|
|
KẾ TOÁN - THUẾ - DOANH NGHIỆP - LAO ĐỘNG |
|
|
|
|
Phần
thứ tư 1. Thủ tục rút gọn là thủ tục tố
tụng được áp dụng để giải quyết vụ án dân sự có đủ điều kiện theo quy định của
Bộ luật này với trình tự đơn giản so với thủ tục giải quyết các vụ án dân sự
thông thường nhằm giải quyết vụ án nhanh chóng nhưng vẫn bảo đảm đúng pháp
luật. 2. Những quy định của Phần này
được áp dụng để giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn; trường hợp không có quy định thì
áp dụng những quy định khác của Bộ luật này để giải quyết vụ án. 3. Trường hợp luật khác có quy định tranh chấp dân sự
được giải quyết theo thủ tục rút gọn thì việc giải quyết tranh chấp đó được thực hiện
theo thủ tục
quy định tại Phần này. 1. Tòa án giải quyết vụ án
theo thủ tục rút gọn khi có đủ các điều kiện sau
đây: a) Vụ án có tình tiết đơn
giản, quan hệ pháp luật rõ ràng, đương sự đã thừa nhận nghĩa vụ; tài liệu, chứng
cứ đầy đủ, bảo đảm đủ căn cứ để giải quyết vụ án và Tòa án không phải thu thập
tài liệu, chứng cứ; b) Các đương sự đều có địa
chỉ nơi cư trú, trụ sở rõ ràng; c) Không có đương sự cư trú
ở nước ngoài, tài sản tranh chấp ở nước ngoài, trừ trường hợp đương sự ở nước
ngoài và đương sự ở Việt Nam có thỏa thuận đề nghị Tòa án giải quyết theo thủ
tục rút gọn hoặc các đương sự đã xuất trình được chứng cứ về quyền sở hữu hợp
pháp tài sản và có thỏa thuận thống nhất về việc xử lý tài
sản. 2. Đối với vụ án lao động
đã được thụ lý, giải quyết theo thủ tục rút gọn mà người sử dụng lao động có
quốc tịch nước ngoài hoặc người đại diện theo pháp luật của họ đã rời khỏi địa
chỉ nơi cư trú, nơi có trụ sở mà không thông báo cho đương sự khác, Tòa án thì
bị coi là trường hợp cố tình giấu địa chỉ. Tòa án vẫn giải quyết vụ án đó theo
thủ tục rút gọn quy định tại Phần này. 3. Trong giai đoạn chuẩn bị
xét xử vụ án theo thủ tục rút gọn, nếu xuất hiện tình tiết mới sau đây làm cho
vụ án không còn đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục rút gọn thì Tòa án ra
quyết định chuyển vụ án sang giải quyết theo thủ tục thông
thường: a) Phát sinh tình tiết mới
mà các đương sự không thống nhất do đó cần phải xác minh, thu thập thêm tài
liệu, chứng cứ hoặc cần phải tiến hành giám định; b) Cần phải định giá, thẩm
định giá tài sản tranh chấp mà các đương sự không thống nhất về
giá; c) Cần phải áp dụng biện
pháp khẩn cấp tạm thời; d) Phát sinh người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan; đ) Phát sinh yêu cầu phản
tố hoặc yêu cầu độc lập; e) Phát sinh đương sự cư
trú ở nước ngoài, tài sản tranh chấp ở nước ngoài, yêu cầu xác minh, thu thập
chứng cứ ở nước ngoài mà cần phải thực hiện ủy thác tư pháp, trừ trường hợp quy
định tại điểm c khoản 1 Điều này. 4. Trường hợp chuyển vụ án
sang giải quyết theo thủ tục thông thường thì thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án
được tính lại kể từ ngày ra quyết định chuyển vụ án sang giải quyết theo thủ tục
thông thường. 1. Trong thời hạn không quá
01 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án theo quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 195
của Bộ luật này, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án phải ra quyết định
đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn và mở phiên tòa xét xử trong thời hạn
10 ngày, kể từ ngày ra quyết định. 2. Quyết định đưa vụ án ra
xét xử theo thủ tục rút gọn phải có các nội dung chính sau
