|
|
KẾ TOÁN - THUẾ - DOANH NGHIỆP - LAO ĐỘNG |
|
|
|
|
Phần
thứ tám THỦ TỤC GIẢI QUYẾT VỤ VIỆC DÂN SỰ CÓ YẾU TỐ NƯỚC
NGOÀI QUY ĐỊNH CHUNG VỀ THỦ TỤC GIẢI QUYẾT VỤ VIỆC DÂN SỰ CÓ
YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI 1. Phần này quy định về thẩm
quyền, thủ tục giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài; trường hợp Phần này không có quy
định thì áp dụng các quy định khác có liên quan của Bộ luật này để giải
quyết. 2. Vụ việc dân sự có yếu tố nước
ngoài là vụ việc dân sự thuộc một trong các trường hợp sau đây: a) Có ít nhất một trong các bên
tham gia là cá nhân, cơ quan, tổ chức nước
ngoài; b) Các bên tham gia đều là công
dân, cơ quan, tổ chức Việt Nam nhưng
việc xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ đó xảy ra tại nước
ngoài; c) Các bên tham gia đều là công
dân, cơ quan, tổ chức Việt Nam nhưng
đối tượng của quan hệ dân sự đó ở nước ngoài. 3. Các hoạt động tương trợ tư
pháp trong tố tụng dân sự được thực hiện theo quy định của pháp luật về tương
trợ tư pháp. 1. Người nước ngoài, cơ quan, tổ
chức nước ngoài, tổ chức quốc tế, cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế tại Việt
Nam có quyền khởi kiện đến Tòa án Việt Nam để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của mình khi bị xâm phạm hoặc có tranh chấp. Chi nhánh, văn phòng đại diện tại
Việt Nam của cơ quan, tổ chức nước ngoài theo ủy quyền có quyền khởi kiện đến
Tòa án Việt Nam để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức
nước ngoài ủy quyền bị xâm phạm hoặc có tranh chấp. 2. Khi tham gia tố tụng dân sự,
người nước ngoài, cơ quan, tổ chức nước ngoài, chi nhánh, văn phòng đại diện tại
Việt Nam của cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế, cơ quan đại diện của
tổ chức quốc tế tại Việt Nam, Nhà nước nước ngoài có quyền, nghĩa vụ tố tụng như
công dân, cơ quan, tổ chức Việt Nam. 3. Nhà nước Việt Nam có thể áp
dụng nguyên tắc có đi có lại để hạn chế quyền tố tụng dân sự tương ứng của người
nước ngoài, cơ quan, tổ chức nước ngoài, chi nhánh, văn phòng đại diện tại Việt
Nam của cơ quan, tổ chức nước ngoài mà Tòa án của nước đó đã hạn chế quyền tố
tụng dân sự đối với công dân, cơ quan, tổ chức Việt Nam, chi nhánh, văn phòng
đại diện tại nước ngoài của cơ quan, tổ chức Việt Nam. 1. Năng lực pháp luật tố tụng dân
sự và năng lực hành vi tố tụng dân sự của người nước ngoài được xác định như
sau: a) Theo pháp luật của nước mà
người nước ngoài có quốc tịch; trường hợp người nước
ngoài là người không quốc tịch thì theo pháp luật của nước nơi người đó cư
trú; nếu người không quốc tịch thường
trú tại Việt Nam thì theo pháp luật Việt Nam; b) Theo pháp luật của nước nơi
người nước ngoài có quốc tịch và cư trú tại một trong các nước mà họ có quốc
tịch nếu họ có nhiều quốc tịch nước ngoài. Trường hợp người nước ngoài có
nhiều quốc tịch và cư trú ở nước mà không cùng với quốc tịch của nước đó thì
theo pháp luật của nước nơi người nước ngoài có thời gian mang quốc tịch dài
nhất; c) Theo pháp luật Việt Nam nếu
người nước ngoài có nhiều quốc tịch và một trong quốc tịch đó là quốc tịch Việt
Nam hoặc người nước ngoài có thẻ thường trú hoặc thẻ tạm trú tại Việt
Nam. 2. Người nước ngoài có thể được
công nhận có năng lực hành vi tố tụng dân sự tại Tòa án Việt Nam, nếu theo quy
định của pháp luật nước ngoài thì họ không có năng lực hành vi tố tụng dân sự,
