|
|
KẾ TOÁN - THUẾ - DOANH NGHIỆP - LAO ĐỘNG |
|
|
|
|
Phần
thứ sáu Việc dân sự là việc cơ quan, tổ
chức, cá nhân không có tranh chấp, nhưng có yêu cầu Tòa án công nhận hoặc không
công nhận một sự kiện pháp lý là căn cứ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự,
hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của mình hoặc của cơ
quan, tổ chức, cá nhân khác; yêu cầu Tòa án công nhận cho mình quyền về dân sự,
hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động. Những quy định của Phần này được áp dụng để giải quyết
việc dân sự quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 6, 7, 8, 9 và 10 Điều 27, các
khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 10 và 11 Điều 29, các khoản 1, 2, 3 và 6 Điều 31,
các khoản 1, 2 và 5 Điều 33 của Bộ luật này. Trường hợp Phần này không quy định thì áp dụng những
quy định khác của Bộ luật này để giải quyết việc dân sự. 1. Người yêu cầu Tòa án giải
quyết việc dân sự phải gửi đơn đến Tòa án có thẩm quyền quy định tại
Mục 2 Chương III của Bộ luật
này. Trường hợp Chấp hành viên yêu cầu
Tòa án giải quyết việc dân sự theo quy định của Luật thi hành án dân sự thì có
quyền, nghĩa vụ của người yêu cầu giải quyết việc dân sự theo quy định của Bộ
luật này. 2. Đơn yêu cầu phải có các nội
dung chính sau đây: a) Ngày, tháng, năm làm đơn; b) Tên Tòa án có thẩm quyền giải
quyết việc dân sự; c) Tên, địa chỉ; số điện thoại,
fax, địa chỉ thư điện tử (nếu có) của người yêu cầu; d) Những vấn đề cụ thể yêu cầu
Tòa án giải quyết và lý do, mục đích, căn cứ của việc yêu cầu Tòa án giải quyết
việc dân sự đó; đ) Tên, địa chỉ của những người
có liên quan đến việc giải quyết việc dân
sự đó (nếu
có); e) Các thông tin khác mà người
yêu cầu xét thấy cần thiết cho việc giải quyết yêu cầu của mình; g) Người yêu cầu là cá nhân phải
ký tên hoặc điểm chỉ, nếu là cơ quan, tổ chức thì đại diện hợp pháp của cơ quan,
tổ chức đó phải ký tên và đóng dấu vào phần cuối đơn; trường hợp tổ chức yêu cầu
là doanh nghiệp thì việc sử dụng con dấu được thực hiện theo quy định của Luật
doanh nghiệp. 3. Kèm theo đơn yêu cầu, người
yêu cầu phải gửi tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn
cứ và hợp pháp. 1. Thủ tục nhận đơn yêu cầu được
thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 191 của Bộ luật này. Trong thời hạn 03 ngày làm việc,
kể từ ngày nhận đơn yêu cầu và tài liệu, chứng cứ kèm theo, Chánh án
Tòa án phân công Thẩm phán giải quyết
đơn yêu cầu. 2. Trường hợp đơn yêu cầu chưa
ghi đầy đủ nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều
362 của Bộ luật này thì Thẩm phán yêu cầu người yêu cầu sửa đổi, bổ sung trong thời hạn
07 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu. Thủ tục sửa đổi, bổ sung đơn yêu cầu được
thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 193 của Bộ luật này. 3. Trường hợp người yêu cầu thực hiện đầy đủ yêu cầu sửa đổi,
bổ sung thì Thẩm phán tiến hành thủ tục thụ lý việc dân sự. Hết thời hạn quy định tại khoản 2
Điều này mà người yêu cầu không sửa đổi, bổ sung đơn yêu cầu thì Thẩm phán trả
lại đơn yêu cầu và tài liệu, chứng cứ kèm theo cho họ. 4. Trường hợp xét thấy đơn yêu
cầu và tài liệu, chứng cứ kèm theo đã đủ điều kiện thụ lý thì Thẩm phán thực
hiện như sau: a) Thông báo cho người yêu cầu về việc nộp lệ phí yêu cầu giải
quyết việc dân sự trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông
báo nộp lệ phí, trừ trường hợp người đó được miễn hoặc không phải nộp lệ
phí theo quy định của pháp luật về phí, lệ
phí; b) Tòa án thụ lý đơn yêu cầu khi
người yêu cầu nộp cho Tòa án biên lai thu
tiền lệ phí
yêu cầu giải quyết việc dân sự; c) Trường hợp người yêu cầu được miễn hoặc không phải nộp lệ
phí thì Thẩm phán thụ lý việc dân sự kể từ ngày nhận được đơn yêu
cầu. 1. Tòa án trả lại đơn yêu cầu
trong những trường hợp sau đây: a) Người yêu cầu không có quyền
yêu cầu hoặc không có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự; b) Sự việc người yêu cầu yêu cầu đã được Tòa án hoặc cơ
quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết; c) Việc dân sự không thuộc thẩm
quyền giải quyết của Tòa án; d) Người yêu cầu không sửa đổi,
bổ sung đơn yêu cầu trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều 363 của Bộ luật
này; đ) Người yêu cầu không nộp lệ phí
trong thời hạn quy định tại điểm a
khoản 4 Điều
363 của Bộ luật này, trừ trường hợp được miễn hoặc không phải nộp lệ phí hoặc
chậm nộp vì sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan; e) Người yêu cầu rút đơn yêu
cầu; g) Những trường hợp khác theo quy
định của pháp luật. 2. Khi trả lại đơn yêu cầu và tài
liệu, chứng cứ kèm theo, Tòa án phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý
do. 3. Việc khiếu nại và giải quyết
khiếu nại việc trả lại đơn yêu cầu được thực hiện theo quy định tại Điều 194 của
Bộ luật này. 1. Trong thời hạn 03 ngày làm
việc, kể từ ngày thụ lý đơn yêu cầu, Tòa án phải thông báo bằng văn bản cho
người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan đến việc giải quyết việc dân sự, cho Viện kiểm sát cùng cấp về việc
Tòa án đã thụ lý đơn yêu cầu. 2. Văn bản thông báo phải có các
nội dung chính sau đây: a) Ngày, tháng, năm làm văn bản
thông báo; b) Tên, địa chỉ Tòa án đã thụ lý
đơn yêu cầu; c) Tên, địa chỉ của đương
sự; d) Những vấn đề cụ thể đương sự
yêu cầu Tòa án giải quyết; đ) Danh mục tài liệu, chứng cứ
đương sự nộp kèm theo đơn yêu cầu; e) Thời hạn người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan phải có ý kiến bằng văn bản nộp cho Tòa án đối với yêu cầu
của người yêu cầu và tài liệu, chứng cứ kèm theo (nếu có); g) Hậu quả pháp lý của việc người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không nộp cho Tòa án văn bản về ý kiến của mình
đối với yêu cầu giải quyết việc dân sự. 1. Thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu
là 01 tháng, kể từ ngày Tòa án thụ lý đơn yêu cầu, trừ trường hợp Bộ luật này có quy
định khác. 2. Trong thời hạn chuẩn bị xét
đơn yêu cầu, Tòa án tiến hành công việc sau đây: a) Trường hợp xét thấy tài liệu,
