|
|
KẾ TOÁN - THUẾ - DOANH NGHIỆP - LAO ĐỘNG |
|
|
|
|
Phần
thứ năm Giám đốc thẩm là xét lại bản án,
quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị giám đốc thẩm
khi có căn cứ quy định tại Điều 326 của Bộ luật này. 1. Bản án, quyết định của
Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm khi có
một trong những căn cứ sau đây: a) Kết luận trong bản án,
quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án gây thiệt hại
đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự; b) Có vi phạm nghiêm trọng
thủ tục tố tụng làm cho đương sự không thực hiện được quyền, nghĩa vụ tố tụng
của mình, dẫn đến quyền, lợi ích hợp pháp của họ không được bảo vệ theo đúng quy
định của pháp luật; c) Có sai lầm trong việc áp
dụng pháp luật dẫn đến việc ra bản án, quyết định không đúng, gây thiệt hại đến
quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, xâm phạm đến lợi ích công cộng, lợi ích
của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ
ba. 2. Người có thẩm quyền
kháng nghị quy định tại Điều 331 của Bộ luật này kháng nghị bản án, quyết định
của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật khi có một trong các căn cứ quy định tại
khoản 1 Điều này và có đơn đề nghị theo quy định tại Điều 328 của Bộ luật này
hoặc có thông báo, kiến nghị theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 327 của
Bộ luật này; trường hợp xâm phạm đến lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước,
quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba thì không cần phải có đơn đề
nghị. 1. Trong thời hạn 01 năm,
kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, nếu phát hiện có
vi phạm pháp luật trong bản án, quyết định đó thì đương sự có quyền đề nghị bằng
văn bản với người có thẩm quyền kháng nghị quy định tại Điều 331 của Bộ luật này
để xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm. 2. Trường hợp Tòa án, Viện
kiểm sát hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác phát hiện có vi phạm pháp luật
trong bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật thì phải thông báo
bằng văn bản cho người có thẩm quyền kháng nghị quy định tại Điều 331 của Bộ
luật này. 3. Chánh án Tòa án nhân dân
cấp tỉnh kiến nghị Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao hoặc Chánh án Tòa án nhân
dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao kiến nghị Chánh án Tòa án nhân dân
tối cao xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định của Tòa
án đã có hiệu lực pháp luật nếu phát hiện có căn cứ quy định tại khoản 1 Điều
326 của Bộ luật này. 1. Đơn đề nghị xem xét bản
án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm
phải có các nội dung chính sau đây: a) Ngày, tháng, năm làm đơn
đề nghị; b) Tên, địa chỉ của người
đề nghị; c) Tên bản án, quyết định
của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật được đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc
thẩm; d) Lý do đề nghị, yêu cầu
của người đề nghị; đ) Người đề nghị là cá nhân
phải ký tên hoặc điểm chỉ; người đề nghị là cơ quan, tổ chức thì người đại diện
hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó phải ký tên và đóng dấu vào phần cuối đơn;
trường hợp tổ chức đề nghị là doanh nghiệp thì việc sử dụng con dấu được thực
hiện theo quy định của Luật doanh nghiệp. 2. Kèm theo đơn đề nghị,
người đề nghị phải gửi bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật,
tài liệu, chứng cứ (nếu có) để chứng minh cho những yêu cầu của mình là có căn
cứ và hợp pháp. 3. Đơn đề nghị và tài liệu,
chứng cứ được gửi cho người có thẩm quyền kháng nghị quy định tại Điều 331 của
Bộ luật này. 1. Tòa án, Viện kiểm sát
nhận đơn đề nghị do đương sự nộp trực tiếp tại Tòa án, Viện kiểm sát hoặc gửi
qua dịch vụ bưu chính và phải ghi vào sổ nhận đơn, cấp giấy xác nhận đã nhận đơn
cho đương sự. Ngày gửi đơn được tính từ ngày đương sự nộp đơn tại Tòa án, Viện
kiểm sát hoặc ngày có dấu dịch vụ bưu chính nơi
gửi. 2. Tòa án, Viện kiểm sát
chỉ thụ lý đơn đề nghị khi có đủ các nội dung quy định tại Điều 328 của Bộ luật
này. Trường hợp đơn đề nghị không có đủ điều kiện theo quy định tại Điều 328 của
Bộ luật này thì Tòa án, Viện kiểm sát yêu cầu người gửi đơn sửa đổi, bổ sung
trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận được yêu cầu của Tòa án, Viện kiểm sát;
hết thời hạn này mà người gửi đơn không sửa đổi, bổ sung thì Tòa án, Viện kiểm
sát trả lại đơn đề nghị, nêu rõ lý do cho đương sự và ghi chú vào sổ nhận
đơn. 3. Người có thẩm quyền
kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm phân công người có trách nhiệm tiến hành
nghiên cứu đơn, thông báo, kiến nghị, hồ sơ vụ án, báo cáo người có thẩm quyền
kháng nghị xem xét, quyết định; trường hợp không kháng nghị thì thông báo bằng
văn bản, nêu rõ lý do cho đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có văn bản thông
báo, kiến nghị. Chánh án Tòa án nhân dân
tối cao phân công Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân tối cao phân công Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao nghiên
cứu đơn, thông báo, kiến nghị, hồ sơ vụ án, báo cáo Chánh án Tòa án nhân dân tối
cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao xem xét, quyết định kháng nghị.