nhưng theo quy định của pháp luật Việt Nam thì họ có năng lực hành vi tố tụng
dân sự. 1. Năng lực pháp luật tố tụng dân
sự của cơ quan, tổ chức nước ngoài được xác định theo pháp luật của nước nơi cơ
quan, tổ chức đó được thành lập. Năng lực pháp luật tố tụng dân sự
của chi nhánh, văn phòng đại diện tại Việt Nam của cơ quan, tổ chức nước ngoài
được xác định theo pháp luật Việt Nam. 2. Năng lực pháp luật tố tụng dân
sự của tổ chức quốc tế, cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế được xác định trên
cơ sở điều ước quốc tế là căn cứ để thành lập tổ chức đó, quy chế hoạt động của
tổ chức quốc tế hoặc điều ước quốc tế mà
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Trường hợp tổ chức quốc tế tuyên
bố từ bỏ quyền ưu đãi, quyền miễn trừ thì năng lực pháp luật tố tụng dân
sự của tổ chức quốc tế đó được xác định theo pháp luật Việt Nam. Đương sự là người nước ngoài, cơ
quan, tổ chức nước ngoài, chi nhánh, văn phòng đại diện tại Việt Nam của cơ
quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế, cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế
tại Việt Nam, Nhà nước nước ngoài tham gia tố tụng tại Tòa án Việt Nam có quyền
tự mình hoặc nhờ luật sư, người khác bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp cho mình theo quy định của pháp luật Việt Nam. 1. Tòa án Việt Nam có thẩm quyền
giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài trong những trường hợp sau
đây: a) Bị đơn là cá nhân cư trú, làm
ăn, sinh sống lâu dài tại Việt Nam; b) Bị đơn là cơ quan, tổ chức có trụ sở tại Việt Nam hoặc bị
đơn là cơ quan, tổ chức có chi nhánh, văn phòng
đại diện tại Việt Nam đối với các vụ việc liên quan đến hoạt động của chi nhánh,
văn phòng đại diện của cơ quan, tổ chức đó
tại Việt
Nam; c) Bị đơn có tài sản trên lãnh
thổ Việt Nam; d) Vụ việc ly hôn mà nguyên đơn
hoặc bị đơn là công dân Việt Nam hoặc các đương sự là người nước ngoài cư trú,
làm ăn, sinh sống lâu dài tại Việt Nam; đ) Vụ việc về quan hệ dân sự mà
việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó xảy ra ở Việt Nam, đối tượng của
quan hệ đó là tài sản trên lãnh thổ Việt Nam hoặc công việc được thực hiện trên
lãnh thổ Việt Nam; e) Vụ việc về quan hệ dân sự mà
việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó xảy ra ở ngoài lãnh thổ Việt Nam
nhưng có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam hoặc
có trụ sở, nơi cư trú tại Việt Nam. 2. Sau khi xác định thẩm quyền
của Tòa án Việt Nam theo quy định của Chương này, Tòa án áp dụng các quy định
tại Chương III của Bộ luật này để xác định thẩm quyền của Tòa án cụ thể giải
quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài. 1. Những vụ án dân sự có yếu tố
nước ngoài sau đây thuộc thẩm quyền giải quyết riêng biệt của Tòa án Việt
Nam: a) Vụ án dân sự đó có liên quan
đến quyền đối với tài sản là bất động sản có trên lãnh thổ Việt Nam; b) Vụ án ly hôn giữa công dân
Việt Nam với công dân nước ngoài hoặc người không quốc tịch, nếu cả hai vợ chồng
cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở Việt Nam; c) Vụ án dân sự khác mà các bên
được lựa chọn Tòa án Việt Nam để giải quyết theo pháp luật Việt Nam hoặc điều
ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam là
thành viên và các bên đồng ý lựa chọn Tòa án Việt Nam. 2. Những việc dân sự có yếu tố
