|
|
KẾ TOÁN - THUẾ - DOANH NGHIỆP - LAO ĐỘNG |
|
|
|
|
Phần
thứ nhất Bộ luật tố tụng dân sự quy
định những nguyên tắc cơ bản trong tố tụng dân sự; trình tự, thủ tục khởi kiện
để Tòa án nhân dân (sau đây gọi là Tòa án) giải quyết các vụ án về tranh chấp
dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (sau đây gọi
chung là vụ án dân sự) và trình tự, thủ tục yêu cầu để Tòa án giải quyết các
việc về yêu cầu dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động
(sau đây gọi chung là việc dân sự); trình tự, thủ tục giải quyết vụ án dân sự,
việc dân sự (sau đây gọi chung là vụ việc dân sự) tại Tòa án; thủ tục công nhận
và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài,
phán quyết của Trọng tài nước ngoài; thi hành án dân sự; nhiệm vụ, quyền hạn và
trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; quyền và
nghĩa vụ của người tham gia tố tụng, của cá nhân, của cơ quan nhà nước, đơn vị
vũ trang nhân dân, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã
hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội -
nghề nghiệp (sau đây gọi chung là cơ quan, tổ chức) có liên quan nhằm bảo đảm
cho việc giải quyết vụ việc dân sự được nhanh chóng, chính xác, công minh và
đúng pháp luật. Bộ luật tố tụng dân sự góp
phần bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã
hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ
quan, tổ chức, cá nhân; giáo dục mọi người nghiêm chỉnh chấp hành pháp
luật. 1. Bộ luật tố tụng dân sự
được áp dụng đối với mọi hoạt động tố tụng dân sự trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam, bao gồm đất liền, hải đảo, vùng biển và vùng
trời. 2. Bộ luật tố tụng dân sự
được áp dụng đối với mọi hoạt động tố tụng dân sự do cơ quan đại diện nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tiến hành ở nước
ngoài. 3. Bộ luật tố tụng dân sự
được áp dụng đối với việc giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài; trường
hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy
định khác thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế
đó. 4. Cơ quan, tổ chức, cá
nhân nước ngoài thuộc đối tượng được hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại giao
hoặc quyền ưu đãi, miễn trừ lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, theo điều ước quốc
tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên thì vụ việc dân sự có
liên quan đến cơ quan, tổ chức, cá nhân đó được giải quyết bằng con đường ngoại
giao. Mọi hoạt động tố tụng dân sự của
cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, của
cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan phải tuân theo các quy định của Bộ luật
này. 1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân do
Bộ luật này quy định có quyền khởi kiện vụ án dân sự, yêu cầu giải quyết việc
dân sự tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu Tòa án bảo vệ công lý, bảo vệ quyền
con người, quyền công dân, bảo vệ lợi ích
của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của
mình hoặc của người khác. 2. Tòa án không được từ chối giải
quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng. Vụ việc dân sự chưa có điều luật
để áp dụng là vụ việc dân sự thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự nhưng
tại thời điểm vụ việc dân sự đó phát sinh và cơ quan, tổ chức, cá nhân yêu cầu
Tòa án giải quyết chưa có điều luật để áp dụng. Việc giải quyết vụ việc dân
sự quy định tại khoản này được thực hiện theo các nguyên tắc do Bộ
luật dân sự và Bộ luật này quy định. 1. Đương sự có quyền quyết định
việc khởi kiện, yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự. Tòa án
chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương
sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó. 2. Trong quá trình giải quyết vụ
việc dân sự, đương sự có quyền chấm dứt, thay đổi yêu cầu của mình hoặc thoả
thuận với nhau một cách tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái
đạo đức xã hội. 1. Đương sự có quyền và nghĩa vụ
chủ động thu thập, giao nộp chứng cứ cho Tòa án và chứng minh cho yêu cầu của
mình là có căn cứ và hợp pháp. Cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi
kiện, yêu cầu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác có quyền và
nghĩa vụ thu thập, cung cấp chứng cứ, chứng minh như đương sự. 2. Tòa án có trách nhiệm hỗ trợ
đương sự trong việc thu thập chứng cứ và chỉ tiến hành thu thập, xác minh chứng
cứ trong những trường hợp do Bộ luật này quy định. Cơ quan, tổ chức, cá nhân trong
phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm cung cấp đầy đủ và đúng thời
hạn cho đương sự, Tòa án, Viện kiểm sát nhân dân (sau đây gọi là Viện kiểm sát) tài liệu, chứng cứ mà
mình đang lưu giữ, quản lý khi có yêu cầu của đương sự, Tòa án, Viện kiểm sát
theo quy định của Bộ luật này và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc
cung cấp tài liệu, chứng cứ đó; trường hợp không cung cấp được thì phải thông
báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho đương sự, Tòa án, Viện kiểm
sát. 1. Trong tố tụng dân sự mọi người
đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt dân tộc, giới tính, tín ngưỡng,
tôn giáo, thành phần xã hội, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, địa vị xã
hội. Mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân đều
bình đẳng trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng
trước Tòa án. 2. Tòa án có trách nhiệm
bảo đảm nguyên tắc bình đẳng trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong tố tụng dân sự. 1. Đương sự có quyền tự bảo vệ
hoặc nhờ luật sư hay người khác có đủ điều kiện theo quy định của Bộ luật này
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. 2. Tòa án có trách nhiệm bảo đảm
cho đương sự thực hiện quyền bảo vệ của họ. 3. Nhà nước có trách nhiệm bảo
đảm trợ giúp pháp lý cho các đối tượng theo quy định của pháp luật để họ thực
