|
|
KẾ TOÁN - THUẾ - DOANH NGHIỆP - LAO ĐỘNG |
|
|
|
|
Phần
thứ bảy 1. Bản án, quyết định dân
sự của Tòa án nước ngoài sau đây được xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt
Nam: a) Bản án, quyết định về
dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, quyết định về
tài sản trong bản án, quyết định hình sự, hành chính của Tòa án nước ngoài được
quy định tại điều ước quốc tế mà nước đó và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
là thành viên; b) Bản án, quyết định về
dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; quyết định về
tài sản trong bản án, quyết định hình sự, hành chính của Tòa án nước ngoài mà
nước đó và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chưa cùng là thành viên của điều
ước quốc tế có quy định về công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của Tòa
án nước ngoài trên cơ sở nguyên tắc có đi có lại; c) Bản án, quyết định dân
sự khác của Tòa án nước ngoài được pháp luật Việt Nam quy định công nhận và cho
thi hành. 2. Quyết định về nhân thân,
hôn nhân và gia đình của cơ quan khác có thẩm quyền của nước ngoài cũng được xem
xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam như bản án, quyết định dân sự của Tòa
án nước ngoài quy định tại khoản 1 Điều này. 1. Phán quyết của Trọng tài
nước ngoài sau đây được xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt
Nam: a) Phán quyết của Trọng tài
nước ngoài mà nước đó và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cùng là thành viên
của điều ước quốc tế về công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước
ngoài; b) Phán quyết của Trọng tài
nước ngoài không thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản này trên cơ sở
nguyên tắc có đi có lại. 2. Phán quyết của Trọng tài
nước ngoài quy định tại khoản 1 Điều này được xem xét công nhận và cho thi hành
tại Việt Nam là phán quyết cuối cùng của Hội đồng trọng tài giải quyết toàn bộ
nội dung vụ tranh chấp, chấm dứt tố tụng trọng tài và có hiệu lực thi
hành. 3. Trọng tài nước ngoài,
phán quyết của Trọng tài nước ngoài quy định tại khoản 1 Điều này được xác định
theo quy định của Luật trọng tài thương mại của Việt
Nam. 1. Người được thi hành hoặc
người đại diện hợp pháp của họ có quyền yêu cầu Tòa án Việt Nam công nhận và cho
thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, phán
quyết của Trọng tài nước ngoài, nếu cá nhân phải thi hành cư trú, làm việc tại
Việt Nam hoặc cơ quan, tổ chức phải thi hành có trụ sở chính tại Việt Nam hoặc
tài sản liên quan đến việc thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước
ngoài, phán quyết của Trọng tài nước ngoài có tại Việt Nam vào thời điểm yêu
cầu. 2. Người phải thi hành hoặc
người đại diện hợp pháp của họ có quyền yêu cầu Tòa án Việt Nam không công nhận
bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài. 3. Đương sự, người có
quyền, lợi ích hợp pháp liên quan hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền
yêu cầu Tòa án Việt Nam không công nhận bản án, quyết định dân sự của của Tòa án
nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam. Đương sự có quyền kháng
cáo, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao có quyền
kháng nghị quyết định của Tòa án công nhận và cho thi hành hoặc không công nhận
bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, quyết định công nhận và cho thi
hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài để yêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao xét
lại theo quy định của Bộ luật này. 1. Bản án, quyết định dân
sự của Tòa án nước ngoài được Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt
Nam có hiệu lực pháp luật như bản án, quyết định dân sự của Tòa án Việt Nam đã
có hiệu lực pháp luật và được thi hành theo thủ tục thi hành án dân sự. Bản án,
quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài không được Tòa án Việt Nam công nhận thì
không có hiệu lực pháp luật tại Việt Nam, trừ trường hợp đương nhiên được công
nhận quy định tại Điều 431 của Bộ luật này. 2. Phán quyết của Trọng tài
nước ngoài được Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam có hiệu
lực pháp luật như quyết định của Tòa án Việt Nam đã có hiệu lực pháp luật và
được thi hành theo thủ tục thi hành án dân sự. 3. Bản án, quyết định dân
sự của Tòa án nước ngoài, phán quyết của Trọng tài nước ngoài chỉ được thi hành
tại Việt Nam sau khi quyết định của Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành
bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài, phán quyết của Trọng tài nước ngoài đó
có hiệu lực pháp luật. Tòa án có trách nhiệm
chuyển giao trực tiếp hoặc qua dịch vụ bưu chính hoặc thông qua Bộ Tư pháp quyết
định của Tòa án cho người được thi hành, người phải thi hành bản án, quyết định
dân sự của Tòa án nước ngoài, phán quyết của Trọng tài nước ngoài hoặc người đại
diện hợp pháp của họ, Viện kiểm sát cùng cấp và cơ quan thi hành án dân sự theo
quy định của Bộ luật này. Điều 429. Bảo đảm quyền
chuyển tiền, tài sản thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài,
phán quyết của Trọng tài nước ngoài Nhà nước Việt Nam bảo đảm
việc chuyển tiền, tài sản thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước
ngoài, phán quyết của Trọng tài nước ngoài đã được Tòa án Việt Nam công nhận và
cho thi hành từ Việt Nam ra nước ngoài. Việc chuyển tiền, tài sản này được thực
hiện theo quy định của pháp luật Việt Nam. 1. Người yêu cầu Tòa án
Việt Nam công nhận và cho thi hành hoặc không công nhận tại Việt Nam bản án,
quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài; công nhận và cho thi hành phán quyết
của Trọng tài nước ngoài phải nộp lệ phí theo quy định của pháp luật Việt
Nam. 2. Người yêu cầu quy định
tại khoản 1 Điều này phải chịu chi phí tống đạt ra nước ngoài văn bản tố tụng
của Tòa án Việt Nam liên quan đến yêu cầu của họ. 1. Bản án, quyết định dân sự của