nước ngoài sau đây thuộc thẩm quyền giải quyết riêng biệt của Tòa án Việt
Nam: a) Các yêu cầu không có tranh
chấp phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sự quy định tại khoản 1 Điều
này; b) Yêu cầu xác định một sự kiện
pháp lý xảy ra trên lãnh thổ Việt Nam; c) Tuyên bố công dân Việt Nam
hoặc người nước ngoài cư trú tại Việt Nam bị mất tích, đã chết nếu việc tuyên bố
đó có liên quan đến việc xác lập quyền, nghĩa vụ của họ trên lãnh thổ Việt Nam,
trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác; d) Tuyên bố người nước ngoài cư
trú tại Việt Nam bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, mất năng lực hành vi dân sự
nếu việc tuyên bố đó có liên quan đến việc xác lập quyền, nghĩa vụ của họ trên
lãnh thổ Việt Nam; đ) Công nhận tài sản có trên lãnh
thổ Việt Nam là vô chủ, công nhận quyền sở hữu
của người đang quản lý đối với tài sản vô chủ trên lãnh thổ Việt
Nam. Vụ việc dân sự có yếu tố nước
ngoài đã được một Tòa án Việt Nam thụ lý giải quyết theo quy định về thẩm quyền
của Bộ luật này thì phải được Tòa án
đó tiếp tục giải quyết mặc dù trong quá trình giải quyết có sự thay đổi quốc
tịch, nơi cư trú, địa chỉ của các đương sự hoặc có tình tiết mới làm cho vụ việc
dân sự đó thuộc thẩm quyền của Tòa án khác của Việt Nam hoặc của Tòa án nước
ngoài. 1. Tòa án Việt Nam phải trả lại
đơn khởi kiện, đơn yêu cầu hoặc đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố
nước ngoài nếu vụ việc dân sự thuộc thẩm quyền chung của Tòa án Việt Nam nhưng
thuộc một trong các trường hợp sau đây: a) Các đương sự được thỏa thuận
lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp theo quy định của pháp luật áp dụng
đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài và đã lựa chọn Trọng tài hoặc Tòa án
nước ngoài giải quyết vụ việc đó. Trường hợp các bên thay đổi thỏa
thuận lựa chọn Trọng tài hoặc Tòa án nước ngoài bằng thỏa thuận lựa chọn Tòa án
Việt Nam hoặc thỏa thuận lựa chọn Trọng tài hoặc Tòa án nước ngoài bị vô hiệu hoặc không thể thực
hiện được, hoặc Trọng tài hoặc Tòa án nước ngoài từ chối thụ lý đơn thì Tòa án Việt Nam vẫn có
thẩm quyền giải quyết; b) Vụ việc không thuộc thẩm quyền
riêng biệt của Tòa án Việt Nam quy định tại Điều 470 của Bộ luật này và vụ việc
thuộc thẩm quyền riêng biệt của Tòa án nước ngoài có liên quan; c) Vụ việc không thuộc thẩm quyền
riêng biệt của Tòa án Việt Nam quy định tại Điều 470 của Bộ luật này và đã được
Trọng tài hoặc Tòa án nước ngoài thụ lý giải quyết; d) Vụ việc đã được giải quyết
bằng bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài hoặc phán quyết của Trọng
tài. Trường hợp bản án, quyết
định của Tòa án nước ngoài, phán quyết của Trọng tài nước ngoài không được Tòa
án Việt Nam công nhận thì Tòa án Việt Nam vẫn có thẩm quyền giải quyết vụ việc
đó; đ) Bị đơn được hưởng quyền miễn
trừ tư pháp. 2. Trường hợp trả lại đơn hoặc
đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài quy định tại khoản 1
Điều này thì tiền tạm ứng án phí, lệ phí được xử lý theo quy định của Bộ luật này. 1. Người khởi kiện, người yêu cầu
phải ghi đầy đủ họ, tên, địa chỉ, quốc tịch của đương sự ở nước ngoài trong đơn
khởi kiện, đơn yêu cầu kèm theo giấy tờ, tài liệu xác thực họ, tên, địa chỉ,
quốc tịch của đương sự đó. Trường hợp không ghi đầy đủ họ,
tên, địa chỉ, quốc tịch của đương sự ở
nước ngoài