chứng cứ chưa đủ căn cứ để Tòa án giải quyết thì Tòa án yêu cầu đương sự bổ sung
tài liệu, chứng cứ trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu
của Tòa án; b) Trường hợp đương sự có yêu cầu
hoặc khi xét thấy cần thiết thì Thẩm phán ra quyết định yêu cầu cơ quan, tổ
chức, cá nhân cung cấp tài liệu, chứng cứ; triệu tập người làm chứng, trưng cầu
giám định, định giá tài sản. Nếu hết thời hạn chuẩn
bị xét đơn yêu cầu quy định tại khoản 1 Điều này mà chưa có kết quả giám định,
định giá tài sản thì thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu
cầu được kéo dài nhưng không quá 01 tháng; c) Quyết định đình chỉ việc xét
đơn yêu cầu và trả lại đơn yêu cầu, tài liệu, chứng cứ kèm theo nếu người yêu
cầu rút đơn yêu cầu; d) Quyết định mở phiên họp giải
quyết việc dân sự. 3. Tòa án phải gửi ngay quyết
định mở phiên họp giải quyết việc dân sự và hồ sơ việc dân sự cho Viện kiểm sát
cùng cấp để nghiên cứu. Viện kiểm sát phải nghiên cứu trong thời hạn 07 ngày, kể
từ ngày nhận được hồ sơ; hết thời hạn này, Viện kiểm sát phải trả hồ sơ cho Tòa
án để mở phiên họp giải quyết việc dân sự. 4. Tòa án phải mở phiên họp để
giải quyết việc dân sự trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày ra quyết định mở phiên
họp. 1. Kiểm sát viên Viện kiểm sát
cùng cấp phải tham gia phiên họp; trường hợp Kiểm sát
viên vắng mặt thì Tòa án vẫn tiến hành phiên họp. 2. Người yêu cầu hoặc người đại
diện hợp pháp, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ phải tham gia phiên
họp theo giấy triệu tập của Tòa án. Người yêu cầu vắng mặt lần thứ
nhất thì Tòa án hoãn phiên họp, trừ trường hợp người yêu cầu đề nghị Tòa án giải
quyết việc dân sự vắng mặt họ. Trường hợp người yêu cầu đã được triệu tập hợp lệ
lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì bị coi là từ bỏ yêu cầu và Tòa án ra quyết định
đình chỉ giải quyết việc dân sự; trong trường hợp này, quyền yêu cầu Tòa án giải
quyết việc dân sự đó theo thủ tục do Bộ luật này quy định vẫn được bảo
đảm. 3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan hoặc người đại diện hợp pháp, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của họ được Tòa án triệu tập tham gia phiên họp. Trong trường hợp cần thiết, Tòa
án có thể triệu tập người làm chứng, người giám định, người phiên dịch tham gia
phiên họp; nếu có người vắng mặt thì Tòa án quyết định hoãn phiên họp hoặc vẫn
tiến hành phiên họp. 1. Trước khi mở phiên họp, việc
thay đổi Thẩm phán, Thư ký phiên họp
do Chánh án
của Tòa án đang giải quyết việc dân sự đó quyết định; nếu Thẩm phán bị thay đổi
là Chánh án của Tòa án đang giải quyết việc dân sự đó thì việc thay đổi do Chánh
án Tòa án trên một cấp trực tiếp quyết định. 2. Tại phiên họp giải quyết việc dân sự, việc thay đổi Thẩm
phán, Thư ký phiên họp được thực hiện như
sau: a) Trường hợp việc dân sự do một
Thẩm phán giải quyết thì việc thay đổi Thẩm phán, Thư ký phiên họp do Chánh án của Tòa án đang giải
quyết việc dân sự đó quyết định; nếu Thẩm phán bị thay đổi là Chánh án của Tòa
án đang giải quyết việc dân sự đó thì việc thay đổi do Chánh án Tòa án trên
một cấp trực tiếp quyết định; b) Trường hợp việc dân sự do Hội
đồng giải quyết việc dân sự gồm ba Thẩm phán giải quyết thì việc thay đổi thành
viên Hội đồng, Thư ký phiên họp
do Hội đồng
giải quyết việc dân sự quyết định. 3. Trước khi mở phiên họp, việc
thay đổi Kiểm sát viên do Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp quyết
định. Tại phiên họp, việc thay đổi Kiểm sát viên do
Thẩm phán, Hội đồng giải quyết việc dân sự quyết định. Trường hợp phải thay đổi Kiểm sát
viên thì Thẩm phán, Hội đồng giải quyết việc dân sự ra quyết định hoãn phiên
họp và thông báo cho Viện kiểm
sát. Việc cử Kiểm sát viên thay thế
Kiểm sát viên bị thay đổi do Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp quyết định. Nếu
Kiểm sát viên bị thay đổi là Viện trưởng Viện kiểm sát thì do Viện trưởng Viện
kiểm sát cấp trên trực tiếp quyết định. 1. Phiên họp giải quyết việc dân
sự được tiến hành theo trình tự sau đây: a) Thư ký phiên họp báo cáo Thẩm phán, Hội đồng giải
quyết việc dân sự về sự có mặt, vắng mặt của những người tham gia phiên
họp; b) Thẩm phán chủ tọa phiên họp
khai mạc phiên họp, kiểm tra về sự có mặt, vắng mặt của những người được triệu
tập tham gia phiên họp và căn cước của họ, giải thích quyền và nghĩa vụ của
người tham gia phiên họp; c) Người bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của người yêu cầu, người yêu cầu hoặc người đại diện hợp pháp của họ
trình bày về những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết, lý do, mục đích và
căn cứ của việc yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự đó; d) Người bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan hoặc người đại diện hợp pháp của họ trình bày ý kiến về những vấn
đề có liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
trong việc giải quyết việc dân sự; đ) Người làm chứng trình bày ý
kiến; người giám định trình bày kết luận giám định, giải thích những vấn đề còn
chưa rõ hoặc có mâu thuẫn (nếu có); e) Thẩm phán, Hội đồng giải quyết
việc dân sự xem xét tài liệu, chứng cứ; g) Kiểm sát viên phát biểu ý kiến
của Viện kiểm sát về việc giải quyết việc dân sự và gửi văn bản phát biểu ý kiến
cho Tòa án để lưu vào hồ sơ việc dân sự ngay sau khi kết thúc phiên
họp; h) Thẩm phán, Hội đồng giải quyết
việc dân sự xem xét, quyết định chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu giải
quyết việc dân sự. 2. Trường hợp có người
được Tòa án triệu tập tham gia phiên họp
vắng mặt thì
Thẩm phán, Hội đồng giải quyết việc dân sự
cho công bố
lời khai, tài liệu, chứng cứ do người đó cung cấp trước khi xem xét tài liệu, chứng
cứ. 1. Quyết định giải quyết việc dân
sự phải có các nội dung sau đây: a) Ngày, tháng, năm ra quyết
định; b) Tên Tòa án ra quyết
định; c) Họ, tên của Thẩm phán, Kiểm
sát viên, Thư ký phiên họp; d) Tên, địa chỉ của người yêu cầu
giải quyết việc dân sự; đ) Những vấn đề cụ thể yêu cầu