Tòa án nước ngoài, quyết định của cơ quan khác có thẩm
quyền của nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam và không có đơn yêu
cầu không công nhận tại Việt Nam được quy định tại điều ước quốc tế mà
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành
viên. 2. Bản án, quyết định về hôn nhân
và gia đình của Tòa án nước ngoài,
quyết định
về hôn nhân và gia đình của cơ quan khác có thẩm quyền của nước ngoài mà nước đó
và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chưa cùng là
thành viên của điều ước quốc tế không có yêu cầu
thi hành tại Việt Nam và không có đơn yêu cầu không công nhận tại Việt
Nam. 1. Trong thời hạn 03 năm, kể từ
ngày bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài có hiệu lực pháp
luật, người được thi hành, người có
quyền, lợi ích hợp pháp liên quan hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền
gửi đơn đến Bộ Tư pháp Việt Nam theo quy định của điều ước quốc tế mà
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước có Tòa
án đã ra bản án, quyết định cùng là thành viên hoặc Tòa án Việt Nam có thẩm
quyền quy định tại Bộ luật này để yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam
bản án, quyết định dân sự đó. 2. Trường hợp người làm đơn chứng
minh được vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan mà không thể gửi đơn
đúng thời hạn quy định tại khoản 1 Điều này thì thời gian có sự kiện bất khả
kháng hoặc trở ngại khách quan đó không tính vào thời hạn gửi đơn. 1. Đơn yêu cầu công nhận và
cho thi hành phải có các nội dung chính sau đây: a) Họ, tên, địa chỉ nơi cư
trú hoặc nơi làm việc của người được thi hành, người đại diện hợp pháp của người
đó; nếu người được thi hành án là cơ quan, tổ chức thì phải ghi đầy đủ tên và
địa chỉ trụ sở chính của cơ quan, tổ chức đó; b) Họ, tên, địa chỉ nơi cư
trú hoặc nơi làm việc của người phải thi hành; nếu người phải thi hành là cơ
quan, tổ chức thì ghi đầy đủ tên và địa chỉ trụ sở chính của cơ quan, tổ chức
đó; trường hợp người phải thi hành là cá nhân không có nơi cư trú hoặc nơi làm
việc tại Việt Nam, người phải thi hành là cơ quan, tổ chức không có trụ sở chính
tại Việt Nam thì trong đơn yêu cầu phải ghi rõ địa chỉ nơi có tài sản và các
loại tài sản liên quan đến việc thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án
nước ngoài tại Việt Nam; c) Yêu cầu của người được
thi hành; trường hợp bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài đã được thi hành
một phần thì người được thi hành phải ghi rõ phần đã được thi hành và phần còn
lại có yêu cầu công nhận và cho thi hành tiếp tại Việt
Nam. 2. Đơn yêu cầu bằng tiếng
nước ngoài phải được gửi kèm theo bản dịch ra tiếng Việt, được công chứng, chứng
thực hợp pháp. 1. Gửi kèm theo đơn yêu cầu
là giấy tờ, tài liệu được quy định tại điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam và nước có Tòa án đã ra bản án, quyết định cùng là thành viên.
Trường hợp Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước có Tòa án đã ra bản án,
quyết định chưa cùng là thành viên của điều ước quốc tế có quy định về vấn đề
này thì kèm theo đơn yêu cầu phải có giấy tờ, tài liệu sau
đây: a) Bản chính hoặc bản sao
có chứng thực bản án, quyết định do Tòa án nước ngoài
cấp; b) Văn bản của Tòa án nước
ngoài hoặc cơ quan khác có thẩm quyền của nước ngoài xác nhận bản án, quyết định
đó có hiệu lực pháp luật, chưa hết thời hiệu thi hành và cần được thi hành tại
Việt Nam, trừ trường hợp trong bản án, quyết định đó đã thể hiện rõ những nội
dung này; c) Văn bản của Tòa án nước
ngoài hoặc cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài xác nhận kết quả tống đạt hợp lệ
bản án, quyết định đó cho người phải thi hành; d) Văn bản của Tòa án nước
ngoài hoặc cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài xác nhận người phải thi hành
hoặc người đại diện hợp pháp của người đó đã được triệu tập hợp lệ trong trường
hợp Tòa án nước ngoài ra bản án vắng mặt họ. 2. Giấy tờ, tài liệu kèm
theo đơn yêu cầu bằng tiếng nước ngoài phải được gửi kèm theo bản dịch ra tiếng
Việt, được công chứng, chứng thực hợp pháp. Trường hợp Bộ Tư pháp nhận
được đơn yêu cầu và giấy tờ, tài liệu quy định tại khoản 1 Điều 434 của Bộ luật
này thì trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ, Bộ Tư pháp
phải chuyển cho Tòa án có thẩm quyền theo quy định tại Điều 37 và Điều 39 của Bộ
luật này. Trong thời hạn 05 ngày làm
việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ do Bộ Tư pháp chuyển đến hoặc kể từ ngày nhận
được đơn yêu cầu và giấy tờ, tài liệu kèm theo do người có yêu cầu gửi đến, Tòa
án căn cứ vào các điều 363, 364 và 365 của Bộ luật này để xem xét, thụ lý hồ sơ
và thông báo cho người có đơn yêu cầu, người phải thi hành hoặc người đại diện
hợp pháp của họ tại Việt Nam, Viện kiểm sát cùng cấp và Bộ Tư
pháp. 1. Trong thời hạn chuẩn bị
xét đơn yêu cầu, Tòa án có quyền yêu cầu người được thi hành giải thích những
điểm chưa rõ trong đơn; yêu cầu Tòa án nước ngoài đã ra bản án, quyết định giải
thích những điểm chưa rõ trong hồ sơ. 2. Văn bản yêu cầu giải
thích của Tòa án được gửi cho người được thi hành hoặc người đại diện hợp pháp
của họ tại Việt Nam, Tòa án nước ngoài theo đường dịch vụ bưu
chính. Trường hợp Tòa án Việt Nam
yêu cầu Tòa án nước ngoài giải thích thì văn bản yêu cầu được dịch ra ngôn ngữ
quy định tại điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành
viên. Trường hợp giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước ngoài chưa có
điều ước quốc tế thì hồ sơ phải kèm theo bản dịch ra ngôn ngữ của nước được yêu
cầu tương trợ tư pháp hoặc dịch ra một ngôn ngữ khác mà nước được yêu cầu chấp
nhận. Người yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định
của Tòa án nước ngoài phải chịu chi phí dịch và chi phí dịch vụ bưu chính gửi
văn bản yêu cầu giải thích của Tòa án Việt Nam cho Tòa án nước
ngoài. 3. Thời hạn chuẩn bị xét