hiện quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trước Tòa án. 4. Không ai được hạn chế quyền
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong tố tụng dân sự. Tòa án có trách nhiệm tiến hành
hòa giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thoả thuận với nhau về việc
giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của Bộ luật này. 1. Việc xét xử sơ thẩm vụ án dân
sự có Hội thẩm nhân dân tham gia theo quy định của Bộ luật này, trừ trường hợp
xét xử theo thủ tục rút gọn. 2. Khi biểu quyết về quyết định
giải quyết vụ án dân sự, Hội thẩm nhân dân ngang quyền với Thẩm
phán. 1. Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân
xét xử vụ án dân sự, Thẩm phán giải quyết việc dân sự độc lập và chỉ tuân theo
pháp luật. 2. Nghiêm cấm cơ quan, tổ chức,
cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, việc giải
quyết việc dân sự của Thẩm phán dưới bất kỳ hình thức nào. 1. Cơ quan tiến hành tố tụng,
người tiến hành tố tụng phải tôn trọng Nhân dân và chịu sự giám sát của
Nhân dân. 2. Tòa án có nhiệm vụ bảo vệ công
lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo
vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá
nhân. Viện kiểm sát có nhiệm vụ bảo vệ
pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ
nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá
nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống
nhất. 3. Cơ quan tiến hành tố tụng,
người tiến hành tố tụng phải giữ bí mật nhà nước, bí mật công tác theo quy định
của pháp luật; giữ gìn thuần phong mỹ tục của dân tộc, bảo vệ người chưa thành
niên, giữ bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật cá nhân, bí mật gia
đình của đương sự theo yêu cầu chính đáng của họ. 4. Cơ quan tiến hành tố tụng,
người tiến hành tố tụng chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thực hiện nhiệm
vụ, quyền hạn của mình. Trường hợp người tiến hành tố tụng có hành vi trái pháp
luật thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu
trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. 5. Người tiến hành tố tụng trong
khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình có hành vi trái pháp luật gây thiệt
hại cho cơ quan, tổ chức, cá nhân thì cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ có hành vi trái pháp luật
đó phải bồi thường cho người bị thiệt hại theo quy định của pháp luật về trách
nhiệm bồi thường của Nhà nước. Tòa án xét xử tập thể vụ án dân
sự và quyết định theo đa số, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút
gọn. 1. Tòa án xét xử kịp thời trong
thời hạn do Bộ luật này quy định, bảo đảm công bằng. 2. Tòa án xét xử công khai.
Trường hợp đặc biệt cần giữ bí mật nhà nước, giữ gìn thuần phong mỹ tục của dân
tộc, bảo vệ người chưa thành niên hoặc giữ bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh
doanh, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của đương sự theo yêu cầu chính đáng
của họ thì Tòa án có thể xét xử
kín. 1. Chánh án Tòa án, Thẩm phán,
Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án, Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm
sát viên, Kiểm tra viên, người phiên dịch, người giám định, thành viên Hội đồng
định giá không được tiến hành hoặc tham gia tố tụng nếu có lý do xác đáng để cho
rằng họ có thể không vô tư, khách quan trong khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn
của mình. 2. Việc phân công người tiến hành tố tụng phải bảo đảm để họ vô tư, khách quan khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của
mình. 1. Chế độ xét xử sơ thẩm, phúc
thẩm được bảo đảm. Bản án, quyết định sơ thẩm của
Tòa án có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của Bộ luật
này. Bản án, quyết định sơ thẩm của
Tòa án không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn do
Bộ luật này quy định thì có hiệu lực pháp luật. Bản án, quyết định sơ thẩm của
Tòa án bị kháng cáo, kháng nghị thì vụ án phải được xét xử phúc thẩm. Bản án,
quyết định phúc thẩm có hiệu lực pháp luật. 2. Bản án, quyết định của Tòa án
đã có hiệu lực pháp luật mà phát hiện có vi phạm pháp luật hoặc có tình tiết mới
theo quy định của Bộ luật này thì được xem xét lại theo thủ tục giám
đốc thẩm hoặc tái thẩm. Tòa án nhân dân tối cao giám
đốc việc xét xử của các Tòa án; Tòa án nhân dân cấp cao giám đốc việc xét xử của
Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là Tòa
án nhân dân cấp tỉnh), Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh
và thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là Tòa án
nhân dân cấp huyện) thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ để bảo đảm việc áp
dụng pháp luật nghiêm chỉnh và thống nhất. 1. Bản án, quyết định của Tòa
án đã có hiệu lực pháp luật phải được thi hành và phải được cơ quan, tổ chức, cá
nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan phải nghiêm chỉnh chấp
hành. 2. Trong phạm vi nhiệm vụ,
quyền hạn của mình, Tòa án và cơ quan, tổ chức được giao nhiệm vụ thi hành bản
án, quyết định của Tòa án phải nghiêm chỉnh thi hành và chịu trách nhiệm trước
pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ đó. 3. Tòa án có quyền yêu cầu cơ
quan thi hành án thông báo tiến độ, kết quả thi hành bản án, quyết định của Tòa
án. Cơ quan thi hành án trực tiếp tổ chức thi hành bản án, quyết định của Tòa án
có trách nhiệm trả lời cho Tòa án. Tiếng nói và chữ viết dùng
trong tố tụng dân sự là tiếng Việt. Người tham gia tố tụng dân sự
có quyền dùng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình; trường hợp này phải có
người phiên dịch. Người tham gia tố tụng dân sự
là người khuyết tật nghe, nói hoặc khuyết tật nhìn có quyền dùng ngôn ngữ, ký
hiệu, chữ dành riêng cho người khuyết tật; trường hợp này phải có người biết
ngôn ngữ, ký hiệu, chữ dành riêng cho người khuyết tật để dịch lại. 1. Viện kiểm sát kiểm sát
việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, thực hiện các quyền yêu cầu, kiến
nghị, kháng nghị theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ
việc dân sự kịp thời, đúng pháp luật. 2. Viện kiểm sát tham gia các
phiên họp sơ thẩm đối với các việc dân sự; phiên tòa sơ thẩm đối với những vụ án
do Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ hoặc đối tượng tranh chấp là tài sản công,
lợi ích công cộng, quyền sử dụng đất, nhà ở hoặc có đương sự là người chưa thành
niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân
sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc trường hợp quy định
tại khoản 2 Điều 4 của Bộ luật này. 3. Viện kiểm sát tham gia
phiên tòa, phiên họp phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm. 4. Viện kiểm sát nhân dân tối
cao chủ trì phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành Điều
này. 1. Tòa án có trách nhiệm tống
đạt, chuyển giao, thông báo bản án, quyết định, giấy triệu tập, giấy mời và các
giấy tờ khác của Tòa án theo quy định của Bộ luật này. 2. Ủy ban nhân dân cấp xã
hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan có trách nhiệm chuyển giao bản án,
quyết định, giấy triệu tập, giấy mời và các giấy tờ khác của Tòa án khi có yêu
cầu của Tòa án và phải thông báo kết quả việc chuyển giao đó cho Tòa
án. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có
quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng dân sự theo quy định của Bộ luật này, góp
phần vào việc giải quyết vụ việc dân sự tại Tòa án kịp thời, đúng pháp
luật. 1. Tòa án có trách nhiệm bảo
đảm cho đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thực hiện
quyền tranh tụng trong xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm theo
quy định của Bộ luật này. 2. Đương sự, người bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có quyền thu thập, giao nộp tài liệu,
chứng cứ kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án dân sự và có nghĩa vụ thông
báo cho nhau các tài liệu, chứng cứ đã giao nộp; trình bày, đối đáp, phát biểu
quan điểm, lập luận về đánh giá chứng cứ và pháp luật áp dụng để bảo vệ yêu cầu,
quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc bác bỏ yêu cầu của người khác theo quy
định của Bộ luật này. 3. Trong quá trình xét xử,
mọi tài liệu, chứng cứ phải được xem xét đầy đủ, khách quan, toàn diện, công
khai, trừ trường hợp không được công khai theo quy định tại khoản 2 Điều 109
của Bộ luật này. Tòa án điều hành việc tranh tụng, hỏi những vấn đề chưa rõ
và căn cứ vào kết quả tranh tụng để ra bản án, quyết định. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có
quyền khiếu nại, cá nhân có quyền tố cáo những hành vi, quyết định trái pháp
luật của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng hoặc
của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào trong hoạt động tố tụng dân
sự. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có
thẩm quyền phải tiếp nhận, xem xét và giải quyết kịp thời, đúng pháp luật khiếu
nại, tố cáo; thông báo bằng văn bản về kết quả giải quyết cho người đã khiếu
nại, tố cáo. 1. Tranh chấp về quốc tịch
Việt Nam giữa cá nhân với cá nhân. 2. Tranh chấp về quyền sở
hữu và các quyền khác đối với tài sản. 3. Tranh chấp về giao dịch
dân sự, hợp đồng dân sự. 4. Tranh chấp về quyền sở hữu
trí tuệ, chuyển giao công nghệ, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 30 của
Bộ luật này. 5. Tranh chấp về thừa kế tài
sản. 6. Tranh chấp về bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng. 7. Tranh chấp về bồi thường
thiệt hại do áp dụng biện pháp ngăn chặn hành chính không đúng theo quy định của
pháp luật về cạnh tranh, trừ trường hợp yêu cầu bồi thường thiệt hại được giải
quyết trong vụ án hành chính. 8. Tranh chấp về khai thác,
sử dụng tài nguyên nước, xả thải vào nguồn nước theo quy định của Luật tài
nguyên nước. 9. Tranh chấp đất đai theo
quy định của pháp luật về đất đai; tranh chấp về quyền sở hữu, quyền sử dụng
rừng theo quy định của Luật bảo vệ và phát triển rừng. 10. Tranh chấp liên quan đến
hoạt động nghiệp vụ báo chí theo quy định của pháp luật về báo chí. 11. Tranh chấp liên quan đến
yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu. 12. Tranh chấp liên quan đến
tài sản bị cưỡng chế để thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án
dân sự. 13. Tranh chấp về kết quả bán
đấu giá tài sản, thanh toán phí tổn đăng ký mua tài sản bán đấu giá theo quy
định của pháp luật về thi hành án dân sự. 14. Các tranh chấp khác về
dân sự, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác
theo quy định của pháp luật. 1. Yêu cầu tuyên bố hoặc hủy
bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng
lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành
vi. 2. Yêu cầu thông báo tìm kiếm
người vắng mặt tại nơi cư trú và quản lý tài sản của người đó. 3. Yêu cầu tuyên bố hoặc hủy
bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích. 4. Yêu cầu tuyên bố hoặc hủy
bỏ quyết định tuyên bố một người là đã chết. 5. Yêu cầu công nhận và cho
thi hành tại Việt Nam hoặc không công nhận bản án, quyết định về dân sự, quyết
định về tài sản trong bản án, quyết định hình sự, hành chính của Tòa án nước
ngoài hoặc không công nhận bản án, quyết định về dân sự, quyết định về tài sản
trong bản án, quyết định hình sự, hành chính của Tòa án nước ngoài không có yêu
cầu thi hành tại Việt Nam. 6. Yêu cầu tuyên bố văn bản
công chứng vô hiệu. 7. Yêu cầu công nhận kết quả
hòa giải thành ngoài Tòa án. 8. Yêu cầu công nhận tài sản
có trên lãnh thổ Việt Nam là vô chủ, công nhận quyền sở hữu của người đang quản
lý đối với tài sản vô chủ trên lãnh thổ Việt Nam theo quy định tại điểm e khoản
2 Điều 470 của Bộ luật này. 9. Yêu cầu xác định quyền sở
hữu, quyền sử dụng tài sản, phân chia tài sản chung để thi hành án và yêu cầu
khác theo quy định của Luật thi hành án dân sự. 10. Các yêu cầu khác về dân