Tòa án giải quyết; e) Tên, địa chỉ của người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; g) Nhận định của Tòa án và những
căn cứ để chấp nhận hoặc không chấp nhận đơn yêu cầu; h) Căn cứ pháp luật để giải quyết
việc dân sự; i) Quyết định của Tòa
án; k) Lệ phí phải nộp. 2. Quyết định giải quyết việc dân
sự phải được gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp, người yêu cầu giải quyết việc dân
sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan đến việc giải quyết việc dân sự trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày
ra quyết định. Việc gửi quyết định giải
quyết việc dân sự cho cơ quan thi hành án được thực hiện theo quy định của Luật thi hành án dân
sự. 3. Quyết định giải quyết
việc dân sự có hiệu lực pháp luật của Tòa án
có liên quan đến việc thay đổi hộ tịch của cá nhân phải được Tòa án gửi cho Ủy ban nhân dân nơi đã đăng ký hộ
tịch của cá nhân đó theo quy định của Luật hộ tịch. 4. Quyết định giải quyết việc dân
sự có hiệu lực pháp luật của Tòa án được công bố trên Cổng thông tin điện tử của
Tòa án (nếu có), trừ quyết định có chứa
thông tin
quy định tại khoản 2 Điều 109 của Bộ luật này. Người yêu cầu, người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo, Viện
kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị quyết
định giải quyết việc dân sự để yêu cầu Tòa án trên một cấp trực tiếp giải quyết lại theo thủ
tục phúc thẩm, trừ quyết định giải quyết việc dân sự quy định tại khoản 7 Điều
27, khoản 2 và khoản 3 Điều 29 của Bộ luật này. 1. Người yêu cầu, người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo quyết
định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết
định. Trường hợp họ không có mặt tại phiên họp giải quyết việc dân sự thì thời
hạn đó được tính từ ngày họ nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể
từ ngày quyết định đó được thông báo, niêm yết. 2. Viện kiểm sát cùng cấp có
quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện
kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ
ngày Tòa án ra quyết định. 1. Thời hạn chuẩn bị xét kháng
cáo, kháng nghị là 15 ngày, kể từ ngày Tòa án nhận kháng cáo, kháng
nghị. 2. Trong thời hạn chuẩn bị xét
kháng cáo, kháng nghị, Tòa án tiến hành các công việc sau đây: a) Trường hợp xét thấy tài liệu,
chứng cứ chưa đủ căn cứ để Tòa án giải quyết thì Tòa án yêu cầu đương sự bổ sung
tài liệu, chứng cứ trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu
của Tòa án; b) Trường hợp đương sự có yêu cầu
hoặc khi xét thấy cần thiết, Thẩm phán ra quyết định yêu cầu cơ quan, tổ chức,
cá nhân cung cấp tài liệu, chứng cứ; triệu tập người làm chứng, trưng cầu giám
định, định giá. Nếu hết thời hạn quy định tại khoản 1 Điều này mà chưa có kết
quả giám định, định giá thì thời hạn chuẩn bị xét kháng cáo, kháng nghị được kéo
dài nhưng không quá 15 ngày; c) Trong thời hạn chuẩn bị xét
kháng cáo, kháng nghị, nếu tất cả người kháng cáo rút đơn kháng cáo, Viện kiểm
sát rút kháng nghị thì Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết việc xét đơn yêu
cầu theo thủ tục phúc thẩm. Trong trường hợp này, quyết định giải quyết việc dân
sự theo thủ tục sơ thẩm có hiệu lực pháp luật kể
từ ngày Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định đình chỉ; d) Quyết định mở phiên họp phúc
thẩm giải quyết việc dân sự. 3. Tòa án phải gửi ngay quyết
định mở phiên họp phúc thẩm giải quyết việc dân sự và hồ sơ việc dân sự cho Viện
kiểm sát cùng cấp để nghiên cứu. Viện kiểm sát phải nghiên cứu trong thời hạn 07
ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ; hết thời hạn này, Viện kiểm sát phải trả hồ sơ
cho Tòa án để mở phiên họp phúc thẩm giải quyết việc dân sự. 4. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ
ngày ra quyết định mở phiên họp, Thẩm phán phải mở phiên họp phúc thẩm giải
quyết việc dân sự. 1. Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp phải tham gia phiên họp phúc thẩm
giải quyết việc dân sự; trường hợp Kiểm sát
viên vắng
mặt thì Tòa án vẫn tiến hành phiên họp, trừ trường hợp Viện kiểm sát kháng nghị
phúc thẩm. 2. Người có đơn kháng cáo, người
đại diện hợp pháp, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ phải tham gia
phiên họp theo giấy triệu tập của Tòa án. Người kháng cáo vắng mặt lần thứ
nhất có lý do chính đáng thì Tòa án hoãn phiên họp phúc thẩm giải quyết việc dân
sự, trừ trường hợp người kháng cáo yêu cầu giải quyết vắng mặt họ. Nếu người
kháng cáo đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì bị coi là từ
bỏ kháng cáo và Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết phúc thẩm việc dân sự
đối với yêu cầu kháng cáo của họ, trừ trường hợp họ có đơn đề nghị giải quyết
vắng mặt hoặc do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan. 3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan, người đại diện hợp pháp, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
họ được Tòa án triệu tập tham gia phiên họp. Trong trường hợp cần thiết, Tòa án
có thể triệu tập người làm chứng, người giám định, người phiên dịch tham gia
phiên họp; nếu có người vắng mặt thì Tòa án quyết định hoãn phiên họp hoặc vẫn
tiến hành phiên họp. 1. Phiên họp phúc thẩm giải quyết
việc dân sự được tiến hành theo trình tự sau đây: a) Thư ký phiên họp báo cáo về sự có mặt, vắng mặt
của những người tham gia phiên họp; b) Thẩm phán chủ tọa phiên họp khai mạc phiên họp, kiểm tra về
sự có mặt, vắng mặt của những người được triệu tập tham gia phiên họp và căn
cước của họ, giải thích quyền và nghĩa vụ của người tham gia phiên
họp; c) Người bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của người kháng cáo, người kháng cáo hoặc người đại diện hợp pháp của
họ trình bày về nội dung kháng cáo và căn cứ của việc kháng cáo; Trường hợp chỉ có Viện kiểm sát
kháng nghị thì Kiểm sát viên trình bày về nội dung kháng nghị và căn cứ của việc
kháng nghị. Trường hợp vừa có kháng cáo, vừa có kháng nghị thì các đương sự
trình bày về nội dung kháng cáo và các căn cứ của việc kháng cáo trước, sau đó
Kiểm sát viên trình bày về nội dung kháng nghị và căn cứ của việc kháng nghị.