hoặc thiếu những nội dung trên thì phải bổ sung trong thời hạn do Tòa án ấn
định, hết thời hạn đó mà không cung cấp được thì Tòa án trả lại đơn khởi kiện,
đơn yêu cầu. 2. Trường hợp không xác định được
địa chỉ của đương sự ở nước ngoài thì người khởi kiện, người yêu cầu có thể yêu
cầu Tòa án Việt Nam đề nghị cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài xác định địa
chỉ của đương sự hoặc có thể yêu cầu cơ quan có thẩm quyền tìm kiếm người vắng
mặt tại nơi cư trú hoặc yêu cầu Tòa án
Việt Nam hoặc cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài tuyên bố đương sự mất tích
hoặc đã chết theo quy định của pháp luật Việt Nam hoặc pháp luật nước ngoài hoặc
điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành
viên. Trường hợp cơ quan có thẩm quyền
của nước ngoài trả lời cho Tòa án Việt Nam không xác định được địa chỉ của đương
sự ở nước ngoài hoặc sau 06 tháng mà không có trả
lời thì Tòa án trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu. 1. Tòa án thực hiện việc tống
đạt, thông báo văn bản tố tụng của Tòa án theo một trong các phương thức sau
đây: a) Theo phương thức được quy
định tại điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt
Nam là thành viên; b) Theo đường ngoại giao đối
với đương sự cư trú ở nước mà nước đó và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt
Nam chưa cùng là thành viên của điều ước quốc tế; c) Theo đường dịch vụ bưu chính
đến
địa chỉ của đương sự đang cư trú ở nước ngoài với điều kiện pháp luật nước đó
đồng ý với phương thức tống đạt này; d) Theo đường dịch vụ bưu chính
đến
cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài để tống
đạt cho đương sự là công dân Việt Nam ở nước ngoài; đ) Đối với cơ quan, tổ chức
nước ngoài có văn phòng đại diện, chi nhánh tại Việt Nam thì việc tống đạt có
thể được thực hiện qua văn phòng đại diện, chi nhánh của họ tại Việt Nam theo
quy định của Bộ luật này; e) Theo đường dịch vụ bưu chính
cho
người đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền tại Việt Nam của đương
sự ở nước ngoài. 2. Các phương thức tống đạt
quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều này được thực hiện theo pháp luật
tương trợ tư pháp. 3. Trường hợp các phương thức tống
đạt quy định tại khoản 1 Điều này thực hiện không có kết quả
thì Tòa án tiến hành niêm yết công khai tại trụ sở
cơ
quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, Tòa án đang giải quyết
vụ việc hoặc
tại nơi cư trú cuối cùng của đương sự tại Việt Nam trong thời hạn 01 tháng
và thông báo trên Cổng thông tin điện tử của
Tòa án (nếu có), Cổng thông tin điện tử của cơ
quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài; trường hợp
cần thiết, Tòa án có thể thông báo qua kênh dành cho người nước ngoài
của Đài phát thanh hoặc Đài truyền
hình của trung ương ba lần trong 03 ngày liên
tiếp. Tòa án thực hiện thu thập chứng
cứ ở nước ngoài theo một trong các phương thức sau đây: 1. Theo quy định tại điểm
a và điểm b khoản 1 Điều 474 của Bộ
luật này; 2. Theo đường dịch vụ bưu chính
yêu cầu đương sự là công dân Việt Nam đang cư trú ở nước ngoài gửi giấy tờ, tài
liệu, chứng cứ cho Tòa án Việt Nam. 1. Tòa án phải gửi thông báo
thụ lý vụ án, trong đó nêu rõ thời gian, địa điểm mở phiên họp
kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải (sau đây gọi chung là phiên họp hòa giải), mở lại
