ nguy cơ nào mà nhóm
kiểm toán có cơ sở để tin rằng nguy cơ đó phát sinh là do lợi ích tài chính của
cá nhân trong khách hàng kiểm toán, như quy định từ đoạn 290.108 - 290.111 và từ
đoạn 290.113 - 290.115 Chương này.
290.511
Nếu nguy cơ đe dọa tính độc lập ở mức không chấp nhận được, doanh nghiệp kiểm
toán phải áp dụng các biện pháp bảo vệ để loại trừ hoặc làm giảm nguy cơ đó
xuống mức có thể chấp nhận được.
290.512
Khi áp dụng các quy định từ đoạn 290.106 - 290.115 Chương này liên quan đến lợi
ích của doanh nghiệp kiểm toán, nếu doanh nghiệp kiểm toán có lợi ích tài chính
trọng yếu, cho dù là trực tiếp hay gián tiếp trong khách hàng kiểm toán thì nguy
cơ do tư lợi phát sinh sẽ nghiêm trọng đến mức không có biện pháp bảo vệ nào có
thể làm giảm nguy cơ đó xuống mức có thể chấp nhận được. Do đó, doanh nghiệp
kiểm toán không được có lợi ích tài chính đó.
Làm
việc cho khách hàng kiểm toán
290.513
Doanh nghiệp kiểm toán phải đánh giá mức độ nghiêm trọng của bất kỳ nguy cơ nào
phát sinh từ mối quan hệ làm việc cho khách hàng kiểm toán theo quy định từ đoạn
290.132 - 290.136 Chương này. Khi phát sinh nguy cơ ở mức không chấp nhận được,
doanh nghiệp kiểm toán phải áp dụng các biện pháp bảo vệ để loại trừ hoặc làm
giảm nguy cơ đó xuống mức có thể chấp nhận được. Các biện pháp bảo vệ thích hợp
được trình bày tại đoạn 290.134 Chương này.
Cung
cấp dịch vụ phi đảm bảo cho khách hàng kiểm toán
290.514
Nếu doanh nghiệp kiểm toán thực hiện hợp đồng để phát hành một báo cáo có đoạn
"Hạn chế việc cung cấp và sử dụng báo cáo" cho một khách hàng kiểm toán và đồng
thời cung cấp dịch vụ phi đảm bảo cho khách hàng kiểm toán đó, thì theo các quy
định từ đoạn 290.504 - 290.507, doanh nghiệp kiểm toán phải tuân thủ các quy
định từ đoạn 290.154 - 290.228 Chương này.
CHƯƠNG 291 - Tính độc lập – Áp dụng cho các hợp đồng dịch
vụ đảm bảo
Cấu
trúc Chương
291.1
Chương này quy định các yêu cầu về tính độc lập đối với dịch vụ đảm bảo mà không
phải là dịch vụ kiểm toán hoặc dịch vụ soát xét (sau đây gọi là “dịch vụ đảm
bảo”). Yêu cầu về tính độc lập khi thực hiện dịch vụ kiểm toán hoặc dịch vụ
soát xét được quy định tại Chương 290 Chuẩn mực này. Nếu khách hàng sử dụng dịch
vụ đảm bảo cũng đồng thời là khách hàng sử dụng dịch vụ kiểm toán hoặc dịch vụ
soát xét, các quy định trong Chương 290 cũng sẽ được áp dụng cho doanh nghiệp
kiểm toán, công ty mạng lưới và các thành viên trong nhóm kiểm toán hoặc soát
xét. Trong một số dịch vụ đảm bảo mà báo cáo dịch vụ đảm bảo có đoạn “Hạn chế
việc cung cấp và sử dụng báo cáo” và thỏa mãn một số điều kiện cụ thể, các yêu
cầu về tính độc lập trong Chương này có thể được sửa đổi như quy định từ đoạn
291.21 - 291.27 dưới đây.
291.2 Dịch vụ đảm bảo được thiết kế nhằm tăng độ tin cậy
của đối tượng sử dụng về kết quả đánh giá hoặc đo lường đối tượng dịch vụ dựa
trên các tiêu chí nhất định. Khuôn khổ Việt Nam về hợp đồng dịch vụ đảm bảo quy
định các mục tiêu và yếu tố của dịch vụ đảm bảo và xác định các dịch vụ là đối
tượng áp dụng Chuẩn mực Việt Nam về hợp đồng dịch vụ đảm bảo (VSAEs). Xem quy
định và hướng dẫn chi tiết các mục tiêu và yếu tố của dịch vụ đảm bảo tại "Khuôn
khổ Việt Nam về hợp đồng dịch vụ đảm bảo".
291.3 Việc tuân thủ nguyên tắc đạo đức cơ bản về tính
khách quan yêu cầu sự độc lập với khách hàng sử dụng dịch vụ đảm bảo. Do dịch vụ
đảm bảo là dịch vụ phục vụ lợi ích của công chúng nên Chuẩn mực này yêu cầu các
thành viên nhóm thực hiện dịch vụ đảm bảo và doanh nghiệp kiểm toán phải độc lập
với khách hàng sử dụng dịch vụ đảm bảo, và phải đánh giá bất kỳ nguy cơ nào mà
doanh nghiệp kiểm toán có cơ sở để tin rằng sẽ phát sinh từ lợi ích và các mối
quan hệ của công ty mạng lưới. Khi nhóm thực hiện dịch vụ đảm bảo biết hoặc có
cơ sở để tin rằng một mối quan hệ hoặc tình huống nào đó có sự tham gia của một
bên liên quan của khách hàng có ảnh hưởng đến việc đánh giá tính độc lập của
doanh nghiệp kiểm toán đối với khách hàng đó, nhóm thực hiện dịch vụ đảm bảo
phải cân nhắc tới cả bên liên quan đó khi xác định và đánh giá các nguy cơ đe
dọa tính độc lập và khi áp dụng các biện pháp bảo vệ thích
hợp.
Phương
pháp tiếp cận tính độc lập dựa trên khuôn khổ
291.4
Mục tiêu của Chương này là nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp kiểm toán và thành viên
nhóm thực hiện dịch vụ đảm bảo trong việc áp dụng phương pháp tiếp cận tính độc
lập dựa trên khuôn khổ như quy định dưới đây nhằm đạt được và duy trì tính độc
lập.
291.5 Tính độc lập bao gồm:
(a) Độc lập về tư tưởng: Là trạng thái tư tưởng
cho phép đưa ra kết luận mà không chịu tác động của những yếu tố có ảnh hưởng
đến xét đoán chuyên môn, cho phép một cá nhân hành động một cách chính trực và
vận dụng được tính khách quan cũng như thái độ hoài nghi nghề nghiệp của
mình.
(b)
Độc lập về hình thức: Là việc cần tránh các sự kiện và tình huống nghiêm
trọng tới mức một bên thứ ba phù hợp và có đầy đủ thông tin, sau khi đánh giá sự
kiện và tình huống thực tế, có thể kết luận rằng tính chính trực, tính khách
quan và thái độ hoài nghi nghề nghiệp của doanh nghiệp kiểm toán hoặc thành viên
nhóm thực hiện dịch vụ đảm bảo đã bị ảnh hưởng.
291.6
Kiểm toán viên hành nghề phải áp dụng phương pháp tiếp cận tính độc lập dựa trên
khuôn khổ nhằm:
(a)
Xác định nguy cơ đe dọa tính độc lập;
(b)
Đánh giá mức độ nghiêm trọng của các nguy cơ đã được xác định;
(c)
Áp dụng các biện pháp bảo vệ (khi cần) để loại trừ hoặc làm giảm các nguy cơ
xuống mức có thể chấp nhận được.
Khi
kiểm toán viên hành nghề nhận thấy không có hoặc không thể áp dụng các biện pháp
bảo vệ thích hợp để loại trừ hoặc làm giảm các nguy cơ xuống mức có thể chấp
nhận được, họ phải loại bỏ những tình huống hoặc mối quan hệ làm phát sinh các
nguy cơ đó hoặc từ chối hay chấm dứt hợp đồng dịch vụ đảm bảo đó.
Kiểm
toán viên hành nghề phải sử dụng xét đoán chuyên môn khi áp dụng phương pháp
tiếp cận tính độc lập dựa trên khuôn khổ này.
291.7
Có nhiều tình huống hoặc nhóm các tình huống khác nhau có thể liên quan đến việc
đánh giá các nguy cơ đe dọa tính độc lập. Việc xác định tất cả các tình huống có
thể làm phát sinh nguy cơ đe dọa tính độc lập và đưa ra những biện pháp bảo vệ
thích hợp là điều không thể. Vì vậy, Chuẩn mực này đã xây dựng một khuôn khổ
trong đó yêu cầu các doanh nghiệp kiểm toán và thành viên nhóm thực hiện dịch vụ
đảm bảo phải xác định, đánh giá và khắc phục các nguy cơ đe dọa tính độc lập.
Phương pháp tiếp cận dựa trên khuôn khổ hỗ trợ kiểm toán viên hành nghề trong
việc tuân thủ các yêu cầu về đạo đức nghề nghiệp của Chuẩn mực này. Chuẩn mực
này đưa ra nhiều tình huống có thể làm phát sinh nguy cơ đe dọa tính độc lập và
không cho phép kiểm toán viên hành nghề kết luận rằng tình huống đó là được phép
nếu khi tình huống đó không bị cấm một cách cụ thể.
291.8 Các đoạn từ 291.100 đến 291.157 Chuẩn mực
này hướng dẫn việc áp dụng phương pháp tiếp cận tính độc lập dựa trên khuôn
khổ. Các đoạn này không hướng dẫn tất cả các tình huống cũng như các mối quan hệ
làm phát sinh hoặc có thể làm phát sinh nguy cơ đe dọa tính độc
lập.
291.9 Khi quyết định liệu có chấp nhận hoặc duy trì hợp
đồng dịch vụ, hoặc có phân công một cá nhân tham gia thành viên nhóm thực hiện
dịch vụ đảm bảo hay không, doanh nghiệp kiểm toán phải xác định và đánh giá các
nguy cơ đe dọa tính độc lập. Nếu nguy cơ không ở mức có thể chấp nhận được, và
để doanh nghiệp kiểm toán quyết định liệu có chấp nhận hợp đồng dịch vụ hoặc
quyết định phân công một cá nhân tham gia thành viên nhóm thực hiện dịch vụ đảm
bảo hay không, doanh nghiệp kiểm toán phải xác định liệu có biện pháp bảo vệ nào
để loại trừ hoặc làm giảm các nguy cơ đó xuống mức có thể chấp nhận được hay
không. Khi cân nhắc quyết định tiếp tục duy trì hợp đồng dịch vụ, doanh nghiệp
kiểm toán phải xác định liệu các biện pháp bảo vệ hiện tại có hiệu quả để loại
trừ hoặc làm giảm các nguy cơ đó xuống mức có thể chấp nhận được hay không; hoặc
cần phải áp dụng các biện pháp bảo vệ khác; hoặc phải chấm dứt hợp đồng dịch vụ
đó. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, nếu xuất hiện thông tin mới về nguy cơ
đe dọa tính độc lập, doanh nghiệp kiểm toán phải đánh giá mức độ nghiêm trọng
của nguy cơ đó theo phương pháp tiếp cận dựa trên khuôn khổ quy định tại
Chuẩn mực này.
291.10 Mức độ nghiêm trọng của các nguy cơ đe dọa tính
độc lập được quy định trong suốt Chương này. Các yếu tố định tính và định lượng
đều phải được xem xét trong quá trình đánh giá mức độ nghiêm trọng của nguy
cơ.
291.11 Trong hầu hết
các trường hợp, Chương này không mô tả trách nhiệm cụ thể của các cá nhân trong
doanh nghiệp kiểm toán đối với các hành động liên quan đến tính độc lập vì trách
nhiệm này có thể khác biệt, tùy thuộc vào quy mô, cấu trúc và tổ chức của doanh
nghiệp kiểm toán. Theo yêu cầu của Chuẩn mực kiểm soát chất lượng số 1, doanh
nghiệp kiểm toán phải xây dựng các chính sách và thủ tục để có sự đảm bảo hợp lý
rằng tính độc lập được duy trì theo yêu cầu của Chuẩn mực này.
Hợp
đồng dịch vụ đảm bảo
291.12 Theo quy định tại "Khuôn khổ Việt Nam về hợp đồng
dịch vụ đảm bảo", trong hợp đồng dịch vụ đảm bảo, kiểm toán viên hành nghề đưa
ra kết luận nhằm làm tăng độ tin cậy cho đối tượng sử dụng (không phải là bên
chịu trách nhiệm) về kết quả đánh giá hoặc đo lường đối tượng dịch vụ đảm bảo
dựa trên các tiêu chí.
291.13
Kết quả đánh giá hoặc đo lường đối tượng dịch vụ đảm bảo là thông tin có được từ
việc áp dụng các tiêu chí đối với đối tượng dịch vụ đảm bảo. Thuật ngữ “thông
tin về đối tượng dịch vụ đảm bảo” được hiểu là kết quả đánh giá hoặc đo lường
đối tượng dịch vụ đảm bảo. Ví dụ, khuôn khổ chỉ ra rằng sự xác nhận về tính hiệu
quả của kiểm soát nội bộ (thông tin về đối tượng dịch vụ đảm bảo) là kết quả của
việc áp dụng khuôn khổ đánh giá tính hiệu quả của kiểm soát nội bộ, chẳng hạn
như COSO (“Internal control – Intergrated Framework”, The Committee of
Sponsoring Organizations of the Treadway Commission - “Kiểm soát nội bộ – Khuôn
khổ tích hợp”, Ủy ban thuộc Hội đồng quốc gia Hoa Kỳ về chống gian lận khi lập
báo cáo tài chính), hoặc CoCo (“Guidance on Asscessing Control – The CoCo
Principles” Criteria of Control Board, The Canadian Institute of Chartered
Accountants - “Hướng dẫn đánh giá kiểm soát – Các nguyên tắc CoCo” Ủy ban kiểm
soát, Hiệp hội Kế toán viên công chứng Ca-na-đa -”) (tiêu chí), đối với hệ
thống kiểm soát nội bộ với vai trò là một quy trình (đối tượng dịch vụ đảm
bảo).
291.14 Hợp đồng dịch vụ đảm bảo có hai loại: (i) Hợp đồng
dịch vụ đảm bảo chứng thực, và (ii) Hợp đồng dịch vụ đảm bảo trực tiếp. Cả hai
trường hợp đều có sự tham gia của ba bên: kiểm toán viên hành nghề; bên chịu
trách nhiệm; và đối tượng sử dụng.
291.15 Trong hợp đồng dịch vụ đảm bảo chứng thực, việc
đánh giá hoặc đo lường đối tượng dịch vụ được thực hiện bởi bên chịu trách
nhiệm, và thông tin về đối tượng dịch vụ đảm bảo được thể hiện dưới hình thức
khẳng định của bên chịu trách nhiệm và được công bố cho đối tượng sử
dụng.
291.16 Trong hợp đồng dịch vụ đảm bảo trực tiếp, kiểm
toán viên hành nghề có thể trực tiếp thực hiện việc đánh giá, đo lường đối tượng
dịch vụ đảm bảo, hoặc thu thập giải trình từ bên chịu trách nhiệm về việc đánh
giá hoặc đo lường mà kết quả đánh giá hoặc đo lường đó không công bố cho đối
tượng sử dụng. Thông tin về đối tượng dịch vụ đảm bảo được cung cấp cho đối
tượng sử dụng trong báo cáo dịch vụ đảm bảo.
Hợp
đồng dịch vụ đảm bảo chứng thực
291.17
Trong hợp đồng dịch vụ đảm bảo chứng thực, thành viên nhóm thực hiện dịch vụ đảm
bảo và doanh nghiệp kiểm toán phải độc lập với khách hàng (bên chịu trách nhiệm
đối với thông tin về đối tượng dịch vụ đảm bảo, và có thể đối với cả đối tượng
dịch vụ đảm bảo). Các yêu cầu về tính độc lập này không cho phép một số mối quan
hệ nhất định giữa thành viên nhóm thực hiện dịch vụ đảm bảo với: (i) Giám đốc
hoặc nhân sự cấp cao, và (ii) Các cá nhân ở khách hàng nắm giữ những vị trí có
thể gây ảnh hưởng lớn đến thông tin về đối tượng dịch vụ đảm bảo. Kiểm toán
viên hành nghề phải đánh giá liệu các nguy cơ đe dọa tính độc lập có phát
sinh bởi mối quan hệ với các cá nhân ở khách hàng nắm giữ những vị trí có thể
gây ảnh hưởng lớn đến thông tin về đối tượng dịch vụ đảm bảo hay không. Doanh
nghiệp kiểm toán phải đánh giá mức độ nghiêm trọng của các nguy cơ mà họ có cơ
sở để tin rằng nguy cơ đó phát sinh do lợi ích và các mối quan hệ của công ty
mạng lưới (xem hướng dẫn từ đoạn 290.13 - 290.24 Chuẩn mực này).
291.18 Trong phần lớn các hợp đồng dịch vụ đảm bảo chứng
thực, bên chịu trách nhiệm phải chịu trách nhiệm đối với cả thông tin về đối
tượng dịch vụ đảm bảo và đối tượng dịch vụ đảm bảo. Tuy nhiên, trong một số hợp
đồng dịch vụ, bên chịu trách nhiệm có thể không phải chịu trách nhiệm về đối
tượng dịch vụ đảm bảo. Ví dụ, khi một kiểm toán viên hành nghề thực hiện hợp
đồng dịch vụ đảm bảo liên quan đến báo cáo do chuyên gia tư vấn môi trường lập
về các khả năng phát triển bền vững của công ty để gửi cho các đối tượng sử
dụng, thì chuyên gia tư vấn môi trường là bên chịu trách nhiệm đối với thông tin
về đối tượng dịch vụ đảm bảo, còn công ty phải chịu trách nhiệm về đối tượng
dịch vụ đảm bảo (các khả năng phát triển bền vững).
291.19 Trong hợp đồng dịch vụ đảm bảo chứng thực mà bên
chịu trách nhiệm chỉ chịu trách nhiệm đối với thông tin về đối tượng dịch vụ đảm
bảo chứ không chịu trách nhiệm về đối tượng dịch vụ đảm bảo, thành viên nhóm
thực hiện dịch vụ đảm bảo và doanh nghiệp kiểm toán phải độc lập với bên chịu
trách nhiệm đối với thông tin về đối tượng dịch vụ đảm bảo (khách hàng sử dụng
dịch vụ đảm bảo). Ngoài ra, doanh nghiệp kiểm toán phải đánh giá bất kỳ nguy cơ
nào mà họ có cơ sở để tin rằng nguy cơ đó phát sinh do lợi ích và mối quan hệ
giữa thành viên nhóm thực hiện dịch vụ đảm bảo, doanh nghiệp kiểm toán, công ty
mạng lưới và bên chịu trách nhiệm về đối tượng dịch vụ đảm
bảo.
Hợp
đồng dịch vụ đảm bảo trực tiếp
291.20
Trong hợp đồng dịch vụ đảm bảo trực tiếp, thành viên nhóm thực hiện dịch vụ đảm
bảo và doanh nghiệp kiểm toán phải độc lập với khách hàng sử dụng dịch vụ đảm
bảo (bên chịu trách nhiệm đối với đối tượng dịch vụ đảm bảo). Doanh nghiệp kiểm
toán phải đánh giá bất kỳ nguy cơ nào mà họ có cơ sở để tin rằng nguy cơ đó phát
sinh do lợi ích và mối quan hệ của công ty mạng lưới.
Báo
cáo có đoạn "Hạn chế việc cung cấp và sử dụng báo cáo"
291.21 Trong một số tình huống khi báo cáo đảm bảo có
đoạn "Hạn chế việc cung cấp và sử dụng báo cáo", và đáp ứng các điều kiện
quy định trong đoạn này và đoạn 291.22 dưới đây, các yêu cầu về tính độc lập
trong Chương này có thể được sửa đổi. Việc sửa đổi yêu cầu quy định tại Chương
291 chỉ được phép nếu người sử dụng báo cáo dịch vụ đảm bảo: (i) Biết được mục
đích, thông tin về đối tượng dịch vụ đảm bảo và những hạn chế của báo cáo, và
(ii) Hoàn toàn đồng ý áp dụng sửa đổi các yêu cầu về tính độc lập. Người sử dụng
báo cáo có thể thu thập được các hiểu biết về mục đích, thông tin của đối tượng
dịch vụ đảm bảo và hạn chế của báo cáo bằng việc tham gia trực tiếp hoặc gián
tiếp (qua người đại diện được ủy quyền), vào việc xác định nội dung và phạm vi
của dịch vụ đảm bảo. Sự tham gia đó sẽ làm tăng khả năng trao đổi các vấn đề về
tính độc lập giữa doanh nghiệp kiểm toán và người sử dụng báo cáo, bao gồm các
trường hợp có liên quan đến việc đánh giá các nguy cơ đe dọa tính độc lập và các
biện pháp bảo vệ cần thiết được áp dụng để loại trừ hoặc làm giảm nguy cơ đó
xuống mức có thể chấp nhận được, và để nhận được sự đồng ý của người sử dụng về
việc áp dụng các sửa đổi đối với yêu cầu về tính độc
lập.
291.22 Doanh nghiệp kiểm toán phải trao đổi (ví dụ thể
hiện trong hợp đồng dịch vụ đảm bảo) với người sử dụng báo cáo về việc áp dụng
các yêu cầu về tính độc lập trong việc cung cấp dịch vụ đảm bảo. Nếu người sử
dụng là một nhóm đối tượng (ví dụ, các bên cho vay trong một thỏa thuận cho vay
hợp vốn) chưa được nêu đích danh tại thời điểm ký kết hợp đồng dịch vụ đảm bảo
thì sau đó họ phải được người đại diện nhóm thông báo về các yêu cầu về tính độc
lập đã được thống nhất (ví dụ, người đại diện nhóm sẽ công bố hợp đồng dịch
vụ đã ký kết cho tất cả người sử dụng còn lại).