Trường hợp Viện kiểm sát không kháng nghị thì Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của
Viện kiểm sát về việc giải quyết kháng cáo trước khi Hội đồng phúc thẩm ra quyết
định. Ngay sau khi kết thúc phiên họp,
Kiểm sát viên phải gửi văn bản phát biểu ý kiến cho Tòa án để lưu vào hồ
sơ việc dân sự; d) Người bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan hoặc người đại diện hợp pháp của họ trình bày ý kiến về những vấn
đề có liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
trong nội dung kháng cáo, kháng nghị; đ) Người làm chứng trình bày ý
kiến; người giám định trình bày kết luận giám định, giải thích những vấn đề còn
chưa rõ hoặc có mâu thuẫn. 2. Trường hợp có người
được Tòa án triệu tập tham gia phiên họp
vắng mặt thì
Thẩm phán cho công bố lời khai, tài liệu, chứng cứ do người đó cung
cấp. 3. Hội đồng phúc thẩm xem xét
quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị, tài liệu, chứng cứ
có liên quan và ra một trong các quyết định sau đây: a) Giữ nguyên quyết định giải
quyết việc dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm; b) Sửa quyết định giải quyết việc
dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm; c) Hủy quyết định giải quyết việc
dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm và chuyển hồ sơ việc dân sự cho Tòa án cấp sơ thẩm
để giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm; d) Hủy quyết định giải quyết việc
dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm và đình chỉ giải quyết việc dân sự; đ) Đình chỉ giải quyết việc xét
đơn yêu cầu theo thủ tục phúc thẩm nếu tại phiên họp tất cả người kháng cáo rút
đơn kháng cáo, Viện kiểm sát rút kháng nghị. 4. Quyết định phúc thẩm giải
quyết việc dân sự có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định và được gửi cho cơ quan, tổ chức, cá nhân quy định tại
khoản 2 và khoản 3 Điều 370 của Bộ luật này. 5. Quyết định phúc thẩm giải
quyết việc dân sự có hiệu lực pháp luật được công bố trên Cổng thông tin điện tử
của Tòa án (nếu có), trừ quyết định có chứa thông tin quy định tại khoản 2 Điều
109 của Bộ luật này. 1. Người có quyền, lợi ích liên
quan, cơ quan, tổ chức hữu quan có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất
năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn
trong nhận thức, làm chủ hành vi theo quy định của Bộ luật dân sự. 2. Người thành niên không
đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi do tình trạng thể chất, tinh thần nhưng
chưa đến mức mất năng lực hành vi dân sự có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố họ là
người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi theo quy định của Bộ luật dân
sự. Trong thời hạn chuẩn bị xét
đơn yêu cầu, theo đề nghị của người yêu cầu, Tòa án có thể trưng cầu giám định
sức khoẻ, bệnh tật của người bị yêu cầu tuyên bố bị hạn chế năng lực hành vi dân
sự hoặc giám định pháp y tâm thần đối với người bị yêu cầu tuyên bố mất năng lực
hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Trong trường
hợp này, khi nhận được kết luận giám định, Tòa án phải ra quyết định mở phiên
họp để xét đơn yêu cầu. Trường hợp chấp nhận đơn
yêu cầu thì Tòa án ra quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự,
bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ
hành vi. Trong quyết định tuyên bố
một người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, Tòa án phải xác định người đại
diện theo pháp luật của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự và phạm vi đại
diện. Trong quyết định tuyên bố
một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, Tòa án phải chỉ định
người giám hộ, xác định quyền, nghĩa vụ của người giám
hộ. Khi người bị Tòa án tuyên
bố mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó
khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi không còn ở trong tình trạng đã bị tuyên
bố thì chính người đó hoặc người có quyền, lợi ích liên quan hoặc cơ quan, tổ
chức hữu quan có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố
mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn
trong nhận thức, làm chủ hành vi. Trường hợp chấp nhận đơn yêu cầu
thì Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự
hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm
chủ hành vi. 1. Người có quyền, lợi ích
liên quan có quyền yêu cầu Tòa án thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư
trú khi người đó biệt tích 06 tháng liền trở lên, đồng thời có thể yêu cầu Tòa
án áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người vắng mặt đó theo quy định của Bộ
luật dân sự. 2. Kèm theo đơn yêu cầu Tòa
án thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú, người yêu cầu phải gửi tài
liệu, chứng cứ để chứng minh là người bị yêu cầu biệt tích 06 tháng liền trở
lên; trường hợp có yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người
vắng mặt thì phải cung cấp tài liệu, chứng cứ về tình hình tài sản của người đó,
việc quản lý tài sản hiện có và danh sách những người thân thích của người
đó. Trong thời hạn chuẩn bị xét
đơn yêu cầu, Tòa án ra quyết định đình chỉ xét đơn yêu cầu thông báo tìm kiếm
người vắng mặt tại nơi cư trú, nếu người bị yêu cầu thông báo tìm kiếm trở về và
yêu cầu Tòa án đình chỉ việc xét đơn yêu cầu. Trường hợp chấp nhận đơn
yêu cầu thì Tòa án ra quyết định thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư
trú; trường hợp có yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người
vắng mặt đó tại nơi cư trú và được chấp nhận thì trong quyết định, Tòa án còn
phải quyết định áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người đó theo quy định của
Bộ luật dân sự. Thông báo tìm kiếm người
vắng mặt tại nơi cư trú phải có các nội dung chính sau
đây: 1. Ngày, tháng, năm ra
thông báo; 2. Tên Tòa án ra thông
báo; 3. Số và ngày, tháng, năm
của quyết định thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư
trú; 4. Tên, địa chỉ của người
yêu cầu Tòa án thông báo; 5. Họ, tên và ngày, tháng,
năm sinh hoặc tuổi của người cần tìm kiếm và địa chỉ cư trú của người đó trước
khi biệt tích; 6. Địa chỉ liên hệ của cơ
quan, tổ chức, cá nhân nếu người cần tìm kiếm biết được thông báo hoặc người