đây: a) Ngày, tháng, năm ra
quyết định; b) Tên Tòa án ra quyết
định; c) Vụ án được đưa ra xét xử
theo thủ tục rút gọn; d) Tên, địa chỉ; số điện
thoại, fax, địa chỉ thư điện tử (nếu có) của nguyên đơn, bị đơn hoặc cơ quan, tổ
chức, cá nhân khởi kiện quy định tại Điều 187 của Bộ luật này, người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan; đ) Họ, tên Thẩm phán, Thư
ký Tòa án; họ, tên Thẩm phán dự khuyết (nếu có); e) Họ, tên Kiểm sát viên;
họ, tên Kiểm sát viên dự khuyết (nếu có); g) Ngày, giờ, tháng, năm,
địa điểm mở phiên tòa; h) Xét xử công khai hoặc
xét xử kín; i) Họ, tên những người được
triệu tập tham gia phiên tòa. 3. Quyết định đưa vụ án ra
xét xử theo thủ tục rút gọn phải được gửi ngay cho đương sự, Viện kiểm sát cùng
cấp. Trường hợp Viện kiểm sát
tham gia phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Điều 21 của Bộ luật này thì Tòa án
phải gửi hồ sơ vụ án cùng quyết định đưa vụ án ra xét xử cho Viện kiểm sát cùng
cấp; trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ, Viện kiểm sát
phải nghiên cứu và trả lại hồ sơ cho Tòa án. 1. Trong thời hạn 03 ngày
làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút
gọn, đương sự có quyền khiếu nại, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kiến nghị với
Chánh án Tòa án đã ra quyết định. 2. Trong thời hạn 03 ngày
làm việc, kể từ ngày nhận được khiếu nại, kiến nghị về quyết định đưa vụ án ra
xét xử theo thủ tục rút gọn, Chánh án Tòa án phải ra một trong các quyết định
sau đây: a) Giữ nguyên quyết định
đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn; b) Hủy quyết định đưa vụ án
ra xét xử theo thủ tục rút gọn và chuyển vụ án sang giải quyết theo thủ tục
thông thường. 3. Quyết định giải quyết
khiếu nại, kiến nghị của Chánh án Tòa án là quyết định cuối cùng và phải được
gửi ngay cho đương sự, Viện kiểm sát cùng cấp. 1. Các đương sự, Kiểm sát
viên Viện kiểm sát cùng cấp phải có mặt tại phiên tòa xét xử theo thủ tục rút
gọn. Trường hợp Kiểm sát viên vắng mặt thì Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử.
Đương sự có quyền đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Trường hợp bị đơn, người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ mà vắng mặt không có lý
do chính đáng thì Thẩm phán vẫn tiến hành phiên
tòa. 2. Thẩm phán tiến hành thủ
tục khai mạc phiên tòa theo quy định tại Điều 239 của Bộ luật
này. 3. Sau khi khai mạc phiên
tòa, Thẩm phán tiến hành hòa giải, trừ trường hợp không được hòa giải theo quy
định tại Điều 206 hoặc không tiến hành hòa giải được theo quy định tại Điều 207
của Bộ luật này. Trường hợp các đương sự thỏa thuận được với nhau về vấn đề phải
giải quyết trong vụ án thì Thẩm phán ra quyết định công nhận sự thoả thuận của
các đương sự theo quy định tại Điều 212 của Bộ luật này. Trường hợp các đương sự
không thỏa thuận được với nhau về vấn đề phải giải quyết trong vụ án thì Thẩm
phán tiến hành xét xử. Việc trình bày, tranh luận,
đối đáp, đề xuất quan điểm về việc giải quyết vụ án được thực hiện theo quy định
tại Mục 3 Chương XIV của Bộ luật này. 4. Trường hợp tại phiên tòa
mà phát sinh tình tiết mới quy định tại khoản 3 Điều 317 của Bộ luật này làm cho
vụ án không còn đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục rút gọn thì Thẩm phán
xem xét, ra quyết định chuyển vụ án sang giải quyết theo thủ tục thông thường.