291.23 Nếu doanh nghiệp kiểm toán cũng phát hành một báo
cáo dịch vụ đảm bảo không có đoạn "Hạn chế việc cung cấp và sử dụng báo cáo"
cho cùng một khách hàng dịch vụ đảm bảo đó, các quy định từ đoạn 291.25 -
291.27 không làm thay đổi yêu cầu phải áp dụng các quy định từ đoạn 291.1 -
291.157 Chuẩn mực này cho hợp đồng dịch vụ đảm bảo đó. Nếu doanh nghiệp kiểm
toán cũng phát hành báo cáo kiểm toán cho khách hàng này, dù báo cáo kiểm toán
có hay không có đoạn "Hạn chế việc cung cấp và sử dụng báo cáo", thì vẫn
phải áp dụng các quy định của Chương 290 cho cuộc kiểm
toán.
291.24 Các yêu cầu về tính độc lập trong Chương 291 sẽ
được phép sửa đổi trong các tình huống cụ thể được trình bày từ đoạn 291.25 -
291.27 sau đây. Ngoài ra, các điều khoản của Chương 291 Chuẩn mực này vẫn phải
được tuân thủ.
291.25 Khi hợp đồng dịch vụ đảm bảo đáp ứng được các điều
kiện quy định từ đoạn 291.21 - 291.22 thì các quy định có liên quan từ đoạn
291.104 - 291.132 Chuẩn mực này được áp dụng cho các thành viên nhóm thực hiện
dịch vụ đảm bảo và thành viên có quan hệ gia đình trực tiếp và gần gũi của họ.
Ngoài ra, doanh nghiệp kiểm toán phải xác định liệu các nguy cơ đe dọa tính độc
lập có phát sinh từ lợi ích và mối quan hệ giữa khách hàng và các thành viên
dưới đây của nhóm thực hiện dịch vụ đảm bảo hay
không:
(a) Người cung cấp ý kiến tư vấn về chuyên môn và các vấn
đề đặc thù ngành;
(b) Người cung cấp dịch vụ kiểm soát chất lượng, kể cả
người thực hiện soát xét kiểm soát chất lượng.
Nhóm thực hiện dịch vụ đảm bảo phải đánh giá, trên cơ sở
xem xét các quy định từ đoạn 291.104 - 291.132 Chuẩn mực này, các nguy cơ mà
nhóm thực hiện dịch vụ đảm bảo có cơ sở để tin rằng nguy cơ đó phát sinh do lợi
ích và mối quan hệ giữa khách hàng sử dụng dịch vụ đảm bảo và các cá nhân khác
trong doanh nghiệp kiểm toán - những người có ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả
của dịch vụ đảm bảo, kể cả người đề xuất tiền thưởng, hoặc trực tiếp giám sát,
kể cả sự giám sát của thành viên Ban Giám đốc phụ trách tổng thể hợp đồng dịch
vụ đảm bảo.
291.26
Khi hợp đồng dịch vụ đảm bảo đáp ứng các điều kiện quy định tại đoạn 291.21 -
291.22 nêu trên, nếu doanh nghiệp kiểm toán có lợi ích tài chính trọng yếu, cho
dù là trực tiếp hay gián tiếp, trong khách hàng sử dụng dịch vụ đảm bảo thì nguy
cơ do tư lợi phát sinh sẽ nghiêm trọng đến mức không có biện pháp bảo vệ nào có
thể làm giảm nguy cơ đó xuống mức có thể chấp nhận được. Do đó, doanh nghiệp
kiểm toán không được có lợi ích tài chính đó. Ngoài ra, doanh nghiệp kiểm toán
phải tuân thủ các quy định khác từ đoạn 291.112 - 291.157 Chương
này.
291.27 Doanh nghiệp kiểm toán phải đánh giá các nguy cơ
mà họ có cơ sở để tin rằng nguy cơ đó phát sinh do lợi ích hoặc mối quan hệ của
công ty mạng lưới.
Các
bên chịu trách nhiệm liên đới
291.28 Trong một số hợp đồng dịch vụ đảm bảo, dù là dịch
vụ đảm bảo chứng thực hay dịch vụ đảm bảo trực tiếp, có thể sẽ có một vài bên
chịu trách nhiệm. Khi xác định liệu có cần áp dụng các quy định trong Chương này
đối với từng bên chịu trách nhiệm hay không, doanh nghiệp kiểm toán có thể cân
nhắc liệu lợi ích hay mối quan hệ giữa bản thân doanh nghiệp hoặc thành viên
nhóm thực hiện dịch vụ đảm bảo với một bên chịu trách nhiệm cụ thể có làm phát
sinh nguy cơ ảnh hưởng đáng kể tới thông tin về đối tượng dịch vụ đảm bảo hay
không. Theo đó, một số yếu tố cần được xem xét:
(1)
Tính trọng yếu của thông tin về đối tượng dịch vụ đảm bảo (hoặc của đối tượng
dịch vụ đảm bảo) thuộc trách nhiệm của bên chịu trách nhiệm cụ thể
đó;
(2) Mức độ lợi ích công chúng liên quan đến dịch vụ đảm
bảo.
Nếu doanh nghiệp kiểm toán xác định rằng nguy cơ đe dọa
tính độc lập phát sinh từ những lợi ích hoặc mối quan hệ với bên chịu trách
nhiệm cụ thể là không đáng kể, doanh nghiệp kiểm toán có thể không cần áp dụng
tất cả các quy định trong Chương này đối với bên chịu trách nhiệm
đó.
Tài
liệu, hồ sơ
291.29
Các tài liệu, hồ sơ cung cấp bằng chứng làm cơ sở đưa ra kết luận của kiểm toán
viên hành nghề liên quan đến việc tuân thủ các yêu cầu về tính độc lập. Việc
thiếu tài liệu, hồ sơ không phải là yếu tố quyết định liệu doanh nghiệp kiểm
toán đã cân nhắc một vấn đề cụ thể hay chưa hoặc liệu doanh nghiệp kiểm toán có
độc lập hay không.
Kiểm
toán viên hành nghề phải ghi chép lại các kết luận về việc tuân thủ các yêu cầu
về tính độc lập, cũng như nội dung các thảo luận liên quan làm căn cứ đưa ra kết
luận này. Theo đó:
a)
Khi biện pháp bảo vệ là cần thiết để làm giảm các nguy cơ xuống mức có thể chấp
nhận được, kiểm toán viên hành nghề phải ghi chép lại bản chất của nguy cơ và
các biện pháp bảo vệ đã được áp dụng;
b)
Khi các nguy cơ cần phải được phân tích một cách tỉ mỉ và kỹ càng để xác định
liệu có cần các biện pháp bảo vệ hay không và kiểm toán viên hành nghề kết luận
rằng không cần các biện pháp bảo vệ do các nguy cơ đã ở mức có thể chấp nhận
được, kiểm toán viên hành nghề phải ghi chép lại bản chất của các nguy cơ và cơ
sở để đưa ra kết luận.
Thời
gian thực hiện hợp đồng dịch vụ
291.30
Kiểm toán viên hành nghề cần phải độc lập với khách hàng sử dụng dịch vụ đảm bảo
trong suốt thời gian thực hiện hợp đồng dịch vụ và giai đoạn của thông tin về
đối tượng dịch vụ đảm bảo. Thời gian thực hiện hợp đồng dịch vụ được tính từ khi
nhóm thực hiện dịch vụ đảm bảo bắt đầu thực hiện công việc cho đến khi báo cáo
dịch vụ đảm bảo được phát hành. Nếu dịch vụ được cung cấp cho nhiều kỳ báo cáo,
thời gian thực hiện hợp đồng dịch vụ sẽ kết thúc vào ngày một trong hai bên
thông báo kết thúc hợp đồng hoặc ngày phát hành báo cáo cuối cùng, tùy theo ngày
nào muộn hơn.
291.31 Khi một đơn vị trở thành khách hàng sử dụng dịch
vụ đảm bảo trong hoặc sau giai đoạn của thông tin về đối tượng dịch vụ đảm bảo
và doanh nghiệp kiểm toán cần đưa ra kết luận, doanh nghiệp kiểm toán phải xác
định liệu có nguy cơ đe dọa tính độc lập phát sinh
từ:
(a) Các mối quan hệ về tài chính hoặc kinh doanh với các
khách hàng sử dụng dịch vụ đảm bảo trong hoặc sau giai đoạn của thông tin về đối
tượng dịch vụ đảm bảo nhưng trước khi chấp thuận cung cấp dịch vụ đảm bảo;
hoặc
(b) Các dịch vụ đã
cung cấp trước đó cho khách hàng sử dụng dịch vụ đảm
bảo.
291.32 Nếu doanh nghiệp kiểm toán đã cung cấp dịch vụ phi
đảm bảo cho khách hàng trong hoặc sau giai đoạn của thông tin về đối tượng dịch
vụ đảm bảo nhưng trước khi nhóm thực hiện dịch vụ đảm bảo bắt đầu thực hiện và
dịch vụ phi đảm bảo đó không được phép thực hiện trong thời gian cung cấp dịch
vụ đảm bảo, thì doanh nghiệp kiểm toán phải đánh giá các nguy cơ đe dọa tính độc
lập phát sinh từ việc cung cấp dịch vụ phi đảm bảo này. Nếu nguy cơ không ở mức
có thể chấp nhận được, thì chỉ được chấp thuận hợp đồng dịch vụ đảm bảo nếu các
biện pháp bảo vệ đã được áp dụng nhằm loại trừ hoặc làm giảm nguy cơ đó xuống
mức có thể chấp nhận được. Ví dụ về các biện pháp bảo vệ
gồm:
(1) Không đưa nhân viên thực hiện dịch vụ phi đảm bảo vào
nhóm thực hiện dịch vụ đảm bảo;
(2) Cử kiểm toán viên chuyên nghiệp không tham gia nhóm
thực hiện dịch vụ rà soát lại công việc của nhóm thực hiện dịch vụ đảm bảo và
nhóm thực hiện dịch vụ phi đảm bảo; hoặc
(3)
Thuê doanh nghiệp kiểm toán khác đánh giá kết quả công việc của nhóm thực hiện
dịch vụ phi đảm bảo hoặc thực hiện lại dịch vụ phi đảm bảo trong phạm vi thích
hợp đủ để đơn vị đó chịu trách nhiệm về dịch vụ được cung cấp.
Tuy nhiên, nếu dịch vụ phi đảm bảo chưa được hoàn thành
và việc hoàn thành hoặc chấm dứt dịch vụ trước khi bắt đầu thực hiện dịch vụ đảm
bảo là không khả thi, thì doanh nghiệp kiểm toán chỉ được chấp thuận dịch vụ đảm
bảo nếu:
(a) Dịch vụ phi đảm bảo sẽ được hoàn thành trong khoảng
thời gian ngắn sau đó; hoặc
(b) Khách hàng đã thu xếp để chuyển sang sử dụng dịch vụ
phi đảm bảo của doanh nghiệp kiểm toán khác trong khoảng thời gian ngắn sau
đó.
Trong suốt thời gian thực hiện dịch vụ phi đảm bảo, các
biện pháp bảo vệ phải được áp dụng khi cần thiết. Ngoài ra, vấn đề này cũng phải
được thảo luận với Ban quản trị của khách hàng sử dụng dịch vụ đảm
bảo.
Vi
phạm quy định của Chương 291 Chuẩn mực này
291.33 Khi doanh nghiệp kiểm toán kết luận rằng các quy
định của Chương này đã bị vi phạm, doanh nghiệp kiểm toán phải chấm dứt, tạm
ngừng hoặc loại bỏ lợi ích hoặc mối quan hệ là nguyên nhân dẫn đến vi phạm các
quy định và phải đánh giá mức độ nghiêm trọng của vi phạm, ảnh hưởng của vi phạm
đến tính khách quan của doanh nghiệp kiểm toán và khả năng phát hành báo cáo
dịch vụ đảm bảo. Doanh nghiệp kiểm toán phải xác định liệu có biện pháp nào để
có thể xử lý thỏa đáng hậu quả của vi phạm hay không. Doanh nghiệp kiểm toán
phải sử dụng xét đoán chuyên môn và xem xét liệu một bên thứ ba phù hợp và có
đầy đủ thông tin, sau khi xem xét mức độ nghiêm trọng của vi phạm, biện pháp xử
lý được thực hiện và tất cả các sự kiện và tình huống có sẵn cho kiểm toán viên
hành nghề tại thời điểm đó, có thể kết luận rằng tính khách quan của doanh
nghiệp kiểm toán sẽ bị ảnh hưởng và do đó doanh nghiệp kiểm toán không thể phát
hành báo cáo dịch vụ đảm bảo hay không.
291.34 Nếu xác định
rằng không có biện pháp nào có thể xử lý thỏa đáng hậu quả của vi phạm, thì
doanh nghiệp kiểm toán phải thông báo ngay khi có thể với bên thuê doanh nghiệp
kiểm toán hoặc Ban quản trị đơn vị được cung cấp dịch vụ đảm bảo và thực
hiện các biện pháp cần thiết để chấm dứt hợp đồng dịch vụ đảm bảo theo pháp luật
và các quy định có liên quan đến việc chấm dứt hợp đồng dịch vụ đảm
bảo.
291.35
Nếu xác định được biện pháp có thể xử lý thỏa đáng hậu quả của vi phạm, thì
doanh nghiệp kiểm toán phải trao đổi với bên thuê doanh nghiệp kiểm toán hoặc
Ban quản trị đơn vị được cung cấp dịch vụ đảm bảo về vi phạm và biện pháp
xử lý mà doanh nghiệp kiểm toán đã thực hiện hoặc đề xuất thực hiện. Việc trao
đổi đó phải được thực hiện kịp thời, và có tính đến hoàn cảnh cụ thể của hợp
đồng dịch vụ và vi phạm.
291.36 Nếu bên thuê doanh nghiệp kiểm toán hoặc Ban quản
trị đơn vị được cung cấp dịch vụ đảm bảo không đồng ý rằng biện pháp
mà doanh nghiệp kiểm toán đã thực hiện hoặc đề xuất thực hiện có thể xử
lý thỏa đáng hậu quả của vi phạm, thì doanh nghiệp kiểm toán phải thực hiện các
thủ tục cần thiết để chấm dứt hợp đồng dịch vụ đảm bảo theo pháp luật và các quy
định có liên quan đến việc chấm dứt hợp đồng dịch vụ đảm
bảo.
291.37 Doanh nghiệp kiểm toán phải lưu lại tài liệu, hồ
sơ về vi phạm, biện pháp xử lý đã thực hiện, các quyết định quan trọng đã đưa ra
và tất cả những vấn đề trao đổi với bên thuê doanh nghiệp kiểm toán hoặc Ban
quản trị đơn vị được cung cấp dịch vụ đảm bảo. Nếu quyết định tiếp tục
thực hiện hợp đồng dịch vụ đảm bảo, doanh nghiệp kiểm toán cũng phải lưu lại tài
liệu, hồ sơ kết luận, dựa trên xét đoán chuyên môn, rằng tính khách quan không
bị ảnh hưởng bởi vi phạm và giải thích lý do, biện pháp được thực hiện đã xử lý
thỏa đáng hậu quả vi phạm, và do đó doanh nghiệp kiểm toán có thể phát hành báo
cáo dịch vụ đảm bảo.
Áp
dụng phương pháp tiếp cận tính độc lập dựa trên khuôn khổ
291.100 Các đoạn từ 291.104 - 291.157 Chương này quy định
và hướng dẫn các tình huống, trường hợp cụ thể có thể làm phát sinh nguy cơ đe
dọa tính độc lập; các nguy cơ tiềm tàng và biện pháp bảo vệ thích hợp để loại
trừ hoặc làm giảm nguy cơ đó xuống mức có thể chấp nhận được; chỉ ra các tình
huống cụ thể mà không biện pháp bảo vệ nào có thể làm giảm nguy cơ đó xuống mức
có thể chấp nhận được. Khó có thể hướng dẫn tất cả các tình huống và trường hợp
làm phát sinh nguy cơ đe dọa tính độc lập. Doanh nghiệp kiểm toán và các thành
viên nhóm thực hiện dịch vụ đảm bảo phải đánh giá tác động của các tình huống và
mối quan hệ tương tự, và xác định liệu các biện pháp bảo vệ, bao gồm các biện
pháp quy định từ đoạn 200.11 - 200.14 Chuẩn mực này, có thể được áp dụng khi cần
thiết để loại trừ hoặc làm giảm nguy cơ đe dọa tính độc lập đó xuống mức có thể
chấp nhận được hay không.
291.101 Các đoạn sau mô tả cách thức áp dụng phương pháp
tiếp cận dựa trên khuôn khổ đối với hợp đồng dịch vụ đảm bảo và cần được đọc
cùng với đoạn 291.28 Chương này, trong đó giải thích rằng, trong phần lớn các
hợp đồng dịch vụ đảm bảo, thường chỉ có một bên chịu trách nhiệm và bên chịu
trách nhiệm đó là khách hàng sử dụng dịch vụ đảm bảo. Tuy nhiên, trong một vài
trường hợp có thể có nhiều hơn một bên chịu trách nhiệm. Khi đó, doanh nghiệp
kiểm toán phải đánh giá các nguy cơ khiến doanh nghiệp có cơ sở để tin rằng nguy
cơ đó phát sinh từ lợi ích hoặc mối quan hệ giữa thành viên nhóm thực hiện dịch
vụ đảm bảo, doanh nghiệp kiểm toán và công ty mạng lưới với bên chịu trách nhiệm
về đối tượng dịch vụ đảm bảo. Đối với các báo cáo dịch vụ đảm bảo có đoạn
"Hạn chế việc sử dụng và cung cấp báo cáo", các đoạn sau phải được đọc
trong ngữ cảnh trình bày từ đoạn 291.21 - 291.27 Chương
này.
291.102 Phần hướng dẫn ở cuối Chương này (sau đoạn
291.157) đưa ra các hướng dẫn cụ thể hơn về việc áp dụng các yêu cầu về tính
độc lập quy định tại Chương 291 đối với dịch vụ đảm bảo không phải là dịch vụ
kiểm toán báo cáo tài chính.
291.103 Các đoạn từ 291.104 - 291.119 sau đây đưa các ví
dụ về tính trọng yếu của lợi ích tài chính, khoản vay hay bảo lãnh, hoặc tầm
quan trọng của mối quan hệ kinh doanh. Để xác định lợi ích nào là trọng yếu đối
với các cá nhân, có thể xem xét giá trị lợi ích tổng thể của cá nhân và các
thành viên có quan hệ gia đình trực tiếp với cá nhân
đó.
Lợi
ích tài chính
291.104 Việc nắm giữ lợi ích tài chính ở khách hàng sử
dụng dịch vụ đảm bảo có thể làm phát sinh nguy cơ do tư lợi. Sự tồn tại và mức
độ nghiêm trọng của các nguy cơ phụ thuộc vào:
(a) Vai trò của người nắm giữ lợi ích tài
chính;
(b) Lợi ích tài chính trực tiếp hoặc gián
tiếp;
(c) Tính trọng yếu của lợi ích tài
chính.
291.105 Lợi ích tài chính có thể được nắm giữ thông qua
tổ chức trung gian (ví dụ, quỹ đầu tư tài chính, tổ chức đầu tư bất động sản
hoặc ủy thác). Việc xác định lợi ích tài chính là trực tiếp hay gián tiếp phụ
thuộc vào việc liệu chủ sở hữu lợi ích có quyền kiểm soát đầu tư hoặc có khả
năng ảnh hưởng đến quyết định đầu tư hay không. Khi chủ sở hữu có quyền kiểm
soát đầu tư hoặc có khả năng ảnh hưởng đến quyết định đầu tư, Chuẩn mực này định
nghĩa rằng lợi ích tài chính đó là lợi ích tài chính trực tiếp. Ngược lại, khi
chủ sở hữu không có quyền kiểm soát đầu tư hoặc không có khả năng ảnh hưởng đến
quyết định đầu tư thì lợi ích tài chính đó được coi là lợi ích tài chính gián
tiếp.
291.106 Nếu thành viên nhóm thực hiện dịch vụ đảm bảo,
thành viên có quan hệ gia đình trực tiếp của họ hoặc doanh nghiệp kiểm toán có
lợi ích tài chính trực tiếp hoặc có lợi ích tài chính gián tiếp trọng yếu trong
khách hàng sử dụng dịch vụ đảm bảo, thì nguy cơ do tư lợi trở nên đáng kể tới
mức không có biện pháp bảo vệ nào có thể làm giảm nguy cơ đó xuống mức có thể
chấp nhận được. Do đó, các đối tượng không được có lợi ích tài chính trực tiếp
hoặc có lợi ích tài chính gián tiếp trọng yếu trong khách hàng sử dụng dịch vụ
đảm bảo gồm: thành viên nhóm thực hiện dịch vụ đảm bảo, thành viên có quan hệ
gia đình trực tiếp của họ và doanh nghiệp kiểm
toán.
291.107 Khi thành
viên nhóm thực hiện dịch vụ đảm bảo biết rằng có thành viên có quan hệ gia đình
gần gũi với mình có lợi ích tài chính trực tiếp hoặc có lợi ích tài chính gián
tiếp trọng yếu trong khách hàng sử dụng dịch vụ đảm bảo, nguy cơ do tư lợi sẽ
phát sinh. Mức độ nghiêm trọng của nguy cơ phụ thuộc vào các yếu tố
như:
(1) Bản chất của mối quan hệ giữa thành viên nhóm thực
hiện dịch vụ đảm bảo và thành viên có quan hệ gia đình gần gũi
đó;
(2) Tính trọng yếu của lợi ích tài chính đối với thành
viên có quan hệ gia đình gần gũi đó.
Doanh nghiệp kiểm toán phải đánh giá mức độ nghiêm trọng
của nguy cơ và phải áp dụng các biện pháp bảo vệ cần thiết để loại trừ hoặc làm
giảm nguy cơ đó xuống mức có thể chấp nhận được. Ví dụ về các biện pháp bảo vệ
gồm:
(1) Thành viên có quan hệ gia đình gần gũi chuyển nhượng
tất cả lợi ích tài chính trực tiếp hoặc một phần đáng kể lợi ích tài chính gián
tiếp ngay khi có thể để phần lợi ích tài chính còn lại là không đáng
kể;
(2) Cử một kiểm toán viên chuyên nghiệp khác soát xét lại
công việc của thành viên nhóm thực hiện dịch vụ đảm bảo đó;
hoặc
(3) Rút cá nhân đó ra khỏi nhóm thực hiện dịch vụ đảm
bảo.