khác có được tin tức về người cần tìm kiếm. 1. Trong thời hạn 01 tháng,
kể từ ngày Tòa án ra quyết định thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư
trú, thông báo này phải được đăng trên một trong các báo hàng ngày của trung
ương trong ba số liên tiếp, Cổng thông tin điện tử của Tòa án, Ủy ban nhân dân
cấp tỉnh (nếu có) và phát sóng trên Đài phát thanh hoặc Đài truyền hình của
trung ương ba lần trong 03 ngày liên tiếp. 2. Chi phí cho việc đăng,
phát thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú do người yêu cầu
chịu. Điều
386. Hiệu lực của quyết định thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư
trú Quyết định thông báo tìm kiếm
người vắng mặt tại nơi cư trú quy định tại Điều 383 của Bộ luật này đương nhiên hết
hiệu lực trong trường hợp người cần tìm kiếm trở về. 1. Người có quyền, lợi ích
liên quan có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất tích theo quy định của
Bộ luật dân sự. 2. Kèm theo đơn yêu cầu,
người yêu cầu phải gửi tài liệu, chứng cứ để chứng minh người bị yêu cầu tuyên
bố mất tích đã biệt tích 02 năm liền trở lên mà không có tin tức xác thực về
việc người đó còn sống hoặc đã chết và chứng minh cho việc người yêu cầu đã áp
dụng đầy đủ các biện pháp thông báo tìm kiếm; trường hợp trước đó đã có quyết
định của Tòa án thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú thì phải có bản
sao quyết định đó. 1. Trong thời hạn 20 ngày,
kể từ ngày thụ lý đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích, Tòa án ra quyết định
thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất
tích. 2. Nội dung thông báo và
việc công bố thông báo được thực hiện theo quy định tại Điều 384 và Điều 385 của
Bộ luật này. Thời hạn thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích là
04 tháng, kể từ ngày đăng, phát thông báo lần đầu
tiên. 3. Trong thời hạn thông
báo, nếu người bị yêu cầu tuyên bố mất tích trở về và yêu cầu Tòa án đình chỉ
việc xét đơn yêu cầu thì Tòa án ra quyết định đình chỉ việc xét đơn yêu cầu
tuyên bố một người mất tích. 4. Trong thời hạn 10 ngày,
kể từ ngày kết thúc thời hạn thông báo quy định tại khoản 2 Điều này thì Tòa án
phải mở phiên họp xét đơn yêu cầu. Trường hợp chấp nhận đơn
yêu cầu thì Tòa án ra quyết định tuyên bố một người mất tích; trường hợp có yêu
cầu Tòa án áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người bị tuyên bố mất tích đó
và được chấp nhận thì trong quyết định tuyên bố một người mất tích, Tòa án còn
phải quyết định áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người đó theo quy định của
Bộ luật dân sự. 1. Người bị Tòa án tuyên bố mất
tích trở về hoặc người có quyền, lợi ích liên quan có quyền yêu cầu Tòa án hủy
bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích theo quy định của Bộ luật dân
sự. 2. Trường hợp chấp nhận đơn yêu
cầu thì Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích,
trong đó phải quyết định về hậu quả pháp lý của việc hủy bỏ quyết định tuyên bố
một người mất tích theo quy định của Bộ luật dân sự. 1. Người có quyền, lợi ích
liên quan có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố một người là đã chết theo quy định
của Bộ luật dân sự. 2. Kèm theo đơn yêu cầu,
người yêu cầu phải gửi tài liệu, chứng cứ để chứng minh người bị yêu cầu tuyên
bố là đã chết thuộc trường hợp theo quy định của Bộ luật dân
sự. 1. Trong thời hạn 20 ngày,
kể từ ngày thụ lý đơn yêu cầu tuyên bố một người là đã chết, Tòa án ra quyết
định thông báo tìm kiếm thông tin về người bị yêu cầu tuyên bố là đã
chết. 2. Nội dung thông báo, việc
công bố thông báo và thời hạn thông báo được thực hiện theo quy định tại khoản 2
Điều 388 của Bộ luật này. 3. Trong thời hạn thông
báo, nếu người yêu cầu rút đơn yêu cầu hoặc người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết
trở về và thông báo cho Tòa án biết thì Tòa án ra quyết định đình chỉ việc xét
đơn yêu cầu. 4. Trong thời hạn 10 ngày,
kể từ ngày hết thời hạn thông báo thì Tòa án phải mở phiên họp xét đơn yêu
cầu. Trường hợp chấp nhận đơn
yêu cầu thì Tòa án ra quyết định tuyên bố một người là đã chết; trong quyết định
này, Tòa án phải xác định ngày chết của người đó và hậu quả pháp lý của việc
tuyên bố một người là đã chết theo quy định của Bộ luật dân
sự. 1. Khi một người bị tuyên
bố là đã chết trở về hoặc có tin tức xác thực là người đó còn sống thì người đó
hoặc người có quyền, lợi ích liên quan có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định hủy
bỏ quyết định tuyên bố một người là đã chết. 2. Kèm theo đơn yêu cầu,
người yêu cầu phải gửi tài liệu, chứng cứ để chứng minh người bị tuyên bố là đã
chết trở về hoặc chứng minh xác thực là người đó còn
sống. Trường hợp chấp nhận đơn yêu cầu
thì Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố một người là đã chết; trong
quyết định này, Tòa án phải quyết định về hậu quả pháp lý của việc hủy bỏ quyết
định tuyên bố một người là đã chết theo quy định của Bộ luật dân sự. 1. Vợ, chồng yêu cầu Tòa án công
nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn phải có đơn
yêu cầu. Đơn phải có các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 362 của Bộ luật
này. 2. Vợ, chồng cùng yêu cầu Tòa án
công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn phải
ký tên hoặc điểm chỉ vào đơn yêu cầu. Trong trường hợp này vợ, chồng cùng được
xác định là người yêu cầu. 3. Kèm theo đơn yêu cầu, người yêu cầu phải gửi tài liệu, chứng cứ chứng minh
thỏa thuận về thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn là
có căn cứ và hợp pháp. 1. Trong thời hạn chuẩn bị xét
đơn yêu cầu, trước khi tiến hành
hòa giải để
vợ chồng đoàn tụ, khi xét thấy cần thiết,
Thẩm phán
có thể tham khảo ý kiến của cơ quan quản lý nhà nước
về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em về hoàn cảnh gia đình, nguyên
nhân phát sinh mâu thuẫn và nguyện vọng của vợ,
chồng, con có liên quan đến vụ
án. 2. Thẩm phán phải tiến hành hòa giải để vợ chồng đoàn
tụ; giải thích về quyền và nghĩa vụ
giữa vợ và chồng, giữa cha, mẹ và con, giữa các thành viên khác trong gia
đình, về trách nhiệm cấp dưỡng và các
vấn đề khác liên quan đến hôn nhân và gia đình. 3. Trường hợp sau