Trường hợp không kháng nghị thì Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân tối cao tự mình hoặc ủy quyền cho Thẩm phán Tòa án nhân
dân tối cao, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao thông báo bằng văn
bản, nêu rõ lý do cho đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có văn bản thông báo,
kiến nghị. 1. Đương sự có quyền cung
cấp tài liệu, chứng cứ cho người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc
thẩm nếu tài liệu, chứng cứ đó chưa được Tòa án cấp sơ thẩm, Tòa án cấp phúc
thẩm yêu cầu đương sự giao nộp hoặc đã yêu cầu giao nộp nhưng đương sự không
giao nộp được vì có lý do chính đáng hoặc tài liệu, chứng cứ mà đương sự không
thể biết được trong quá trình giải quyết vụ án. 2. Trong quá trình giải
quyết đơn đề nghị xem xét bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật
theo thủ tục giám đốc thẩm, người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc
thẩm có quyền yêu cầu người có đơn bổ sung tài liệu, chứng cứ hoặc tự mình kiểm
tra, xác minh tài liệu, chứng cứ cần thiết. 1. Chánh án Tòa án nhân dân
tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thẩm quyền kháng nghị
theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa
án nhân dân cấp cao; bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án khác
khi xét thấy cần thiết, trừ quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng thẩm phán Tòa
án nhân dân tối cao. 2. Chánh án Tòa án nhân dân
cấp cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao có quyền kháng nghị theo thủ
tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân
dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân cấp huyện trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh
thổ. 1. Người có thẩm quyền
kháng nghị bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án có quyền yêu
cầu hoãn thi hành bản án, quyết định để xem xét việc kháng nghị theo thủ tục
giám đốc thẩm. Việc hoãn thi hành bản án, quyết định được thực hiện theo quy
định của pháp luật thi hành án dân sự. 2. Người đã kháng nghị theo
thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật có quyền quyết
định tạm đình chỉ thi hành bản án, quyết định đó cho đến khi có quyết định giám
đốc thẩm. Quyết định kháng nghị giám
đốc thẩm phải có các nội dung chính sau đây: 1. Ngày, tháng, năm ra
quyết định kháng nghị và số của quyết định kháng
nghị; 2. Chức vụ của người ra
quyết định kháng nghị; 3. Số, ngày, tháng, năm của
bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng
nghị; 4. Quyết định của bản án,
quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị; 5. Nhận xét, phân tích
những vi phạm, sai lầm của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng
nghị; 6. Căn cứ pháp luật để
quyết định kháng nghị; 7. Kháng nghị toàn bộ hoặc
phần của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp
luật; 8. Tên của Tòa án có thẩm
quyền giám đốc thẩm vụ án; 9. Đề nghị của người kháng
nghị. 1. Người có thẩm quyền
kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm có quyền kháng nghị trong thời hạn 03 năm,
kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, trừ trường hợp
quy định tại khoản 2 Điều này. 2. Trường hợp đã hết thời
hạn kháng nghị theo quy định tại khoản 1 Điều này nhưng có các điều kiện sau đây
thì thời hạn kháng nghị được kéo dài thêm 02 năm, kể từ ngày hết thời hạn kháng
nghị: a) Đương sự đã có đơn đề
nghị theo quy định tại khoản 1 Điều 328 của Bộ luật này và sau khi hết thời hạn
kháng nghị quy định tại khoản 1 Điều này đương sự vẫn tiếp tục có đơn đề
nghị; b) Bản án, quyết định của
Tòa án đã có hiệu lực pháp luật có vi phạm pháp luật theo quy định tại khoản 1
Điều 326 của Bộ luật này, xâm phạm nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của
đương sự, của người thứ ba, xâm phạm lợi ích của cộng đồng, lợi ích của Nhà nước
và phải kháng nghị để khắc phục sai lầm trong bản án, quyết định đã có hiệu lực
pháp luật đó. 1. Người đã kháng nghị giám
đốc thẩm có quyền thay đổi, bổ sung kháng nghị nếu chưa hết thời hạn kháng nghị
quy định tại Điều 334 của Bộ luật này. Việc thay đổi, bổ sung phải được thực
hiện bằng quyết định. Quyết định thay đổi, bổ sung kháng nghị phải được gửi theo
quy định tại Điều 336 của Bộ luật này. 2. Người đã kháng nghị có
quyền rút một phần hoặc toàn bộ kháng nghị trước khi mở phiên tòa hoặc tại phiên
tòa giám đốc thẩm. Việc rút kháng nghị phải được thực hiện bằng quyết