291.108 Nếu thành viên nhóm thực hiện dịch vụ đảm bảo,
thành viên có quan hệ gia đình trực tiếp của họ hoặc doanh nghiệp kiểm toán có
lợi ích tài chính trực tiếp hoặc có lợi ích tài chính gián tiếp trọng yếu trong
một đơn vị có quyền kiểm soát đối với khách hàng sử dụng dịch vụ đảm bảo, mà
khách hàng này lại có ảnh hưởng đáng kể với đơn vị đó thì nguy cơ do tư lợi có
thể trở nên đáng kể đến mức không biện pháp bảo vệ nào có thể làm giảm nguy cơ
đó xuống mức có thể chấp nhận được. Do đó, các đối tượng không được có lợi ích
tài chính trong đơn vị có quyền kiểm soát với khách hàng sử dụng dịch vụ đảm bảo
gồm: thành viên nhóm thực hiện dịch vụ đảm bảo, thành viên có quan hệ gia đình
trực tiếp của họ và doanh nghiệp kiểm toán.
291.109 Việc doanh
nghiệp kiểm toán, thành viên nhóm thực hiện dịch vụ đảm bảo hoặc thành viên có
quan hệ gia đình trực tiếp của họ được ủy thác nắm giữ lợi ích tài chính trực
tiếp hoặc gián tiếp trọng yếu trong khách hàng sử dụng dịch vụ đảm bảo sẽ làm
phát sinh nguy cơ do tư lợi. Lợi ích này không được phép nắm giữ, trừ
khi:
(a)
Bên được ủy thác, thành viên có quan hệ gia đình trực tiếp của bên được ủy thác,
hoặc doanh nghiệp kiểm toán không được hưởng lợi từ bên ủy thác;
(b) Lợi ích trong khách hàng sử dụng dịch vụ đảm bảo do
bên ủy thác nắm giữ là không trọng yếu với bên ủy
thác;
(c) Bên ủy thác không có khả năng gây ảnh hưởng đáng kể
đối với khách hàng sử dụng dịch vụ đảm bảo;
(d) Bên được ủy thác, thành viên có quan hệ gia đình trực
tiếp của người được ủy thác hoặc doanh nghiệp kiểm toán không có ảnh hưởng đáng
kể đến quyết định đầu tư liên quan đến lợi ích tài chính trong khách hàng sử
dụng dịch vụ đảm bảo.
291.110 Thành viên nhóm thực hiện dịch vụ đảm bảo phải
xác định liệu nguy cơ do tư lợi có phát sinh từ lợi ích tài chính trong khách
hàng sử dụng dịch vụ đảm bảo do các cá nhân khác nắm giữ hay không. Các cá nhân
khác đó bao gồm:
(1) Các thành viên Ban Giám đốc và các nhân viên chuyên
nghiệp khác trong doanh nghiệp kiểm toán ngoài những người được đề cập ở trên,
hoặc thành viên có quan hệ gia đình trực tiếp của
họ;
(2) Các cá nhân có mối quan hệ cá nhân gần gũi với thành
viên nhóm thực hiện dịch vụ đảm bảo.
Liệu các lợi ích này có làm phát sinh nguy cơ do tư lợi
hay không phụ thuộc vào các yếu tố như:
(1) Cơ cấu, tổ chức hoạt động và báo cáo của doanh nghiệp
kiểm toán;
(2) Bản chất mối quan hệ giữa cá nhân với các thành viên
nhóm thực hiện dịch vụ đảm bảo.
Doanh nghiệp kiểm toán phải đánh giá mức độ nghiêm trọng
của nguy cơ và phải áp dụng các biện pháp bảo vệ cần thiết để loại trừ hoặc làm
giảm nguy cơ đó xuống mức có thể chấp nhận được. Ví dụ về các biện pháp bảo vệ
gồm:
(1) Rút thành viên có mối quan hệ cá nhân gần gũi đó ra
khỏi nhóm thực hiện dịch vụ đảm bảo;
(2) Thành viên nhóm
thực hiện dịch vụ đảm bảo không được tham gia vào quá trình ra quyết định quan
trọng liên quan đến hợp đồng dịch vụ đảm bảo;
hoặc
(3) Cử một kiểm toán viên chuyên nghiệp khác soát xét lại
công việc của thành viên nhóm thực hiện dịch vụ đảm
bảo.
291.111 Nếu doanh nghiệp kiểm toán, thành viên nhóm thực
hiện dịch vụ đảm bảo hoặc thành viên có quan hệ gia đình trực tiếp của họ nhận
được lợi ích tài chính trực tiếp hoặc nhận được lợi ích tài chính gián tiếp
trọng yếu từ khách hàng sử dụng dịch vụ đảm bảo, ví dụ, một khoản thừa kế, quà
biếu hay do kết quả từ việc sáp nhập doanh nghiệp, mà các lợi ích như vậy không
được phép nắm giữ theo quy định của Chương này,
thì:
(a) Nếu doanh nghiệp kiểm toán nhận được lợi ích, thì
phải chuyển nhượng ngay toàn bộ lợi ích tài chính trực tiếp này hoặc chuyển
nhượng một phần lợi ích tài chính gián tiếp sao cho phần còn lại là không trọng
yếu;
(b) Nếu thành viên nhóm thực hiện dịch vụ đảm bảo hoặc
thành viên có quan hệ gia đình trực tiếp của họ nhận được lợi ích, thì phải
chuyển nhượng ngay toàn bộ lợi ích tài chính trực tiếp này hoặc chuyển nhượng
một phần lợi ích tài chính gián tiếp sao cho phần còn lại là không trọng
yếu.
Các
khoản cho vay và bảo lãnh
291.112 Một khoản cho vay, hoặc bảo lãnh vay cho thành
viên nhóm thực hiện dịch vụ đảm bảo, cho thành viên có quan hệ gia đình trực
tiếp của họ hoặc cho doanh nghiệp kiểm toán từ khách hàng sử dụng dịch vụ đảm
bảo là một ngân hàng hay tổ chức tương tự có thể làm phát sinh nguy cơ đe dọa
tính độc lập. Nếu khoản cho vay hoặc bảo lãnh vay không được thực hiện theo các
thủ tục, điều khoản và điều kiện cho vay thông thường thì có thể làm phát sinh
nguy cơ do tư lợi nghiêm trọng đến mức không có biện pháp bảo vệ nào có thể làm
giảm nguy cơ đó xuống mức có thể chấp nhận được. Do vậy, bất kỳ thành viên nhóm
thực hiện dịch vụ đảm bảo, thành viên có quan hệ gia đình trực tiếp của họ hoặc
doanh nghiệp kiểm toán không được phép nhận khoản vay hay bảo lãnh vay
này.
291.113 Nếu doanh nghiệp kiểm toán vay từ khách hàng sử
dụng dịch vụ đảm bảo là một ngân hàng hoặc một tổ chức tương tự theo các thủ
tục, điều khoản và điều kiện vay thông thường và khoản vay này là trọng yếu đối
với khách hàng sử dụng dịch vụ đảm bảo hoặc doanh nghiệp kiểm toán, thì có thể
áp dụng các biện pháp bảo vệ nhằm làm giảm nguy cơ do tư lợi xuống mức có thể
chấp nhận được. Ví dụ về biện pháp bảo vệ là sắp xếp một kiểm toán viên chuyên
nghiệp từ một công ty mạng lưới không tham gia vào dịch vụ đảm bảo và cũng không
nhận khoản vay soát xét lại công việc.
291.114 Nếu thành viên nhóm thực hiện dịch vụ đảm bảo,
thành viên có quan hệ gia đình trực tiếp của họ vay hoặc được bảo lãnh vay từ
khách hàng sử dụng dịch vụ đảm bảo là ngân hàng hoặc tổ chức tương tự theo các
thủ tục, điều khoản và điều kiện cho vay thông thường thì sẽ không làm phát sinh
nguy cơ đe dọa tính độc lập. Ví dụ về các khoản vay: vay thế chấp nhà đất, vay
mua ô tô và cung cấp hạn mức thẻ tín dụng.
291.115 Nếu doanh
nghiệp kiểm toán, thành viên nhóm thực hiện dịch vụ đảm bảo hoặc thành viên có
quan hệ gia đình trực tiếp của họ nhận khoản vay hoặc bảo lãnh vay từ khách hàng
sử dụng dịch vụ đảm bảo mà không phải là ngân hàng hay tổ chức tương tự thì sẽ
làm phát sinh nguy cơ do tư lợi nghiêm trọng đến mức không biện pháp bảo vệ nào
có thể làm giảm nguy cơ đó xuống mức có thể chấp nhận được, trừ trường hợp khoản
vay hoặc bảo lãnh vay đó là không đáng kể đối với cả doanh nghiệp kiểm toán,
thành viên nhóm thực hiện dịch vụ đảm bảo, thành viên có quan hệ gia đình trực
tiếp của họ, và khách hàng sử dụng dịch vụ đảm
bảo.
291.116 Tương tự, nếu doanh nghiệp kiểm toán, thành viên
nhóm thực hiện dịch vụ đảm bảo hoặc thành viên có quan hệ gia đình trực tiếp của
họ cho vay hoặc bảo lãnh vay cho khách hàng sử dụng dịch vụ đảm bảo, thì có thể
làm phát sinh nguy cơ do tư lợi nghiêm trọng đến mức không biện pháp bảo vệ nào
có thể làm giảm nguy cơ đó xuống mức có thể chấp nhận được, trừ trường hợp khoản
vay hoặc bảo lãnh vay đó là không đáng kể đối với cả doanh nghiệp kiểm toán,
thành viên nhóm thực hiện dịch vụ đảm bảo, thành viên có quan hệ gia đình trực
tiếp của họ và khách hàng sử dụng dịch vụ đảm bảo.
291.117 Nếu doanh nghiệp kiểm toán, thành viên nhóm thực
hiện dịch vụ đảm bảo, hoặc thành viên có quan hệ gia đình trực tiếp của họ có
tài khoản tiền gửi hoặc tài khoản môi giới tại khách hàng sử dụng dịch vụ đảm
bảo là ngân hàng, công ty môi giới chứng khoán hay tổ chức tương tự, thì sẽ
không làm phát sinh nguy cơ đe dọa tính độc lập nếu tài khoản tiền gửi hoặc tài
khoản môi giới đó được thực hiện theo các điều khoản thương mại thông
thường.
Các
mối quan hệ kinh doanh
291.118
Mối quan hệ kinh doanh mật thiết giữa doanh nghiệp kiểm toán, thành viên nhóm
thực hiện dịch vụ đảm bảo hoặc thành viên có quan hệ gia đình trực tiếp của họ
với khách hàng sử dụng dịch vụ đảm bảo hoặc Ban Giám đốc của khách hàng phát
sinh từ mối quan hệ thương mại hoặc lợi ích tài chính chung và có thể làm phát
sinh nguy cơ do tư lợi hoặc nguy cơ bị đe dọa. Ví dụ về các mối quan hệ
gồm:
(1) Có lợi ích tài chính trong một doanh nghiệp liên
doanh với khách hàng hoặc chủ sở hữu, Giám đốc, nhân sự cấp cao hoặc cá nhân
khác có quyền thực hiện các hoạt động quản lý cấp cao của khách hàng
đó;
(2)
Thỏa thuận kết hợp một hoặc nhiều dịch vụ hoặc sản phẩm của doanh nghiệp kiểm
toán với một hoặc nhiều dịch vụ hoặc sản phẩm của khách hàng và quảng bá gói sản
phẩm này ra thị trường dưới danh nghĩa của cả hai bên;
(3)
Các thỏa thuận về phân phối hoặc tiếp thị, theo đó doanh nghiệp kiểm toán phân
phối hoặc tiếp thị sản phẩm, dịch vụ của khách hàng, hoặc khách hàng phân phối
hoặc tiếp thị sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp kiểm toán.
Trừ
khi lợi ích tài chính là không đáng kể và mối quan hệ kinh doanh là không quan
trọng đối với doanh nghiệp kiểm toán và khách hàng sử dụng dịch vụ đảm bảo hoặc
Ban Giám đốc của khách hàng, các nguy cơ phát sinh có thể nghiêm trọng đến mức
không biện pháp bảo vệ nào có thể làm giảm nguy cơ đó xuống mức có thể chấp nhận
được. Do vậy, các mối quan hệ kinh doanh sẽ không được phép thiết lập hoặc sẽ bị
giảm đến mức không quan trọng hoặc bị chấm dứt, trừ khi lợi ích tài chính là
không đáng kể và mối quan hệ kinh doanh là không quan trọng.
Thành
viên nhóm thực hiện dịch vụ đảm bảo sẽ bị rút khỏi nhóm thực hiện dịch vụ đảm
bảo, trừ khi lợi ích tài chính là không đáng kể và mối quan hệ đó là không quan
trọng đối với thành viên đó.
Nếu
có mối quan hệ kinh doanh giữa thành viên có quan hệ gia đình trực tiếp của
thành viên nhóm thực hiện dịch vụ đảm bảo và khách hàng sử dụng dịch vụ đảm bảo
hoặc Ban Giám đốc của khách hàng, thì phải đánh giá mức độ nghiêm trọng của các
nguy cơ và áp dụng các biện pháp bảo vệ cần thiết để loại trừ hoặc làm giảm nguy
cơ đó xuống mức có thể chấp nhận được.
291.119 Việc doanh nghiệp kiểm toán, thành viên nhóm thực
hiện dịch vụ đảm bảo hoặc thành viên có quan hệ gia đình trực tiếp của họ mua
hàng hóa hoặc dịch vụ từ khách hàng sử dụng dịch vụ đảm bảo, thường không làm
phát sinh nguy cơ đe dọa tính độc lập nếu giao dịch được thực hiện theo điều
kiện kinh doanh thông thường và theo giá cả thị trường. Tuy nhiên, bản chất hoặc
quy mô của giao dịch có thể làm phát sinh nguy cơ do tư lợi. Doanh nghiệp kiểm
toán phải đánh giá mức độ nghiêm trọng của nguy cơ và áp dụng các biện pháp bảo
vệ cần thiết để loại trừ hoặc làm giảm nguy cơ đó xuống mức có thể chấp nhận
được. Ví dụ về các biện pháp bảo vệ gồm:
(1) Loại bỏ hoặc giảm quy mô giao dịch;
hoặc
(2) Rút thành viên đó ra khỏi nhóm thực hiện dịch vụ đảm
bảo.
Các
mối quan hệ cá nhân và mối quan hệ gia đình
291.120
Quan hệ cá nhân và quan hệ gia đình giữa thành viên nhóm thực hiện dịch vụ đảm
bảo với Giám đốc, nhân sự cấp cao hoặc nhân viên khác (tùy theo vai trò của họ)
của khách hàng sử dụng dịch vụ đảm bảo có thể làm phát sinh nguy cơ do tư lợi,
nguy cơ từ sự quen thuộc hoặc nguy cơ bị đe dọa. Sự tồn tại và mức độ nghiêm
trọng của các nguy cơ này phụ thuộc vào các yếu tố, bao gồm trách nhiệm của cá
nhân đó trong nhóm thực hiện dịch vụ đảm bảo, vai trò của thành viên gia đình
hoặc cá nhân khác đối với khách hàng và mức độ gần gũi của mối quan
hệ.
291.121 Khi thành viên có quan hệ gia đình trực tiếp với
thành viên nhóm thực hiện dịch vụ đảm bảo hiện đang
là:
(a) Giám đốc, nhân sự cấp cao của khách hàng sử dụng dịch
vụ đảm bảo; hoặc
(b) Nhân viên của khách hàng sử dụng dịch vụ đảm bảo nắm
giữ vị trí có ảnh hưởng đáng kể đối với thông tin về đối tượng dịch vụ đảm
bảo;
hoặc đã giữ vị trí nêu ở mục (a) hoặc (b) trong thời gian
thực hiện hợp đồng dịch vụ hoặc trong giai đoạn của thông tin về đối tượng dịch
vụ đảm bảo, thì nguy cơ đe dọa tính độc lập chỉ có thể được giảm xuống mức có
thể chấp nhận được bằng cách rút thành viên đó ra khỏi nhóm thực hiện dịch vụ
đảm bảo. Quan hệ này gần gũi đến mức không biện pháp bảo vệ nào khác có thể làm
giảm nguy cơ đó xuống mức có thể chấp nhận được. Do vậy, thành viên có mối quan
hệ đó không được là thành viên nhóm thực hiện dịch vụ đảm
bảo.
291.122 Nguy cơ đe dọa tính độc lập có thể phát sinh khi
thành viên có quan hệ gia đình trực tiếp với thành viên nhóm thực hiện dịch vụ
đảm bảo là nhân viên của khách hàng giữ vị trí có ảnh hưởng đáng kể đến đối
tượng dịch vụ đảm bảo. Mức độ nghiêm trọng của nguy cơ phụ thuộc
vào:
(1) Vị trí của thành viên có quan hệ gia đình trực tiếp
đó tại khách hàng;
(2) Vai trò của thành viên đó trong nhóm thực hiện dịch
vụ đảm bảo.
Doanh nghiệp kiểm toán phải đánh giá mức độ nghiêm trọng
của nguy cơ và áp dụng các biện pháp bảo vệ cần thiết để loại trừ hoặc làm giảm
nguy cơ đó xuống mức có thể chấp nhận được. Ví dụ về các biện pháp bảo vệ
gồm:
(1) Rút thành viên đó ra khỏi nhóm thực hiện dịch vụ đảm
bảo; hoặc
(2) Phân công lại trách nhiệm trong nhóm thực hiện dịch
vụ đảm bảo để thành viên đó không phụ trách các vấn đề thuộc phạm vi trách nhiệm
của thành viên có quan hệ gia đình trực tiếp.
291.123 Nguy cơ đe dọa tính độc lập có thể phát sinh khi
thành viên có quan hệ gia đình gần gũi với thành viên nhóm thực hiện dịch vụ đảm
bảo là:
(1) Giám đốc, nhân sự cấp cao của khách hàng sử dụng dịch
vụ đảm bảo; hoặc
(2) Nhân viên của khách hàng sử dụng dịch vụ đảm bảo nắm
giữ vị trí có ảnh hưởng đáng kể đối với thông tin về đối tượng dịch vụ đảm
bảo.
Mức độ nghiêm trọng của nguy cơ phụ thuộc
vào:
(1) Tính chất mối quan hệ giữa thành viên nhóm thực hiện
dịch vụ đảm bảo và thành viên gia đình gần gũi của
họ;
(2) Vị trí của thành viên có quan hệ gia đình gần gũi đó
tại khách hàng sử dụng dịch vụ đảm bảo;
(3) Vai trò của thành viên đó trong nhóm thực hiện dịch
vụ đảm bảo.
Doanh nghiệp kiểm toán phải đánh giá mức độ nghiêm trọng
của nguy cơ và áp dụng các biện pháp bảo vệ cần thiết để loại trừ hoặc làm giảm
nguy cơ đó xuống mức có thể chấp nhận được. Ví dụ về các biện pháp bảo vệ
gồm:
(1) Rút thành viên đó ra khỏi nhóm thực hiện dịch vụ đảm
bảo; hoặc
(2) Phân công lại trách nhiệm trong nhóm thực hiện dịch
vụ đảm bảo để thành viên đó không phụ trách các vấn đề thuộc phạm vi trách nhiệm
của thành viên có quan hệ gia đình gần gũi của họ.
291.124 Nguy cơ đe dọa tính độc lập có thể phát sinh khi
thành viên nhóm thực hiện dịch vụ đảm bảo có mối quan hệ gần gũi với người không
phải là thành viên có quan hệ gia đình trực tiếp hoặc gần gũi, nhưng là: (i)
Giám đốc, nhân sự cấp cao hoặc nhân viên chuyên nghiệp của khách hàng sử dụng
dịch vụ đảm bảo, hoặc (ii) Nhân viên của khách hàng sử dụng dịch vụ đảm bảo nắm
giữ vị trí có ảnh hưởng đáng kể đối với thông tin về đối tượng dịch vụ đảm bảo.
Thành viên nhóm thực hiện dịch vụ đảm bảo có mối quan hệ như vậy phải tham khảo
ý kiến tư vấn theo các chính sách và thủ tục của doanh nghiệp kiểm toán. Mức độ
nghiêm trọng của nguy cơ phụ thuộc vào:
(1) Tính chất mối quan hệ giữa thành viên nhóm thực hiện
dịch vụ đảm bảo và cá nhân đó;
(2) Vị trí của cá nhân đó tại khách hàng sử dụng dịch vụ
đảm bảo;
(3) Vai trò của thành viên đó trong nhóm thực hiện dịch
vụ đảm bảo.
Doanh nghiệp kiểm toán phải đánh giá mức độ nghiêm trọng
của nguy cơ và áp dụng các biện pháp bảo vệ cần thiết để loại trừ hoặc làm giảm
nguy cơ đó xuống mức có thể chấp nhận được. Ví dụ về các biện pháp bảo vệ
gồm:
(1) Rút thành viên đó ra khỏi nhóm thực hiện dịch vụ đảm
bảo; hoặc
(2) Phân công lại trách nhiệm trong nhóm thực hiện dịch
vụ đảm bảo để thành viên đó không phụ trách các vấn đề thuộc phạm vi trách nhiệm
của cá nhân mà thành viên có mối quan hệ gần gũi nói
trên.
291.125 Nguy cơ do tư lợi, nguy cơ từ sự quen thuộc hoặc
nguy cơ bị đe dọa có thể phát sinh từ mối quan hệ cá nhân hay quan hệ gia đình
giữa: (i) Thành viên Ban Giám đốc hoặc nhân viên chuyên nghiệp của doanh nghiệp
kiểm toán không thuộc nhóm thực hiện dịch vụ đảm bảo, và (ii) Giám đốc, nhân sự
cấp cao của khách hàng sử dụng dịch vụ đảm bảo hoặc nhân viên khác nắm giữ vị
trí có ảnh hưởng đáng kể đối với thông tin về đối tượng dịch vụ đảm bảo. Sự tồn
tại và mức độ nghiêm trọng của nguy cơ phụ thuộc
vào:
(1) Tính chất mối quan hệ giữa thành viên Ban Giám đốc
hoặc nhân viên chuyên nghiệp của doanh nghiệp kiểm toán với Giám đốc,
nhân sự cấp cao hoặc nhân viên chuyên nghiệp khác của khách hàng sử dụng
dịch vụ đảm bảo;
(2) Mối quan hệ giữa thành viên Ban Giám đốc và nhân viên
chuyên nghiệp của doanh nghiệp kiểm toán với nhóm thực hiện dịch vụ đảm
bảo;
(3) Vị trí của thành viên Ban Giám đốc hoặc nhân viên
chuyên nghiệp trong doanh nghiệp kiểm toán
đó;
(4) Vị trí của Giám đốc, nhân sự cấp cao hoặc nhân viên
khác trong khách hàng kiểm toán đó.