phiên họp hòa giải, mở phiên tòa và mở lại phiên tòa trong văn bản thông báo thụ
lý vụ án cho đương sự ở nước
ngoài. 2. Thời hạn mở phiên tòa,
phiên họp hòa giải được xác định như sau: a) Phiên họp hòa giải phải
được mở sớm nhất là 06 tháng và chậm nhất là 08 tháng, kể từ ngày ra văn bản
thông báo thụ lý vụ án. Ngày mở lại phiên họp hòa giải (nếu có) được ấn định
cách ngày mở phiên họp hòa giải chậm nhất là 01 tháng; b) Phiên tòa phải được mở sớm
nhất là 09 tháng và chậm nhất là 12 tháng, kể từ ngày ra văn bản thông báo thụ
lý vụ án. Ngày mở lại phiên tòa (nếu có) được ấn định cách ngày mở phiên tòa
chậm nhất là 01 tháng, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 477 của Bộ luật
này. 3. Tòa án phải gửi thông báo
thụ lý việc dân sự, trong đó nêu rõ thời gian, địa điểm mở phiên
họp, mở lại phiên họp giải quyết việc dân sự trong văn bản thông báo thụ lý
việc dân sự cho đương sự ở nước
ngoài. Phiên họp phải được mở sớm
nhất là 06 tháng và chậm nhất là 08 tháng, kể từ ngày ra văn bản thông báo thụ
lý việc dân sự. Ngày mở lại phiên họp giải quyết việc dân sự (nếu có) được ấn
định cách ngày mở phiên họp lần đầu chậm nhất là 01 tháng. Khi nhận được kết quả tống đạt và
kết quả thu thập chứng cứ ở nước ngoài, tùy từng trường hợp cụ thể mà Tòa án xử
lý như sau: 1. Không mở phiên họp hòa giải
khi đã nhận được kết quả tống đạt theo một trong các phương thức quy định tại
khoản 1 Điều 474 của Bộ luật này,
đương sự đã
cung cấp đầy đủ lời khai, tài liệu, chứng cứ và vụ án dân sự thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải
được quy
định tại Điều 207 của Bộ luật này; 2. Hoãn phiên họp hòa giải
nếu đã nhận được thông báo về việc tống đạt đã hoàn thành nhưng đến ngày mở
phiên họp hòa giải mà Tòa án vẫn không nhận được lời khai, tài liệu, chứng cứ
của đương sự và họ không đề nghị được vắng mặt tại phiên họp hòa giải. Nếu đến
ngày mở lại phiên họp hòa giải mà đương sự ở nước ngoài vẫn vắng mặt thì Tòa án
xác định đây là trường hợp không tiến hành hòa giải được; 3. Tòa án hoãn phiên tòa trong
các trường hợp sau đây: a) Đương sự ở nước ngoài đề nghị
hoãn phiên tòa lần thứ nhất; b) Đương sự ở nước ngoài vắng mặt
tại phiên tòa lần thứ nhất, trừ trường hợp họ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; 4. Tòa án không nhận được văn bản
thông báo về kết quả tống đạt cũng như lời khai, tài liệu, chứng cứ của đương sự
ở nước ngoài và đến ngày mở phiên tòa đương sự ở nước ngoài không có mặt, không
có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt họ thì Tòa án hoãn phiên tòa. Ngay sau khi
hoãn phiên tòa thì Tòa án có văn bản đề nghị Bộ Tư pháp hoặc cơ quan đại diện
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam ở nước ngoài thông báo về việc thực hiện tống đạt văn bản tố tụng của Tòa án
cho đương sự ở nước ngoài trong trường hợp Tòa án thực hiện việc tống đạt thông
qua các cơ quan này theo một trong các phương thức quy định tại các điểm a, b và d khoản 1 Điều 474 của Bộ luật
này. Trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận được văn bản
của Tòa án, cơ quan đại diện nước
Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài phải thông báo cho Tòa án về kết quả thực
hiện việc tống đạt văn bản tố tụng cho đương sự ở nước ngoài. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ
ngày Bộ Tư pháp nhận được văn bản của Tòa án, Bộ Tư pháp phải có văn bản đề nghị