sự, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo
quy định của pháp luật. 1. Ly hôn, tranh chấp về nuôi
con, chia tài sản khi ly hôn; chia tài sản sau khi ly hôn. 2. Tranh chấp về chia tài sản
chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. 3. Tranh chấp về thay đổi
người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. 4. Tranh chấp về xác định
cha, mẹ cho con hoặc xác định con cho cha, mẹ. 5. Tranh chấp về cấp
dưỡng. 6. Tranh chấp về sinh con
bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, mang thai hộ vì mục đích nhân đạo. 7. Tranh chấp về nuôi con,
chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết
hôn hoặc khi hủy kết hôn trái pháp luật. 8. Các tranh chấp khác về hôn
nhân và gia đình, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ
chức khác theo quy định của pháp luật. 1. Yêu cầu hủy việc kết hôn
trái pháp luật. 2. Yêu cầu công nhận thuận
tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn. 3. Yêu cầu công nhận thỏa
thuận của cha, mẹ về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn hoặc công
nhận việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn của cơ quan, tổ chức,
cá nhân theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình. 4. Yêu cầu hạn chế quyền của
cha, mẹ đối với con chưa thành niên hoặc quyền thăm nom con sau khi ly
hôn. 5. Yêu cầu chấm dứt việc nuôi
con nuôi. 6. Yêu cầu liên quan đến việc
mang thai hộ theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình. 7. Yêu cầu công nhận thỏa
thuận chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân đã
được thực hiện theo bản án, quyết định của Tòa án. 8. Yêu cầu tuyên bố vô hiệu
thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng theo quy định của pháp luật hôn nhân
và gia đình. 9. Yêu cầu công nhận và cho
thi hành tại Việt Nam hoặc không công nhận bản án, quyết định về hôn nhân và gia
đình của Tòa án nước ngoài hoặc cơ quan khác có thẩm quyền của nước ngoài hoặc
không công nhận bản án, quyết định về hôn nhân và gia đình của Tòa án nước ngoài
hoặc cơ quan khác có thẩm quyền của nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại
Việt Nam. 10. Yêu cầu xác định cha, mẹ
cho con hoặc con cho cha, mẹ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia
đình. 11. Các yêu cầu khác về hôn
nhân và gia đình, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ
chức khác theo quy định của pháp luật. 1. Tranh chấp phát sinh trong
hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với
nhau và đều có mục đích lợi nhuận. 2. Tranh chấp về quyền sở hữu
trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích
lợi nhuận. 3. Tranh chấp giữa người chưa
phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch về chuyển nhượng phần vốn góp với
công ty, thành viên công ty. 4. Tranh chấp giữa công ty
với các thành viên của công ty; tranh chấp giữa công ty với người quản lý trong
công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc thành viên Hội đồng quản trị, giám đốc, tổng
giám đốc trong công ty cổ phần, giữa các thành viên của công ty
với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất,
chia, tách, bàn giao tài sản của công ty, chuyển đổi hình thức tổ chức của công
ty. 5. Các tranh chấp khác về
kinh doanh, thương mại, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan,
tổ chức khác theo quy định của pháp luật. 1. Yêu cầu hủy bỏ nghị quyết
của Đại hội đồng cổ đông, nghị quyết của Hội đồng thành viên theo quy định của
pháp luật về doanh nghiệp. 2. Yêu cầu liên quan đến việc
Trọng tài thương mại Việt Nam giải quyết tranh chấp theo quy định của pháp luật
về Trọng tài thương mại. 3. Yêu cầu bắt giữ tàu bay,
tàu biển theo quy định của pháp luật về hàng không dân dụng Việt Nam, về hàng
hải Việt Nam, trừ trường hợp bắt giữ tàu bay, tàu biển để bảo đảm giải quyết vụ
án. 4. Yêu cầu công nhận và cho
thi hành tại Việt Nam hoặc không công nhận bản án, quyết định kinh doanh, thương
mại của Tòa án nước ngoài hoặc không công nhận bản án, quyết định kinh doanh,
thương mại của Tòa án nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt
Nam. 5. Yêu cầu công nhận và cho
thi hành tại Việt Nam phán quyết kinh doanh, thương mại của Trọng tài nước
ngoài. 6. Các yêu cầu khác về kinh
doanh, thương mại, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ
chức khác theo quy định của pháp luật. 1. Tranh chấp lao động cá
nhân giữa người lao động với người sử dụng lao động phải thông qua thủ tục hòa
giải của hòa giải viên lao động mà hòa giải thành nhưng các bên không thực hiện
hoặc thực hiện không đúng, hòa giải không thành hoặc không hòa giải trong thời
hạn do pháp luật quy định, trừ các tranh chấp lao động sau đây không bắt buộc
phải qua thủ tục hòa giải: a) Về xử lý kỷ luật lao động
theo hình thức sa thải hoặc tranh chấp về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp
đồng lao động; b) Về bồi thường thiệt hại,
trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động; c) Giữa người giúp việc gia
đình với người sử dụng lao động; d) Về bảo hiểm xã hội theo
quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, về bảo hiểm y tế theo quy định của
pháp luật về bảo hiểm y tế, về bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật
về việc làm, về bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định của
pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động; đ) Về bồi thường thiệt hại
giữa người lao động với doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp công lập đưa người lao
động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. 2. Tranh chấp lao động tập
thể về quyền giữa tập thể lao động với người sử dụng lao động theo quy định của
pháp luật về lao động đã được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết mà
tập thể lao động hoặc người sử dụng lao động không đồng ý với quyết định đó hoặc