Doanh nghiệp kiểm toán phải đánh giá mức độ nghiêm trọng
của nguy cơ và áp dụng các biện pháp bảo vệ cần thiết để loại trừ hoặc làm giảm
nguy cơ đó xuống mức có thể chấp nhận được. Ví dụ về các biện pháp bảo vệ
gồm:
(1) Phân công lại trách nhiệm của thành viên Ban Giám đốc
hoặc nhân viên chuyên nghiệp của doanh nghiệp kiểm toán để làm giảm ảnh hưởng có
thể có đối với dịch vụ đảm bảo; hoặc
(2) Cử một kiểm toán viên chuyên nghiệp khác soát xét lại
các công việc đảm bảo có liên quan đã thực hiện.
Làm
việc cho khách hàng sử dụng dịch vụ đảm bảo
291.126 Nguy cơ từ sự quen thuộc hoặc nguy cơ bị đe dọa
có thể phát sinh nếu Giám đốc, nhân sự cấp cao của khách hàng sử dụng dịch vụ
đảm bảo, hoặc nhân viên nắm giữ vị trí có ảnh hưởng đáng kể đối với thông tin về
đối tượng dịch vụ đảm bảo đã từng là thành viên nhóm thực hiện dịch vụ đảm bảo
hoặc thành viên Ban Giám đốc doanh nghiệp kiểm
toán.
291.127 Nếu thành viên trước đây của nhóm thực hiện dịch
vụ đảm bảo hoặc của thành viên Ban Giám đốc doanh nghiệp kiểm toán hiện đang giữ
vị trí tương đương tại khách hàng sử dụng dịch vụ đảm bảo, thì sự tồn tại và mức
độ nghiêm trọng của nguy cơ từ sự quen thuộc hoặc nguy cơ bị đe dọa phụ thuộc
vào các yếu tố sau:
(1) Vị trí của cá nhân đó tại khách hàng sử dụng dịch vụ
đảm bảo;
(2) Sự liên quan của cá nhân đó đối với nhóm thực hiện
dịch vụ đảm bảo;
(3) Khoảng thời gian từ khi cá nhân đó không còn là thành
viên nhóm thực hiện dịch vụ đảm bảo hoặc thành viên Ban Giám đốc doanh nghiệp
kiểm toán đến khi thực hiện dịch vụ đảm bảo;
(4) Vị trí trước đây của cá nhân đó trong nhóm thực hiện
dịch vụ đảm bảo hoặc doanh nghiệp kiểm toán, ví dụ, liệu cá nhân đó có chịu
trách nhiệm liên lạc thường xuyên với Ban Giám đốc hoặc Ban quản trị của khách
hàng sử dụng dịch vụ đảm bảo hay không.
Trong mọi trường hợp, cá nhân đó không được tiếp tục tham
gia vào các hoạt động kinh doanh hoặc chuyên môn của doanh nghiệp kiểm
toán.
Doanh nghiệp kiểm toán phải đánh giá mức độ nghiêm trọng
của nguy cơ và áp dụng các biện pháp bảo vệ cần thiết để loại trừ hoặc làm giảm
nguy cơ đó xuống mức có thể chấp nhận được. Ví dụ về các biện pháp bảo vệ
gồm:
(1) Không cho phép cá nhân đó nhận được bất kỳ lợi ích
hay khoản thanh toán nào từ doanh nghiệp kiểm toán, trừ trường hợp lợi ích hay
khoản thanh toán đó được chi trả theo các thỏa thuận cụ thể từ
trước;
(2) Không cho phép
cá nhân đó nhận bất kỳ khoản tiền nào từ doanh nghiệp kiểm toán mà khoản tiền
đó mang tính trọng yếu đối với doanh nghiệp kiểm
toán;
(3) Điều chỉnh kế hoạch thực hiện dịch vụ đảm
bảo;
(4) Phân công vào nhóm thực hiện dịch vụ đảm bảo thành
viên có kinh nghiệm phù hợp để làm việc với cá nhân đã chuyển sang làm cho khách
hàng sử dụng dịch vụ đảm bảo; hoặc
(5) Cử một kiểm toán viên chuyên nghiệp khác soát xét lại
công việc của thành viên trước đây của nhóm thực hiện dịch vụ đảm
bảo.
291.128
Nếu thành viên trước đây của Ban Giám đốc doanh nghiệp kiểm toán giữ vị trí
tương đương tại một đơn vị và sau đó đơn vị này trở thành khách hàng sử dụng
dịch vụ đảm bảo, doanh nghiệp kiểm toán phải đánh giá mức độ nghiêm trọng của
bất kỳ nguy cơ nào đe dọa tính độc lập và áp dụng các biện pháp bảo vệ cần thiết
để loại trừ hoặc làm giảm các nguy cơ đó xuống mức có thể chấp nhận
được.
291.129 Nguy cơ do
tư lợi có thể phát sinh khi một thành viên nhóm thực hiện dịch vụ đảm bảo biết
rằng trong tương lai họ có thể hoặc sẽ làm việc cho khách hàng sử dụng dịch vụ
đảm bảo. Các chính sách và thủ tục của doanh nghiệp kiểm toán phải yêu cầu thành
viên nhóm thực hiện dịch vụ đảm bảo thông báo ngay cho doanh nghiệp kiểm toán
khi bắt đầu thỏa thuận các điều khoản tuyển dụng với khách hàng sử dụng dịch vụ
đảm bảo. Khi nhận được thông báo như vậy, doanh nghiệp kiểm toán phải đánh giá
mức độ nghiêm trọng của bất kỳ nguy cơ nào đe dọa tính độc lập và áp dụng các
biện pháp bảo vệ cần thiết để loại trừ hoặc làm giảm nguy cơ đó xuống mức có thể
chấp nhận được. Ví dụ về các biện pháp bảo vệ
gồm:
(1) Rút cá nhân đó ra khỏi nhóm thực hiện dịch vụ đảm
bảo; hoặc
(2) Xem xét lại các xét đoán quan trọng của cá nhân đó
khi còn là thành viên nhóm thực hiện dịch vụ đảm
bảo.
Các
dịch vụ gần đây cung cấp cho khách hàng sử dụng dịch vụ đảm bảo
291.130 Các nguy cơ do tư lợi, nguy cơ tự kiểm tra hay
nguy cơ từ sự quen thuộc có thể phát sinh nếu thành viên nhóm thực hiện dịch vụ
đảm bảo gần đây đã từng là Giám đốc, nhân sự cấp cao hoặc nhân viên của khách
hàng sử dụng dịch vụ đảm bảo. Điều này có thể xảy ra trong trường hợp thành viên
nhóm thực hiện dịch vụ đảm bảo đánh giá thông tin về đối tượng dịch vụ đảm bảo
do chính thành viên đó chịu trách nhiệm khi còn làm việc tại khách hàng sử
dụng dịch vụ đảm bảo.
291.131 Trong giai đoạn của báo cáo dịch vụ đảm bảo
(giai đoạn của thông tin về đối tượng dịch vụ đảm bảo được thực hiện đảm
bảo), nếu thành viên nhóm thực hiện dịch vụ đảm bảo đã từng là Giám đốc,
nhân sự cấp cao của khách hàng sử dụng dịch vụ đảm bảo, hoặc từng là nhân viên
nắm giữ vị trí có ảnh hưởng đáng kể đến thông tin về đối tượng dịch vụ đảm bảo,
nguy cơ phát sinh có thể nghiêm trọng tới mức không biện pháp bảo vệ nào có thể
làm giảm nguy cơ đó xuống mức có thể chấp nhận được. Vì vậy, cá nhân đó không
được tham gia nhóm thực hiện dịch vụ đảm bảo.
291.132 Các nguy cơ do tư lợi, nguy cơ tự kiểm tra hoặc
nguy cơ từ sự quen thuộc có thể phát sinh nếu, trước giai đoạn của báo cáo dịch
vụ đảm bảo (ví dụ, từ ngày 01/01/20x5 đến ngày 31/12/20x5), thành viên
nhóm thực hiện dịch vụ đảm bảo từng là Giám đốc, nhân sự cấp cao của khách hàng
sử dụng dịch vụ đảm bảo, hoặc từng là nhân viên nắm giữ vị trí có thể gây ảnh
hưởng đáng kể đến thông tin về đối tượng dịch vụ đảm bảo. Ví dụ các nguy cơ như
vậy có thể phát sinh khi một quyết định hay công việc của cá nhân đó khi còn làm
việc cho khách hàng sử dụng dịch vụ đảm bảo trong giai đoạn trước đó được đánh
giá trong giai đoạn này như một phần phạm vi công việc của hợp đồng dịch vụ đảm
bảo. Sự tồn tại và mức độ nghiêm trọng của các nguy cơ phụ thuộc vào các yếu tố
như:
(1) Vị trí mà cá nhân đó từng nắm giữ trong khách hàng
sử dụng dịch vụ đảm bảo;
(2) Khoảng thời gian từ khi cá nhân đó không còn làm việc
tại khách hàng sử dụng dịch vụ đảm bảo;
(3) Vai trò của cá nhân đó trong nhóm thực hiện dịch vụ
đảm bảo.
Doanh nghiệp kiểm toán phải đánh giá mức độ nghiêm trọng
của nguy cơ và phải áp dụng biện pháp bảo vệ cần thiết để loại trừ hoặc làm giảm
nguy cơ đó xuống mức có thể chấp nhận được. Ví dụ về biện pháp bảo vệ có thể là
soát xét lại công việc do cá nhân đó thực hiện trong quá trình tham gia nhóm
thực hiện dịch vụ đảm bảo.
Làm
việc với vai trò là Giám đốc, nhân sự cấp cao của khách hàng sử dụng dịch vụ đảm
bảo
291.133 Nếu một thành viên Ban Giám đốc hoặc nhân viên
chuyên nghiệp của doanh nghiệp kiểm toán giữ vai trò là Giám đốc, nhân sự cấp
cao của khách hàng sử dụng dịch vụ đảm bảo thì sẽ làm phát sinh nguy cơ tự kiểm
tra và nguy cơ do tư lợi nghiêm trọng tới mức không biện pháp bảo vệ nào có thể
làm giảm nguy cơ đó xuống mức có thể chấp nhận được. Do đó, thành viên Ban Giám
đốc hoặc nhân viên chuyên nghiệp của doanh nghiệp kiểm toán không được nắm giữ
chức vụ là Giám đốc, nhân sự cấp cao của khách hàng sử dụng dịch vụ đảm
bảo.
291.134 Vị trí Thư
ký Công ty có vai trò khác nhau trong từng doanh nghiệp, có thể bao gồm
nhiệm vụ hành chính, ví dụ việc quản lý nhân sự, lưu giữ tài liệu, danh sách đăng ký của doanh nghiệp, đến
các nhiệm vụ như đảm bảo cho doanh nghiệp tuân thủ các quy định của pháp luật
hoặc tư vấn về quản trị doanh nghiệp. Nhìn chung, vị trí này có mối quan hệ chặt chẽ với doanh
nghiệp.
291.135
Nếu
thành viên Ban Giám đốc hoặc nhân viên chuyên nghiệp của doanh nghiệp kiểm toán
là giữ vai trò là Thư ký Công ty cho khách hàng sử dụng dịch vụ đảm bảo
thì
nguy cơ tự kiểm tra và nguy cơ về sự bào chữa sẽ nghiêm trọng đến mức không có
biện pháp bảo vệ nào có thể làm giảm các nguy cơ đó xuống mức có thể chấp nhận
được. Mặc dù đã được quy định tại đoạn 291.133 Chương này nhưng khi việc nắm giữ
vị trí Thư ký Công ty là phù hợp với pháp luật và chuẩn mực chuyên môn, và Ban
Giám đốc tự đưa ra tất cả các quyết định, thì nhiệm vụ và hoạt động của
trợ
lý giám đốc của khách hàng sử dụng dịch vụ đảm bảo chỉ
giới hạn ở các công việc có tính chất hành chính và theo thủ tục như chuẩn bị
các biên bản họp, lưu giữ tài liệu, báo cáo của khách hàng kiểm toán. Trong
trường hợp đó, doanh nghiệp kiểm toán phải đánh giá mức độ nghiêm trọng của nguy
cơ và phải áp dụng các biện pháp bảo vệ cần thiết để làm giảm nguy cơ đó xuống
mức có thể chấp nhận được.
291.136
Nếu nhân viên của doanh nghiệp kiểm toán chỉ hỗ trợ thực hiện công việc có tính
chất hành chính và theo thủ tục của khách hàng sử dụng dịch vụ đảm bảo hoặc tư
vấn các vấn đề liên quan đến hành chính của khách hàng sử dụng dịch vụ đảm bảo
thì thường không làm ảnh hưởng đến tính độc lập, với điều kiện là Ban Giám đốc
của khách hàng sử dụng dịch vụ đảm bảo tự đưa ra tất cả các quyết định có liên
quan.
Cung
cấp dịch vụ đảm bảo cho khách hàng sử dụng dịch vụ đảm bảo trong nhiều
năm
291.137
Việc nhân sự cấp cao của doanh nghiệp kiểm toán tham gia nhóm thực hiện dịch vụ
đảm bảo cho cùng một khách hàng trong nhiều năm có thể làm phát sinh nguy cơ từ
sự quen thuộc và nguy cơ do tư lợi. Mức độ nghiêm trọng của nguy cơ phụ thuộc
vào các yếu tố như:
(1)
Khoảng thời gian mà cá nhân đó là thành viên nhóm thực hiện dịch vụ đảm
bảo;
(2) Vai trò của cá nhân đó trong nhóm thực hiện dịch vụ
đảm bảo;
(3) Cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp kiểm
toán;
(4) Tính chất của hợp đồng dịch vụ đảm
bảo;
(5) Liệu thành viên Ban Giám đốc của khách hàng có thay
đổi hay không;
(6)
Liệu có sự thay đổi nào liên quan đến tính chất hoặc mức độ phức tạp của thông
tin về đối tượng dịch vụ đảm bảo hay không.
Doanh
nghiệp kiểm toán phải đánh giá mức độ nghiêm trọng của nguy cơ và phải áp dụng
các biện pháp bảo vệ cần thiết để làm giảm nguy cơ đó xuống mức có thể chấp nhận
được. Ví dụ về các biện pháp bảo vệ gồm:
(1)
Định kỳ thay đổi nhân sự cấp cao trong nhóm thực hiện dịch vụ đảm
bảo;
(2)
Cử một kiểm toán viên chuyên nghiệp không phải là thành viên nhóm thực hiện dịch
vụ đảm bảo soát xét công việc do nhân sự cấp cao này thực hiện; hoặc
(3)
Định kỳ thực hiện kiểm soát chất lượng nội bộ hoặc độc lập từ bên ngoài đối với
các hợp đồng dịch vụ đảm bảo này.
Cung
cấp dịch vụ phi đảm bảo cho khách hàng sử dụng dịch vụ đảm bảo
291.138
Doanh nghiệp kiểm toán thường cung cấp cho khách hàng sử dụng dịch vụ đảm bảo
các dịch vụ phi đảm bảo phù hợp với chuyên môn và kinh nghiệm của họ. Tuy nhiên,
việc cung cấp dịch vụ phi đảm bảo có thể làm phát sinh các nguy cơ đe dọa tính
độc lập của doanh nghiệp kiểm toán, hay các thành viên trong nhóm thực hiện dịch
vụ đảm bảo. Các nguy cơ đe dọa tính độc lập thường thấy là nguy cơ tự kiểm tra,
nguy cơ do tư lợi và nguy cơ về sự bào chữa.
291.139 Khi không có hướng dẫn cụ thể về một dịch vụ phi
đảm bảo trong Chương này, cần phải áp dụng khuôn khổ chung để đánh giá trong
từng trường hợp cụ thể.
291.140 Trước khi chấp nhận hợp đồng dịch vụ phi đảm bảo
cho khách hàng sử dụng dịch vụ đảm bảo, doanh nghiệp kiểm toán phải cân nhắc
liệu việc chấp nhận đó có làm phát sinh nguy cơ đe dọa tính độc lập của doanh
nghiệp kiểm toán hay không. Khi đánh giá mức độ nghiêm trọng của các nguy cơ
phát sinh từ việc cung cấp một dịch vụ phi đảm bảo, doanh nghiệp kiểm toán phải
xem xét nguy cơ phát sinh từ việc cung cấp dịch vụ phi đảm bảo khác có liên
quan. Nếu phát sinh nguy cơ nghiêm trọng đến mức không có biện pháp bảo vệ nào
có thể làm giảm nguy cơ đó xuống mức có thể chấp nhận được thì doanh nghiệp kiểm
toán không được cung cấp dịch vụ phi đảm bảo đó.
Trách
nhiệm quản lý
291.141 Việc quản lý một doanh nghiệp bao gồm nhiều hoạt
động để đảm bảo lợi ích cao nhất cho các cổ đông và các bên có lợi ích
liên quan của đơn vị. Không thể xác định được cụ thể từng hoạt động liên quan
đến trách nhiệm quản lý. Tuy nhiên, trách nhiệm quản lý thường liên quan đến
việc định hướng và lãnh đạo hoạt động của doanh nghiệp, kể cả việc đưa ra các
quyết định quan trọng liên quan đến việc mua bán doanh nghiệp, triển khai và
kiểm soát các nguồn lực về nhân sự, tài chính, hữu hình và vô
hình.
291.142 Liệu một hoạt động có được coi là thuộc trách
nhiệm quản lý hay không phụ thuộc vào hoàn cảnh và xét đoán chuyên môn. Ví dụ về
các hoạt động có thể coi là thuộc trách nhiệm quản lý, bao
gồm:
(1) Định hướng chiến lược và xây dựng chính
sách;
(2) Chỉ đạo và chịu trách nhiệm về hành vi của nhân viên
đơn vị;
(3) Phê duyệt các giao dịch;
(4) Quyết định việc thực hiện các đề xuất của doanh
nghiệp kiểm toán hoặc bên thứ ba;
(5) Chịu trách nhiệm thiết kế, thực hiện và duy trì kiểm
soát nội bộ.
291.143 Các hoạt động hành chính và mang tính chất thủ tục, hoặc vấn đề liên quan
không quan trọng thường không được coi là trách nhiệm quản lý, như thực
hiện một giao dịch đã được Ban Giám đốc ủy quyền hoặc giám sát thời hạn nộp báo
cáo theo quy định của pháp luật và tư vấn
cho khách hàng sử dụng dịch vụ đảm bảo về các thời hạn này. Ngoài ra việc
tư vấn và khuyến nghị để hỗ trợ Ban Giám đốc trong việc thực hiện trách nhiệm
quản lý của mình sẽ không được coi là trách nhiệm quản lý của Ban Giám
đốc.
291.144 Trường hợp doanh nghiệp kiểm toán thực hiện trách
nhiệm quản lý đối với khách hàng sử dụng dịch vụ đảm bảo có thể làm phát sinh
nguy cơ đe dọa tính độc lập. Nếu doanh nghiệp kiểm toán phải thực hiện trách
nhiệm quản lý cho một khách hàng sử dụng dịch vụ đảm bảo như là một phần
của dịch vụ đảm bảo, thì sẽ làm phát sinh nguy cơ nghiêm trọng tới mức không
biện pháp bảo vệ nào có thể làm giảm nguy cơ đó xuống mức có thể chấp nhận được.
Theo đó, khi cung cấp dịch vụ đảm bảo cho khách hàng, doanh nghiệp kiểm toán
không được thực hiện trách nhiệm quản lý như là một phần của dịch vụ đảm bảo.
Nếu doanh nghiệp kiểm toán thực hiện trách nhiệm quản lý như là một phần của bất
kỳ một dịch vụ nào khác cung cấp cho khách hàng sử dụng dịch vụ đảm bảo, doanh
nghiệp kiểm toán phải đảm bảo chắc chắn rằng trách nhiệm này không liên quan đến
đối tượng dịch vụ đảm bảo và thông tin về đối tượng dịch vụ đảm bảo trong hợp
đồng dịch vụ đảm bảo.
291.145 Để tránh rủi ro khi thực hiện trách nhiệm quản lý
liên quan đến đối tượng dịch vụ đảm bảo hoặc đến thông tin về đối tượng dịch vụ
đảm bảo, doanh nghiệp kiểm toán phải đảm bảo rằng một thành viên Ban Giám đốc
của khách hàng phải chịu trách nhiệm: (i) Đưa ra xét đoán và quyết định quan
trọng thuộc phạm vi trách nhiệm của Ban
Giám đốc, (ii) Đánh giá kết quả của dịch vụ, và (iii) Chịu trách nhiệm về
các hành động phát sinh từ kết quả của dịch vụ đó. Điều này giúp doanh nghiệp
kiểm toán tránh được rủi ro của việc đưa ra các quyết định và xét đoán quan
trọng thay cho khách hàng sử dụng dịch vụ đảm bảo. Rủi ro này sẽ giảm hơn nữa
khi doanh nghiệp kiểm toán để khách hàng tự đánh giá và quyết định dựa trên các
phân tích khách quan, minh bạch của doanh nghiệp kiểm
toán.
Các
vấn đề khác cần xem xét
291.146 Nguy cơ đe dọa tính độc lập có thể phát sinh khi
doanh nghiệp kiểm toán cung cấp dịch vụ phi đảm bảo liên quan đến thông tin về
đối tượng dịch vụ đảm bảo. Khi đó, doanh nghiệp kiểm toán phải đánh giá mức độ
liên quan của mình đến thông tin về đối tượng dịch vụ đảm bảo, và phải quyết
định liệu có thể làm giảm nguy cơ tự kiểm tra xuống mức có thể chấp nhận được
bằng cách áp dụng các biện pháp bảo vệ hay không.