cơ quan có thẩm quyền ở nước ngoài trả lời về kết quả thực hiện ủy thác tư
pháp. Trong thời hạn 05 ngày làm việc,
kể từ ngày nhận được văn bản của cơ quan có thẩm quyền ở nước ngoài gửi về thì
Bộ Tư pháp phải trả lời cho Tòa án. Hết thời hạn 03 tháng, kể từ ngày
chuyển văn bản của Tòa án cho cơ quan có thẩm quyền ở nước ngoài mà không nhận
được văn bản trả lời thì Bộ Tư pháp phải thông báo cho Tòa án biết để làm căn cứ
giải quyết vụ án; 5. Tòa án xét xử vắng mặt đương
sự ở nước ngoài trong các trường hợp sau đây: a) Tòa án đã nhận được kết quả
tống đạt theo một trong các phương thức tống đạt quy định tại khoản 1 Điều 474
của Bộ luật này, đương sự đã cung cấp đầy đủ lời khai, tài liệu, chứng cứ và
đương sự đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt họ; b) Tòa án đã thực hiện các biện
pháp quy định tại khoản 3 Điều 474 của Bộ luật này; c) Tòa án không nhận được thông
báo của cơ quan có thẩm quyền theo quy định tại khoản 4 Điều này về kết quả thực
hiện việc tống đạt cho đương sự ở nước ngoài; 6. Nếu Tòa án nhận được văn bản
thông báo về việc tống đạt không thực hiện được do họ, tên, địa chỉ của đương sự không
đúng hoặc đương sự đã chuyển đến địa chỉ mới nhưng không rõ địa chỉ mới thì Tòa
án giải quyết như sau: a) Tòa án yêu cầu nguyên đơn và
người thân thích trong nước của đương sự ở nước ngoài (nếu có) cung cấp địa chỉ
đúng hoặc địa chỉ mới của đương sự ở nước ngoài. Tòa án tiếp tục tống đạt thông
báo thụ lý cho đương sự ở nước ngoài theo địa chỉ do nguyên đơn, người thân
thích trong nước của đương sự ở nước ngoài cung cấp; b) Nếu nguyên đơn, người thân
thích trong nước của đương sự không cung cấp được hoặc người thân thích trong
nước của đương sự từ chối cung cấp địa chỉ đúng hoặc địa chỉ mới của đương sự ở
nước ngoài hoặc đương sự ở nước ngoài không có người thân thích ở Việt Nam thì
Tòa án ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án. Đồng thời, Tòa án giải thích cho người khởi
kiện biết quyền yêu cầu Tòa án thông báo tìm kiếm đương sự vắng mặt tại nơi cư
trú hoặc yêu cầu Tòa án tuyên bố đương sự mất tích hoặc đã chết; c) Trường hợp nguyên đơn là công
dân Việt Nam yêu cầu ly hôn với người nước ngoài đang cư trú ở nước ngoài mà
không thể thực hiện việc cung cấp đúng họ,
tên, địa chỉ
hoặc địa chỉ mới của người nước ngoài theo yêu cầu của Tòa án mặc dù nguyên đơn,
thân nhân của họ hoặc cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam hoặc của nước ngoài đã
tiến hành xác minh tin tức, địa chỉ của người nước ngoài đó nhưng không có kết
quả thì nguyên đơn yêu cầu Tòa án thông báo trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án
(nếu có), Cổng thông tin điện tử của cơ
quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài; trường hợp
cần thiết, theo yêu cầu của nguyên đơn, Tòa án có thể thông báo qua kênh dành
cho người nước ngoài của Đài phát thanh hoặc Đài
truyền hình của trung ương ba lần trong 03 ngày liên
tiếp. Trong trường hợp này, Tòa án
không phải tống đạt lại văn bản tố tụng cho đương sự ở nước ngoài. Hết thời hạn
01 tháng, kể từ ngày đăng thông báo, Tòa
án tiến hành xét xử vắng mặt đương sự. 1. Tòa án Việt Nam công nhận giấy
tờ, tài liệu do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền nước ngoài lập, cấp, xác nhận trong các trường hợp sau: a) Giấy tờ, tài liệu và bản dịch