định. 3. Khi nhận được quyết định
rút toàn bộ kháng nghị, Tòa án giám đốc thẩm ra quyết định đình chỉ việc xét xử
giám đốc thẩm. 1. Quyết định kháng nghị
giám đốc thẩm phải được gửi ngay cho Tòa án ra bản án, quyết định đã có hiệu lực
pháp luật bị kháng nghị, các đương sự, cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền,
người khác có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến nội dung kháng
nghị. 2. Trường hợp Chánh án Tòa
án nhân dân tối cao hoặc Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao kháng nghị thì quyết
định kháng nghị cùng hồ sơ vụ án phải được gửi ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp.
Viện kiểm sát nghiên cứu hồ sơ trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hồ
sơ vụ án; hết thời hạn này, Viện kiểm sát phải chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án có
thẩm quyền giám đốc thẩm. 3. Trường hợp Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao
kháng nghị thì quyết định kháng nghị phải được gửi ngay cho Tòa án có thẩm quyền
giám đốc thẩm. 1. Ủy ban Thẩm phán Tòa án
nhân dân cấp cao giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của
Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân cấp huyện trong phạm vi thẩm quyền
theo lãnh thổ bị kháng nghị như sau: a) Ủy ban Thẩm phán Tòa án
nhân dân cấp cao xét xử giám đốc thẩm bằng Hội đồng xét xử gồm ba Thẩm phán đối
với bản án, quyết định của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân cấp huyện
có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc
thẩm; b) Toàn thể Ủy ban Thẩm
phán Tòa án nhân dân cấp cao xét xử giám đốc thẩm đối với bản án, quyết định của
Tòa án đã có hiệu lực pháp luật quy định tại điểm a khoản này nhưng có tính chất
phức tạp hoặc bản án, quyết định đã được Ủy ban thẩm phán Tòa án nhân dân cấp
cao xét xử giám đốc thẩm bằng Hội đồng xét xử gồm ba Thẩm phán nhưng không đạt
được sự thống nhất khi biểu quyết thông qua quyết định về việc giải quyết vụ
án. 2. Hội đồng thẩm phán Tòa
án nhân dân tối cao giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật
của Tòa án nhân dân cấp cao bị kháng nghị như sau: a) Hội đồng Thẩm phán Tòa
án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm bằng Hội đồng xét xử gồm năm Thẩm phán
đối với bản án, quyết định của Tòa án nhân dân cấp cao bị kháng nghị theo thủ
tục giám đốc thẩm; b) Toàn thể Hội đồng thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm đối với bản án, quyết định đã
có hiệu lực pháp luật quy định tại điểm a khoản này nhưng có tính chất phức tạp
hoặc bản án, quyết định đã được Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét
xử giám đốc thẩm bằng Hội đồng xét xử gồm năm Thẩm phán nhưng không đạt được sự
thống nhất khi biểu quyết thông qua quyết định về việc giải quyết vụ
án. 3. Những vụ án có tính chất
phức tạp quy định tại điểm b khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều này là những vụ án
thuộc một trong các trường hợp sau đây: a) Quy định của pháp luật
về những vấn đề cần giải quyết trong vụ án chưa rõ ràng, chưa được hướng dẫn áp
dụng thống nhất; b) Việc đánh giá chứng cứ,
áp dụng pháp luật có nhiều ý kiến khác nhau; c) Việc giải quyết vụ án
liên quan đến lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước, bảo vệ quyền con người,
quyền công dân được dư luận xã hội đặc biệt quan
tâm. 4. Chánh án Tòa án nhân dân
cấp cao xem xét, quyết định việc tổ chức xét xử giám đốc thẩm trong các trường
hợp quy định tại khoản 1 Điều này. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem xét,
quyết định việc tổ chức xét xử giám đốc thẩm trong các trường hợp quy định tại
khoản 2 Điều này. 5. Trường hợp những bản án,
quyết định đã có hiệu lực pháp luật về cùng một vụ án dân sự cùng thuộc thẩm
quyền giám đốc thẩm của Tòa án nhân dân cấp cao và Tòa án nhân dân tối cao thì
Tòa án nhân dân tối cao có thẩm quyền giám đốc thẩm toàn bộ vụ
án. 1. Phiên tòa giám đốc thẩm
phải có sự tham gia của Viện kiểm sát cùng cấp. 2. Trường hợp xét thấy cần
thiết, Tòa án triệu tập đương sự hoặc người đại diện hợp pháp, người bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự hoặc người tham gia tố tụng khác có liên
quan đến việc kháng nghị tham gia phiên tòa giám đốc thẩm; nếu họ vắng mặt tại
phiên tòa thì Hội đồng xét xử giám đốc thẩm vẫn tiến hành phiên
tòa. Trong thời hạn 04 tháng, kể
từ ngày nhận được kháng nghị kèm theo hồ sơ vụ án, Tòa án có thẩm quyền giám đốc