291.147 Nguy cơ tự kiểm tra có thể phát sinh nếu doanh
nghiệp kiểm toán tham gia vào việc chuẩn bị các thông tin mà sau này trở thành
thông tin về đối tượng dịch vụ đảm bảo của hợp đồng dịch vụ đảm bảo. Ví dụ, nguy
cơ tự kiểm tra sẽ phát sinh nếu doanh nghiệp kiểm toán phát triển và lập các
thông tin tài chính trong tương lai rồi sau đó cung cấp dịch vụ đảm bảo cho
chính những thông tin này. Do vậy, doanh nghiệp kiểm toán phải đánh giá mức độ
nghiêm trọng của bất kỳ nguy cơ tự kiểm tra nào phát sinh do việc cung cấp các
dịch vụ như vậy và áp dụng các biện pháp bảo vệ cần thiết để loại trừ hoặc làm
giảm nguy cơ đó xuống mức có thể chấp nhận được.
291.148 Khi doanh nghiệp kiểm toán thực hiện dịch vụ định
giá và kết quả định giá này là một phần trong thông tin về đối tượng dịch vụ đảm
bảo, doanh nghiệp kiểm toán phải đánh giá mức độ nghiêm trọng của nguy cơ tự
kiểm tra có thể phát sinh và áp dụng các biện pháp bảo vệ cần thiết để loại trừ
hoặc làm giảm nguy cơ này xuống mức có thể chấp nhận
được.
Phí
dịch vụ
Phí
dịch vụ lớn
291.149 Khi tổng mức
phí dịch vụ từ một khách hàng sử dụng dịch vụ đảm bảo chiếm một phần lớn trong
tổng doanh thu của doanh nghiệp kiểm toán, sự phụ thuộc và mối lo ngại về việc
mất khách hàng đó sẽ làm phát sinh nguy cơ do tư lợi hoặc nguy cơ bị đe dọa. Mức
độ nghiêm trọng của các nguy cơ đó phụ thuộc vào các yếu tố
như:
(1) Cơ cấu hoạt động của doanh nghiệp kiểm
toán;
(2) Liệu doanh nghiệp kiểm toán mới được thành lập hay đã
hoạt động ổn định;
(3) Tầm quan trọng của khách hàng đối với doanh nghiệp
kiểm toán, xét về mặt định lượng và/hoặc định tính.
Doanh nghiệp kiểm toán phải đánh giá mức độ nghiêm trọng
của nguy cơ và áp dụng các biện pháp bảo vệ cần thiết để loại trừ hoặc làm giảm
nguy cơ đó xuống mức có thể chấp nhận được. Ví dụ về các biện pháp bảo vệ
gồm:
(1) Giảm sự phụ thuộc vào khách
hàng;
(2) Soát xét kiểm soát chất lượng độc lập;
hoặc
(3) Tham khảo ý kiến tư vấn của bên thứ ba, như tổ chức
nghề nghiệp hoặc kiểm toán viên hành nghề về các xét đoán quan
trọng.
291.150 Nguy cơ do tư lợi hay nguy cơ bị đe dọa cũng có
thể phát sinh khi phí dịch vụ từ một khách hàng sử dụng dịch vụ đảm bảo chiếm
một phần lớn trong tổng doanh thu từ các khách hàng của một thành viên Ban Giám
đốc. Doanh nghiệp kiểm toán phải đánh giá mức độ nghiêm trọng của nguy cơ và
phải áp dụng các biện pháp bảo vệ cần thiết để loại trừ hoặc làm giảm nguy cơ đó
xuống mức có thể chấp nhận được. Ví dụ về biện pháp bảo vệ như vậy là cử một
kiểm toán viên chuyên nghiệp không phải là thành viên trong nhóm thực hiện dịch
vụ đảm bảo soát xét lại công việc hoặc tư vấn khi
cần.
Phí
quá hạn
291.151 Nguy cơ do tư lợi có thể phát sinh nếu khách hàng
sử dụng dịch vụ đảm bảo vẫn chưa thanh toán phí trong một thời gian dài, đặc
biệt nếu không thanh toán một phần lớn phí trước khi phát hành báo cáo dịch vụ
đảm bảo cho kỳ tiếp theo. Thông thường doanh nghiệp kiểm toán yêu cầu thanh toán
phí trước khi phát hành báo cáo dịch vụ đảm bảo. Nếu phí dịch vụ đảm bảo vẫn
chưa được thanh toán sau khi đã phát hành báo cáo dịch vụ đảm bảo, doanh nghiệp
kiểm toán phải đánh giá sự tồn tại và mức độ nghiêm trọng của bất kỳ nguy cơ nào
và áp dụng các biện pháp bảo vệ cần thiết để loại trừ hoặc làm giảm nguy cơ đó
xuống mức có thể chấp nhận được. Ví dụ về biện pháp bảo vệ là mời một kiểm toán
viên chuyên nghiệp không tham gia vào hợp đồng dịch vụ đảm bảo đưa ra ý kiến tư
vấn hoặc soát xét lại công việc đã được thực hiện. Doanh nghiệp kiểm toán phải
xác định liệu phí quá hạn có thể được coi là tương đương với một khoản cho khách
hàng vay hay không, và liệu rằng do mức độ trọng yếu của khoản phí quá hạn này
thì doanh nghiệp kiểm toán có được tiếp tục hợp đồng dịch vụ đảm bảo hoặc tái bổ
nhiệm hay không.
Phí
tiềm tàng
291.152 Phí tiềm tàng là phí dịch vụ được xác định phụ
thuộc vào kết quả của giao dịch hoặc dịch vụ mà doanh nghiệp kiểm toán thực hiện
và dựa trên cơ sở được thỏa thuận trước. Trong Chương này, mức phí do tòa án
hoặc cơ quan có thẩm quyền khác ấn định không được coi là phí tiềm
tàng.
291.153 Phí tiềm tàng của một hợp đồng dịch vụ đảm bảo
được doanh nghiệp kiểm toán tính trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua một bên
trung gian phụ thuộc vào kết quả dịch vụ đảm bảo sẽ làm phát sinh nguy cơ
do tư lợi nghiêm trọng đến mức không có biện pháp bảo vệ nào có thể giảm nguy cơ
đó xuống mức có thể chấp nhận được. Do đó, doanh nghiệp kiểm toán không được ký
kết thỏa thuận phí dịch vụ đảm bảo theo cách tính phí tiềm
tàng.
291.154 Phí tiềm tàng của một dịch vụ phi đảm bảo cho một
khách hàng sử dụng dịch vụ đảm bảo được doanh nghiệp kiểm toán tính trực tiếp
hoặc gián tiếp thông qua một bên trung gian cũng có thể làm phát sinh nguy cơ do
tư lợi. Nếu kết quả của dịch vụ phi đảm bảo, và theo đó là mức phí, phụ thuộc
vào một xét đoán hiện tại hoặc tương lai về một vấn đề có liên quan trọng yếu
đến thông tin về đối tượng dịch vụ đảm bảo, thì sẽ không có biện pháp bảo vệ nào
có thể làm giảm nguy cơ đó xuống mức có thể chấp nhận được. Do đó, doanh nghiệp
kiểm toán không được ký kết những thỏa thuận về phí như
vậy.
291.155 Đối với các
thỏa thuận tính phí tiềm tàng do doanh nghiệp kiểm toán tính cho một dịch vụ phi
đảm bảo cung cấp cho khách hàng sử dụng dịch vụ đảm bảo, sự tồn tại và mức độ
nghiêm trọng của bất kỳ nguy cơ nào sẽ phụ thuộc vào các yếu tố
như:
(1) Khoảng phí tiềm tàng (ví dụ: phí và tỷ lệ % của
kết quả);
(2) Liệu có một cơ quan có thẩm quyền nào có quyền định
đoạt kết quả của vấn đề mà khoản phí tiềm tàng được tính dựa trên kết quả đó hay
không;
(3) Nội dung của dịch vụ;
(4) Ảnh hưởng của sự kiện hoặc giao dịch đối với đối
tượng dịch vụ đảm bảo.
Doanh nghiệp kiểm toán phải đánh giá mức độ nghiêm trọng
của bất kỳ nguy cơ nào và áp dụng các biện pháp bảo vệ cần thiết để loại trừ
hoặc làm giảm nguy cơ đó xuống mức có thể chấp nhận được, ví
dụ:
(1) Cử một kiểm toán viên chuyên nghiệp khác soát xét
phần việc có liên quan hoặc đưa ra ý kiến tư vấn khi cần thiết;
hoặc
(2) Sử dụng chuyên gia không phải là thành viên nhóm thực
hiện dịch vụ đảm bảo để thực hiện dịch vụ phi đảm
bảo.
Quà
tặng và ưu đãi
291.156 Việc chấp nhận quà tặng hoặc ưu đãi từ một khách
hàng sử dụng dịch vụ đảm bảo có thể làm phát sinh nguy cơ do tư lợi và nguy cơ
từ sự quen thuộc. Nếu một doanh nghiệp kiểm toán hoặc thành viên nhóm thực hiện
dịch vụ đảm bảo chấp nhận quà tặng hoặc ưu đãi, trừ khi giá trị không đáng kể,
các nguy cơ phát sinh sẽ nghiêm trọng đến mức không có biện pháp bảo vệ nào có
thể làm giảm nguy cơ đó xuống mức có thể chấp nhận được. Do đó, doanh nghiệp
kiểm toán hoặc thành viên nhóm thực hiện dịch vụ đảm bảo không được chấp nhận
quà tặng hoặc ưu đãi đó.
Tranh
chấp hoặc nguy cơ xảy ra tranh chấp pháp lý
291.157 Khi xảy ra hoặc có khả năng xảy ra kiện tụng,
tranh chấp giữa doanh nghiệp kiểm toán hoặc một thành viên nhóm thực hiện dịch
vụ đảm bảo với khách hàng sử dụng dịch vụ đảm bảo, nguy cơ do tư lợi và nguy cơ
bị đe dọa sẽ phát sinh. Mối quan hệ giữa Ban Giám đốc của khách hàng và các
thành viên nhóm thực hiện dịch vụ đảm bảo phải dựa trên nguyên tắc hoàn toàn vô
tư công khai về tất cả các mặt hoạt động kinh doanh của khách hàng. Khi doanh
nghiệp kiểm toán và Ban Giám đốc của khách hàng rơi vào tình thế đối đầu do xảy
ra kiện tụng, tranh chấp hoặc có nguy cơ xảy ra kiện tụng, tranh chấp, ảnh hưởng
đến việc Ban Giám đốc sẵn sàng công khai đầy đủ các thông tin cần thiết
thì nguy cơ do tư lợi và nguy cơ bị đe dọa sẽ phát sinh. Mức độ nghiêm trọng của
các nguy cơ này phụ thuộc vào các yếu tố như:
(1) Mức trọng yếu của vụ kiện tụng, tranh
chấp;
(2) Liệu vụ kiện tụng, tranh chấp có liên quan đến một
hợp đồng dịch vụ đảm bảo trước đây hay không.
Doanh nghiệp kiểm toán phải đánh giá mức độ nghiêm trọng
của các nguy cơ và áp dụng các biện pháp bảo vệ cần thiết để loại trừ hoặc làm
giảm nguy cơ đó xuống mức có thể chấp nhận được, ví
dụ:
(1) Rút thành viên ra khỏi nhóm thực hiện dịch vụ đảm bảo
nếu vụ kiện tụng, tranh chấp có liên quan đến thành viên đó;
hoặc
(2) Cử một kiểm toán viên chuyên nghiệp khác soát xét
công việc đã thực hiện.
Nếu các biện pháp bảo vệ không làm giảm các nguy cơ đó
xuống mức có thể chấp nhận được, biện pháp thích hợp duy nhất là rút khỏi hoặc
từ chối thực hiện hợp đồng dịch vụ đảm bảo.
HƯỚNG
DẪN ĐOẠN 291.102 CHUẨN MỰC NÀY
Áp
dụng Chương 291 đối với dịch vụ đảm bảo không phải là dịch vụ kiểm toán báo cáo
tài chính
Phần này đưa ra hướng dẫn về việc áp dụng các yêu cầu về
tính độc lập quy định tại Chương 291 đối với dịch vụ đảm bảo không phải là dịch
vụ kiểm toán báo cáo tài chính.
Phần hướng dẫn áp dụng này tập trung vào các vấn đề
thường gặp trong thực tế khi thực hiện dịch vụ đảm bảo không phải dịch vụ kiểm
toán báo cáo tài chính. Quy định tại Chương 291 là phù hợp để xem xét các yêu
cầu đối với tính độc lập cho tất cả các hợp đồng dịch đảm bảo. Ví dụ, đoạn 291.3
quy định doanh nghiệp kiểm toán phải đánh giá nguy cơ mà họ có cơ sở để tin rằng
nguy cơ đó phát sinh từ các lợi ích và mối quan hệ của một công ty mạng lưới,
hoặc một bên liên quan của khách hàng sử dụng dịch vụ đảm bảo có ảnh hưởng đến
tính độc lập, nhóm thực hiện dịch vụ đảm bảo phải xem xét cả bên liên quan đó
trong quá trình đánh giá các nguy cơ đe dọa tính độc lập đồng thời áp dụng các
biện pháp bảo vệ cần thiết. Những vấn đề này không được hướng dẫn một cách cụ
thể trong phần này.
Như quy định tại Khuôn khổ Việt Nam về hợp đồng dịch vụ
đảm bảo, trong một dịch vụ đảm bảo, kiểm toán viên hành nghề phải đưa ra kết
luận nhằm làm tăng độ tin cậy của các đối tượng sử dụng không phải là bên chịu
trách nhiệm về kết quả của việc đánh giá hoặc đo lường đối tượng dịch vụ đảm bảo
dựa trên các tiêu chí.
Hợp
đồng dịch vụ đảm bảo chứng thực
Trong
dịch vụ đảm bảo chứng thực, việc đánh giá hoặc đo lường đối tượng dịch vụ đảm
bảo do bên chịu trách nhiệm thực hiện, và thông tin về đối tượng dịch vụ đảm bảo
được trình bày dưới dạng một khẳng định mà bên chịu trách nhiệm công bố cho các
đối tượng sử dụng.
Trong dịch vụ đảm bảo chứng thực, doanh nghiệp kiểm toán
phải độc lập với bên chịu trách nhiệm - là bên có trách nhiệm đối với thông tin
về đối tượng dịch vụ đảm bảo, và có thể là đối với cả chính đối tượng dịch vụ
đảm bảo đó.
Trong dịch vụ đảm bảo chứng thực mà bên chịu trách nhiệm
chỉ có trách nhiệm đối với thông tin về đối tượng dịch vụ đảm bảo chứ không có
trách nhiệm đối với đối tượng dịch vụ đảm bảo đó, thì doanh nghiệp kiểm toán
phải độc lập với bên chịu trách nhiệm. Thêm vào đó, doanh nghiệp kiểm toán phải
đánh giá đối với bất kỳ nguy cơ nào mà doanh nghiệp kiểm toán có cơ sở để tin
rằng nguy cơ đó phát sinh do lợi ích và mối quan hệ giữa một thành viên nhóm
thực hiện dịch vụ, doanh nghiệp kiểm toán, công ty mạng lưới và bên chịu trách
nhiệm về đối tượng dịch vụ đảm bảo.
Hợp
đồng dịch vụ đảm bảo trực tiếp
Trong
dịch vụ đảm bảo trực tiếp, kiểm toán viên hành nghề trực tiếp thực hiện việc
đánh giá hoặc đo lường đối tượng dịch vụ đảm bảo hoặc thu thập giải trình từ bên
chịu trách nhiệm thực hiện đánh giá hoặc đo lường đối tượng dịch vụ đảm bảo, mà
kết quả đánh giá hoặc đo lường đó không được công bố cho đối tượng sử dụng.
Thông tin về đối tượng dịch vụ đảm bảo chỉ được cung cấp cho đối tượng sử dụng
trong báo cáo dịch vụ đảm bảo.
Trong dịch vụ đảm bảo trực tiếp, doanh nghiệp kiểm toán
phải độc lập với bên chịu trách nhiệm là bên chịu trách nhiệm về đối tượng dịch
vụ đảm bảo.
Nhiều
bên chịu trách nhiệm
Trong
cả dịch vụ đảm bảo chứng thực và dịch vụ đảm bảo trực tiếp, có thể có nhiều hơn
một bên chịu trách nhiệm. Ví dụ, kiểm toán viên hành nghề có thể được mời thực
hiện dịch vụ đảm bảo về số liệu phát hành hàng tháng của một số tờ báo độc lập.
Dịch vụ này có thể được cơ cấu dưới dạng một dịch vụ đảm bảo chứng thực khi mỗi
tòa báo thống kê số lượng phát hành riêng của mình và trình bày số liệu đó dưới
dạng một báo cáo rồi cung cấp cho đối tượng sử dụng. Theo một cách khác, dịch vụ
này có thể được cơ cấu dưới dạng dịch vụ đảm bảo trực tiếp khi không có báo cáo
và có hoặc không có giải trình bằng văn bản từ các tòa báo.
Trong các dịch vụ như vậy, khi quyết định liệu có cần
thiết phải áp dụng các quy định trong Chương 291 cho từng bên chịu trách nhiệm
hay không, doanh nghiệp kiểm toán nên xem xét liệu lợi ích hoặc mối quan hệ giữa
doanh nghiệp kiểm toán hoặc thành viên nhóm thực hiện dịch vụ đảm bảo với bên
chịu trách nhiệm cụ thể có thể làm phát sinh nguy cơ đáng kể đe dọa tính độc lập
hay không. Doanh nghiệp kiểm toán phải cân nhắc:
(a) Mức độ trọng yếu của thông tin về đối tượng dịch vụ
đảm bảo (hoặc của đối tượng dịch vụ đảm bảo) mà bên chịu trách nhiệm đó chịu
trách nhiệm;
(b) Lợi ích của công chúng liên quan đến dịch vụ đảm bảo
đó.
Nếu doanh nghiệp
kiểm toán xác định rằng nguy cơ đe dọa tính độc lập phát sinh từ các mối quan hệ
như vậy với bên chịu trách nhiệm đó là nhỏ và không quan trọng thì không nhất
thiết phải áp dụng toàn bộ các quy định trong Chương này đối với bên chịu trách
nhiệm đó.
Ví
dụ
Ví dụ sau được đưa ra để minh họa cho việc áp dụng các
quy định của Chương 291 với giả thiết rằng khách hàng không đồng thời là khách
hàng sử dụng dịch vụ kiểm toán báo cáo tài chính của doanh nghiệp kiểm toán hay
công ty mạng lưới.
Doanh nghiệp kiểm toán thực hiện dịch vụ đảm bảo đối với
trữ lượng dầu thực tế của 10 công ty độc lập. Từng công ty đã tiến hành khảo sát
kỹ thuật và địa chất để xác định trữ lượng của họ (đối tượng dịch vụ đảm bảo).
Các tiêu chí đã được thiết lập để xác định thế nào là trữ lượng thực tế và các
tiêu chí này đã được kiểm toán viên hành nghề xác định là phù hợp với dịch vụ
đảm bảo. Trữ lượng thực tế của mỗi doanh nghiệp tại ngày 31 tháng 12 năm 20x0
như sau:
Đơn
vị tính: 1000 thùng
|
|
Trữ
lượng dầu thực tế |
|
Trữ
lượng dầu thực tế |
|
Công ty 1 |
5.200 |
Công ty 6 |
39.126 |
|
Công ty 2 |
725 |
Công ty 7 |
345 |
|
Công ty 3 |
3.260 |
Công ty 8 |
175 |
|
Công ty 4 |
15.000 |
Công ty 9 |
24.135 |
|
Công ty 5 |
6.700 |
Công ty 10 |
9.635 |
|
Tổng |
104.301 |
Hợp
đồng dịch vụ đảm bảo có thể được cơ cấu theo các cách khác nhau:
Hợp
đồng dịch vụ đảm bảo chứng thực
A1
Mỗi công ty đo trữ lượng của mình và cung cấp báo cáo cho doanh nghiệp kiểm toán
và cho đối tượng sử dụng; hoặc
A2
Một tổ chức độc lập đo trữ lượng của các công ty này và cung cấp báo cáo cho
doanh nghiệp kiểm toán và cho đối tượng sử dụng.
Hợp
đồng dịch vụ đảm bảo trực tiếp
D1 Mỗi công ty đo trữ lượng của mình và cung cấp cho
doanh nghiệp kiểm toán giải trình bằng văn bản rằng công ty đã đo trữ lượng dựa
trên các tiêu chí đã được thiết lập để đo lường trữ lượng thực tế. Giải trình
này không được công bố cho đối tượng sử dụng hoặc;
D2 Doanh nghiệp kiểm toán trực tiếp đo trữ lượng của một
vài công ty.
Áp
dụng phương pháp tiếp cận
A1
Mỗi công ty đo trữ lượng của mình và cung cấp báo cáo cho doanh nghiệp kiểm toán
và cho đối tượng sử dụng
Có nhiều bên chịu trách nhiệm trong hợp đồng này (10 công
ty). Khi xác định liệu có cần áp dụng các quy định về tính độc lập với tất cả
các công ty hay không, doanh nghiệp kiểm toán có thể xem xét liệu lợi ích hoặc
mối quan hệ với từng công ty cụ thể có thể làm phát sinh nguy cơ đe dọa tính độc
lập vượt quá mức có thể chấp nhận được hay không. Doanh nghiệp kiểm toán sẽ xem
xét các yếu tố như:
• Mức độ trọng yếu của trữ lượng thực tế của từng công ty
trên tổng trữ lượng báo cáo;
• Lợi ích của công chúng liên quan đến hợp đồng (xem quy
định tại đoạn 291.28 Chuẩn mực này).
Ví dụ, công ty 8 chiếm 0,17% tổng trữ lượng, vì vậy lợi
ích và mối quan hệ kinh doanh với công ty 8 sẽ làm phát sinh ít nguy cơ hơn so
với mối quan hệ tương tự đối với công ty 6, công ty chiếm tới gần 37,5% tổng trữ
lượng.
Sau khi xác định được các công ty cần áp dụng các yêu cầu
về tính độc lập, nhóm thực hiện dịch vụ đảm bảo và doanh nghiệp kiểm toán được
yêu cầu phải độc lập với các bên chịu trách nhiệm đó và các bên này sẽ được coi
là khách hàng sử dụng dịch vụ đảm bảo (đoạn 291.28 Chuẩn mực
này).