tiếng Việt có công chứng, chứng thực đã được hợp pháp hoá lãnh
sự; b) Giấy tờ, tài liệu đó được miễn
hợp pháp hóa lãnh sự theo quy định của pháp luật Việt Nam hoặc điều ước quốc tế
mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. 2. Tòa án Việt Nam công nhận giấy
tờ, tài liệu do cá nhân cư trú ở nước ngoài lập trong các trường hợp sau
đây: a) Giấy tờ, tài liệu lập bằng
tiếng nước ngoài đã được dịch ra tiếng Việt có công chứng, chứng thực hợp pháp
theo quy định của pháp luật Việt Nam; b) Giấy tờ, tài liệu được lập ở
nước ngoài được công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật nước ngoài và
đã được hợp pháp hóa lãnh sự; c) Giấy tờ, tài liệu do công dân Việt Nam ở
nước ngoài lập bằng tiếng Việt có chữ ký của người lập giấy tờ, tài liệu
đó và đã được công chứng, chứng thực theo quy định của pháp
luật Việt Nam. 1. Đương sự có mặt tại Việt Nam
có quyền kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án trong thời hạn quy định tại
Điều 273 của Bộ luật này. 2. Đương sự cư trú ở nước ngoài
không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án
là 01 tháng, kể từ ngày bản án, quyết định
được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án, quyết định được niêm yết hợp lệ
theo quy định của pháp luật. 3. Trường hợp Tòa án xét xử vắng
mặt đương sự ở nước ngoài theo quy định tại điểm c khoản 5 Điều 477 của Bộ luật
này thì thời hạn kháng cáo là 12 tháng, kể từ ngày tuyên án. Tòa án cấp phúc thẩm thực hiện
việc tống đạt, thông báo văn bản tố tụng xử lý kết quả tống đạt, thông báo văn
bản tố tụng cho đương sự ở nước ngoài theo quy định tại các điều 474, 476 và 477
của Bộ luật này. Trường hợp Tòa án Việt Nam áp
dụng pháp luật nước ngoài để giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài theo
quy định của luật Việt Nam, điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên thì trách
nhiệm xác định và cung cấp pháp luật nước ngoài được thực hiện như
sau: 1. Trường hợp đương sự được quyền
lựa chọn pháp luật áp dụng là pháp luật nước ngoài và đã lựa chọn áp dụng pháp
luật nước ngoài đó thì có nghĩa vụ cung cấp pháp luật nước ngoài đó cho Tòa án
đang giải quyết vụ việc dân sự. Các đương sự chịu trách nhiệm về tính chính xác
và hợp pháp của pháp luật nước ngoài đã cung cấp. Trường hợp các đương sự không thống nhất được với nhau về
pháp luật nước ngoài hoặc trong trường hợp cần thiết, Tòa án yêu cầu Bộ Tư pháp,
Bộ ngoại giao, cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước
ngoài hoặc thông qua Bộ ngoại giao đề nghị cơ quan đại diện ngoại giao của nước
ngoài tại Việt Nam cung cấp pháp luật nước ngoài; 2. Trường hợp luật của Việt Nam,
điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt
Nam là thành viên quy định phải áp dụng pháp luật nước ngoài thì đương sự có
quyền cung cấp pháp luật nước ngoài cho Tòa án hoặc Tòa án yêu cầu Bộ Tư pháp,
Bộ Ngoại giao hoặc cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở
nước ngoài cung cấp pháp luật nước ngoài; 3. Tòa án có thể yêu cầu cơ quan,
tổ chức, cá nhân có chuyên môn về pháp luật nước ngoài cung cấp thông tin về
pháp luật nước ngoài; 4. Hết thời hạn 06 tháng, kể từ ngày Tòa án yêu cầu cung
cấp pháp luật nước ngoài theo quy định tại Điều này mà không có kết quả thì Tòa
án áp dụng pháp luật của Việt Nam để giải quyết vụ việc dân sự
đó. |
ĐƠN VỊ HỖ TRỢ
|