khi hòa giải, vợ, chồng đoàn tụ thì Thẩm phán ra quyết định đình chỉ giải quyết
yêu cầu của họ. 4. Trường hợp hòa giải đoàn tụ
không thành thì Thẩm phán ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa
thuận của các đương sự theo quy định tại Điều 212 của Bộ luật này khi có đầy đủ
các điều kiện sau đây: a) Hai bên thực sự tự nguyện ly
hôn; b) Hai bên đã thỏa thuận được với
nhau về việc chia hoặc không chia tài sản chung, việc trông nom, nuôi dưỡng,
chăm sóc, giáo dục con; c) Sự thỏa thuận phải bảo đảm
quyền lợi chính đáng của vợ, con. 5. Trường hợp hòa giải đoàn tụ
không thành và các đương sự không thỏa thuận được về việc chia tài sản, việc
trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con thì Tòa án đình chỉ giải quyết
việc dân sự về công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản
khi ly hôn và thụ lý vụ án để giải quyết. Tòa án không phải thông báo về việc
thụ lý vụ án, không phải phân công lại Thẩm phán giải quyết vụ án. Việc giải
quyết vụ án được thực hiện theo thủ tục chung do Bộ luật này quy
định. 1. Công chứng viên đã thực hiện
việc công chứng, người yêu cầu công chứng, người làm chứng, người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có quyền yêu cầu Tòa án tuyên
bố văn bản công chứng vô hiệu khi có căn cứ cho rằng việc công chứng có vi phạm
pháp luật theo quy định của pháp luật về công chứng. 2. Đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố
văn bản công chứng vô hiệu phải có các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 362
của Bộ luật này. 3. Kèm theo đơn yêu cầu, người yêu cầu phải gửi tài liệu, chứng cứ để chứng minh
cho yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu là có căn cứ và hợp
pháp. 1. Thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu
cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu là 01 tháng, kể từ ngày Tòa án thụ lý đơn
yêu cầu; hết thời hạn này, Tòa án phải ra quyết
định mở phiên họp để xét đơn yêu cầu. 2. Sau khi thụ lý đơn yêu cầu
tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu, Tòa án có thẩm quyền phải thông báo ngay
cho tổ chức hành nghề công chứng, Công chứng viên đã thực hiện việc
công chứng, người yêu cầu công chứng, người có quyền, lợi ích liên quan, cơ quan
nhà nước có thẩm quyền và Viện kiểm sát cùng cấp. 3. Trong thời hạn chuẩn bị xét
đơn yêu cầu, nếu người yêu cầu rút đơn yêu cầu thì Tòa án ra quyết định đình chỉ
việc xét đơn yêu cầu. 4. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ
ngày ra quyết định mở phiên họp, Tòa án phải mở phiên họp để xét đơn yêu
cầu. 1. Tòa án có thể chấp nhận hoặc
không chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu. 2. Trường hợp chấp nhận đơn yêu
cầu thì Tòa án ra quyết định tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu. Trong quyết định này, Tòa án phải quyết định về hậu quả
pháp lý của việc tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu theo quy định của pháp
luật. 1. Người lao động, người sử
dụng lao động, tổ chức đại diện tập thể lao động, cơ quan nhà nước có thẩm quyền
có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao
động tập thể vô hiệu khi có căn cứ theo quy định của Bộ luật lao
động. 2. Đơn yêu cầu của người
lao động, người sử dụng lao động, tổ chức đại diện tập thể lao động, văn bản yêu
cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải có các nội dung quy định tại khoản 2
Điều 362 của Bộ luật này. 1. Thời hạn chuẩn bị xét
yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu là 10 ngày, thỏa ước lao động tập thể
vô hiệu là 15 ngày, kể từ ngày Tòa án thụ lý đơn yêu cầu. Hết thời hạn này, Tòa
án phải ra quyết định mở phiên họp để xét đơn yêu
cầu. 2. Sau khi thụ lý đơn yêu
cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu, Tòa
án có trách nhiệm gửi thông báo thụ lý cho người có đơn yêu cầu, người sử dụng
lao động, tổ chức đại diện tập thể lao động và Viện kiểm sát cùng
cấp. 3. Trong thời hạn chuẩn bị
xét đơn hoặc văn bản yêu cầu, nếu người yêu cầu rút yêu cầu thì Tòa án ra quyết
định đình chỉ việc xét đơn, văn bản yêu cầu. 4. Trong thời hạn 05 ngày
làm việc, kể từ ngày ra quyết định mở phiên họp, Tòa án phải mở phiên họp để xét
yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu. Trong thời hạn 10 ngày, kể
từ ngày ra quyết định mở phiên họp, Tòa án phải mở phiên họp để xét yêu cầu
tuyên bố thỏa ước lao động tập thể vô hiệu. 5. Khi xét đơn yêu cầu,
Thẩm phán có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao
động vô hiệu, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu. Trường hợp chấp nhận yêu
cầu thì Thẩm phán ra quyết định tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu, thỏa ước lao
động tập thể vô hiệu. Trong quyết định này, Tòa án phải giải quyết hậu quả pháp
lý của việc tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu, thỏa ước lao động tập thể vô
hiệu. 6. Quyết định tuyên bố hợp
đồng lao động vô hiệu, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu phải gửi đến người có
đơn hoặc văn bản yêu cầu, người sử dụng lao động, tổ chức đại diện tập thể lao
động và cơ quan quản lý nhà nước về lao động nơi doanh nghiệp đóng trụ sở chính,
cơ quan quản lý nhà nước về lao động cùng cấp trong trường hợp có liên quan đến
doanh nghiệp không có trụ sở chính tại Việt Nam. 1. Trong quá trình đình
công hoặc trong thời hạn 03 tháng, kể từ ngày chấm dứt đình công, người sử dụng
lao động, tổ chức đại diện tập thể lao động có quyền yêu cầu Tòa án xét tính hợp
pháp của cuộc đình công. 2. Người yêu cầu Tòa án xét
tính hợp pháp của cuộc đình công phải làm đơn yêu cầu gửi Tòa án. Đơn yêu cầu
phải có các nội dung chính sau đây: a) Những nội dung quy định
tại khoản 2 Điều 362 của Bộ luật này; b) Tên, địa chỉ của tổ chức
lãnh đạo cuộc đình công; c) Tên, địa chỉ của người
sử dụng lao động nơi tập thể lao động đình công. 3. Kèm theo đơn yêu cầu,
người yêu cầu phải gửi bản sao quyết định đình công, quyết định hoặc biên bản
hòa giải của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp lao động
tập thể, tài liệu, chứng cứ có liên quan đến việc xét tính hợp pháp của cuộc
đình công. Thủ tục gửi đơn, nhận đơn,