A2
Một tổ chức độc lập đo trữ lượng của các công ty và cung cấp báo cáo cho doanh
nghiệp kiểm toán và cho đối tượng sử dụng
Doanh
nghiệp kiểm toán phải độc lập với tổ chức đo trữ lượng và cung cấp các báo cáo
cho doanh nghiệp kiểm toán và cho đối tượng sử dụng (xem quy định tại đoạn
291.19 Chuẩn mực này). Tổ chức này không chịu trách nhiệm về đối tượng dịch vụ
đảm bảo và vì thế, doanh nghiệp kiểm toán phải đánh giá bất kỳ nguy cơ nào mà
doanh nghiệp kiểm toán có cơ sở để tin rằng nguy đó có thể phát sinh từ các lợi
ích/ mối quan hệ với bên chịu trách nhiệm về đối tượng dịch vụ đảm bảo (đoạn
291.19 Chuẩn mực này). Có nhiều bên chịu trách nhiệm về đối tượng dịch vụ đảm
bảo ở trong hợp đồng này (10 công ty). Như đã đề cập ở ví dụ A1 bên trên, doanh
nghiệp kiểm toán có thể xem xét liệu lợi ích hoặc mối quan hệ với từng công ty
cụ thể có thể làm phát sinh nguy cơ đe dọa tính độc lập vượt quá mức có thể chấp
nhận được hay không.
D1
Mỗi công ty đo trữ lượng của mình và cung cấp cho doanh nghiệp kiểm toán giải
trình bằng văn bản rằng công ty đã đo trữ lượng dựa trên các tiêu chí đã được
thiết lập để đo lường trữ lượng thực tế. Giải trình này không được công bố cho
đối tượng sử dụng
Có nhiều bên chịu trách nhiệm trong hợp đồng này (10 công
ty). Khi xác định liệu có cần áp dụng các quy định về tính độc lập với tất cả
các công ty hay không, doanh nghiệp kiểm toán có thể xem xét liệu lợi ích hoặc
mối quan hệ với từng công ty cụ thể có thể làm phát sinh nguy cơ đe dọa tính độc
lập vượt quá mức có thể chấp nhận được hay không. Doanh nghiệp sẽ xem xét các
yếu tố như:
• Mức độ trọng yếu của trữ lượng thực tế của từng công ty
trên tổng trữ lượng báo cáo;
• Lợi ích của công
chúng với hợp đồng (xem quy định đoạn 291.28 Chuẩn mực
này).
Ví dụ, công ty 8 chiếm 0,17% tổng trữ lượng, vì vậy lợi
ích và mối quan hệ kinh doanh với công ty 8 sẽ tạo ra ít nguy cơ hơn so với mối
quan hệ tương tự đối với công ty 6, công ty chiếm tới gần 37,5% tổng trữ
lượng.
Sau khi xác định được các công ty cần áp dụng các yêu cầu
về tính độc lập, nhóm thực hiện dịch vụ đảm bảo và doanh nghiệp kiểm toán được
yêu cầu phải độc lập với các bên chịu trách nhiệm đó và các bên này sẽ được coi
là khách hàng sử dụng dịch vụ đảm bảo (đoạn 291.28 Chuẩn mực
này).
D2
Doanh nghiệp kiểm toán trực tiếp đo trữ lượng của một vài công
ty
Áp dụng giống như ví dụ D1 nói
trên.
Phần
C
ÁP DỤNG CHO KẾ TOÁN VIÊN, KIỂM TOÁN VIÊN CHUYÊN NGHIỆP
TRONG DOANH NGHIỆP
CHƯƠNG
300 - Giới thiệu
300.1
Phần C của Chuẩn mực này quy định việc áp dụng khuôn khổ quy định tại Phần A
trong các trường hợp cụ thể đối với kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp
trong doanh nghiệp. Phần này không quy định tất cả các tình huống cũng như các
mối quan hệ làm phát sinh hoặc có thể làm phát sinh nguy cơ ảnh hưởng đến việc
tuân thủ các nguyên tắc đạo đức cơ bản mà kế toán viên, kiểm toán viên chuyên
nghiệp trong doanh nghiệp có thể gặp phải. Vì vậy, kế toán viên, kiểm toán viên
chuyên nghiệp trong doanh nghiệp được khuyến khích chú ý đến những tình huống
cũng như những mối quan hệ tương tự.
300.2
Các nhà đầu tư, nhà cung cấp, chủ doanh nghiệp và những đối tượng khác trong
cộng đồng kinh doanh cũng như chính phủ và công chúng đều có thể tin dùng công
việc của kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp trong doanh nghiệp. Kế toán
viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp trong doanh nghiệp có thể phải chịu trách
nhiệm một cách độc lập hoặc liên đới về việc lập và trình bày báo cáo tài chính
và các thông tin khác mà doanh nghiệp, tổ chức và bên thứ ba sử dụng. Họ cũng có
thể phải chịu trách nhiệm đối với việc quản lý tài chính hiệu quả và các ý kiến
tư vấn về các vấn đề liên quan đến hoạt động kinh doanh.
300.3
Kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp trong doanh nghiệp có thể là người
làm thuê, thành viên Ban Giám đốc, Giám đốc điều hành hoặc không tham gia điều
hành doanh nghiệp, Chủ doanh nghiệp kiêm Giám đốc, tình nguyện viên hay một cá
nhân làm việc cho một hoặc nhiều tổ chức. Hình thức pháp lý của mối quan hệ với
doanh nghiệp hoặc tổ chức sử dụng lao động, nếu có, không ảnh hưởng tới trách
nhiệm về đạo đức nghề nghiệp của họ.
300.4
Kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp trong doanh nghiệp có trách nhiệm góp
phần thực hiện các mục tiêu chính đáng của doanh nghiệp, tổ chức đó. Chuẩn mực
này không cản trở kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp trong doanh nghiệp
trong việc hoàn thành các trách nhiệm đó, mà chỉ quy định các tình huống mà
trong đó các nguyên tắc đạo đức cơ bản có thể bị vi phạm.
300.5
Kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp trong doanh nghiệp có thể nắm giữ vị
trí cấp cao trong doanh nghiệp, tổ chức đó. Vị trí càng cao thì họ càng có nhiều
khả năng và cơ hội để gây ảnh hưởng đến các sự kiện, thông lệ và thái độ. Do đó,
kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp trong doanh nghiệp được kỳ vọng sẽ
phát triển văn hóa doanh nghiệp dựa trên cơ sở đạo đức nghề nghiệp, trong đó
nhấn mạnh tầm quan trọng mà lãnh đạo cấp cao đặt vào hành vi ứng xử có đạo
đức.
300.6
Kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp trong doanh nghiệp không được tham
gia vào các hoạt động kinh doanh, công việc, hoạt động làm tổn hại hoặc có thể
làm tổn hại đến tính chính trực, tính khách quan hoặc uy tín nghề nghiệp và vì
vậy dẫn đến việc không tuân thủ các nguyên tắc đạo đức cơ bản.
300.7
Việc tuân thủ các nguyên tắc đạo đức cơ bản có thể bị đe dọa bởi rất nhiều tình
huống và các mối quan hệ. Các nguy cơ được phân nhóm như sau:
(a)
Nguy cơ do tư lợi;
(b)
Nguy cơ tự kiểm tra;
(c)
Nguy cơ về sự bào chữa;
(d)
Nguy cơ từ sự quen thuộc;
(e)
Nguy cơ bị đe dọa.
Các
nguy cơ này được quy định chi tiết tại Phần A của Chuẩn mực này.
300.8
Ví dụ về các tình huống có thể làm phát sinh nguy cơ do tư lợi cho kế toán viên,
kiểm toán viên chuyên nghiệp trong doanh nghiệp bao gồm:
(1)
Nắm giữ lợi ích tài chính trong doanh nghiệp, hoặc nhận khoản vay hay bảo lãnh
từ doanh nghiệp, tổ chức mà mình đang làm việc;
(2)
Tham gia vào các thỏa thuận về lương, thưởng với doanh nghiệp, tổ chức mà mình
đang làm việc;
(3)
Sử dụng tài sản của doanh nghiệp, tổ chức cho mục đích cá nhân;
(4)
Lo lắng về sự ổn định của công việc;
(5)
Áp lực kinh doanh đến từ bên ngoài doanh nghiệp, tổ chức mà mình đang làm
việc.
300.9
Ví dụ về tình huống có thể làm phát sinh nguy cơ tự kiểm tra là khi kế toán
viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp trong doanh nghiệp phải quyết định phương
pháp hạch toán kế toán phù hợp cho giao dịch hợp nhất kinh doanh sau khi chính
mình đã thực hiện nghiên cứu khả thi làm cơ sở cho việc quyết định thực hiện
giao dịch mua đó.
300.10
Khi góp phần thực hiện các mục tiêu chính đáng của doanh nghiệp, tổ chức nơi
mình làm việc, kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp trong doanh nghiệp có
thể quảng bá vị thế của tổ chức đó, với điều kiện lời quảng bá không được sai sự
thật và không được gây hiểu nhầm. Nhìn chung, những việc như vậy thường không
làm phát sinh nguy cơ về sự bào chữa.
300.11
Ví dụ về các tình huống có thể làm phát sinh nguy cơ từ sự quen thuộc bao
gồm:
(1)
Kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp trong doanh nghiệp chịu trách nhiệm
báo cáo thông tin tài chính, trong khi, thành viên có quan hệ gia đình trực tiếp
hoặc gần gũi của họ cũng làm ở doanh nghiệp, tổ chức đó chịu trách nhiệm đưa ra
các quyết định có ảnh hưởng đến việc báo cáo thông tin tài chính đó;
(2) Có mối liên hệ lâu dài với các cá nhân có khả năng
ảnh hưởng đến các quyết định kinh doanh;
(3) Nhận quà tặng hay ưu đãi, trừ khi giá trị của nó là
không đáng kể.
300.12 Ví dụ về các tình huống có thể làm phát sinh nguy
cơ bị đe dọa bao gồm:
(1) Kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp trong
doanh nghiệp hoặc thành viên có quan hệ gia đình trực tiếp hay gần gũi của họ bị
đe dọa cho thôi việc hay chuyển công tác khác do bất đồng về việc áp dụng nguyên
tắc kế toán hay cách thức báo cáo thông tin tài
chính;
(2) Một cá nhân có khả năng chi phối gây ảnh hưởng đến
quá trình ra quyết định, ví dụ, trong việc quyết định ký kết hợp đồng hay việc
áp dụng một nguyên tắc kế toán.
300.13 Các biện pháp bảo vệ có thể loại trừ hoặc làm các
giảm nguy cơ đó xuống mức có thể chấp nhận được gồm hai nhóm
sau:
(a) Các biện pháp bảo vệ do pháp luật, cơ quan quản lý
hoặc tổ chức nghề nghiệp quy định;
(b) Các biện pháp bảo vệ trong môi trường làm
việc.
Ví dụ về các biện pháp bảo vệ do pháp luật, cơ quan quản
lý hoặc tổ chức nghề nghiệp quy định chi tiết tại đoạn 100.14 thuộc Phần A của
Chuẩn mực này.
300.14 Các biện pháp bảo vệ trong môi trường làm việc bao
gồm:
(1) Hệ thống giám sát doanh nghiệp hoặc cơ chế giám sát
khác của doanh nghiệp, tổ chức nơi kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp
làm việc;
(2) Các quy tắc đạo đức và hành vi ứng xử của doanh
nghiệp, tổ chức;
(3) Thủ tục tuyển dụng của doanh nghiệp, tổ chức nhấn
mạnh tầm quan trọng của việc tuyển dụng nhân viên có năng lực và phẩm
chất;
(4) Hệ thống kiểm soát nội bộ chặt
chẽ;
(5) Các biện pháp kỷ luật thích
hợp;
(6) Phong cách lãnh đạo chú trọng vào việc ứng xử có đạo
đức và kỳ vọng vào việc nhân viên sẽ hành động một cách có đạo
đức;
(7) Các chính sách và thủ tục nhằm thực hiện và theo dõi
chất lượng, hiệu quả công việc của nhân viên;
(8) Trao đổi kịp thời với tất cả nhân viên về các chính
sách và thủ tục của doanh nghiệp, tổ chức, kể cả những thay đổi (nếu có), và có
các chương trình đào tạo phù hợp về các chính sách và thủ tục
đó;
(9) Các chính sách và thủ tục nhằm trao quyền và khuyến
khích nhân viên trao đổi thông tin với các cấp lãnh đạo cao hơn trong doanh
nghiệp, tổ chức về bất cứ vấn đề đạo đức nào khiến họ quan ngại mà không sợ bị
trù dập;
(10) Tham khảo ý kiến tư vấn của kế toán viên, kiểm toán
viên chuyên nghiệp phù hợp khác.
300.15 Trường hợp kế
toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp trong doanh nghiệp tin rằng các hành vi
và ứng xử vi phạm đạo đức nghề nghiệp của các nhân viên khác sẽ còn tiếp diễn
trong doanh nghiệp, tổ chức nơi mình làm việc, thì kế toán viên, kiểm toán viên
chuyên nghiệp có thể cân nhắc việc tham khảo ý kiến của chuyên gia tư vấn pháp
luật. Trường hợp nghiêm trọng, khi toàn bộ các biện pháp bảo vệ có thể thực hiện
đều không hiệu quả và không thể làm giảm các nguy cơ xuống mức có thể chấp nhận
được, kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp có thể cân nhắc xin thôi
việc.
CHƯƠNG
310 - Xung đột về lợi ích
310.1
Kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp trong doanh nghiệp có thể gặp phải
xung đột về lợi ích trong khi thực hiện hoạt động chuyên môn. Xung đột về lợi
ích có thể làm phát sinh nguy cơ ảnh hưởng đến tính khách quan và các nguyên tắc
đạo đức cơ bản khác. Các
nguy cơ có thể phát sinh khi:
(1) Kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp trong
doanh nghiệp thực hiện hoạt động chuyên môn liên quan đến một vấn đề cụ thể cho
hai hoặc nhiều bên bị xung đột về lợi ích liên quan đến vấn đề trên;
hoặc
(2) Lợi ích của kế toán viên, kiểm toán viên chuyên
nghiệp trong doanh nghiệp liên quan đến một vấn đề cụ thể trong hoạt động chuyên
môn bị xung đột với lợi ích của bên có liên quan đến hoạt động chuyên môn mà kế
toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp trong doanh nghiệp thực
hiện.
Bên bị xung đột lợi ích nói trên có thể là doanh nghiệp,
tổ chức nơi kế toán viên, kiểm toán
viên chuyên nghiệp làm việc, nhà
cung cấp, khách hàng, bên cho vay, cổ đông hoặc các bên
khác.
Kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp trong doanh
nghiệp không được để xung đột về lợi ích làm ảnh hưởng đến xét đoán chuyên
môn hoặc quyết định kinh doanh của mình.
310.2 Ví dụ về các trường hợp có thể làm phát sinh xung
đột về lợi ích, khi kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp trong doanh
nghiệp:
(1) Nắm giữ vị trí thành viên Ban Giám đốc hoặc Ban quản
trị của hai doanh nghiệp, tổ chức và thu thập thông tin bảo mật từ doanh nghiệp
này để đem lại lợi ích hoặc gây bất lợi cho doanh nghiệp
kia;
(2) Thực hiện hoạt động chuyên môn cho một trong hai bên
góp vốn vào công ty hợp danh mà kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp đang
làm việc để giúp họ giải thể công ty hợp danh đó;
(3) Lập và trình bày thông tin tài chính cho một số thành
viên Ban Giám đốc của doanh nghiệp, tổ chức mà kế toán viên, kiểm toán viên
chuyên nghiệp đang làm việc và các thành viên đó đang tiến hành mua toàn bộ
hoặc một phần sở hữu đủ để giành quyền kiểm soát doanh
nghiệp;
(4) Chịu trách nhiệm lựa chọn nhà cung cấp cho doanh
nghiệp, tổ chức mà kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp đang làm việc
trong khi một thành viên có quan hệ gia đình trực tiếp của kế toán viên, kiểm
toán viên chuyên nghiệp đó có thể hưởng lợi ích tài chính từ giao dịch
này;
(5)
Nắm giữ vai trò như một thành viên Ban quản trị trong doanh nghiệp, tổ chức
mà họ đang làm việc, và đang xem xét phê duyệt các khoản đầu tư nhất định
cho doanh nghiệp mà các khoản đầu tư này sẽ làm tăng giá trị danh mục đầu tư cá
nhân của kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp hoặc thành viên có quan hệ
gia đình trực tiếp của kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp
đó.
310.3 Trong quá trình xác định và đánh giá các lợi ích,
các mối quan hệ có thể làm phát sinh xung đột về lợi ích, đồng thời thực hiện
các biện pháp bảo vệ cần thiết để loại trừ hoặc làm giảm nguy cơ ảnh hưởng việc
tuân thủ các nguyên tắc đạo đức cơ bản xuống mức có thể chấp nhận được thì kế
toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp trong doanh nghiệp phải sử dụng xét đoán
chuyên môn và cảnh giác đối với tất cả những lợi ích và mối quan hệ mà một bên
thứ ba phù hợp và có đầy đủ thông tin, sau khi xem xét các sự kiện và tình huống
có sẵn cho kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp tại thời điểm đó, có thể
kết luận rằng các lợi ích và các mối quan hệ đó có thể ảnh hưởng đến việc tuân
thủ các nguyên tắc đạo đức cơ bản.
310.4 Trong quá
trình giải quyết xung đột về lợi ích, kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp
trong doanh nghiệp được khuyến khích tham khảo hướng dẫn của doanh nghiệp, tổ
chức mà họ đang làm việc hoặc từ các bên khác như tổ chức nghề nghiệp, chuyên
gia tư vấn pháp luật hoặc từ kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp khác.
Khi tiết lộ hoặc chia sẻ thông tin bên trong doanh nghiệp, tổ chức và tham khảo
hướng dẫn của bên thứ ba, kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp phải luôn
đảm bảo tuân thủ nguyên tắc đạo đức cơ bản về bảo mật thông
tin.
310.5 Nếu nguy cơ phát sinh do xung đột về lợi ích lớn
hơn mức có thể chấp nhận được, kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp trong
doanh nghiệp phải áp dụng các biện pháp bảo vệ nhằm loại trừ hoặc làm giảm ảnh
hưởng của nguy cơ đó xuống mức có thể chấp nhận được. Nếu các biện pháp bảo vệ
không thể làm giảm nguy cơ xuống mức có thể chấp nhận được thì kế toán viên,
kiểm toán viên chuyên nghiệp phải từ chối thực hiện hoặc ngừng thực hiện hoạt
động chuyên môn mà hoạt động đó làm phát sinh xung đột về lợi ích; hoặc chấm dứt
các mối quan hệ có liên quan hoặc từ bỏ các lợi ích có liên quan nhằm loại trừ
hoặc làm giảm nguy cơ đó xuống mức có thể chấp nhận
được.
310.6 Khi xác định liệu xung đột về lợi ích có tồn tại
hoặc có thể phát sinh hay không, kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp
trong doanh nghiệp phải thực hiện các thủ tục phù hợp để xác
định:
(1) Bản chất của các lợi ích và mối quan hệ giữa các bên
liên quan đến hoạt động chuyên môn;
(2) Bản chất của hoạt động chuyên môn và ảnh hưởng của
hoạt động chuyên môn đó đối với các bên liên quan.
Bản chất của hoạt động chuyên môn cũng như các lợi ích và
mối quan hệ liên quan có thể thay đổi theo thời gian. Kế toán viên, kiểm toán
viên chuyên nghiệp phải luôn cảnh giác với những sự thay đổi như vậy nhằm xác
định các tình huống có thể làm phát sinh xung đột về lợi
ích.
310.7 Nếu phát hiện xung đột về lợi ích, kế toán viên,
kiểm toán viên chuyên nghiệp trong doanh nghiệp phải đánh
giá:
(1) Tầm quan trọng của các lợi ích hoặc mối quan hệ có
liên quan;
(2) Mức độ nghiêm
trọng của các nguy cơ phát sinh do việc thực hiện hoạt động chuyên môn. Nhìn
chung, hoạt động chuyên môn càng liên quan trực tiếp đến vấn đề làm phát sinh
xung đột về lợi ích thì nguy cơ ảnh hưởng đến tính khách quan và việc tuân thủ
các nguyên tắc đạo đức cơ bản khác càng nghiêm
trọng.
310.8 Kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp trong
doanh nghiệp phải áp dụng các biện pháp bảo vệ cần thiết nhằm loại trừ hoặc làm
giảm các nguy cơ ảnh hưởng đến việc tuân thủ các nguyên tắc đạo đức cơ bản do
xung đột về lợi ích gây ra xuống mức có thể chấp nhận được. Tùy thuộc vào hoàn
cảnh làm phát sinh xung đột về lợi ích, kế toán viên, kiểm toán viên chuyên
nghiệp trong doanh nghiệp có thể áp dụng một hoặc một số biện pháp bảo vệ
sau:
(1) Cơ cấu lại hoặc phân công lại trách nhiệm và nghĩa vụ
cụ thể;
(2) Thực hiện sự giám sát phù hợp, ví dụ, hoạt động dưới
sự giám sát của một thành viên Ban Giám đốc;
(3) Không tham gia quá trình ra quyết định có liên quan
đến vấn đề làm phát sinh xung đột về lợi ích;
(4) Tham khảo ý kiến tư vấn từ bên thứ ba như tổ chức
nghề nghiệp, chuyên gia tư vấn pháp luật hoặc kế toán viên, kiểm toán viên
chuyên nghiệp khác.
310.9
Ngoài các biện pháp bảo vệ hướng dẫn tại đoạn 310.8, kế toán viên, kiểm
toán viên chuyên nghiệp trong doanh nghiệp cần phải cung cấp thông tin về bản
chất của xung đột lợi ích cho các bên liên quan, bao gồm các cấp phù hợp trong
doanh nghiệp, tổ chức mà kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp đang làm
việc, và trong trường hợp cần thiết phải có các biện pháp bảo vệ nhằm làm giảm
ảnh hưởng của nguy cơ xuống mức có thể chấp nhận được thì cần phải có sự chấp
nhận của các bên đó để kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp trong doanh
nghiệp thực hiện hoạt động chuyên môn của mình. Trong một số trường hợp, sự chấp
nhận có thể được thể hiện thông qua thái độ của các bên liên quan khi kế toán
viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp có đủ bằng chứng để kết luận rằng các bên đã
biết về hoàn cảnh cụ thể của xung đột ngay từ đầu và đã chấp nhận hoặc
không phản đối sự tồn tại của xung đột về lợi ích đó.