đơn yêu cầu là 04 tháng, kể từ ngày thụ lý. Trong thời hạn này, tuỳ từng trường
hợp mà Tòa án ra một trong các quyết định sau đây: a) Tạm đình chỉ việc xét
đơn yêu cầu; b) Đình chỉ việc xét đơn
yêu cầu; c) Mở phiên họp xét đơn yêu
cầu. Trường hợp Tòa án yêu cầu
giải thích theo quy định tại khoản 1 Điều này thì thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu
cầu được kéo dài nhưng không quá 02 tháng. Nếu hết thời hạn này mà Tòa án không
nhận được văn bản giải thích của đương sự hoặc của Tòa án nước ngoài thì Tòa án
căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ để giải quyết yêu cầu của đương
sự. Tòa án phải mở phiên họp
trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày ra quyết định mở phiên họp xét đơn yêu
cầu. Tòa án chuyển hồ sơ cho
Viện kiểm sát cùng cấp nghiên cứu trong thời hạn 15 ngày trước ngày mở phiên
họp; hết thời hạn này, Viện kiểm sát phải gửi trả lại hồ sơ cho Tòa án để mở
phiên họp xét đơn yêu cầu. 4. Tòa án ra quyết định tạm
đình chỉ việc xét đơn yêu cầu khi có một trong các căn cứ sau
đây: a) Người phải thi hành là
cá nhân chết hoặc người phải thi hành là cơ quan, tổ chức đã sáp nhập, hợp nhất,
chia, tách, giải thể mà chưa có cơ quan, tổ chức, cá nhân kế thừa quyền và nghĩa
vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức, cá nhân đó; b) Người phải thi hành là
cá nhân bị mất năng lực hành vi dân sự mà chưa xác định được người đại diện theo
pháp luật; c) Chấm dứt đại diện hợp
pháp của người phải thi hành mà chưa có người thay
thế; d) Việc thi hành bản án,
quyết định đã bị tạm đình chỉ tại nước có Tòa án đã ra bản án, quyết
định; đ) Bản án, quyết định đang
được xem xét lại hoặc đang chờ xem xét lại theo thủ tục tố tụng tại nước nơi Tòa
án đã ra bản án, quyết định đó. 5. Tòa án ra quyết định
đình chỉ việc xét đơn yêu cầu khi có một trong các căn cứ sau
đây: a) Người được thi hành rút
đơn yêu cầu hoặc người phải thi hành đã tự nguyện thi hành bản án, quyết định
của Tòa án nước ngoài; b) Người phải thi hành là
cá nhân chết mà quyền, nghĩa vụ của người đó không được thừa
kế; c) Người phải thi hành là
cơ quan, tổ chức đã bị giải thể, phá sản mà quyền, nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức
đó đã được giải quyết theo quy định của pháp luật Việt
Nam; d) Người phải thi hành là
cơ quan, tổ chức đã bị giải thể, phá sản mà không có cơ quan, tổ chức, cá nhân
nào kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức
đó; đ) Đã có quyết định của Tòa
án mở thủ tục phá sản đối với người phải thi hành; e) Tòa án không xác định
được địa chỉ của người phải thi hành và địa điểm nơi có tài sản liên quan đến
việc thi hành; g) Thẩm quyền giải quyết
yêu cầu thuộc Tòa án khác và hồ sơ đã được chuyển cho Tòa án đó giải
quyết; h) Tòa án không xác định
được địa điểm nơi có tài sản liên quan đến việc thi hành tại Việt Nam trong
trường hợp cơ quan, tổ chức phải thi hành không có trụ sở chính tại Việt Nam, cá
nhân phải thi hành không cư trú, làm việc tại Việt
Nam. 1. Việc xét đơn yêu cầu
được tiến hành tại phiên họp do Hội đồng xét đơn yêu cầu gồm ba Thẩm phán thực
hiện, trong đó một Thẩm phán làm chủ tọa theo sự phân công của Chánh án Tòa
án. 2. Kiểm sát viên Viện kiểm
sát cùng cấp tham gia phiên họp; trường hợp Kiểm sát viên vắng mặt thì Tòa án
vẫn tiến hành phiên họp. 3. Phiên họp được tiến hành
với sự có mặt của người được thi hành, người phải thi hành hoặc người đại diện
hợp pháp của họ; nếu một trong những người này vắng mặt lần thứ nhất thì phải
hoãn phiên họp. Việc xét đơn yêu cầu vẫn
được tiến hành nếu người được thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của họ,
người phải thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của họ có đơn yêu cầu Tòa án
xét đơn vắng mặt hoặc người phải thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của họ đã
được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt. Hội đồng ra quyết định đình
chỉ việc xét đơn nếu người được thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của họ đã
được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt hoặc khi có một trong các căn
cứ quy định tại khoản 5 Điều 437 của Bộ luật này. 4. Khi xem xét đơn yêu cầu
công nhận và cho thi hành, Hội đồng không được xét xử lại vụ án đã được Tòa án
nước ngoài ra bản án, quyết định. Tòa án chỉ được kiểm tra, đối chiếu bản án,
quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, giấy tờ, tài liệu kèm theo đơn yêu cầu
với các quy định tại Chương XXXV và Chương XXXVI của Bộ luật này, các quy định
khác có liên quan của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam là thành viên để làm cơ sở cho việc ra quyết định công nhận
và cho thi hành hoặc không công nhận bản án, quyết định
đó. 5. Sau khi xem xét đơn yêu
cầu, các giấy tờ, tài liệu kèm theo, nghe ý kiến của người được triệu tập, của
Kiểm sát viên, Hội đồng thảo luận và quyết định theo đa
số. Hội đồng có quyền ra quyết
định công nhận và cho thi hành tại Việt Nam hoặc quyết định không công nhận bản
án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài. 6. Trong thời hạn chuẩn bị
xét đơn yêu cầu, Tòa án cấp sơ thẩm có quyền quyết định áp dụng, thay đổi, hủy
bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại Chương VIII của Bộ luật
này. 1. Bản án, quyết định dân
sự của Tòa án nước ngoài không đáp ứng được một trong các điều kiện để được công
nhận quy định tại điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là
thành viên. 2. Bản án, quyết định dân
sự chưa có hiệu lực pháp luật theo quy định của pháp luật của nước có Tòa án đã
ra bản án, quyết định đó. 3. Người phải thi hành hoặc
người đại diện hợp pháp của người đó đã vắng mặt tại phiên tòa của Tòa án nước
ngoài do không được triệu tập hợp lệ hoặc văn bản của Tòa án nước ngoài không
được tống đạt cho họ trong một thời hạn hợp lý theo quy định của pháp luật của
nước có Tòa án nước ngoài đó để họ thực hiện quyền tự bảo
vệ. 4. Tòa án nước đã ra bản