thẩm phải mở phiên tòa để xét xử vụ án theo thủ tục giám đốc
thẩm. Chánh án Tòa án phân công
một Thẩm phán làm bản thuyết trình về vụ án tại phiên tòa. Bản thuyết trình tóm
tắt nội dung vụ án và các bản án, quyết định của các cấp Tòa án, nội dung của
kháng nghị. Bản thuyết trình phải được gửi cho các thành viên Hội đồng xét xử
giám đốc thẩm chậm nhất là 07 ngày trước ngày mở phiên tòa giám đốc
thẩm. 1. Sau khi chủ tọa khai mạc
phiên tòa, một thành viên Hội đồng xét xử giám đốc thẩm trình bày tóm tắt nội
dung vụ án, quá trình xét xử vụ án, quyết định của bản án, quyết định của Tòa án
đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị, các căn cứ, nhận định của kháng nghị và
đề nghị của người kháng nghị. Trường hợp Viện kiểm sát kháng nghị thì đại diện
Viện kiểm sát trình bày nội dung kháng nghị. 2. Đương sự, người đại diện
hợp pháp, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự hoặc người tham
gia tố tụng khác được Tòa án triệu tập đến phiên tòa giám đốc thẩm trình bày ý
kiến về những vấn đề mà Hội đồng giám đốc thẩm yêu cầu. Trường hợp họ vắng mặt
nhưng có văn bản trình bày ý kiến thì Hội đồng xét xử giám đốc thẩm công bố ý
kiến của họ. 3. Đại diện Viện kiểm sát
phát biểu ý kiến về quyết định kháng nghị và việc giải quyết vụ
án. Ngay sau khi kết thúc phiên
tòa, đại diện Viện kiểm sát phải gửi văn bản phát biểu ý kiến cho Tòa án để lưu
vào hồ sơ vụ án. 4. Các thành viên Hội đồng
xét xử giám đốc thẩm phát biểu ý kiến và thảo luận. Hội đồng xét xử giám đốc
thẩm nghị án và biểu quyết về việc giải quyết vụ án và công bố nội dung quyết
định về việc giải quyết vụ án tại phiên tòa. Việc nghị án phải được thực hiện
theo các nguyên tắc quy định tại Điều 264 của Bộ luật
này. 5. Trường hợp Ủy ban Thẩm
phán Tòa án nhân dân cấp cao xét xử theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 337
của Bộ luật này thì quyết định của Hội đồng xét xử phải được tất cả thành viên
tham gia Hội đồng biểu quyết tán thành. Trường hợp xét xử theo quy
định tại điểm b khoản 1 Điều 337 của Bộ luật này thì phiên tòa xét xử của toàn
thể Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao phải có ít nhất hai phần ba tổng số
thành viên tham gia; quyết định của Ủy ban Thẩm phán phải được quá nửa tổng số
thành viên biểu quyết tán thành. 6. Trường hợp Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 337
của Bộ luật này thì quyết định của Hội đồng xét xử phải được tất cả thành viên
tham gia Hội đồng biểu quyết tán thành. Trường hợp xét xử theo quy
định tại điểm b khoản 2 Điều 337 của Bộ luật này thì phiên tòa xét xử của toàn
thể Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao phải có ít nhất hai phần ba tổng
số thành viên tham gia; quyết định của Hội đồng Thẩm phán phải được quá nửa tổng
số thành viên biểu quyết tán thành. 1. Hội đồng xét xử giám đốc
thẩm chỉ xem xét lại phần quyết định của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp
luật bị kháng nghị hoặc có liên quan đến việc xem xét nội dung kháng
nghị. 2. Hội đồng xét xử giám đốc
thẩm có quyền xem xét phần quyết định của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp
luật không bị kháng nghị hoặc không liên quan đến việc xem xét nội dung kháng
nghị, nếu phần quyết định đó xâm phạm đến lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà
nước, lợi ích của người thứ ba không phải là đương sự trong vụ
án. Hội đồng xét xử giám đốc
thẩm có thẩm quyền sau đây: 1. Không chấp nhận kháng
nghị và giữ nguyên bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp
luật; 2. Hủy bản án, quyết định
của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật và giữ nguyên bản án, quyết định đúng pháp
luật của Tòa án cấp dưới đã bị hủy hoặc bị sửa; 3. Hủy một phần hoặc toàn
bộ bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật để xét xử lại theo thủ
tục sơ thẩm hoặc xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm; 4. Hủy bản án, quyết định
đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ giải quyết vụ
án; 5. Sửa một phần hoặc toàn
bộ bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp
luật. Hội đồng xét xử giám đốc
thẩm ra quyết định hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị
và giữ nguyên bản án, quyết định của Tòa án cấp dưới xét xử đúng pháp luật nhưng
đã bị bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị hủy bỏ hoặc sửa
đổi một phần hay toàn bộ. Trường hợp bản án, quyết