Trong trường hợp này, thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án được tính theo quy định tại
khoản 4 Điều 317 của Bộ luật này. 1. Bản án, quyết định sơ thẩm của
Tòa án theo thủ tục rút gọn có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc
thẩm để yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm rút
gọn. 2. Bản án, quyết định theo thủ
tục rút gọn có thể bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm theo quy
định của Bộ luật này. 1. Thời hạn kháng cáo đối
với bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm theo thủ tục rút gọn là 07 ngày,
kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn
kháng cáo tính từ ngày bản án, quyết định được giao cho họ hoặc bản án, quyết
định được niêm yết. 2. Thời hạn kháng nghị đối
với bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm theo thủ tục rút gọn của Viện kiểm
sát cùng cấp là 07 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 10 ngày, kể từ
ngày nhận được bản án, quyết định. 1. Trong thời hạn 01 tháng,
kể từ ngày thụ lý vụ án, tuỳ từng trường hợp, Thẩm phán được phân công giải
quyết vụ án theo thủ tục phúc thẩm ra một trong các quyết định sau
đây: a) Tạm đình chỉ xét xử phúc
thẩm vụ án; b) Đình chỉ xét xử phúc
thẩm vụ án; c) Đưa vụ án ra xét xử phúc
thẩm. 2. Quyết định đưa vụ án ra
xét xử phúc thẩm phải có nội dung quy định tại khoản 1 Điều 290 của Bộ luật này.
Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm phải được gửi ngay cho những người có
liên quan đến kháng cáo, kháng nghị và Viện kiểm sát cùng cấp kèm theo hồ sơ vụ
án để nghiên cứu. Thời hạn nghiên cứu hồ sơ
của Viện kiểm sát cùng cấp là 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ
án; hết thời hạn đó, Viện kiểm sát phải trả hồ sơ vụ án cho Tòa
án. 3. Trường hợp có quyết định
tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án thì thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm được
tính lại kể từ ngày Tòa án cấp phúc thẩm tiếp tục xét xử phúc thẩm vụ án khi lý
do tạm đình chỉ không còn. 4. Trường hợp xuất hiện
tình tiết mới quy định tại khoản 3 Điều 317 của Bộ luật này thì Tòa án ra quyết
định chuyển vụ án sang giải quyết theo thủ tục thông thường. Trong trường hợp
này, thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án được tính theo quy định tại khoản 4 Điều 317
của Bộ luật này. 1. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ
ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc
thẩm, Thẩm
phán phải mở phiên tòa phúc thẩm. 2. Các đương sự, Kiểm sát viên Viện
kiểm sát cùng cấp phải có mặt tại phiên tòa
phúc thẩm.
Trường hợp Kiểm sát viên vắng mặt thì Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử, trừ
trường hợp Viện kiểm sát có kháng nghị phúc thẩm. Đương sự có quyền đề nghị Tòa
án xét xử vắng mặt. Trường hợp đương sự không kháng
cáo đã được triệu tập hợp lệ mà vắng mặt không có lý do chính đáng thì Thẩm phán
vẫn tiến hành phiên tòa. 3. Thẩm phán trình bày tóm tắt
nội dung bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị, nội dung của kháng
cáo, kháng nghị và tài liệu, chứng cứ kèm theo (nếu có). 4. Người bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của đương sự trình bày, đương sự bổ sung ý kiến về nội dung kháng cáo,
kháng nghị, tranh luận, đối đáp, đề xuất quan điểm của mình về việc giải quyết
vụ án. 5. Sau khi kết thúc việc tranh
luận và đối đáp, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân
theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn phúc
thẩm. Ngay sau khi kết thúc phiên
tòa, Kiểm sát viên phải gửi văn bản phát biểu ý kiến cho Tòa án để lưu vào hồ sơ
vụ án. 6. Khi xem xét bản án, quyết định
của Tòa án cấp sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị, Thẩm phán có quyền sau đây: a) Giữ nguyên bản án, quyết định
của Tòa án cấp sơ thẩm; b) Sửa bản án, quyết định của Tòa
án cấp sơ thẩm; c) Hủy bản án, quyết định của Tòa
án cấp sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm để giải quyết lại vụ
án theo thủ tục rút gọn hoặc theo thủ tục thông thường nếu không còn đủ các điều
kiện để giải quyết theo thủ tục rút
gọn; d) Hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ
giải quyết vụ án; đ) Đình chỉ xét xử phúc thẩm và
giữ nguyên bản án sơ thẩm. 7.
Bản án, quyết định phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra bản án, quyết
định. |
ĐƠN VỊ HỖ TRỢ
|