án, quyết định không có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự đó theo quy định
tại Điều 440 của Bộ luật này. 5. Vụ việc dân sự này đã có
bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án Việt Nam hoặc
trước khi cơ quan xét xử của nước ngoài thụ lý vụ việc, Tòa án Việt Nam đã thụ
lý và đang giải quyết vụ việc hoặc đã có bản án, quyết định dân sự của Tòa án
nước thứ ba đã được Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi
hành. 6. Đã hết thời hiệu thi
hành án theo pháp luật của nước có Tòa án đã ra bản án, quyết định dân sự đó
hoặc theo pháp luật thi hành án dân sự của Việt
Nam. 7. Việc thi hành bản án,
quyết định đã bị hủy bỏ hoặc đình chỉ thi hành tại nước có Tòa án đã ra bản án,
quyết định đó. 8. Việc công nhận và cho
thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài tại Việt Nam trái với
các nguyên tắc cơ bản của pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam. Tòa án nước ngoài đã ra bản
án, quyết định mà bản án, quyết định đó đang được xem xét để công nhận và cho
thi hành tại Việt Nam có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự đó trong những
trường hợp sau đây: 1. Vụ việc dân sự không
thuộc thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam quy định tại Điều 470 của Bộ
luật này; 2. Vụ việc dân sự quy định
tại Điều 469 của Bộ luật này nhưng có một trong các điều kiện sau
đây: a) Bị đơn tham gia tranh
tụng mà không có ý kiến phản đối thẩm quyền của Tòa án nước ngoài
đó; b) Vụ việc dân sự này chưa
có bản án, quyết định của Tòa án nước thứ ba đã được Tòa án Việt Nam công nhận
và cho thi hành; c) Vụ việc dân sự này đã
được Tòa án nước ngoài thụ lý trước khi Tòa án Việt Nam thụ
lý. 1. Trong thời hạn 15 ngày,
kể từ ngày ra quyết định quy định tại khoản 5 Điều 438 của Bộ luật này, Tòa án
phải gửi quyết định đó cho các đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của họ, Bộ
Tư pháp và Viện kiểm sát cùng cấp. 2. Trong thời hạn 05 ngày
làm việc, kể từ ngày ra quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ việc giải
quyết đơn quy định tại khoản 4 và khoản 5 Điều 437 của Bộ luật này, Tòa án phải
gửi quyết định đó cho các đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của họ, Bộ Tư
pháp và Viện kiểm sát cùng cấp. 3. Ngay sau khi ra quyết
định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại khoản 6
Điều 438 của Bộ luật này, Tòa án phải gửi quyết định đó cho các đương sự hoặc
người đại diện hợp pháp của họ, cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền, Bộ Tư
pháp và Viện kiểm sát cùng cấp. 4. Việc gửi quyết định của
Tòa án cho đương sự ở nước ngoài được thực hiện theo các phương thức quy định
tại Điều 474 của Bộ luật này. 1. Trong thời hạn 07 ngày,
kể từ ngày Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ xét đơn yêu
cầu và 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định công nhận và cho thi hành hoặc
không công nhận bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài, đương sự, người đại
diện hợp pháp của họ có quyền kháng cáo quyết định đó; trường hợp đương sự,
người đại diện hợp pháp của họ không có mặt tại phiên họp xét đơn yêu cầu thì
thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được quyết định đó. Đơn kháng cáo
phải nêu rõ lý do và yêu cầu kháng cáo. Trong trường hợp có sự kiện
bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan làm cho đương sự, người đại diện hợp pháp
của họ không thể kháng cáo trong thời hạn nêu trên thì thời gian có sự kiện bất
khả kháng hoặc trở ngại khách quan đó không tính vào thời hạn kháng
cáo. 2. Viện trưởng Viện kiểm
sát nhân dân cấp tỉnh hoặc Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao có quyền
kháng nghị quyết định của Tòa án quy định tại khoản 4 và khoản 5 Điều 437 và
khoản 5 Điều 438 của Bộ luật này. Thời hạn kháng nghị của
Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh là 07 ngày, của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao
là 10 ngày, kể từ ngày Viện kiểm sát nhận được quyết
định. 1. Tòa án nhân dân cấp cao
xét quyết định của Tòa án nhân dân cấp tỉnh trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh
thổ bị kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận được hồ
sơ; trường hợp cần phải yêu cầu giải thích theo quy định tại khoản 1 và khoản 2
Điều 437 của Bộ luật này thì thời hạn này được kéo dài, nhưng không quá 02
tháng. 2. Thành phần Hội đồng xét
quyết định bị kháng cáo, kháng nghị gồm ba Thẩm phán, trong đó một Thẩm phán làm
chủ tọa theo sự phân công của Chánh Tòa án nhân dân cấp
cao. Phiên họp xét lại quyết
định bị kháng cáo, kháng nghị được tiến hành như phiên họp xét đơn yêu cầu quy
định tại Điều 438 của Bộ luật này. 3. Hội đồng xét quyết định
bị kháng cáo, kháng nghị có các quyền sau đây: a) Giữ nguyên quyết định
của Tòa án cấp sơ thẩm; b) Sửa một phần hoặc toàn
bộ quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm; c) Tạm đình chỉ giải quyết
kháng cáo, kháng nghị; d) Đình chỉ giải quyết
kháng cáo, kháng nghị; đ) Hủy quyết định của Tòa
án cấp sơ thẩm và chuyển hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm để giải quyết lại theo thủ
tục sơ thẩm; e) Hủy quyết định của Tòa
án cấp sơ thẩm và đình chỉ việc xét đơn yêu cầu khi có một trong các căn cứ quy
định tại khoản 5 Điều 437 của Bộ luật này. 4. Quyết định của Tòa án
nhân dân cấp cao có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định và có thể bị
kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm theo quy định của Bộ luật
này. 1. Trong thời hạn 03 năm,
kể từ ngày bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài có hiệu lực pháp
luật, người phải thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền yêu cầu
Tòa án Việt Nam không công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước
ngoài. 2. Trường hợp người yêu cầu
chứng minh được vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan mà không thể