định của Tòa án đã thi hành được một phần hoặc toàn bộ thì Hội đồng xét xử giám
đốc thẩm phải giải quyết hậu quả của việc thi hành
án. Hội đồng xét xử giám đốc
thẩm ra quyết định hủy một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định của Tòa án đã có
hiệu lực pháp luật bị kháng nghị để xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm hoặc xét xử
lại theo thủ tục phúc thẩm trong trường hợp sau
đây: 1. Việc thu thập chứng cứ
và chứng minh chưa được thực hiện đầy đủ hoặc không theo đúng quy định tại
Chương VII của Bộ luật này; 2. Kết luận trong bản án,
quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án hoặc có sai
lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật; 3. Thành phần của Hội đồng
xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm không đúng quy định của Bộ luật này hoặc có vi
phạm nghiêm trọng khác về thủ tục tố tụng ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp
pháp của đương sự. Hội đồng xét xử giám đốc
thẩm ra quyết định hủy bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật và
đình chỉ giải quyết vụ án, nếu vụ án đó thuộc một trong các trường hợp quy định
tại Điều 217 của Bộ luật này. Trường hợp bản án, quyết
định của Tòa án đã thi hành được một phần hoặc toàn bộ thì Hội đồng xét xử giám
đốc thẩm phải giải quyết hậu quả của việc thi hành
án. 1. Hội đồng xét xử giám đốc
thẩm ra quyết định sửa một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định của Tòa án đã có
hiệu lực pháp luật khi có đủ các điều kiện sau đây: a) Tài liệu, chứng cứ trong
hồ sơ vụ án đã đầy đủ, rõ ràng; có đủ căn cứ để làm rõ các tình tiết trong vụ
án; b) Việc sửa bản án, quyết
định bị kháng nghị không làm ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức,
cá nhân khác. 2. Trường hợp bản án, quyết
định của Tòa án đã thi hành được một phần hoặc toàn bộ thì Hội đồng xét xử giám
đốc thẩm phải giải quyết hậu quả của việc thi hành
án. 1. Hội đồng xét xử giám đốc
thẩm ra quyết định nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam. 2. Quyết định giám đốc thẩm
phải có các nội dung sau đây: a) Ngày, tháng, năm và địa
điểm mở phiên tòa giám đốc thẩm; b) Họ, tên các thành viên
Hội đồng xét xử giám đốc thẩm. Trường hợp Hội đồng xét xử giám đốc thẩm là Ủy
ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao hoặc Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân
tối cao thì ghi họ, tên, chức vụ của chủ tọa phiên tòa và số lượng thành viên
tham gia xét xử; c) Họ, tên Thư ký Tòa án,
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giám đốc thẩm; d) Tên vụ án mà Hội đồng
đưa ra xét xử giám đốc thẩm; đ) Tên, địa chỉ của các
đương sự trong vụ án; e) Tóm tắt nội dung vụ án,
quyết định của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng
nghị; g) Quyết định kháng nghị,
lý do kháng nghị; h) Nhận định của Hội đồng
xét xử giám đốc thẩm, trong đó phải phân tích quan điểm về việc giải quyết vụ án
và những căn cứ để chấp nhận hoặc không chấp nhận kháng
nghị; i) Điểm, khoản, điều của Bộ
luật tố tụng dân sự, văn bản quy phạm pháp luật khác mà Hội đồng xét xử giám đốc
thẩm căn cứ để ra quyết định; k) Quyết định của Hội đồng
xét xử giám đốc thẩm. 3. Quyết định của Hội đồng
xét xử giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cần có lập
luận để làm rõ quy định của pháp luật còn có cách hiểu khác nhau; phân tích,
giải thích các vấn đề, sự kiện pháp lý và chỉ ra nguyên nhân, đường lối xử lý,
quy phạm pháp luật cần áp dụng (nếu có). Quyết định giám đốc thẩm có
hiệu lực pháp luật kể từ ngày Hội đồng giám đốc thẩm ra quyết
định. 1. Trong thời hạn 05 ngày làm
việc, kể từ ngày ra quyết định, Hội đồng xét xử giám đốc thẩm phải
gửi quyết định giám đốc thẩm cho cơ quan, tổ chức, cá nhân sau đây: a) Đương sự, người khác có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan theo quyết định giám đốc thẩm; b) Tòa án ra bản án, quyết định
đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị; c) Viện kiểm sát cùng cấp, cơ
quan thi hành án dân sự có thẩm quyền. 2. Quyết định giám đốc thẩm được
Tòa án có thẩm quyền giám đốc thẩm công bố trên Cổng thông tin điện tử của Tòa
án (nếu có), trừ quyết định có chứa thông tin quy định tại khoản 2 Điều 109 của
Bộ luật này. Tái thẩm là xét lại bản án,
quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì có tình tiết mới được
phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định mà Tòa án,
các đương sự không biết được khi Tòa án ra bản án, quyết định