nghĩa vụ cung cấp tài liệu, chứng cứ đối với việc xét và quyết định về tính hợp
pháp của cuộc đình công tại Tòa án được thực hiện theo quy định của Bộ luật
này. 1. Tòa án nhân dân cấp tỉnh
nơi xảy ra đình công có thẩm quyền xét tính hợp pháp của cuộc đình
công. 2. Tòa án nhân dân cấp cao
có thẩm quyền giải quyết kháng cáo, kháng nghị đối với quyết định của Tòa án
nhân dân cấp tỉnh về tính hợp pháp của cuộc đình công trong phạm vi thẩm quyền
theo lãnh thổ. 1. Tòa án nhân dân cấp tỉnh
xét tính hợp pháp của cuộc đình công bằng Hội đồng gồm ba Thẩm
phán. 2. Tòa án nhân dân cấp cao
giải quyết kháng cáo, kháng nghị đối với quyết định về tính hợp pháp của cuộc
đình công bằng Hội đồng gồm ba Thẩm phán. 1. Hội đồng xét tính hợp
pháp của cuộc đình công do một Thẩm phán làm chủ tọa; Thư ký Tòa án ghi biên bản
phiên họp. 2. Kiểm sát viên Viện kiểm
sát cùng cấp. 3. Đại diện tổ chức đại
diện tập thể lao động và người sử dụng lao động. 4. Đại diện cơ quan, tổ
chức theo yêu cầu của Tòa án. 1. Phiên họp xét tính hợp
pháp của cuộc đình công được hoãn theo quy định tại Điều 233 của Bộ luật này
về hoãn phiên tòa. 2. Thời hạn hoãn phiên họp
xét tính hợp pháp của cuộc đình công không quá 03 ngày làm việc, kể từ ngày có
quyết định hoãn phiên họp. Tòa án đình chỉ việc xét
tính hợp pháp của cuộc đình công trong các trường hợp sau
đây: 1. Người yêu cầu rút đơn
yêu cầu; 2. Các bên đã thoả thuận
được với nhau về giải quyết cuộc đình công và có đơn yêu cầu Tòa án không giải
quyết; 3. Người yêu cầu đã được
triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, trừ trường hợp do sự kiện bất khả
kháng, trở ngại khách quan. 1. Ngay sau khi nhận đơn
yêu cầu, Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập Hội đồng xét
tính hợp pháp của cuộc đình công và phân công một Thẩm phán chủ trì việc giải
quyết đơn yêu cầu. 2. Trong thời hạn 05 ngày
làm việc, kể từ ngày nhận đơn yêu cầu, Thẩm phán được phân công chủ trì việc
giải quyết đơn yêu cầu phải ra quyết định mở phiên họp xét tính hợp pháp của
cuộc đình công. Quyết định mở phiên họp xét tính hợp pháp của cuộc đình công
phải được gửi ngay cho tổ chức đại diện tập thể lao động, người sử dụng lao
động, Viện kiểm sát cùng cấp và cơ quan, tổ chức liên
quan. 3. Trong thời hạn 05 ngày
làm việc, kể từ ngày ra quyết định mở phiên họp xét tính hợp pháp của cuộc đình
công, Hội đồng xét tính hợp pháp của cuộc đình công phải mở phiên họp xét tính
hợp pháp của cuộc đình công. 1. Thẩm phán chủ trì phiên
họp xét tính hợp pháp của cuộc đình công công bố quyết định mở phiên họp xét
tính hợp pháp của cuộc đình công và tóm tắt nội dung đơn yêu
cầu. 2. Đại diện tổ chức đại
diện tập thể lao động và đại diện của người sử dụng lao động trình bày ý kiến
của mình. 3. Thẩm phán chủ trì phiên
họp xét tính hợp pháp của cuộc đình công có thể yêu cầu đại diện cơ quan, tổ
chức tham gia phiên họp trình bày ý kiến. 4. Kiểm sát viên phát biểu
ý kiến của Viện kiểm sát về việc xét tính hợp pháp của cuộc đình
công. Ngay sau khi kết thúc phiên
họp, Kiểm sát viên phải gửi văn bản phát biểu ý kiến cho Tòa án để lưu vào hồ sơ
việc dân sự. 5. Hội đồng xét tính hợp
pháp của cuộc đình công thảo luận và quyết định theo đa
số. 1. Quyết định của Tòa án về
tính hợp pháp của cuộc đình công phải nêu rõ lý do và căn cứ để kết luận tính
hợp pháp của cuộc đình công. Quyết định của Tòa án về
tính hợp pháp của cuộc đình công phải được công bố công khai tại phiên họp và
gửi ngay cho tổ chức đại diện tập thể lao động và người sử dụng lao động, Viện
kiểm sát cùng cấp. Tập thể lao động, người sử dụng lao động có trách nhiệm thi
hành quyết định của Tòa án nhưng có quyền kháng cáo; Viện kiểm sát có quyền
kháng nghị quyết định đó. 2. Sau khi quyết định của
Tòa án về tính hợp pháp của cuộc đình công được công bố, nếu cuộc đình công là
bất hợp pháp thì người lao động đang tham gia đình công phải ngừng ngay đình
công và trở lại làm việc. 1. Ngay sau khi nhận đơn kháng
cáo, quyết định kháng nghị đối với quyết định về tính hợp pháp của cuộc đình
công, Tòa án nhân dân cấp cao phải có văn bản yêu cầu Tòa án đã xét tính hợp
pháp của cuộc đình công chuyển hồ sơ vụ việc để xem xét, giải quyết. 2. Trong thời hạn 03 ngày làm
việc, kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu, Tòa án đã ra quyết định về tính hợp
pháp của cuộc đình công phải chuyển hồ sơ vụ việc cho Tòa án nhân dân cấp cao để xem
xét, giải quyết. 3. Trong thời hạn 02 ngày làm
việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ
việc, Chánh
án Tòa án nhân dân cấp cao quyết định thành lập Hội đồng phúc thẩm xét tính hợp pháp của cuộc đình công và phân công một Thẩm phán chủ
trì việc nghiên cứu hồ sơ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc,
kể từ ngày Tòa án nhân dân cấp cao nhận được hồ sơ vụ việc, Hội đồng phúc thẩm phải tiến hành xét kháng
cáo, kháng nghị đối với quyết định về tính hợp
pháp của cuộc đình công. Quyết định của Hội đồng phúc thẩm xét tính hợp pháp của cuộc đình công
của Tòa án
nhân dân cấp cao là quyết định cuối cùng. 1. Chỉ định, thay đổi Trọng tài
viên. 2. Áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện
pháp khẩn cấp tạm thời. 3. Hủy phán quyết trọng tài. 4. Giải quyết khiếu nại
đối với quyết định của Hội đồng trọng tài
về thỏa thuận trọng tài vô hiệu, thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được,
thẩm quyền của Hội đồng trọng tài. 5. Thu thập chứng cứ. 6. Triệu tập người làm
chứng. 7. Đăng ký phán quyết trọng
tài. 8. Các việc dân sự khác mà pháp
luật về Trọng tài thương mại Việt Nam có quy định. Thủ tục giải quyết các việc dân
sự liên quan đến hoạt động của Trọng tài thương mại Việt
Nam được thực hiện theo quy định của pháp luật về Trọng tài thương mại Việt
Nam. Kết quả hòa giải vụ việc
ngoài Tòa án được Tòa án xem xét ra quyết định công nhận là kết quả hòa giải
thành vụ việc xảy ra giữa cơ quan, tổ chức, cá nhân do cơ quan, tổ chức, người
có thẩm quyền có nhiệm vụ hòa giải đã hòa giải thành theo quy định của pháp luật
về hòa giải. 1. Các bên tham gia thỏa
thuận hòa giải có đầy đủ năng lực hành vi dân sự. 2. Các bên tham gia thỏa
thuận hòa giải là người có quyền, nghĩa vụ đối với nội dung thỏa thuận hòa giải.