yêu cầu đúng thời hạn quy định tại khoản 1 Điều này thì thời gian có sự kiện bất
khả kháng hoặc trở ngại khách quan đó không tính vào thời hạn gửi
đơn. 1. Người yêu cầu quy định
tại khoản 1 Điều 444 của Bộ luật này phải làm đơn yêu cầu. Đơn yêu cầu phải có
các nội dung chính sau đây: a) Họ, tên, địa chỉ nơi cư
trú hoặc nơi làm việc của người phải thi hành; nếu người phải thi hành là cơ
quan, tổ chức thì ghi đầy đủ tên và địa chỉ trụ sở chính của cơ quan, tổ chức
đó; trường hợp người phải thi hành là cá nhân không có nơi cư trú hoặc nơi làm
việc tại Việt Nam, người phải thi hành là cơ quan, tổ chức không có trụ sở chính
tại Việt Nam thì trong đơn yêu cầu phải ghi rõ địa chỉ nơi có tài sản và các
loại tài sản liên quan đến việc thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án
nước ngoài tại Việt Nam; b) Họ, tên, địa chỉ nơi cư
trú hoặc nơi làm việc của người được thi hành, người đại diện hợp pháp của người
đó; nếu người được thi hành án là cơ quan, tổ chức thì phải ghi đầy đủ tên và
địa chỉ trụ sở chính của cơ quan, tổ chức đó; c) Yêu cầu của người phải
thi hành; trường hợp bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài đã được thi hành
một phần thì phải ghi rõ phần đã được thi hành và phần còn lại có yêu cầu không
công nhận tại Việt Nam. 2. Đơn yêu cầu bằng tiếng
nước ngoài phải được gửi kèm theo bản dịch ra tiếng Việt, được công chứng, chứng
thực hợp pháp. 1. Gửi kèm theo đơn yêu cầu
là giấy tờ, tài liệu quy định tại điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam là thành viên. Trường hợp Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước có
Tòa án đã ra bản án, quyết định chưa cùng là thành viên của điều ước quốc tế có
quy định về vấn đề này thì kèm theo đơn yêu cầu phải có bản chính hoặc bản sao
có chứng thực bản án, quyết định do Tòa án nước ngoài cấp và giấy tờ, tài liệu
chứng minh cho yêu cầu không công nhận. 2. Giấy tờ, tài liệu kèm
theo đơn yêu cầu bằng tiếng nước ngoài phải được gửi kèm theo bản dịch ra tiếng
Việt, được công chứng, chứng thực hợp pháp. 3. Thủ tục xét đơn yêu cầu,
việc gửi quyết định của Tòa án, việc kháng cáo, kháng nghị và xét kháng cáo,
kháng nghị được thực hiện theo quy định tại các điều tương ứng tại Mục 1 Chương
này. 1. Trong thời hạn 06 tháng,
kể từ ngày nhận được bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật của Tòa
án nước ngoài mà không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam, đương sự, người có
quyền, lợi ích hợp pháp liên quan hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền
gửi đơn đến Bộ Tư pháp Việt Nam theo quy định của điều ước quốc tế mà Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc Tòa án có thẩm quyền của Việt Nam
theo quy định của Bộ luật này trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên không quy định hoặc không có điều ước quốc
tế liên quan để yêu cầu Tòa án không công nhận bản án, quyết định dân sự
đó. 2. Trường hợp người làm đơn
chứng minh được vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan mà không thể
gửi đơn đúng thời hạn quy định tại khoản 1 Điều này thì thời gian có sự kiện bất
khả kháng hoặc trở ngại khách quan đó không tính vào thời hạn gửi
đơn. 1. Đơn yêu cầu không công
nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài không có yêu cầu thi hành
tại Việt Nam phải có các nội dung chính sau đây: a) Họ, tên, địa chỉ nơi cư
trú hoặc nơi làm việc của người làm đơn; nếu là cơ quan, tổ chức thì ghi đầy đủ
tên và địa chỉ trụ sở chính của cơ quan, tổ chức
đó; b) Yêu cầu của người làm
đơn. 2. Kèm theo đơn yêu cầu
phải có bản chính hoặc bản sao có chứng thực bản án, quyết định dân sự của Tòa
án nước ngoài và giấy tờ, tài liệu cần thiết để chứng minh yêu cầu không công
nhận của mình là có căn cứ và hợp pháp. 3. Đơn yêu cầu và giấy tờ,
tài liệu kèm theo bằng tiếng nước ngoài phải được gửi kèm theo bản dịch ra tiếng
Việt, được công chứng, chứng thực hợp pháp. 1. Việc thụ lý đơn, chuẩn
bị xét đơn yêu cầu và phiên họp xét đơn yêu cầu không công nhận bản án, quyết
định dân sự của Tòa án nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam được
thực hiện theo quy định tại các điều 436, 437 và 438 của Bộ luật
này. 2. Hội đồng xét đơn yêu cầu
có quyền ra một trong các quyết định sau đây: a) Không công nhận bản án,
quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài; b) Bác đơn yêu cầu không
công nhận. 3. Bản án, quyết định dân
sự của Tòa án nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam không được công
nhận trong các trường hợp quy định tại Điều 439 của Bộ luật
này. Việc gửi quyết định của Tòa án;
việc kháng cáo, kháng nghị và xét kháng cáo, kháng nghị được thực hiện theo quy
định tại các điều 441, 442 và 443 của Bộ luật này. 1. Trong thời hạn 03 năm, kể từ
ngày phán quyết của Trọng tài nước ngoài có hiệu lực pháp luật, người được thi
hành, người có quyền, lợi ích hợp pháp liên quan hoặc người đại diện hợp pháp
của họ có quyền gửi đơn đến Bộ Tư pháp Việt Nam theo quy định của điều ước quốc
tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam là
thành viên hoặc Tòa án có thẩm quyền của Việt Nam theo quy định của Bộ luật này
trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên không quy
định hoặc không có điều ước quốc tế liên quan để yêu cầu Tòa án công nhận và cho thi hành tại
Việt Nam phán quyết đó. 2. Trường hợp người làm đơn chứng minh được vì sự kiện bất
khả kháng hoặc trở ngại khách quan mà không thể gửi đơn đúng thời hạn quy định
tại khoản 1 Điều này thì thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách
quan đó không tính vào thời hạn gửi đơn. 1. Đơn yêu cầu công nhận và cho
thi hành tại Việt Nam phán quyết của Trọng tài nước ngoài phải có các nội dung
chính sau đây: a) Họ, tên, địa chỉ nơi cư trú
hoặc nơi làm việc của người được thi hành, người đại diện hợp pháp tại Việt Nam
của người đó; nếu người được thi hành án là cơ quan, tổ chức thì phải ghi đầy đủ