310.10 Khi việc cung cấp thông tin được thực hiện bằng
lời hoặc sự chấp nhận cũng bằng lời hoặc thể hiện thông qua thái độ, kế toán
viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp trong doanh nghiệp phải ghi chép và lưu lại
trong tài liệu, hồ sơ về bản chất của tình huống làm phát sinh xung đột về lợi
ích, các biện pháp bảo vệ đã được áp dụng để làm giảm nguy cơ đó xuống mức có
thể chấp nhận được và sự đồng ý của bên liên
quan.
310.11 Kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp trong
doanh nghiệp có thể gặp phải các nguy cơ khác ảnh hưởng đến việc tuân thủ các
nguyên tắc đạo đức cơ bản, ví dụ khi phải lập hoặc báo cáo thông tin tài chính
do áp lực không phù hợp từ các bên khác trong doanh nghiệp, tổ chức mà kế toán
viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp đang làm việc hoặc do các mối quan hệ tài
chính, kinh doanh hoặc cá nhân giữa doanh nghiệp đó và thành viên có mối quan hệ
gia đình trực tiếp hoặc gần gũi với kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp
trong doanh nghiệp, tổ chức đó. Chương 320 và 340 Chuẩn mực này quy định và
hướng dẫn về các biện pháp xử lý đối với các nguy cơ
đó.
CHƯƠNG
320 – Lập và báo cáo thông tin
320.1 Kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp trong
doanh nghiệp thường tham gia vào việc lập và báo cáo thông tin có thể được công
bố ra công chúng hoặc được đối tượng khác trong và ngoài doanh nghiệp sử dụng.
Thông tin này có thể bao gồm thông tin tài chính hoặc thông tin quản lý, ví dụ,
dự toán ngân sách, báo cáo tài chính, thông tin trao đổi và phân tích của Ban
Giám đốc, thư giải trình của Ban Giám đốc cung cấp cho kiểm toán viên trong quá
trình kiểm toán báo cáo tài chính của doanh nghiệp. Kế toán viên, kiểm toán viên
chuyên nghiệp trong doanh nghiệp phải lập hoặc trình bày thông tin một cách
trung thực, hợp lý và phù hợp với các chuẩn mực nghề nghiệp và các quy định
pháp lý có liên quan đến lập và trình bày thông tin để các thông tin này
được hiểu đúng bản chất.
320.2 Kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp trong
doanh nghiệp chịu trách nhiệm lập hoặc phê duyệt báo cáo tài chính cho mục đích
chung của doanh nghiệp phải đảm bảo rằng báo cáo tài chính đó được lập và trình
bày phù hợp với các chuẩn mực và các quy định pháp lý có liên quan đến
lập và trình bày báo cáo tài chính được áp dụng.
320.3 Kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp trong
doanh nghiệp phải thực hiện các biện pháp phù hợp để đảm bảo thông tin mà mình
chịu trách nhiệm lập và trình bày phải:
(a) Phản ảnh rõ ràng và đúng bản chất của các giao dịch
kinh doanh, tài sản hoặc nợ phải trả;
(b) Được phân loại và ghi chép thông tin một cách kịp
thời và đúng đắn;
(c) Được trình bày chính xác, trung thực và đầy đủ
các sự kiện và giao dịch trên các khía cạnh trọng
yếu.
320.4 Nguy cơ ảnh hưởng đến việc tuân thủ các nguyên tắc
đạo đức cơ bản, ví dụ, nguy cơ do tư lợi hoặc nguy cơ bị đe dọa làm ảnh hưởng
tới tính chính trực, tính khách quan hoặc năng lực chuyên môn và tính thận
trọng, có thể phát sinh khi kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp trong
doanh nghiệp bị gây áp lực từ bên ngoài hay từ chính khả năng có thể thu lợi ích
cá nhân, phải lập hoặc báo cáo thông tin một cách sai lệch hoặc liên quan đến
thông tin sai lệch thông qua hành động của người
khác.
320.5 Mức độ nghiêm trọng của nguy cơ phụ thuộc vào các
yếu tố như nguồn gốc gây ra áp lực và văn hóa của doanh nghiệp mà kế toán viên,
kiểm toán viên chuyên nghiệp đang làm việc. Kế toán viên, kiểm toán viên chuyên
nghiệp trong doanh nghiệp phải luôn tuân thủ nguyên tắc đạo đức cơ bản về tính
chính trực, nguyên tắc này yêu cầu kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp
phải thẳng thắn và trung thực trong tất cả các mối quan hệ chuyên môn và kinh
doanh. Chương 340 Chuẩn mực này quy định và hướng dẫn về các nguy cơ phát sinh
từ các thỏa thuận về lợi ích tài chính, tiền lương, tiền
thưởng.
320.6 Kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp trong
doanh nghiệp phải đánh giá mức độ nghiêm trọng của nguy cơ và áp dụng các biện
pháp bảo vệ cần thiết để loại trừ hoặc làm giảm ảnh hưởng của các nguy cơ đó
xuống mức có thể chấp nhận được. Các biện pháp bảo vệ này bao gồm việc tham khảo
ý kiến từ lãnh đạo cấp trên, Ban kiểm soát, Ban quản trị của doanh nghiệp hoặc
tổ chức nghề nghiệp có liên quan.
320.7
Trường hợp không thể làm giảm ảnh hưởng của các nguy cơ xuống mức có thể chấp
nhận được, kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp trong doanh nghiệp phải từ
chối không tham gia vào việc lập và trình bày thông tin mà kế toán viên, kiểm
toán viên chuyên nghiệp xác định là sai lệch. Kế toán viên, kiểm toán viên
chuyên nghiệp trong doanh nghiệp có thể liên quan tới thông tin sai lệch mà
không biết và nếu phát hiện ra điều này thì kế toán viên, kiểm toán viên chuyên
nghiệp trong doanh nghiệp phải thực hiện các biện pháp bảo vệ để loại bỏ sự liên
quan đến thông tin đó. Để xác định liệu có cần thiết phải báo cáo về các trường
hợp này với bên thứ ba hay không, kế toán viên, kiểm toán viên chuyên
nghiệp trong doanh nghiệp cần tham khảo ý kiến chuyên gia tư vấn pháp luật.
Ngoài ra, kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp có thể cân nhắc xin thôi
việc.
CHƯƠNG
330 - Hành động với đầy đủ kỹ năng chuyên môn
330.1 Nguyên tắc đạo đức cơ bản về năng lực chuyên môn và
tính thận trọng đòi hỏi kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp làm việc
trong doanh nghiệp, tổ chức chỉ được đảm nhận các trọng trách mà người đó có đủ
năng lực và kinh nghiệm liên quan. Kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp
trong doanh nghiệp không được cố ý làm chủ doanh nghiệp hiểu nhầm về trình độ
chuyên môn hay kinh nghiệm của mình, và phải tham khảo ý kiến tư vấn của chuyên
gia phù hợp khi cần thiết.
330.2 Các tình huống có thể làm phát sinh nguy cơ ảnh
hưởng đến năng lực chuyên môn và tính thận trọng của kế toán viên, kiểm toán
viên chuyên nghiệp làm việc trong doanh nghiệp, tổ chức trong quá trình thực
hiện nhiệm vụ của mình gồm:
(1) Khi người đó
không có đủ thời gian để thực hiện hoặc hoàn thành nhiệm
vụ;
(2) Khi thông tin
người đó cần để thực hiện nhiệm vụ là bị hạn chế hoặc không đầy
đủ;
(3) Khi người đó không đủ năng lực và thiếu kinh
nghiệm;
(4) Khi không có đủ nguồn lực để thực hiện nhiệm
vụ.
330.3 Mức độ nghiêm trọng của nguy cơ phụ thuộc vào các
yếu tố như: (i) Mối quan hệ của kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp với
các nhân viên khác; (ii) Cấp bậc của họ trong doanh nghiệp; và (iii) Mức độ giám
sát và soát xét công việc. Kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp trong
doanh nghiệp phải đánh giá mức độ nghiêm trọng của nguy cơ và áp dụng các biện
pháp bảo vệ cần thiết để loại trừ hoặc làm giảm nguy cơ đó xuống mức có thể chấp
nhận được, ví dụ về các biện pháp bảo vệ gồm:
(1) Cập nhật kiến thức hoặc tham khảo ý kiến tư
vấn;
(2) Đảm bảo đủ thời gian thực hiện nhiệm vụ được
giao;
(3) Tìm kiếm sự hỗ trợ từ những người có trình độ chuyên
môn phù hợp;
(4) Khi cần, tham khảo ý kiến tư vấn
từ:
(i) Nhân sự cấp cao hơn trong doanh nghiệp, tổ
chức;
(ii) Chuyên gia độc lập;
hoặc
(iii) Tổ chức nghề nghiệp phù
hợp.
330.4 Khi không thể loại trừ hoặc làm giảm nguy cơ xuống
mức có thể chấp nhận được, kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp trong
doanh nghiệp phải quyết định liệu có từ chối thực hiện nhiệm vụ được giao hay
không. Nếu kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp quyết định rằng việc từ
chối là hợp lý thì phải trình bày rõ lý do từ chối.
CHƯƠNG
340 - Lợi ích tài chính, tiền lương, tiền thưởng gắn với việc lập và trình bày
báo cáo tài chính và ra quyết định
340.1 Kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp trong
doanh nghiệp có thể có lợi ích tài chính, bao gồm lợi ích phát sinh từ các thỏa
thuận về tiền lương, tiền thưởng hoặc có thể biết về lợi ích tài chính của thành
viên có quan hệ gia đình trực tiếp hoặc gần gũi của họ mà trong một số trường
hợp có thể làm phát sinh nguy cơ ảnh hưởng đến việc tuân thủ các nguyên tắc đạo
đức cơ bản. Ví dụ, nguy cơ do tư lợi ảnh hưởng đến tính khách quan hoặc tính bảo
mật có thể phát sinh do sự tồn tại của động cơ và cơ hội làm sai lệch thông tin
có độ nhạy về giá cả để có được lợi ích tài chính. Ví dụ về các trường hợp có
thể làm phát sinh nguy cơ do tư lợi là khi kế toán viên, kiểm toán viên chuyên
nghiệp trong doanh nghiệp hoặc thành viên có quan hệ gia đình trực tiếp hoặc gần
gũi của họ:
(1) Nắm giữ lợi ích
tài chính trực tiếp hoặc gián tiếp trong doanh nghiệp và giá trị của lợi ích tài
chính đó có thể bị ảnh hưởng trực tiếp bởi các quyết định do kế toán viên, kiểm
toán viên chuyên nghiệp trong doanh nghiệp đó đưa
ra;
(2) Được hưởng các khoản tiền thưởng dựa trên lợi nhuận
và giá trị của khoản tiền thưởng đó có thể bị ảnh hưởng trực tiếp bởi các quyết
định do kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp trong doanh nghiệp đó đưa
ra;
(3) Nắm giữ trực tiếp hay gián tiếp quyền đối với cổ
phiếu thưởng hoãn lại hoặc quyền chọn cổ phiếu trong doanh nghiệp mà giá trị của
các quyền đó có thể bị ảnh hưởng trực tiếp bởi các quyết định do kế toán viên,
kiểm toán viên chuyên nghiệp trong doanh nghiệp đó đưa
ra;
(4) Tham gia vào các thỏa thuận về lương thưởng, trong đó
quy định các khoản tiền thưởng khi đạt được kết quả kinh doanh nhất định hoặc
các khoản tiền thưởng cho nỗ lực tối đa hóa giá trị cổ phiếu của doanh nghiệp,
ví dụ, thông qua việc tham gia lập kế hoạch thưởng dài hạn gắn liền với việc đạt
được các kết quả kinh doanh nhất định.
340.2
Nguy
cơ về tư lợi phát sinh từ các thỏa thuận về tiền lương, tiền thưởng có thể được
gia tăng dưới áp lực từ cấp trên hoặc đồng nghiệp trong tổ chức cùng tham gia
vào thỏa thuận đó. Ví dụ, các thỏa thuận thường cho phép các bên tham gia được
hưởng một lượng cổ phiếu của tổ chức theo mức giá tượng trưng hoặc miễn phí nếu
như các tiêu chí về kết quả hoạt động kinh doanh cụ thể được thỏa mãn. Trong một
số trường hợp, giá trị cổ phiếu thưởng có thể lớn hơn đáng kể so với mức lương
của kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp trong doanh nghiệp.
340.3
Kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp trong doanh nghiệp không được phép
làm sai lệch thông tin hoặc sử dụng các thông tin bảo mật cho lợi ích cá nhân
hoặc cho lợi ích tài chính của người khác. Kế toán viên, kiểm toán viên chuyên
nghiệp trong doanh nghiệp nắm giữ vị trí càng cao thì khả năng và cơ hội tác
động đến báo cáo tài chính và việc ra quyết định càng cao, áp lực làm sai lệch
thông tin từ cấp trên và đồng nghiệp cũng càng lớn. Trong các trường hợp như
vậy, kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp trong doanh nghiệp phải đặc biệt
ý thức việc tuân thủ với nguyên tắc đạo đức về tính chính trực, nguyên tắc này
yêu cầu kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp phải thẳng thắn và trung thực
trong tất cả các mối quan hệ chuyên môn và kinh doanh.
340.4
Kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp trong doanh nghiệp phải đánh giá mức
độ nghiêm trọng của nguy cơ phát sinh từ lợi ích tài chính và áp dụng các biện
pháp bảo vệ cần thiết để loại trừ hoặc làm giảm các nguy cơ đó xuống mức có thể
chấp nhận được. Trong quá trình đó, kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp
trong doanh nghiệp phải đánh giá bản chất của lợi ích, bao gồm cả việc đánh giá
tầm quan trọng của lợi ích. Yếu tố quyết định tầm quan trọng của lợi ích phụ
thuộc vào hoàn cảnh của từng cá nhân. Ví dụ về các biện pháp bảo vệ
gồm:
(1)
Có chính sách và thủ tục cho phép một ủy ban độc lập với Ban Giám đốc quyết định
mức và hình thức tiền lương, tiền thưởng đối với lãnh đạo cấp cao;
(2) Thông báo tất cả các lợi ích liên quan và kế hoạch
thực hiện quyền hoặc mua bán cổ phiếu có liên quan với Ban quản trị doanh
nghiệp, phù hợp với các chính sách nội bộ;
(3) Tham khảo ý kiến tư vấn từ cấp trên trong doanh
nghiệp, khi cần;
(4) Tham khảo ý kiến tư vấn từ Ban quản trị doanh nghiệp
hoặc tổ chức nghề nghiệp khi cần;
(5) Thực hiện các thủ tục kiểm toán nội bộ hay kiểm toán
độc lập;
(6) Đào tạo, cập nhật kiến thức về đạo đức nghề nghiệp,
các vấn đề pháp luật không cho phép và các quy định khác về giao dịch nội
gián.
CHƯƠNG
350 - Các ưu đãi
Nhận
các ưu đãi
350.1 Kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp trong
doanh nghiệp hoặc thành viên có quan hệ gia đình trực tiếp hoặc gần gũi của họ
có thể được đề nghị nhận ưu đãi. Ưu đãi có thể được thể hiện dưới nhiều hình
thức khác nhau như quà biếu, tặng, chiêu đãi, đối xử ưu ái, quan hệ bạn bè hay
khách hàng thân thiết theo cách thức không phù hợp.
350.2 Việc nhận được các đề nghị ưu đãi có thể làm phát
sinh các nguy cơ ảnh hưởng tới việc tuân thủ các nguyên tắc đạo đức cơ bản. Khi
kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp trong doanh nghiệp hoặc thành viên có
quan hệ gia đình trực tiếp hoặc gần gũi của họ được đề nghị nhận ưu đãi thì phải
xem xét cẩn thận việc nhận ưu đãi này. Các nguy cơ do tư lợi làm ảnh hưởng đến
tính khách quan hay tính bảo mật phát sinh khi khoản ưu đãi được đưa ra nhằm:
(i) Cố gắng gây ảnh hưởng một cách không đúng hay không trung thực tới các hành
động, quyết định; (ii) Khuyến khích các hành vi bất hợp pháp hay không trung
thực; hoặc (iii) Có được thông tin mật. Nguy cơ bị đe dọa làm ảnh hưởng đến tính
khách quan hay tính bảo mật phát sinh khi kế toán viên, kiểm toán viên chuyên
nghiệp trong doanh nghiệp hoặc thành viên có quan hệ gia đình trực tiếp hoặc gần
gũi của họ chấp nhận ưu đãi và sau đó bị đe dọa công bố chuyện nhận ưu đãi này
nhằm hủy hoại danh tiếng của họ.
350.3 Sự tồn tại và mức độ nghiêm trọng của các nguy cơ
này phụ thuộc vào bản chất, giá trị và ý đồ ẩn sau đề nghị nhận ưu đãi. Nếu một
bên thứ ba phù hợp và có đầy đủ thông tin, sau khi xem xét tất cả các sự kiện và
tình huống cụ thể, cho rằng việc nhận ưu đãi này là không quan trọng và không
nhằm mục đích khuyến khích các hành vi vi phạm đạo đức nghề nghiệp, thì kế toán
viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp trong doanh nghiệp có thể kết luận rằng ưu
đãi được đưa ra là phù hợp với thông lệ kinh doanh và không có nguy cơ ảnh hưởng
nghiêm trọng đối với việc tuân thủ các nguyên tắc đạo đức cơ
bản.
350.4
Kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp trong doanh nghiệp phải đánh giá mức
độ nghiêm trọng của các nguy cơ và áp dụng các biện pháp bảo vệ cần thiết để
loại trừ hoặc làm giảm các nguy cơ đó xuống mức có thể chấp nhận được. Khi không
thể loại trừ hoặc làm giảm nguy cơ đó xuống mức có thể chấp nhận được bằng việc
áp dụng các biện pháp bảo vệ, thì kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp
trong doanh nghiệp không được nhận các ưu đãi này. Các nguy cơ thực sự ảnh hưởng
hoặc được cho là có ảnh hưởng tới việc tuân thủ các nguyên tắc đạo đức cơ bản
phát sinh không chỉ khi đã chấp nhận ưu đãi mà đôi khi còn phát sinh ngay cả khi
lời đề nghị ưu đãi mới đưa ra. Khi đó, các biện pháp bảo vệ bổ sung cần được áp
dụng. Kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp trong doanh nghiệp phải đánh
giá các nguy cơ phát sinh từ các đề nghị này và xem xét việc áp dụng ít nhất một
trong số các biện pháp sau:
(a) Thông báo cho cấp lãnh đạo cao hơn hoặc Ban quản trị
doanh nghiệp, tổ chức nơi mình làm việc ngay khi nhận được các đề nghị ưu
đãi;
(b)
Thông báo về đề nghị ưu đãi đó cho bên thứ ba như tổ chức nghề nghiệp hay doanh
nghiệp nơi người đưa ra lời đề nghị làm việc. Tuy nhiên, kế toán viên, kiểm toán
viên chuyên nghiệp trong doanh nghiệp có thể cân nhắc tham khảo ý kiến chuyên
gia tư vấn pháp luật trước khi thực hiện biện pháp này;
(c)
Thông
báo cho thành viên có quan hệ gia đình trực tiếp hoặc gần gũi của mình biết về
các nguy cơ và các biện pháp bảo vệ liên quan trong trường hợp những người này
đang có thể nhận được các ưu đãi, liên quan đến vị trí công việc của họ;
(d) Thông báo cho
cấp lãnh đạo cao hơn hoặc Ban quản trị doanh nghiệp nơi mình làm việc khi thành
viên có quan hệ gia đình trực tiếp hoặc gần gũi của mình làm việc cho đối thủ
cạnh tranh hay nhà cung cấp tiềm năng của doanh
nghiệp.
Đưa
ra các đề nghị ưu đãi
350.5 Kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp trong
doanh nghiệp có thể ở trong tình huống trong đó họ được kỳ vọng, hay chịu sức
ép, phải đưa ra các đề nghị ưu đãi để tác động đến xét đoán hoặc quá trình ra
quyết định của một cá nhân hay tổ chức, hoặc để lấy các thông tin
mật.
350.6 Sức ép như vậy có thể xuất phát từ chính doanh
nghiệp nơi họ làm việc, ví dụ từ đồng nghiệp hay cấp trên. Sức ép cũng có thể
xuất phát từ việc cá nhân hay tổ chức bên ngoài gợi ý các hành động hay quyết
định kinh doanh có lợi cho doanh nghiệp nơi họ làm việc mà điều này gây ảnh
hưởng tiêu cực đến kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp trong doanh
nghiệp.
350.7
Kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp trong doanh nghiệp không được đưa ra
các đề nghị ưu đãi có ảnh hưởng tiêu cực đến xét đoán chuyên môn của bên thứ
ba.
350.8 Trường hợp bị sức ép phải đưa ra các đề nghị ưu đãi
không phù hợp với chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp từ chính nội bộ doanh nghiệp nơi
mình làm việc, kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp phải tuân theo các quy
định và hướng dẫn liên quan đến việc giải quyết xung đột về đạo đức nghề nghiệp
quy định trong Phần A Chuẩn mực này.