Trường hợp nội dung thỏa thuận hòa giải thành liên quan đến quyền, nghĩa vụ của
người thứ ba thì phải được người thứ ba đồng ý. 3. Một hoặc cả hai bên có
đơn yêu cầu Tòa án công nhận. 4. Nội dung thỏa thuận hòa
giải thành của các bên là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật,
không trái đạo đức xã hội, không nhằm trốn tránh nghĩa vụ với Nhà nước hoặc
người thứ ba. 1. Người yêu cầu công nhận
kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án phải gửi đơn đến Tòa án trong thời hạn 06
tháng, kể từ ngày các bên đạt được thỏa thuận hòa giải
thành. Đơn yêu cầu phải có các nội
dung chủ yếu sau đây: a) Các nội dung quy định
tại các điểm a, b, c, đ, e và g khoản 2 Điều 362 của Bộ luật
này; b) Tên, địa chỉ của cá
nhân, tổ chức đã tiến hành hòa giải; c) Nội dung, thỏa thuận hòa
giải thành yêu cầu Tòa án công nhận. 2. Kèm theo đơn yêu cầu,
người yêu cầu phải gửi văn bản về kết quả hòa giải thành theo quy định của pháp
luật có liên quan. 1. Thủ tục nhận và xử lý đơn yêu
cầu công nhận kết quả hòa giải thành
ngoài Tòa án
được thực hiện theo quy định tại các điều 363, 364 và 365 của Bộ luật
này. 2. Thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu
cầu là 15 ngày, kể từ ngày Tòa án thụ lý đơn yêu cầu; hết thời hạn này, Tòa án
phải ra quyết định mở phiên họp xét đơn yêu cầu. Thời hạn mở phiên họp xét đơn yêu
cầu là 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định mở phiên họp. 3. Trong thời hạn chuẩn bị xét
đơn yêu cầu, Thẩm phán được phân công xét đơn có quyền sau đây: a) Yêu cầu bên tham gia hòa giải,
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có ý kiến về yêu cầu của người có đơn đề
nghị Tòa án công nhận kết quả hòa giải
thành; làm
rõ nội dung yêu cầu hoặc bổ sung tài liệu, nếu xét thấy cần thiết; b) Yêu cầu cơ quan, tổ chức cá nhân có thẩm quyền tiến hành
hòa giải cung cấp cho Tòa án tài liệu làm cơ sở cho việc xét đơn yêu cầu của đương sự, nếu xét thấy cần
thiết. Cơ quan, tổ chức, cá nhân được Tòa án yêu cầu có
trách nhiệm trả lời Tòa án trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được
yêu cầu của Tòa án. 4. Những người tham gia phiên họp
xét đơn yêu cầu, thủ tục tiến hành phiên họp xét đơn yêu cầu được thực hiện theo
quy định tại Điều 367 và Điều 369 của Bộ luật này. 5. Thẩm phán ra quyết định công
nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án khi có đủ
các điều kiện quy định tại Điều 417 của Bộ luật này. Quyết định của Tòa án phải
có các nội dung quy định tại Điều 370 của Bộ luật này. 6. Thẩm phán ra quyết định không công nhận kết
quả hòa giải thành ngoài Tòa án đối với trường hợp
không có đủ các điều kiện quy định tại Điều 417 của Bộ luật này. Việc không công nhận kết quả hòa
giải thành ngoài Tòa án không ảnh hưởng đến
nội dung và giá trị pháp lý của kết quả hòa giải ngoài Tòa án. 7. Quyết định công nhận hoặc
không công nhận kết quả hòa giải thành
ngoài Tòa án
được gửi cho người tham gia thỏa thuận hòa giải, người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan và Viện kiểm sát cùng cấp. 8. Quyết định công nhận hoặc
không công nhận kết quả hòa giải thành
ngoài Tòa án
có hiệu lực thi hành ngay, không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc
thẩm. 9. Quyết định công nhận kết quả
hòa giải thành ngoài Tòa án được thi hành theo
pháp luật về thi hành án dân sự. 1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có
quyền yêu cầu Tòa án bắt giữ tàu bay tại cảng hàng không, sân bay để bảo đảm lợi
ích của chủ nợ, chủ sở hữu, người thứ ba ở mặt đất bị thiệt hại hoặc người khác
có quyền, lợi ích đối với tàu bay hoặc để thi hành án dân sự theo quy định của
pháp luật về hàng không dân dụng Việt Nam. 2. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có
quyền yêu cầu Tòa án bắt giữ tàu biển để bảo đảm giải quyết khiếu nại hàng hải,
thi hành án dân sự, thực hiện tương trợ tư pháp. 1. Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi
có cảng hàng không, sân bay mà tàu bay bị yêu cầu bắt giữ hạ cánh có thẩm quyền
quyết định bắt giữ tàu bay. 2. Tòa án nhân dân cấp tỉnh
nơi có cảng biển, cảng thủy nội địa
mà tàu biển bị yêu cầu bắt giữ đang hoạt động hàng hải có thẩm quyền quyết định
bắt giữ tàu biển. Trường hợp cảng có nhiều bến cảng thuộc địa phận các tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ương khác nhau thì Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi có
bến cảng mà tàu biển bị yêu cầu bắt giữ đang hoạt động hàng hải có thẩm quyền
quyết định bắt giữ tàu biển đó. Thủ
tục giải quyết việc dân sự liên quan đến việc bắt giữ tàu bay, tàu biển được
thực hiện theo quy định của pháp luật về bắt giữ tàu bay, tàu
biển. |
ĐƠN VỊ HỖ TRỢ
|