tên và địa chỉ trụ sở chính của cơ quan, tổ chức đó; b) Họ, tên, địa chỉ nơi cư trú
hoặc nơi làm việc của người phải thi hành; nếu người phải thi hành là cơ quan,
tổ chức thì ghi đầy đủ tên và địa chỉ trụ sở chính của cơ quan, tổ chức đó;
trường hợp người phải thi hành là cá nhân không có nơi cư trú hoặc nơi làm việc
tại Việt Nam, người phải thi hành là cơ quan, tổ chức không có trụ sở chính tại
Việt Nam thì trong đơn yêu cầu phải ghi rõ địa chỉ nơi có tài sản và các loại
tài sản liên quan đến việc thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài tại Việt
Nam; c) Yêu cầu của người được thi
hành. 2. Đơn yêu cầu bằng tiếng nước
ngoài phải được gửi kèm theo bản dịch ra tiếng Việt, được công chứng, chứng thực
hợp pháp. 1. Gửi kèm theo đơn yêu cầu là
giấy tờ, tài liệu quy định tại điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành
viên; trường hợp không có điều ước quốc
tế hoặc điều ước quốc tế không quy định thì kèm theo đơn yêu cầu phải có giấy
tờ, tài liệu sau đây: a) Bản chính hoặc bản sao có
chứng thực phán quyết của Trọng tài nước ngoài; b) Bản chính hoặc bản sao có
chứng thực thỏa thuận trọng tài giữa các bên. 2. Giấy tờ, tài liệu kèm theo đơn
yêu cầu bằng tiếng nước ngoài thì phải được gửi kèm theo bản dịch ra tiếng Việt, được công
chứng, chứng thực hợp pháp. Điều
454. Chuyển hồ sơ cho Tòa án 1. Trong thời hạn 05 ngày
làm việc, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu và giấy tờ, tài liệu quy định tại
Điều 453 của Bộ luật này thì Bộ Tư pháp phải chuyển cho Tòa án có thẩm
quyền. 2. Trường hợp Bộ Tư pháp đã
chuyển hồ sơ cho Tòa án mà sau đó lại nhận được thông báo của cơ quan có thẩm
quyền của nước ngoài cho biết đang xem xét hoặc đã hủy bỏ, đình chỉ thi hành
phán quyết của Trọng tài nước ngoài thì Bộ Tư pháp phải thông báo ngay bằng văn
bản cho Tòa án biết. Trong thời hạn 05 ngày làm
việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ do Bộ Tư pháp chuyển đến hoặc nhận được đơn và
giấy tờ, tài liệu kèm theo do người có đơn yêu cầu gửi đến, Tòa án có thẩm quyền
căn cứ vào các điều 363, 364 và 365 của Bộ luật này để xem xét, thụ lý và thông
báo bằng văn bản cho người được thi hành, người phải thi hành hoặc người đại
diện hợp pháp của họ tại Việt Nam, Viện kiểm sát cùng cấp và Bộ Tư
pháp. Điều
456. Chuyển hồ sơ cho Tòa án khác, giải quyết tranh chấp về thẩm
quyền Trường hợp sau khi thụ lý
mà Tòa án xét thấy việc giải quyết yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt
Nam phán quyết của Trọng tài nước ngoài thuộc thẩm quyền của Tòa án khác của
Việt Nam thì Tòa án đã thụ lý ra quyết định chuyển hồ sơ cho Tòa án có thẩm
quyền và xóa tên yêu cầu đó trong sổ thụ lý. Quyết định này phải được gửi ngay
cho Viện kiểm sát cùng cấp và đương sự. Đương sự có quyền khiếu
nại, Viện kiểm sát có quyền kiến nghị đối với quyết định này trong thời hạn 03
ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định. Trình tự, thủ tục giải quyết
khiếu nại, kiến nghị, giải quyết tranh chấp về thẩm quyền được thực hiện theo
quy định tại Điều 41 của Bộ luật này. Điều
457. Chuẩn bị xét đơn yêu cầu 1. Trong thời hạn 02 tháng,
kể từ ngày thụ lý, tuỳ từng trường hợp mà Tòa án ra một trong các quyết định sau
đây: a) Tạm đình chỉ việc xét
đơn yêu cầu; b) Đình chỉ việc xét đơn
yêu cầu; c) Mở phiên họp xét đơn yêu
cầu. Trong thời hạn chuẩn bị xét
đơn yêu cầu, Tòa án có quyền yêu cầu người được thi hành giải thích những điểm
chưa rõ trong đơn. Trong trường hợp này, thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu được
kéo dài nhưng không quá 02 tháng. Tòa án phải mở phiên họp
trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày ra quyết định mở phiên họp xét đơn yêu cầu.
Tòa án chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát cùng cấp nghiên cứu trong thời hạn 15 ngày
trước ngày mở phiên họp; hết thời hạn này, Viện kiểm sát phải gửi trả lại hồ sơ
cho Tòa án để mở phiên họp xét đơn yêu cầu. 2. Tòa án ra quyết định tạm
đình chỉ việc xét đơn yêu cầu khi có một trong các căn cứ sau
đây: a) Phán quyết của Trọng tài
nước ngoài đang được cơ quan có thẩm quyền của nước nơi Trọng tài ra phán quyết
xem xét lại; b) Người phải thi hành là
cá nhân chết hoặc người phải thi hành là cơ quan, tổ chức đã sáp nhập, hợp nhất,
chia, tách, giải thể mà chưa có cơ quan, tổ chức, cá nhân kế thừa quyền và nghĩa
vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức, cá nhân đó; c) Người phải thi hành là
cá nhân bị mất năng lực hành vi dân sự mà chưa xác định được người đại diện theo
pháp luật. Trong thời gian tạm đình
chỉ, Thẩm phán được phân công giải quyết vẫn phải có trách nhiệm về việc giải
quyết đơn yêu cầu. Sau khi có quyết định tạm
đình chỉ giải quyết đơn yêu cầu theo quy định tại khoản này, Thẩm phán có trách
nhiệm theo dõi, đôn đốc cơ quan, tổ chức, cá nhân nhằm khắc phục những lý do dẫn
tới việc tạm đình chỉ trong thời gian ngắn nhất để kịp thời tiếp tục giải quyết
đơn yêu cầu. Khi lý do tạm đình chỉ không còn thì Thẩm phán phải ra quyết định
tiếp tục giải quyết đơn yêu cầu. 3. Tòa án ra quyết định
đình chỉ việc xét đơn yêu cầu khi có một trong các căn cứ sau
đây: a) Người được thi hành rút
đơn yêu cầu hoặc người phải thi hành đã tự nguyện thi hành phán quyết của Trọng
tài nước ngoài; b) Người phải thi hành là
cá nhân chết mà quyền, nghĩa vụ của người đó không được thừa
kế; c) Người phải thi hành là
cơ quan, tổ chức đã bị giải thể, phá sản mà quyền, nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức
đó đã được giải quyết theo quy định của pháp luật Việt
Nam; d) Người phải thi hành là
cơ quan, tổ chức đã bị giải thể, phá sản mà không có cơ quan, tổ chức, cá nhân
nào kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức
đó; đ) Tòa án không xác định
được địa điểm nơi có tài sản tại Việt Nam của người phải thi hành theo yêu cầu
của người được thi hành phán quyết trọng tài. Điều