quá thời hạn mà Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện không giải quyết. 3. Tranh chấp liên quan đến
lao động bao gồm: a) Tranh chấp về học nghề,
tập nghề; b) Tranh chấp về cho thuê lại
lao động; c) Tranh chấp về quyền công
đoàn, kinh phí công đoàn; d) Tranh chấp về an toàn lao
động, vệ sinh lao động. 4. Tranh chấp về bồi thường
thiệt hại do đình công bất hợp pháp. 5. Các tranh chấp khác về lao
động, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo
quy định của pháp luật. 1. Yêu cầu tuyên bố hợp đồng
lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu. 2. Yêu cầu xét tính hợp pháp
của cuộc đình công. 3. Yêu cầu công nhận và cho
thi hành tại Việt Nam hoặc không công nhận bản án, quyết định lao động của Tòa
án nước ngoài hoặc không công nhận bản án, quyết định lao động của Tòa án nước
ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam. 4. Yêu cầu công nhận và cho
thi hành tại Việt Nam phán quyết lao động của Trọng tài nước ngoài. 5. Các yêu cầu khác về lao
động, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo
quy định của pháp luật. 1. Khi giải quyết vụ việc dân
sự, Tòa án có quyền hủy quyết định cá biệt trái pháp luật của cơ quan, tổ chức,
người có thẩm quyền xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ việc
dân sự mà Tòa án có nhiệm vụ giải quyết. 2. Quyết định cá biệt quy
định tại khoản 1 Điều này là quyết định đã được ban hành về một vấn đề cụ thể và
được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể. Trường hợp vụ
việc dân sự có liên quan đến quyết định này thì phải được Tòa án xem xét trong
cùng một vụ việc dân sự đó. 3. Khi xem xét hủy quyết định
quy định tại khoản 1 Điều này, Tòa án phải đưa cơ quan, tổ chức hoặc người có
thẩm quyền đã ban hành quyết định tham gia tố tụng với tư cách người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan. Cơ quan, tổ chức, người có
thẩm quyền đã ban hành quyết định phải tham gia tố tụng và trình bày ý kiến của
mình về quyết định cá biệt bị Tòa án xem xét hủy. 4. Thẩm quyền của cấp Tòa án
giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp có xem xét việc hủy quyết định cá
biệt quy định tại khoản 1 Điều này được xác định theo quy định tương ứng của
Luật tố tụng hành chính về thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện, Tòa án nhân
dân cấp tỉnh. 1. Tòa án nhân dân cấp huyện có
thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp sau đây: a) Tranh chấp về dân sự, hôn nhân
và gia đình quy định tại Điều 26 và Điều 28 của Bộ luật này, trừ tranh chấp quy
định tại khoản 7 Điều 26 của Bộ luật này; b) Tranh chấp về kinh doanh,
thương mại quy định tại khoản 1 Điều 30 của Bộ luật này; c) Tranh chấp về lao động quy
định tại Điều 32 của Bộ luật này. 2. Tòa án nhân dân cấp huyện có
thẩm quyền giải quyết những yêu cầu sau đây: a) Yêu cầu về dân sự quy định tại
các khoản 1, 2, 3, 4, 6, 7, 8, 9 và 10 Điều 27 của Bộ luật này; b) Yêu cầu về hôn nhân và gia
đình quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 10 và 11 Điều 29 của Bộ luật
này; c) Yêu cầu về kinh doanh, thương
mại quy định tại khoản 1 và khoản 6 Điều 31 của Bộ luật này; d) Yêu cầu về lao động quy định
tại khoản 1 và khoản 5 Điều 33 của Bộ luật này. 3. Những tranh chấp, yêu cầu quy
định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này mà có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài
hoặc cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, cho Tòa án, cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài
không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện, trừ trường hợp
quy định tại khoản 4 Điều này. 4. Tòa án nhân dân cấp huyện nơi
cư trú của công dân Việt Nam hủy việc kết hôn trái pháp luật, giải quyết việc ly
hôn, các tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, cha mẹ và con, về nhận
cha, mẹ, con, nuôi con nuôi và giám hộ giữa công dân Việt Nam cư trú ở khu vực
biên giới với công dân của nước láng giềng cùng cư trú ở khu vực biên giới với
Việt Nam theo quy định của Bộ luật này và các quy định khác của pháp luật
Việt Nam. 1. Tòa dân sự Tòa án nhân dân cấp
huyện có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những vụ việc về dân sự,
kinh doanh, thương mại, lao động thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện
quy định tại Điều 35 của Bộ luật này. 2. Tòa gia đình và người chưa
thành niên Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ
thẩm những vụ việc về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền của
Tòa án nhân dân cấp huyện quy định tại Điều 35 của Bộ luật này. 3. Đối với Tòa án nhân dân cấp
huyện chưa có Tòa chuyên trách thì Chánh án Tòa án có trách nhiệm tổ chức công
tác xét xử và phân công Thẩm phán giải quyết vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa án
nhân dân cấp huyện. 1. Tòa án nhân dân cấp tỉnh có
thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những vụ việc sau đây: a) Tranh chấp về dân sự, hôn nhân
và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 26, 28, 30
và 32 của Bộ luật này, trừ những tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa
án nhân dân cấp huyện quy định tại khoản 1 và khoản 4 Điều 35 của Bộ luật
này; b)
Yêu cầu về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy
định tại các điều 27, 29, 31 và 33 của Bộ luật này, trừ những yêu cầu thuộc thẩm
quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện quy định tại khoản 2 và khoản 4
Điều 35 của Bộ luật này; c) Tranh chấp, yêu cầu quy định
tại khoản 3 Điều 35 của Bộ luật này. 2. Tòa án nhân dân cấp tỉnh có
thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những vụ việc dân sự thuộc thẩm quyền
giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện quy định tại Điều 35 của Bộ luật này mà
Tòa án nhân dân cấp tỉnh tự mình lấy lên để giải quyết khi xét thấy cần thiết
hoặc theo đề nghị của Tòa án nhân dân cấp huyện. 1. Tòa dân sự Tòa án nhân dân cấp
