|
|
KẾ TOÁN - THUẾ - DOANH NGHIỆP - LAO ĐỘNG |
|
|
|
|
Phần thứ chín 1. Bản án, quyết định dân sự của Tòa
án được thi hành là bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, bao
gồm: a) Bản án, quyết định hoặc phần
bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo
thủ tục phúc thẩm; b) Bản án, quyết định của Tòa án
cấp phúc thẩm; c) Quyết định giám đốc thẩm hoặc
tái thẩm của Tòa án; quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
quy định tại Điều 360 của Bộ luật này; d) Bản án, quyết định dân sự của
Tòa án nước ngoài, phán quyết của Trọng tài nước ngoài đã được Tòa án Việt Nam
công nhận và cho thi hành tại Việt Nam. 2. Những bản án, quyết định sau
đây của Tòa án cấp sơ thẩm được thi hành ngay mặc dù có thể bị kháng
cáo, khiếu nại, kháng nghị, kiến nghị: a) Bản án, quyết định về cấp
dưỡng, trả công lao động, nhận người lao động trở lại làm việc, trả lương, trợ
cấp thôi việc, trợ cấp mất sức lao động, trợ cấp mất việc làm, bảo hiểm xã hội,
bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế hoặc bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức
khoẻ, tổn thất tinh thần của công dân; quyết định về tính hợp pháp của cuộc đình
công; b) Quyết định về việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm
thời. 1. Trường hợp trong bản án, quyết
định của Tòa án có quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 482 của Bộ luật này thì
trong phần quyết định của bản án, quyết định của Tòa án phải ghi rõ nội dung về
quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành
án. 2. Khi ra bản án, quyết định, Tòa
án phải giải thích rõ cho đương sự biết về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ
thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án theo quy định của Luật thi hành án
dân sự. Khi bản án, quyết định của Tòa án
thuộc trường hợp được thi hành theo quy định tại Điều 482 của Bộ luật này thì Tòa án đã ra bản án, quyết
định đó phải cấp cho người được thi hành án và người phải thi hành án bản án
hoặc quyết định đó có ghi “để thi hành”. 1. Tòa án đã ra bản án, quyết
định quy định tại khoản 1 Điều 482 của Bộ luật này phải chuyển giao bản án,
quyết định đó cho cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền trong thời hạn
01 tháng, kể từ ngày bản án, quyết định
có hiệu lực pháp luật, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. 2. Tòa án đã ra bản án, quyết
định quy định tại điểm a khoản 2 Điều 482 của Bộ luật này phải chuyển giao bản
án, quyết định đó cho cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền trong thời hạn 15
ngày, kể từ ngày ra bản án, quyết định. 3. Tòa án đã ra quyết định áp
dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, quyết
định về tính hợp pháp của cuộc đình công phải chuyển giao quyết định đó
cho cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền ngay sau khi ra quyết
định. 4. Trường hợp cơ quan có thẩm
quyền đã kê biên tài sản, tạm giữ tài sản, thu giữ vật chứng hoặc thu giữ các
tài liệu khác có liên quan đến việc thi hành án thì khi chuyển giao bản án,
quyết định cho cơ quan thi hành án dân sự, Tòa án phải gửi kèm theo bản sao biên
bản về việc kê biên, tạm giữ tài sản, thu giữ vật chứng hoặc tài liệu khác có
liên quan. 1. Người được thi hành án, người
phải thi hành án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc thi hành bản
án, quyết định của Tòa án và cơ quan thi hành án có quyền yêu cầu bằng văn bản
Tòa án đã ra bản án, quyết định, giải thích, sửa chữa những điểm chưa rõ trong
bản án, quyết định để thi hành. 2. Thẩm phán đã ra quyết định
hoặc Thẩm phán là chủ tọa phiên tòa
có trách
nhiệm giải thích, sửa chữa những điểm chưa rõ trong bản án, quyết định của Tòa
án. Trường hợp họ không còn là Thẩm phán của Tòa án thì Chánh án Tòa án đó có
trách nhiệm giải thích, sửa chữa bản án, quyết định của Tòa án. 3. Việc giải thích bản án, quyết
định của Tòa án phải căn cứ vào biên bản phiên tòa, biên bản phiên họp, biên bản nghị án. Việc sửa chữa
bản án, quyết định được thực hiện theo quy định tại
Điều 268 của Bộ luật này. Trường hợp cơ quan thi hành án
dân sự kiến nghị về việc xem xét lại bản án, quyết định của Tòa án theo thủ tục
giám đốc thẩm, tái thẩm thì Tòa án có thẩm quyền phải trả lời trong thời hạn
03 tháng, kể từ ngày nhận được kiến
nghị; trường hợp vụ việc phức tạp thì
thời hạn trả lời không quá 04 tháng,
kể từ ngày
nhận được văn bản kiến nghị. 1. Thẩm quyền xét miễn, giảm
nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước của Tòa án được
xác định như sau: a) Tòa án nhân dân cấp huyện nơi
cơ quan thi hành án dân sự đang tổ chức việc thi hành án có trụ sở, có thẩm
quyền xét đề nghị việc miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp
ngân sách nhà nước; b) Tòa án nhân dân cấp tỉnh có
thẩm quyền xem xét theo thủ tục phúc thẩm đối với quyết định miễn, giảm nghĩa vụ
thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước của Tòa án bị Viện kiểm sát
kháng nghị; c) Tòa án nhân dân cấp cao có
thẩm quyền xem xét theo thủ tục tái thẩm quyết định miễn, giảm nghĩa vụ thi hành
án đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ bị
kháng nghị. 2.
Trình tự, thủ tục xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân
sách nhà nước được thực hiện theo quy định của Luật thi hành án dân
sự. |
ĐƠN VỊ HỖ TRỢ
|