458. Phiên họp xét đơn yêu cầu 1. Việc xét đơn yêu cầu
được tiến hành tại phiên họp do Hội đồng xét đơn yêu cầu gồm ba Thẩm phán thực
hiện, trong đó một Thẩm phán làm chủ tọa theo sự phân công của Chánh án Tòa
án. 2. Kiểm sát viên Viện kiểm
sát cùng cấp phải tham gia phiên họp; trường hợp Kiểm sát viên vắng mặt thì Tòa
án vẫn tiến hành phiên họp. 3. Phiên họp được tiến hành
với sự có mặt của người được thi hành, người phải thi hành hoặc người đại diện
hợp pháp của họ, nếu một trong những người này vắng mặt lần thứ nhất có lý do
chính đáng thì phải hoãn phiên họp. Việc xét đơn yêu cầu vẫn
được tiến hành nếu người được thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của họ,
người phải thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của họ yêu cầu Tòa án xét đơn
vắng mặt họ hoặc người phải thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của họ đã được
triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt. Hội đồng xét đơn ra quyết
định đình chỉ việc giải quyết đơn nếu người được thi hành hoặc người đại diện
hợp pháp của họ đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt hoặc khi có
một trong các căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 457 của Bộ luật
này. 4. Khi xem xét đơn yêu cầu
công nhận và cho thi hành, Hội đồng không được xét xử lại tranh chấp đã được
Trọng tài nước ngoài ra phán quyết. Tòa án chỉ được kiểm tra, đối chiếu phán
quyết của Trọng tài nước ngoài, giấy tờ, tài liệu kèm theo đơn yêu cầu với các
quy định tại Chương XXXV và Chương XXXVII của Bộ luật này, các quy định khác có
liên quan của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam là thành viên để làm cơ sở cho việc ra quyết định công nhận hoặc
không công nhận phán quyết đó. 5. Sau khi xem xét đơn yêu
cầu, giấy tờ, tài liệu kèm theo, nghe ý kiến của người được triệu tập, của Kiểm
sát viên, Hội đồng thảo luận và quyết định theo đa
số. Hội đồng có quyền ra quyết
định công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của Trọng tài nước ngoài
hoặc quyết định không công nhận phán quyết của Trọng tài nước
ngoài. 1. Tòa án không công nhận
phán quyết của Trọng tài nước ngoài khi xét thấy chứng cứ do bên phải thi hành
cung cấp cho Tòa án để phản đối yêu cầu công nhận là có căn cứ, hợp pháp và phán
quyết trọng tài thuộc một trong các trường hợp sau
đây: a) Các bên ký kết thỏa
thuận trọng tài không có năng lực để ký kết thỏa thuận đó theo pháp luật được áp
dụng cho mỗi bên; b) Thỏa thuận trọng tài
không có giá trị pháp lý theo pháp luật của nước mà các bên đã chọn để áp dụng
hoặc theo pháp luật của nước nơi phán quyết đã được tuyên, nếu các bên không
chọn pháp luật áp dụng cho thỏa thuận đó; c) Cơ quan, tổ chức, cá
nhân phải thi hành không được thông báo kịp thời và hợp thức về việc chỉ định
Trọng tài viên, về thủ tục giải quyết vụ tranh chấp tại Trọng tài nước ngoài
hoặc vì nguyên nhân chính đáng khác mà không thể thực hiện được quyền tố tụng
của mình; d) Phán quyết của Trọng tài
nước ngoài được tuyên về một vụ tranh chấp không được các bên yêu cầu giải quyết
hoặc vượt quá yêu cầu của các bên ký kết thỏa thuận trọng tài. Trường hợp có thể
tách được phần quyết định về vấn đề đã được yêu cầu và phần quyết định về vấn đề
không được yêu cầu giải quyết tại Trọng tài nước ngoài thì phần quyết định về
vấn đề được yêu cầu giải quyết có thể được công nhận và cho thi hành tại Việt
Nam; đ) Thành phần của Trọng tài
nước ngoài, thủ tục giải quyết tranh chấp của Trọng tài nước ngoài không phù hợp
với thỏa thuận trọng tài hoặc với pháp luật của nước nơi phán quyết của Trọng
tài nước ngoài đã được tuyên, nếu thỏa thuận trọng tài không quy định về các vấn
đề đó; e) Phán quyết của Trọng tài
nước ngoài chưa có hiệu lực bắt buộc đối với các
bên; g) Phán quyết của Trọng tài
nước ngoài bị cơ quan có thẩm quyền của nước nơi phán quyết đã được tuyên hoặc
của nước có pháp luật đã được áp dụng hủy bỏ hoặc đình chỉ thi
hành. 2. Phán quyết của Trọng tài
nước ngoài cũng không được công nhận, nếu Tòa án Việt Nam xét
thấy: a) Theo pháp luật Việt Nam,
vụ tranh chấp không được giải quyết theo thể thức trọng
tài; b) Việc công nhận và cho
thi hành tại Việt Nam phán quyết của Trọng tài nước ngoài trái với các nguyên
tắc cơ bản của pháp luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam. 1. Trong thời hạn 05 ngày
làm việc, kể từ ngày ra quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ việc giải
quyết đơn quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 457 của Bộ luật này, Tòa án phải
gửi quyết định đó cho các đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của họ, Bộ Tư
pháp và Viện kiểm sát cùng cấp. 2. Trong thời hạn 15 ngày,
kể từ ngày ra quyết định công nhận và cho thi hành hoặc không công nhận tại Việt
Nam phán quyết của Trọng tài nước ngoài quy định tại khoản 5 Điều 458 của Bộ
luật này, Tòa án phải gửi quyết định đó cho các đương sự hoặc người đại diện hợp
pháp của họ, Bộ Tư pháp và Viện kiểm sát cùng cấp. Nếu đương sự ở nước ngoài
không có người đại diện hợp pháp tại Việt Nam và Tòa án đã ra quyết định vắng
mặt họ theo quy định tại khoản 3 Điều 458 của Bộ luật này thì Tòa án gửi quyết
định cho họ theo đường dịch vụ bưu chính hoặc thông qua Bộ Tư pháp theo quy định
của điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành
viên. 3. Việc gửi quyết định của
Tòa án được thực hiện theo các phương thức quy định tại Điều 474 của Bộ luật
này. Điều
461. Kháng cáo, kháng nghị 1. Trong thời hạn 15 ngày,
kể từ ngày Tòa án ra quyết định quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 457 hoặc
khoản 5 Điều 458 của Bộ luật này, đương sự, người đại diện hợp pháp của họ có
quyền kháng cáo quyết định đó; trường hợp đương sự không có mặt tại phiên họp
xét đơn yêu cầu thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được quyết
định. Đơn kháng cáo phải nêu rõ lý do và yêu cầu kháng
cáo. Trường hợp có sự kiện bất