tỉnh có thẩm quyền: a) Giải quyết theo thủ tục sơ
thẩm những tranh chấp, yêu cầu về dân sự thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân
cấp tỉnh quy định tại Điều 37 của Bộ luật này; b) Giải quyết theo thủ tục phúc
thẩm những vụ việc mà bản án, quyết định dân sự chưa có hiệu lực pháp luật của
Tòa án nhân dân cấp huyện bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của Bộ luật
này. 2. Tòa gia đình và người chưa
thành niên Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền: a) Giải quyết theo thủ tục sơ
thẩm những tranh chấp, yêu cầu về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền của Tòa
án nhân dân cấp tỉnh quy định tại Điều 37 của Bộ luật này; b) Giải quyết theo thủ tục phúc
thẩm những vụ việc mà bản án, quyết định hôn nhân và gia đình chưa có hiệu lực
pháp luật của Tòa án nhân dân cấp huyện bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định
của Bộ luật này. 3. Tòa kinh tế Tòa án nhân dân
cấp tỉnh có thẩm quyền: a) Giải quyết theo thủ tục sơ
thẩm những tranh chấp, yêu cầu về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền của
Tòa án nhân dân cấp tỉnh quy định tại Điều 37 của Bộ luật này; b) Giải quyết theo thủ tục phúc
thẩm những vụ việc mà bản án, quyết định kinh doanh, thương mại chưa có hiệu lực
pháp luật của Tòa án nhân dân cấp huyện bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định
của Bộ luật này. 4. Tòa lao động Tòa án nhân dân
cấp tỉnh có thẩm quyền: a) Giải quyết theo thủ tục sơ
thẩm những tranh chấp, yêu cầu về lao động thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân
cấp tỉnh quy định tại Điều 37 của Bộ luật này; b) Giải quyết theo thủ tục phúc
thẩm những vụ việc mà bản án, quyết định lao động chưa có hiệu lực pháp luật của
Tòa án nhân dân cấp huyện bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của Bộ luật
này. 1. Thẩm quyền giải quyết vụ án
dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau: a) Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm
việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ
chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự,
hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 26,
28, 30 và 32 của Bộ luật này; b) Các đương sự có quyền tự thoả
thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn,
nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là
cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình,
kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ
luật này; c) Đối tượng tranh chấp là bất
động sản thì chỉ Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải
quyết. 2. Thẩm quyền giải quyết việc dân
sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau: a) Tòa án nơi người bị yêu cầu
tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có
khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi cư trú, làm việc có thẩm quyền giải
quyết yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng
lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành
vi; b) Tòa án nơi người bị yêu cầu
thông báo tìm kiếm vắng mặt tại nơi cư trú, bị yêu cầu tuyên bố mất tích hoặc là
đã chết có nơi cư trú cuối cùng có thẩm quyền giải quyết yêu cầu thông báo tìm
kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và quản lý tài sản của người đó, yêu cầu
tuyên bố một người mất tích hoặc là đã chết; c) Tòa án nơi người yêu cầu hủy
bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng
lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi cư trú, làm
việc có thẩm quyền hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân
sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ
hành vi. Tòa án đã ra quyết định tuyên bố
một người mất tích hoặc là đã chết có thẩm quyền giải quyết yêu cầu hủy bỏ quyết
định tuyên bố một người mất tích hoặc là đã chết; d) Tòa án nơi người phải thi hành
bản án, quyết định dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao
động của Tòa án nước ngoài cư trú, làm việc, nếu người phải thi hành án là cá
nhân hoặc nơi người phải thi hành án có trụ sở, nếu người phải thi hành án là cơ
quan, tổ chức hoặc nơi có tài sản liên quan đến việc thi hành bản án, quyết định
của Tòa án nước ngoài có thẩm quyền giải quyết yêu cầu công nhận và cho thi hành
tại Việt Nam hoặc không công nhận bản án, quyết định dân sự, hôn nhân và gia
đình, kinh doanh, thương mại, lao động của Tòa án nước ngoài; đ) Tòa án nơi người gửi đơn cư
trú, làm việc, nếu người gửi đơn là cá nhân hoặc nơi người gửi đơn có trụ sở,
nếu người gửi đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết yêu cầu không
công nhận bản án, quyết định dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương
mại, lao động của Tòa án nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt
Nam; e) Tòa án nơi người phải thi hành
phán quyết của Trọng tài nước ngoài cư trú, làm việc, nếu người phải thi hành là
cá nhân hoặc nơi người phải thi hành có trụ sở, nếu người phải thi hành là cơ
quan, tổ chức hoặc nơi có tài sản liên quan đến việc thi hành phán quyết của
Trọng tài nước ngoài có thẩm quyền giải quyết yêu cầu công nhận và cho thi hành
tại Việt Nam phán quyết của Trọng tài nước ngoài; g) Tòa án nơi việc đăng ký kết
hôn trái pháp luật được thực hiện có thẩm quyền giải quyết yêu cầu hủy việc kết
hôn trái pháp luật; h) Tòa án nơi một trong các bên
thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn cư trú, làm việc
có thẩm quyền giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi
con, chia tài sản khi ly hôn; i) Tòa án nơi một trong các bên
thoả thuận về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn cư trú, làm việc
có thẩm quyền giải quyết yêu cầu công nhận sự thoả thuận về thay đổi người trực
tiếp nuôi con sau khi ly hôn. Trường hợp cơ quan, tổ chức, cá
nhân yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn thì Tòa án nơi
người con đang cư trú có thẩm quyền giải quyết; k) Tòa án nơi cha hoặc mẹ của con