đó. Bản án, quyết định của Tòa
án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục tái thẩm khi có một trong
những căn cứ sau đây: 1. Mới phát hiện được tình
tiết quan trọng của vụ án mà đương sự đã không thể biết được trong quá trình
giải quyết vụ án; 2. Có cơ sở chứng minh kết
luận của người giám định, lời dịch của người phiên dịch không đúng sự thật hoặc
có giả mạo chứng cứ; 3. Thẩm phán, Hội thẩm nhân
dân, Kiểm sát viên cố ý làm sai lệch hồ sơ vụ án hoặc cố ý kết luận trái pháp
luật; 4. Bản án, quyết định hình
sự, hành chính, dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động
của Tòa án hoặc quyết định của cơ quan nhà nước mà Tòa án căn cứ vào đó để giải
quyết vụ án đã bị hủy bỏ. 1. Đương sự hoặc cơ quan,
tổ chức, cá nhân khác có quyền phát hiện tình tiết mới của vụ án và thông báo
bằng văn bản cho người có thẩm quyền kháng nghị quy định tại Điều 354 của Bộ
luật này. 2. Trường hợp phát hiện
tình tiết mới của vụ án, Viện kiểm sát, Tòa án phải thông báo bằng văn bản cho
người có thẩm quyền kháng nghị quy định tại Điều 354 của Bộ luật
này. 1. Chánh án Tòa án nhân dân
tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thẩm quyền kháng nghị
theo thủ tục tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án
nhân dân cấp cao; bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án khác khi
xét thấy cần thiết, trừ quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao. 2. Chánh án Tòa án nhân dân
cấp cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao có thẩm quyền kháng nghị
theo thủ tục tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án
nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân cấp huyện trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh
thổ. 3. Người đã kháng nghị bản
án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật có quyền quyết định tạm đình chỉ thi
hành bản án, quyết định đó cho đến khi có quyết định tái
thẩm. Thời hạn kháng nghị theo
thủ tục tái thẩm là 01 năm, kể từ ngày người có thẩm quyền kháng nghị biết được
căn cứ để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm quy định tại Điều 352 của Bộ luật
này. Hội đồng xét xử tái thẩm có
thẩm quyền sau đây: 1. Không chấp nhận kháng
nghị và giữ nguyên bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp
luật; 2. Hủy bản án, quyết định
đã có hiệu lực pháp luật để xét xử sơ thẩm lại theo thủ tục do Bộ luật này quy
định; 3. Hủy bản án, quyết định
đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ giải quyết vụ
án. Các quy định khác về thủ tục tái
thẩm được thực hiện như các quy định của Bộ
luật này về
thủ tục giám đốc thẩm. 1. Khi có căn cứ xác định quyết
định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có vi phạm pháp luật nghiêm
trọng hoặc phát hiện tình tiết quan trọng mới có thể làm thay đổi cơ bản nội
dung quyết định mà Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, đương sự
đã không thể biết được khi ra quyết định đó,
nếu có yêu cầu của Ủy ban thường vụ Quốc hội, kiến nghị của Ủy ban tư pháp của
Quốc hội, kiến nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc đề nghị
của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao thì Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối
cao xem xét lại quyết định đó. 2. Trường hợp có yêu cầu của Ủy
ban thường vụ Quốc hội thì Chánh án Tòa án nhân dân
tối cao có trách nhiệm báo cáo Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để xem
xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. 3. Trường hợp có kiến nghị của Ủy
ban tư pháp của Quốc hội, kiến nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối
cao hoặc Chánh án Tòa án nhân dân tối cao phát hiện vi phạm, tình tiết mới thì
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao có trách nhiệm báo cáo Hội đồng Thẩm phán Tòa
án nhân dân tối cao xem xét kiến nghị, đề nghị đó. 4. Phiên họp của Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao xem xét kiến nghị, đề nghị quy định tại khoản 3
Điều này phải có sự tham dự của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối
cao. 1. Sau khi nhận được yêu cầu của
Ủy ban thường vụ Quốc hội, kiến nghị của Ủy ban tư pháp của Quốc hội hoặc sau
khi Chánh án Tòa án nhân dân tối cao có văn bản đề nghị xem xét lại quyết định
của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao theo quy định tại khoản 2 và
khoản 3 Điều 358 của Bộ luật này, Tòa án nhân dân tối cao gửi cho