khả kháng hoặc trở ngại khách quan làm cho đương sự, người đại diện hợp pháp của
họ không thể kháng cáo trong thời hạn nêu trên thì thời gian có sự kiện bất khả
kháng hoặc trở ngại khách quan đó không tính vào thời hạn kháng
cáo. 2. Viện trưởng Viện kiểm
sát nhân dân cấp tỉnh hoặc Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao có quyền
kháng nghị quyết định của Tòa án quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 457 và
khoản 5 Điều 458 của Bộ luật này. Thời hạn kháng nghị của
Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh là 07 ngày, của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao
là 10 ngày, kể từ ngày Viện kiểm sát nhận được quyết
định. Điều
462. Xét kháng cáo, kháng nghị 1. Tòa án nhân dân cấp cao
xét lại quyết định của Tòa án nhân dân cấp tỉnh bị kháng cáo, kháng nghị trong
thời hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận được hồ sơ; trường hợp cần phải yêu cầu giải
thích theo quy định tại khoản 1 Điều 457 của Bộ luật này thì thời hạn này được
kéo dài, nhưng không quá 02 tháng. 2. Thành phần Hội đồng xét
quyết định bị kháng cáo, kháng nghị gồm ba Thẩm phán, trong đó có một Thẩm phán
làm chủ tọa theo sự phân công của Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao. Phiên họp
xét lại quyết định bị kháng cáo, kháng nghị được tiến hành như phiên họp xét đơn
yêu cầu quy định tại Điều 458 của Bộ luật này. 3. Hội đồng xét quyết định
bị kháng cáo, kháng nghị có các quyền sau đây: a) Giữ nguyên quyết định
của Tòa án cấp sơ thẩm; b) Sửa một phần hoặc toàn
bộ quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm; c) Tạm đình chỉ giải quyết
kháng cáo, kháng nghị; d) Đình chỉ giải quyết
kháng cáo, kháng nghị; đ) Hủy quyết định của Tòa
án cấp sơ thẩm và chuyển hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm để giải quyết lại theo thủ
tục sơ thẩm; e) Hủy quyết định sơ thẩm
và đình chỉ giải quyết đơn yêu cầu khi có một trong các căn cứ quy định tại
khoản 3 Điều 457 của Bộ luật này. 4. Hội đồng xét quyết định
bị kháng cáo, kháng nghị đình chỉ giải quyết kháng cáo, kháng nghị trong các
trường hợp sau đây: a) Đương sự kháng cáo rút
toàn bộ kháng cáo hoặc Viện kiểm sát rút toàn bộ kháng
nghị; b) Đương sự kháng cáo đã
được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt và không có đơn yêu cầu giải
quyết vắng mặt. Trường hợp đương sự kháng
cáo rút toàn bộ kháng cáo hoặc Viện kiểm sát rút toàn bộ kháng nghị trước khi
Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định mở phiên họp xét kháng cáo, kháng nghị thì
Thẩm phán được phân công làm chủ tọa phiên họp ra quyết định đình chỉ giải quyết
kháng cáo, kháng nghị. Trường hợp đương sự kháng cáo rút toàn bộ kháng cáo, Viện
kiểm sát rút toàn bộ kháng nghị sau khi Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định mở
phiên họp xét kháng cáo, kháng nghị thì Hội đồng xét kháng cáo, kháng nghị ra
quyết định đình chỉ giải quyết xét kháng cáo, kháng
nghị. Trong các trường hợp này,
quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm có hiệu lực pháp luật từ ngày Tòa án cấp phúc
thẩm ra quyết định đình chỉ xét kháng cáo, kháng
nghị. 5. Hội đồng xét quyết định
bị kháng cáo, kháng nghị hủy quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm và chuyển hồ sơ
cho Tòa án cấp sơ thẩm để giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm trong các trường
hợp sau đây: a) Việc chứng minh của
đương sự phản đối việc công nhận phán quyết của Trọng tài nước ngoài hoặc căn cứ
để Tòa án cấp sơ thẩm ra quyết định công nhận hoặc không công nhận phán quyết
của Trọng tài nước ngoài không đúng quy định tại Chương XXXV và Chương XXXVII
của Bộ luật này, các quy định khác có liên quan của pháp luật Việt Nam và điều
ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành
viên; b) Thành phần của Hội đồng
xét đơn của Tòa án cấp sơ thẩm không đúng quy định tại Chương XXXVII của Bộ luật
này hoặc có vi phạm nghiêm trọng khác về thủ tục tố tụng ảnh hưởng đến quyền và
lợi ích hợp pháp của đương sự. 6. Quyết định của Tòa án
nhân dân cấp cao có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định và có thể bị
kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm theo quy định của Bộ luật
này. 1. Ngay sau khi nhận được thông
báo bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài về việc đang xem xét
yêu cầu hủy bỏ hoặc đình chỉ thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài từ
đương sự hoặc Bộ Tư pháp, Tòa án đã ra quyết định công nhận và cho thi hành tại
Việt Nam phán quyết đó phải yêu cầu Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra
quyết định tạm đình chỉ thi hành phán quyết. Ngay sau khi nhận được yêu cầu
của Tòa án, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định tạm đình chỉ thi
hành phán quyết và gửi quyết định đó cho Tòa án đã ra quyết định công nhận và
cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của Trọng tài nước ngoài, đồng thời gửi cho đương sự, người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan. Thủ trưởng cơ quan thi hành án
dân sự có thể áp dụng biện pháp bảo đảm cần thiết cho việc tiếp tục thi hành
phán quyết của Trọng tài nước ngoài theo
quy định của pháp luật về thi hành án dân sự nếu có yêu cầu của cơ quan, tổ
chức, cá nhân được thi hành. 2. Ngay sau khi nhận được thông
báo bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài hủy bỏ hoặc đình chỉ
thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài, Tòa án Việt Nam đã ra quyết định
công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của Trọng tài nước ngoài ra
quyết định hủy bỏ quyết định đó và gửi quyết định này cho đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan,
cơ quan thi
hành án dân sự. Ngay
sau khi nhận được quyết định của Tòa án, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự
ra quyết định đình chỉ việc thi hành phán quyết của Trọng tài nước
ngoài. |
ĐƠN VỊ HỖ TRỢ
|