chưa thành niên cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết yêu cầu hạn chế quyền
của cha, mẹ đối với con chưa thành niên hoặc quyền thăm nom con sau khi ly
hôn; l) Tòa án nơi cha, mẹ nuôi hoặc
con nuôi cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết yêu cầu chấm dứt việc nuôi
con nuôi; m) Tòa án nơi tổ chức hành nghề
công chứng đã thực hiện việc công chứng có trụ sở có thẩm quyền giải quyết yêu
cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu; n) Tòa án nơi cơ quan thi hành án
có thẩm quyền thi hành án có trụ sở hoặc nơi có tài sản liên quan đến việc thi
hành án có thẩm quyền giải quyết yêu cầu xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng
tài sản, phân chia tài sản chung để thi hành án và yêu cầu khác theo quy định
của Luật thi hành án dân sự; o) Thẩm quyền của Tòa án theo
lãnh thổ giải quyết yêu cầu liên quan đến việc Trọng tài thương mại Việt Nam
giải quyết tranh chấp được thực hiện theo quy định của pháp luật về Trọng tài
thương mại; p) Tòa án nơi có tài sản có thẩm
quyền giải quyết yêu cầu công nhận tài sản đó có trên lãnh thổ Việt Nam là vô
chủ, công nhận quyền sở hữu của người đang quản lý đối với tài sản vô chủ trên
lãnh thổ Việt Nam; q) Tòa án nơi người mang thai hộ
cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết yêu cầu liên quan đến việc mang thai
hộ; r) Tòa án nơi cư trú, làm việc
của một trong những người có tài sản chung có thẩm quyền giải quyết yêu cầu công
nhận thỏa thuận chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn
nhân đã được thực hiện theo bản án, quyết định của Tòa án; s) Tòa án nơi người yêu cầu cư
trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết yêu cầu công nhận kết quả hòa giải thành
ngoài Tòa án; t) Tòa án nơi cư trú, làm việc
của người yêu cầu có thẩm quyền giải quyết yêu cầu tuyên bố vô hiệu thỏa thuận
về chế độ tài sản của vợ chồng theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình;
xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha, mẹ theo quy định của pháp luật về hôn
nhân và gia đình; u) Tòa án nơi có trụ sở của
doanh nghiệp có thẩm quyền giải quyết yêu cầu hủy bỏ nghị quyết của Đại hội cổ
đông, nghị quyết của Hội đồng thành viên; v) Tòa án nơi giao kết hoặc
thực hiện hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể có thẩm quyền giải quyết
yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể đó vô
hiệu; x) Tòa án nơi xảy ra cuộc đình
công có thẩm quyền giải quyết yêu cầu xét tính hợp pháp của cuộc đình
công; y) Thẩm quyền của Tòa án theo
lãnh thổ giải quyết yêu cầu bắt giữ tàu bay, tàu biển được thực hiện theo quy
định tại Điều 421 của Bộ luật này. 3. Trường hợp vụ án dân sự đã
được Tòa án thụ lý và đang giải quyết theo đúng quy định của Bộ luật này về thẩm
quyền của Tòa án theo lãnh thổ thì phải được Tòa án đó tiếp tục giải quyết mặc
dù trong quá trình giải quyết vụ án có sự thay đổi nơi cư trú, trụ sở hoặc địa
chỉ giao dịch của đương sự. 1. Nguyên đơn có quyền lựa chọn
Tòa án giải quyết tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương
mại, lao động trong các trường hợp sau đây: a) Nếu không biết nơi cư trú, làm
việc, trụ sở của bị đơn thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi bị đơn cư trú,
làm việc, có trụ sở cuối cùng hoặc nơi bị đơn có tài sản giải quyết; b) Nếu tranh chấp phát sinh từ
hoạt động của chi nhánh tổ chức thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi tổ chức
có trụ sở hoặc nơi tổ chức có chi nhánh giải quyết; c) Nếu bị đơn không có nơi cư
trú, làm việc, trụ sở ở Việt Nam hoặc vụ án về tranh chấp việc cấp dưỡng thì
nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi mình cư trú, làm việc, có trụ sở giải
quyết; d) Nếu tranh chấp về bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi mình cư trú,
làm việc, có trụ sở hoặc nơi xảy ra việc gây thiệt hại giải quyết; đ) Nếu tranh chấp về bồi thường
thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động, bảo hiểm xã hội,
bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, quyền và lợi ích liên
quan đến việc làm, tiền lương, thu nhập và các điều kiện lao động khác đối với
người lao động thì nguyên đơn là người lao động có thể yêu cầu Tòa án nơi mình
cư trú, làm việc giải quyết; e) Nếu tranh chấp phát sinh từ
việc sử dụng lao động của người cai thầu hoặc người có vai trò trung gian thì
nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi người sử dụng lao động là chủ chính cư trú,
làm việc, có trụ sở hoặc nơi người cai thầu, người có vai trò trung gian cư trú,
làm việc giải quyết; g) Nếu tranh chấp phát sinh từ
quan hệ hợp đồng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi hợp đồng được thực
hiện giải quyết; h) Nếu các bị đơn cư trú, làm
việc, có trụ sở ở nhiều nơi khác nhau thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi
một trong các bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở giải quyết; i) Nếu tranh chấp bất động sản mà
bất động sản có ở nhiều địa phương khác nhau thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa
án nơi có một trong các bất động sản giải quyết. 2. Người yêu cầu có quyền lựa
chọn Tòa án giải quyết yêu cầu về dân sự, hôn nhân và gia đình trong các trường
hợp sau đây: a) Đối với các yêu cầu về dân sự
quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 6, 7, 8, 9 và 10 Điều 27 của Bộ luật này thì
người yêu cầu có thể yêu cầu Tòa án nơi mình cư trú, làm việc, có trụ sở hoặc
nơi có tài sản của người bị yêu cầu giải quyết; b) Đối với yêu cầu hủy việc kết
hôn trái pháp luật quy định tại khoản 1 Điều 29 của Bộ luật này thì người yêu
cầu có thể yêu cầu Tòa án nơi cư trú của một trong các bên đăng ký kết hôn trái
pháp luật giải quyết; c) Đối với yêu cầu hạn chế quyền
của cha, mẹ đối với con chưa thành niên hoặc quyền thăm nom con sau khi ly hôn
thì người yêu cầu có thể yêu cầu Tòa án nơi người con cư trú giải