GIẢI
THÍCH THUẬT NGỮ
Trong Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kế toán, kiểm
toán, các thuật ngữ dưới đây được hiểu như sau:
|
Ban
quản trị |
Là một bộ phận có trách nhiệm giám sát việc điều
hành hoạt động và thực hiện nghĩa vụ giải trình, kể cả trách nhiệm giám
sát việc lập và trình bày báo cáo tài chính của đơn vị được kiểm toán. Tùy
theo từng đơn vị, Ban quản trị có thể bao gồm Hội đồng quản trị, Hội đồng
quản lý hoặc Hội đồng thành viên, trong đó có thể bao gồm cả các thành
viên Ban Giám đốc. Trong doanh nghiệp tư nhân, Ban quản trị có thể chỉ là
một người có trách nhiệm phê duyệt báo cáo tài chính mà công việc này
thường do chủ sở hữu đồng thời là Giám đốc thực
hiện. |
|
Báo
cáo tài chính |
Là sự trình bày một cách hệ thống về các thông tin
tài chính quá khứ, bao gồm các thuyết minh có liên quan, với mục đích công
bố thông tin về tình hình tài chính và các nghĩa vụ của đơn vị tại một
thời điểm hoặc những thay đổi trong một thời kỳ, phù hợp với khuôn khổ về
lập và trình bày báo cáo tài chính. Các thuyết minh liên quan thường bao
gồm tóm tắt các chính sách kế toán quan trọng và các thông tin diễn giải
khác. Thuật ngữ “Báo cáo tài chính” thường có nghĩa là một bộ báo
cáo tài chính (đầy đủ) theo khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài
chính được áp dụng. Thuật ngữ “báo cáo tài chính riêng lẻ” được sử dụng
để chỉ một báo cáo trong bộ báo cáo tài chính (đầy
đủ). |
|
Báo
cáo tài chính cho mục đích đặc biệt |
Là báo cáo tài chính được lập và trình bày theo
khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính được xây dựng để đáp ứng
nhu cầu về thông tin tài chính của những đối tượng sử dụng cụ
thể. |
|
Báo
cáo tài chính mà doanh nghiệp kiểm toán sẽ đưa ra ý kiến |
Là báo cáo tài chính của một đơn vị kế toán riêng
lẻ hoặc báo cáo tài chính tổng hợp, báo cáo tài chính hợp nhất của tập
đoàn mà doanh nghiệp kiểm toán thực hiện kiểm toán và sẽ đưa ra ý kiến
kiểm toán. |
|
Bên
liên quan |
Là
đơn vị có một trong các mối quan hệ sau với khách hàng:
(a)
Là một cá nhân hoặc đơn vị khác có quyền kiểm soát trực tiếp hoặc gián
tiếp đối với khách hàng, với điều kiện khách hàng là trọng yếu đối với đơn
vị đó;
(b)
Là đơn vị có lợi ích tài chính trực tiếp từ khách hàng, với điều kiện đơn
vị đó có ảnh hưởng đáng kể tới khách hàng và lợi ích từ khách hàng là
trọng yếu đối với đơn vị đó;
(c)
Là đơn vị chịu sự kiểm soát trực tiếp hoặc gián tiếp của khách
hàng;
(d)
Là đơn vị mà trong đó khách hàng, hoặc đơn vị có liên quan với khách hàng
như nêu trong mục (c) ở trên, có lợi ích tài chính trực tiếp mang lại ảnh
hưởng đáng kể và lợi ích này là trọng yếu đối với khách hàng và đơn vị có
liên quan nói trên;
(e)
Là đơn vị mà khách hàng và đơn vị đó (“công ty anh em”) cùng chịu sự kiểm
soát của một đơn vị khác với điều kiện cả khách hàng và công ty anh em đều
trọng yếu đối với đơn vị kiểm soát đó. |
|
Công
ty mạng lưới |
Là công ty hoặc pháp nhân thuộc cùng một mạng
lưới. |
|
Chi
nhánh |
Là một bộ phận riêng trong cơ cấu tổ chức của
công ty xét theo vị trí địa lý hoặc dịch vụ cung
cấp. |
|
Chuyên
gia bên ngoài |
Là cá nhân hoặc tổ chức có kỹ năng, kiến thức và
kinh nghiệm trong một lĩnh vực riêng biệt ngoài lĩnh vực kế toán hoặc kiểm
toán, mà công việc của chuyên gia trong lĩnh vực đó được kế toán viên,
kiểm toán viên chuyên nghiệp sử dụng nhằm thu thập đầy đủ bằng chứng thích
hợp. Chuyên gia bên ngoài không phải là thành viên Ban Giám đốc hoặc nhân
viên chuyên môn, kể cả nhân viên thời vụ, của doanh nghiệp kiểm toán hoặc
công ty mạng lưới. |
|
Cuộc
kiểm toán |
Là một dịch vụ đảm bảo hợp lý, trong đó, kiểm toán
viên hành nghề đưa ra ý kiến về việc liệu báo cáo tài chính đã phản ánh
trung thực và hợp lý, trên các khía cạnh trọng yếu (hoặc đã được lập, trên
các khía cạnh trọng yếu), phù hợp với khuôn khổ về lập và trình bày báo
cáo tài chính được áp dụng hay không, như một cuộc kiểm toán được tiến
hành theo các Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam. Thuật ngữ này áp dụng cho kiểm
toán theo luật định - là cuộc kiểm toán theo yêu cầu của pháp luật hoặc
các quy định khác. Thuật ngữ này cũng được áp dụng cho cuộc kiểm toán
tự nguyện. |
|
Dịch
vụ đảm bảo |
Là dịch vụ mà người hành nghề (như kiểm toán
viên hành nghề) đưa ra kết luận nhằm tăng mức độ tin cậy của đối tượng
sử dụng, ngoài bên chịu trách nhiệm, về kết quả đo lường hoặc đánh giá đối
tượng dịch vụ đảm bảo dựa trên các tiêu chí nhất
định.
(Hướng
dẫn về dịch vụ đảm bảo có thể xem thêm tại “Khuôn khổ Việt Nam về hợp đồng
dịch vụ đảm bảo”,
khuôn khổ này mô tả các yếu tố, mục tiêu của dịch vụ đảm bảo và xác
định các dịch vụ là đối tượng áp dụng của chuẩn mực kiểm toán Việt Nam
(VSA), các chuẩn mực Việt Nam về hợp đồng dịch vụ đảm bảo và các chuẩn mực
Việt Nam về hợp đồng dịch vụ soát xét. |
|
Dịch
vụ chuyên môn |
Là hoạt động chuyên môn được cung cấp cho khách
hàng. |
|
Dịch
vụ soát xét |
Là dịch vụ đảm bảo, được thực hiện theo các chuẩn
mực Việt Nam về hợp đồng dịch vụ soát xét, trong đó, kiểm toán viên hành
nghề, trên cơ sở thực hiện các thủ tục mà những thủ tục này không đem lại
tất cả các bằng chứng như trong một cuộc kiểm toán, đưa ra kết luận về
việc liệu có bất cứ phát hiện nào khiến kiểm toán viên tin rằng báo cáo
tài chính không phản ánh trung thực và hợp lý, trên các khía cạnh trọng
yếu, phù hợp với khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính được áp
dụng hay không. |
|
Doanh
nghiệp kế toán, kiểm toán |
Gồm:
(a) Một doanh nghiệp có đủ điều kiện kinh doanh
dịch vụ kế toán, kiểm toán hoặc cá nhân đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kế
toán theo pháp luật và các quy định có liên
quan;
(b) Một tổ chức có quyền kiểm soát đối với các đối
tượng nêu tại mục (a);
(c) Một tổ
chức chịu sự kiểm soát của các đối tượng nêu tại mục
(a). |
|
Đơn
vị có lợi ích công chúng
|
Gồm:
(a) Tổ chức niêm yết;
(b) Đơn vị:
(i)
Được pháp luật quy định là đơn vị có lợi ích công chúng; hoặc
(ii) Mà việc kiểm toán đơn vị đó phải tuân thủ các
yêu cầu về tính độc lập do pháp luật quy định như đối với các tổ chức niêm
yết. Các yêu cầu này còn có thể do cơ quan quản lý có liên quan ban
hành. |
|
Giám
đốc, nhân sự cấp cao |
Là thành viên Ban quản trị của một tổ chức, hoặc
người được trao quyền tương đương, không phụ thuộc vào chức
danh. |
|
Hoạt
động chuyên môn |
Là hoạt động yêu cầu các kỹ năng chuyên môn về kế
toán hoặc các kỹ năng liên quan, được thực hiện bởi kế toán viên, kiểm
toán viên chuyên nghiệp, trong các lĩnh vực kế toán, kiểm toán, thuế, tư
vấn quản lý và quản lý tài chính. |
|
Kế
toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp |
Là cá nhân được tổ chức có thẩm quyền cấp Chứng chỉ
kiểm toán viên hoặc Chứng chỉ hành nghề kế
toán. |
|
Kế
toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp trong doanh nghiệp |
Là kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp làm
việc trong các doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực như thương mại, công
nghiệp, dịch vụ, lĩnh vực công, giáo dục, lĩnh vực phi lợi nhuận, cơ quan
quản lý hoặc tổ chức nghề nghiệp. |
|
Kế
toán viên, kiểm toán viên hành nghề |
Là kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp làm
việc trong doanh nghiệp kế toán, kiểm toán cung cấp các dịch vụ chuyên môn
như kế toán, kiểm toán, thuế hoặc tư vấn. Thuật ngữ này được áp dụng cho
cả cá nhân và doanh nghiệp kế toán, kiểm
toán. |
|
Kế
toán viên, kiểm toán viên hành nghề đương nhiệm |
Là kế toán viên, kiểm toán viên hành nghề hiện đang
được chỉ định thực hiện dịch vụ kế toán, kiểm toán, thuế, tư vấn hoặc các
dịch vụ tương tự cho khách hàng. |
|
Khách
hàng kiểm toán |
Là
đơn vị được doanh nghiệp kiểm toán cung cấp dịch vụ kiểm toán. Khi khách
hàng là tổ chức niêm yết, khách hàng kiểm toán sẽ bao gồm cả các bên liên
quan. Khi khách hàng không phải là tổ chức niêm yết, khách hàng kiểm toán
sẽ bao gồm các bên liên quan mà khách hàng kiểm toán có quyền kiểm soát
trực tiếp hoặc gián tiếp. |
|
Khách
hàng sử dụng dịch vụ đảm bảo |
Là bên chịu trách nhiệm, bao gồm người hoặc những
người:
(a) Chịu trách nhiệm về đối tượng dịch vụ đảm bảo
trong trường hợp dịch vụ đảm bảo trực tiếp;
hoặc
(b) Chịu trách nhiệm về thông tin về đối tượng dịch
vụ đảm bảo và có thể chịu trách nhiệm về đối tượng đó trong trường hợp
dịch vụ đảm bảo chứng thực. |
|
Khách
hàng sử dụng dịch vụ soát xét |
Là đơn vị mà doanh nghiệp kiểm toán cung cấp dịch
vụ soát xét. |
|
Lợi
ích tài chính |
Là lợi ích thu được từ cổ phiếu hoặc các công cụ
vốn khác, từ trái phiếu hoặc các công cụ nợ khác của một tổ chức, bao gồm
cả các quyền và nghĩa vụ nhằm có được lợi ích đó cũng như các công cụ phái
sinh có liên quan trực tiếp đến lợi ích
đó. |
|
Lợi
ích tài chính gián tiếp |
Là lợi ích tài chính được sở hữu để hưởng lợi thông
qua một quỹ tín thác, quỹ đầu tư hoặc tổ chức trung gian khác mà cá nhân
hoặc tổ chức không nắm quyền kiểm soát, hoặc không có khả năng gây ảnh
hưởng đến các quyết định đầu tư. |
|
Lợi
ích tài chính trực tiếp |
Gồm:
(a) Lợi ích tài chính do một cá nhân hoặc một tổ
chức trực tiếp sở hữu và kiểm soát (bao gồm cả những lợi ích được các đối
tượng khác quản lý trên cơ sở toàn quyền quyết định);
hoặc
(b) Lợi ích tài chính được sở hữu để hưởng lợi
thông qua quỹ tín thác, quỹ đầu tư hoặc tổ chức trung gian khác mà cá nhân
hoặc tổ chức nắm quyền kiểm soát, hoặc có khả năng gây ảnh hưởng đến các
quyết định đầu tư. |
|
Mạng
lưới |
Là liên kết giữa các tổ chức
để:
(a) Hướng tới sự hợp
tác;
(b) Hướng tới sự chia sẻ lợi nhuận hoặc chi phí
hoặc cùng được sở hữu, kiểm soát hoặc quản lý chung, có chung các chính
sách và thủ tục kiểm soát chất lượng, chiến lược kinh doanh chung, sử dụng
chung thương hiệu, hoặc cùng chung một phần đáng kể nguồn lực chuyên
môn. |
|
Mức
có thể chấp nhận được |
Là mức mà tại đó bên thứ ba thích hợp và có đầy đủ
thông tin, sau khi xem xét tất cả các sự kiện và tình huống cụ thể sẵn có
cho kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp tại thời điểm đó, có thể
kết luận một cách tương đối chắc chắn rằng các nguyên tắc đạo đức cơ bản
không bị vi phạm. |
|
Nhóm
kiểm toán |
Gồm:
(a) Tất cả các thành viên nhóm thực hiện dịch vụ
kiểm toán;
(b)
Tất cả các cá nhân khác trong doanh nghiệp kiểm toán có thể gây ảnh hưởng
trực tiếp đến kết quả của cuộc kiểm toán, bao gồm:
(i) Các cá nhân có quyền đề xuất chế độ lương,
thưởng, hoặc trực tiếp theo dõi, quản lý, giám sát đối với thành viên Ban
Giám đốc phụ trách tổng thể cuộc kiểm toán trong việc thực hiện cuộc kiểm
toán, bao gồm từ nhân sự quản lý cấp cao hơn thành viên Ban Giám đốc phụ
trách tổng thể cuộc kiểm toán cho đến Tổng Giám đốc/Phó Tổng Giám đốc
(Giám đốc điều hành hoặc tương đương) của doanh nghiệp kiểm toán hoặc cấp
tương đương;
(ii) Các cá nhân đưa ra ý kiến tham vấn về các sự
kiện, giao dịch, các vấn đề về chuyên môn hoặc vấn đề mang tính đặc thù
ngành liên quan đến cuộc kiểm toán;
(iii) Các cá
nhân tham gia kiểm soát chất lượng dịch vụ kiểm toán, kể cả người thực
hiện soát xét việc kiểm soát chất
lượng;
(c) Tất cả các cá nhân thuộc công ty mạng lưới có
thể gây ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả của cuộc kiểm
toán. |
|
Nhóm
thực hiện dịch vụ đảm bảo
|
Gồm:
(a) Tất cả các thành viên nhóm thực hiện dịch vụ
đảm bảo;
(b) Tất cả các cá nhân khác trong doanh nghiệp cung
cấp dịch vụ đảm bảo có thể gây ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả của dịch vụ
đảm bảo, gồm:
(i) Các cá nhân có quyền đề xuất chế độ lương,
thưởng, hoặc trực tiếp theo dõi, quản lý, giám sát đối với thành viên Ban
Giám đốc phụ trách tổng thể hợp đồng dịch vụ đảm bảo trong việc thực hiện
hợp đồng dịch vụ;
(ii) Các cá nhân đưa ra ý kiến tham vấn về các sự
kiện, giao dịch, các vấn đề về chuyên môn hoặc mang tính đặc thù ngành
liên quan đến dịch vụ đảm bảo;
(iii)
Các
cá nhân tham gia kiểm soát chất lượng dịch vụ đảm bảo, bao gồm cả người
thực hiện soát xét việc kiểm soát chất lượng. |
|
Nhóm
thực hiện dịch vụ soát xét |
Gồm:
(a)
Tất cả các thành viên nhóm thực hiện dịch vụ soát xét;
(b)
Tất cả các cá nhân khác trong doanh nghiệp kiểm toán có thể gây ảnh hưởng
trực tiếp đến kết quả của cuộc soát xét, bao gồm:
(i)
Các cá nhân đề xuất chế độ lương, thưởng, hoặc trực tiếp theo dõi, quản
lý, giám sát đối với thành viên Ban Giám đốc phụ trách tổng thể cuộc soát
xét trong việc thực hiện dịch vụ, bao gồm từ nhân sự quản lý cấp cao hơn
thành viên Ban Giám đốc phụ trách tổng thể cuộc soát xét cho đến Tổng Giám
đốc/ Phó Tổng Giám đốc (Giám đốc điều hành hoặc tương đương) của doanh
nghiệp kiểm toán hoặc cấp tương đương;
(ii)
Các cá nhân đưa ra ý kiến tham vấn về các sự kiện, giao dịch, các vấn đề
về chuyên môn hoặc vấn đề mang tính đặc thù của ngành liên quan đến cuộc
soát xét;
(iii)
Các cá nhân tham gia kiểm soát chất lượng dịch vụ soát xét, bao gồm cả
người thực hiện soát xét việc kiểm soát chất lượng;
(c)
Tất cả các cá nhân thuộc công ty mạng lưới có thể gây ảnh hưởng trực tiếp
đến kết quả của cuộc soát xét. |
|
Nhóm
thực hiện hợp đồng dịch vụ |
Bao gồm thành viên Ban Giám đốc phụ trách tổng thể
hợp đồng dịch vụ, kiểm toán viên hành nghề hoặc kế toán viên hành nghề
được giao phụ trách hợp đồng dịch vụ, kiểm toán viên khác và các cán
bộ, nhân viên thực hiện hợp đồng dịch vụ và bất kỳ cá nhân nào được doanh
nghiệp kế toán, kiểm toán hoặc công ty mạng lưới sử dụng để thực hiện các
thủ tục đảm bảo cho hợp đồng dịch vụ. Nhóm thực hiện hợp đồng dịch vụ
không bao gồm các chuyên gia bên ngoài được doanh nghiệp kế toán, kiểm
toán hoặc công ty mạng lưới sử dụng.
Nhóm thực hiện hợp đồng dịch vụ cũng không bao gồm
những người thuộc bộ phận kiểm toán nội bộ của khách hàng trực tiếp hỗ trợ
cuộc kiểm toán. |
|
Phí
tiềm tàng |
Là
mức phí được xác định phụ thuộc vào kết quả của giao dịch hoặc dịch vụ mà
doanh nghiệp kế toán, kiểm toán thực hiện và dựa trên cơ sở được thỏa
thuận trước. Mức phí do tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác ấn định
không được coi là phí tiềm tàng.
Ví
dụ: Hợp đồng kiểm toán có thỏa thuận trước về việc: khách hàng kiểm toán
phải thanh toán thêm một mức phí cho doanh nghiệp kiểm toán. Cụ thể là kết
quả từ việc cung cấp dịch vụ của doanh nghiệp kiểm toán làm cho doanh thu
của khách hàng kiểm toán tăng lên XXX (đồng), thì mức phí khách hàng kiểm
toán phải thanh toán thêm là 0,1% x XXX (đồng). |
|
Quảng
bá |
Là việc truyền thông, quảng bá cho công chúng các
thông tin về các dịch vụ hoặc kỹ năng mà kế toán viên, kiểm toán viên hành
nghề cung cấp với mục đích kinh doanh. |
|
Quan
hệ gia đình gần gũi |
Gồm bố, mẹ, con hoặc anh, chị, em ruột mà những
người này không phải là thành viên có quan hệ gia đình trực
tiếp. |
|
Quan
hệ gia đình trực tiếp |
Gồm vợ, chồng (hoặc tương đương) hoặc người phụ
thuộc (con đẻ, con nuôi…). |
|
Soát
xét việc kiểm soát chất lượng hợp đồng dịch vụ |
Là quy trình được thiết kế và thực hiện trước hoặc
tại ngày phát hành báo cáo, nhằm đưa ra sự đánh giá khách quan về các xét
đoán quan trọng của nhóm thực hiện hợp đồng dịch vụ và các kết luận của
nhóm để hình thành báo cáo. |
|
Thành
viên có vai trò chủ chốt trong cuộc kiểm toán |
Bao gồm: Thành viên Ban Giám đốc phụ trách tổng thể
cuộc kiểm toán, các cá nhân chịu trách nhiệm soát xét việc kiểm soát chất
lượng dịch vụ, thành viên khác của Ban Giám đốc tham gia cuộc kiểm toán,
nếu có, chịu trách nhiệm đưa ra các quyết định hoặc các xét đoán quan
trọng về các vấn đề trọng yếu liên quan đến việc kiểm toán báo cáo tài
chính mà doanh nghiệp kiểm toán sẽ đưa ra ý kiến. Tùy thuộc vào tình hình
thực tế và vai trò của từng cá nhân trong cuộc kiểm toán, “thành viên có
vai trò chủ chốt trong cuộc kiểm toán” có thể bao gồm thành viên Ban Giám
đốc phụ trách tổng thể cuộc kiểm toán công ty con hoặc bộ phận quan
trọng. |
|
Thành
viên Ban Giám đốc phụ trách tổng thể hợp đồng dịch vụ |
Là người đại diện theo pháp luật hoặc người được
ủy quyền thay mặt Ban Giám đốc doanh nghiệp kế toán, kiểm toán chịu
trách nhiệm về việc thực hiện hợp đồng dịch vụ, ký báo cáo và chịu trách
nhiệm tổng thể đối với báo cáo đã phát
hành. |
|
Thông
tin tài chính quá khứ |
Là thông tin được trình bày bằng thuật ngữ tài
chính liên quan đến một đơn vị cụ thể, phát sinh chủ yếu từ hệ thống kế
toán của đơn vị, phản ánh các sự kiện kinh tế xảy ra trong các kỳ trước
hoặc các điều kiện kinh tế tại một thời điểm trong quá
khứ. |
|
Tính
độc lập |
Gồm:
(a) Độc lập về tư tưởng: Là trạng thái tư
tưởng cho phép đưa ra kết luận mà không bị tác động bởi những yếu tố có
ảnh hưởng đến xét đoán chuyên môn, cho phép một cá nhân hành động một cách
chính trực và vận dụng được tính khách quan cũng như thái độ hoài nghi
nghề nghiệp của mình.
(b)
Độc
lập về hình thức: Là
việc tránh các sự kiện và tình huống nghiêm trọng tới mức một bên thứ ba
phù hợp và có đầy đủ thông tin có thể nhận thấy và kết luận một
cách tương đối chắc chắn rằng tính chính trực, tính khách quan và thái độ
hoài nghi nghề nghiệp của doanh nghiệp kiểm toán hoặc một thành viên trong
nhóm thực hiện dịch vụ đảm bảo hoặc kiểm toán đã bị ảnh hưởng. |
|
Tổ
chức niêm yết |
Là đơn vị có cổ phần, cổ phiếu, hoặc các công cụ nợ
được chào bán hoặc niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán, hoặc được giao
dịch theo quy định của sàn giao dịch chứng khoán hoặc các định chế khác
tương tự./. |