Viện kiểm sát nhân dân tối cao bản sao văn bản yêu cầu, kiến nghị hoặc đề nghị
đó kèm theo hồ sơ vụ án để Viện kiểm sát nhân dân tối cao nghiên cứu và chuẩn bị
ý kiến phát biểu tại phiên họp xem xét kiến nghị, đề nghị, yêu cầu. Trong thời
hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án, Viện kiểm sát nhân dân tối cao
phải trả lại hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tối cao. 2. Trong thời hạn 01 tháng, kể từ
ngày nhận được kiến nghị của Ủy ban tư pháp của Quốc hội, kiến nghị của Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc kể từ ngày Chánh án Tòa án nhân dân
tối cao có văn bản đề nghị thì Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao phải
mở phiên họp để xem xét kiến nghị, đề nghị. Tòa án nhân dân tối cao thông báo
bằng văn bản về thời gian mở phiên họp để xem xét kiến nghị, đề nghị cho Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Đại diện Ủy ban tư pháp của Quốc hội được mời
tham dự phiên họp của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để xem xét kiến
nghị của Ủy ban tư pháp của Quốc
hội. 3. Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân
dân tối cao xem xét kiến nghị, đề nghị theo trình tự như sau: a) Chánh án Tòa án nhân dân tối
cao tự mình hoặc phân công một thành viên Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối
cao trình bày tóm tắt nội dung vụ án và quá trình giải quyết vụ án; b) Đại diện Ủy ban tư pháp của Quốc hội, Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao có kiến
nghị, đề nghị xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối
cao trình bày về nội dung kiến nghị, đề nghị; căn cứ của việc kiến nghị, đề
nghị; phân tích, đánh giá các tình tiết của vụ án, chứng cứ cũ và chứng cứ mới
bổ sung (nếu có) để làm rõ việc vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong quyết định
của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hoặc những tình tiết quan trọng
mới có thể làm thay đổi cơ bản nội dung quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao; c) Trường hợp xem xét kiến nghị
của Ủy ban tư pháp của Quốc hội hoặc xem xét đề nghị của Chánh án Tòa án nhân
dân tối cao thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao phát biểu quan điểm
và lý do nhất trí hoặc không nhất trí với kiến nghị, đề nghị đó. Ý kiến phát biểu của Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải thể hiện bằng văn bản, có chữ ký của Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và phải được gửi cho Tòa án nhân dân tối
cao trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày kết thúc phiên họp; d) Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân
dân tối cao thảo luận và biểu quyết theo đa số về việc nhất trí hoặc không nhất
trí với kiến nghị, đề nghị xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao; đ) Trường hợp nhất trí với kiến
nghị của Ủy ban tư pháp của Quốc hội, kiến nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân tối cao hoặc đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao thì Hội đồng
Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quyết định về việc mở phiên họp để xem xét lại
quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, đồng thời giao cho
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao tổ chức nghiên cứu hồ sơ, báo cáo Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao xem xét, quyết định tại phiên họp xem xét lại quyết
định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Trường hợp không nhất trí kiến
nghị, đề nghị thì Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao phải thông báo bằng
văn bản và nêu rõ lý do cho cá nhân, cơ quan đã
kiến nghị, đề nghị; e) Mọi diễn biến tại phiên họp
xem xét kiến nghị, đề nghị và các quyết định được thông qua tại phiên họp phải
được ghi vào biên bản phiên họp và lưu hồ sơ xem xét kiến nghị, đề
nghị; g) Trong thời hạn 05 ngày làm
việc, kể từ ngày kết thúc phiên họp xem xét kiến nghị, đề nghị xem xét lại quyết
định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng Thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao gửi cho Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao,
Ủy ban tư pháp của Quốc hội văn bản
thông báo về việc Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nhất trí hoặc không
nhất trí với kiến nghị, đề nghị xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán
Tòa án nhân dân tối cao. 4. Theo yêu cầu của Ủy ban thường
vụ Quốc hội hoặc khi có quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối
cao về việc mở phiên họp để xem xét lại
quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định tại điểm đ khoản 3 Điều
này thì Chánh án Tòa án nhân dân tối cao tổ chức việc nghiên cứu hồ sơ vụ án,
xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ trong trường hợp cần thiết. Việc nghiên cứu hồ sơ vụ án, xác
minh, thu thập tài liệu, chứng cứ phải làm rõ có hay không có vi phạm pháp luật
nghiêm trọng hoặc tình tiết quan trọng mới có thể làm thay đổi cơ bản nội dung
quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. 5. Trong thời hạn 04 tháng, kể từ
ngày nhận được yêu cầu của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định tại khoản 2 Điều
358 của Bộ luật này hoặc kể từ ngày có quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao quy định tại điểm đ khoản 3 Điều này, Hội đồng Thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao phải mở phiên họp với sự tham gia của toàn thể Thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao để xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân
dân tối cao. Tòa án nhân dân tối cao gửi cho
Viện kiểm sát nhân dân tối cao văn bản thông báo về thời gian mở phiên họp xem
xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao kèm theo hồ sơ
vụ án. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án, Viện kiểm sát
nhân dân tối cao phải trả lại hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tối
cao. Phiên họp Hội đồng Thẩm phán Tòa
án nhân dân tối cao phải có sự tham dự của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân
tối cao. Trường hợp xét thấy cần thiết, Tòa án nhân dân tối cao có thể mời cơ
quan, tổ chức, cá nhân có liên quan tham dự phiên họp. 6. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân
dân tối cao phải tham dự phiên họp xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán
Tòa án nhân dân tối cao và phát biểu quan điểm về việc có hay không có vi phạm
pháp luật nghiêm trọng hoặc tình tiết quan
trọng mới có
thể làm thay đổi cơ bản nội dung quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân
dân tối cao và quan điểm về việc giải quyết vụ án. Ý kiến phát biểu của Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải thể hiện bằng văn bản, có chữ ký của Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và phải được gửi cho Tòa án nhân dân tối
cao trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày kết thúc phiên họp. 7. Trong thời hạn 01 tháng,
kể từ ngày Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ra
quyết định quy định tại khoản
1 Điều 360 của Bộ luật này, Tòa án nhân dân tối cao gửi quyết định cho Ủy ban
thường vụ Quốc hội, Ủy ban tư pháp của Quốc hội, Viện kiểm sát nhân dân tối cao,
Tòa án nhân dân đã giải quyết vụ án và các đương sự. 1. Sau khi nghe Chánh án Tòa án
nhân dân tối cao báo cáo, nghe ý kiến của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối
cao, của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan được mời tham dự (nếu có) và khi
xét thấy quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có vi phạm
pháp luật nghiêm trọng hoặc có tình tiết quan trọng mới làm thay đổi cơ bản nội
dung quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; bản án, quyết
định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp dưới có vi phạm pháp luật nghiêm
trọng hoặc có tình tiết quan trọng mới làm thay đổi cơ bản nội dung bản án,
quyết định thì tùy từng trường hợp, Hội
đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quyết định như sau: a) Hủy quyết định của Hội đồng
Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp
luật và quyết định về nội dung vụ án; b) Hủy quyết định của Hội đồng
Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp
luật và xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Tòa án nhân dân tối cao có
quyết định vi phạm pháp luật nghiêm trọng bị hủy do lỗi vô ý hoặc cố ý và gây
thiệt hại cho đương sự hoặc xác định trách nhiệm bồi hoàn giá trị tài sản theo
quy định của pháp luật; c) Hủy quyết định của Hội đồng
Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp
luật để giao hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp dưới giải quyết theo quy định của pháp
luật. 2.
Quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao phải được ít nhất ba
phần tư tổng số thành viên của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao biểu
quyết tán thành. |
ĐƠN VỊ HỖ TRỢ
|