quyết. 1. Vụ việc dân sự đã được thụ lý
mà không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án đã thụ lý thì Tòa án đó ra quyết
định chuyển hồ sơ vụ việc dân sự cho Tòa án có thẩm quyền và xóa tên vụ án đó
trong sổ thụ lý. Quyết định này phải được gửi ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp,
đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan. Đương sự, cơ quan, tổ chức, cá
nhân có liên quan có quyền khiếu nại, Viện kiểm sát có quyền kiến nghị quyết
định này trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định. Trong
thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được khiếu nại, kiến nghị, Chánh án
Tòa án đã ra quyết định chuyển vụ việc dân sự phải giải quyết khiếu nại, kiến
nghị. Quyết định của Chánh án Tòa án là quyết định cuối cùng. 2. Tranh chấp về thẩm quyền giữa
các Tòa án nhân dân cấp huyện trong cùng một tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương do Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh giải quyết. 3. Tranh chấp về thẩm quyền giữa
các Tòa án nhân dân cấp huyện thuộc các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
khác nhau hoặc giữa các Tòa án nhân dân cấp tỉnh thuộc thẩm quyền giải quyết
theo lãnh thổ của Tòa án nhân dân cấp cao thì do Chánh án Tòa án nhân dân cấp
cao giải quyết. 4. Tranh chấp về thẩm quyền giữa
các Tòa án nhân dân cấp huyện thuộc các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
khác nhau hoặc giữa các Tòa án nhân dân cấp tỉnh thuộc thẩm quyền giải quyết
theo lãnh thổ của các Tòa án nhân dân cấp cao khác nhau do Chánh án Tòa án nhân
dân tối cao giải quyết. 1. Tòa án nhập hai hoặc nhiều vụ
án mà Tòa án đó đã thụ lý riêng biệt thành một vụ án để giải quyết nếu việc nhập
và việc giải quyết trong cùng một vụ án bảo đảm đúng pháp luật. Đối với vụ án có nhiều người có
cùng yêu cầu khởi kiện đối với cùng một cá nhân hoặc cùng một cơ quan, tổ chức
thì Tòa án có thể nhập các yêu cầu của họ để giải quyết trong cùng một vụ
án. 2. Tòa án tách một vụ án có các
yêu cầu khác nhau thành hai hoặc nhiều vụ án nếu việc tách và việc giải quyết
các vụ án được tách bảo đảm đúng pháp luật. 3. Khi nhập hoặc tách vụ án quy
định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, Tòa án đã thụ lý vụ án phải ra quyết định
và gửi ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp, đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có
liên quan. Thẩm quyền của Tòa án thụ lý,
giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng được
thực hiện theo quy định tại các điều từ Điều 35 đến Điều 41 của Bộ luật
này. Trình tự, thủ tục thụ lý, giải
quyết vụ việc dân sự trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng được
thực hiện theo quy định của Bộ luật này. 1. Việc áp dụng tập quán được
thực hiện như sau: Tòa án áp dụng tập quán để giải
quyết vụ việc dân sự trong trường hợp các bên không có thỏa thuận và pháp luật
không quy định. Tập quán không được trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật
dân sự quy định tại Điều 3 của Bộ luật dân sự. Khi yêu cầu Tòa án giải quyết vụ
việc dân sự, đương sự có quyền viện dẫn tập quán để yêu cầu Tòa án xem xét áp
dụng. Tòa án có trách nhiệm xác định
giá trị áp dụng của tập quán bảo đảm đúng quy định tại Điều 5 của Bộ luật dân
sự. Trường hợp các đương sự viện dẫn
các tập quán khác nhau thì tập quán có giá trị áp dụng là tập quán được thừa
nhận tại nơi phát sinh vụ việc dân sự. 2. Việc áp dụng tương tự pháp
luật được thực hiện như sau: Tòa án áp dụng tương tự pháp luật
để giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp các bên không có thỏa thuận, pháp
luật không có quy định và không có tập quán được áp dụng theo quy định tại Điều
5 của Bộ luật dân sự và khoản 1 Điều này. Khi áp dụng tương tự pháp luật,
Tòa án phải xác định rõ tính chất pháp lý của vụ việc dân sự, xác định rõ ràng
trong hệ thống pháp luật hiện hành không có quy phạm pháp luật nào điều chỉnh
quan hệ đó và xác định quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ dân sự tương
tự. 3. Việc áp dụng các nguyên tắc cơ
bản của pháp luật dân sự, án lệ, lẽ công bằng được thực hiện như
sau: Tòa án áp dụng các nguyên tắc cơ
bản của pháp luật dân sự, án lệ, lẽ công bằng để giải quyết vụ việc dân sự khi
không thể áp dụng tập quán, tương tự pháp luật theo quy định tại Điều 5 và khoản
1 Điều 6 của Bộ luật dân sự, khoản 1 và khoản 2 Điều này. Các nguyên tắc cơ bản của pháp
luật dân sự là những nguyên tắc được quy định tại Điều 3 của Bộ luật dân
sự. Án lệ được Tòa án nghiên cứu, áp
dụng trong giải quyết vụ việc dân sự khi đã được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân
dân tối cao lựa chọn và được Chánh án Tòa án nhân dân tối cao công
bố. Lẽ công bằng được xác định trên
cơ sở lẽ phải được mọi người trong xã hội thừa nhận, phù hợp với nguyên tắc nhân
đạo, không thiên vị và bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của các đương sự trong vụ
việc dân sự đó. CƠ QUAN TIẾN HÀNH TỐ TỤNG, NGƯỜI TIẾN HÀNH TỐ TỤNG VÀ
VIỆC THAY ĐỔI NGƯỜI TIẾN HÀNH TỐ TỤNG 1. Các cơ quan tiến hành tố tụng dân sự
gồm có: a) Tòa án; b) Viện kiểm sát. 2. Những người tiến hành tố tụng
dân sự
gồm
có: a) Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội
thẩm nhân dân, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án; b) Viện trưởng Viện kiểm sát,
Kiểm sát viên, Kiểm tra viên. 1. Chánh án Tòa án có nhiệm vụ,
quyền hạn sau đây: a) Tổ chức công tác giải quyết vụ
việc dân sự thuộc thẩm quyền của Tòa án; bảo đảm thực hiện nguyên tắc Thẩm phán,
Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; b) Quyết định phân công Thẩm phán
thụ lý vụ việc dân sự, Thẩm phán giải quyết vụ việc
dân sự, Hội thẩm nhân dân tham gia Hội đồng xét xử vụ án dân sự; quyết định phân
công Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án tiến hành tố tụng đối với vụ việc dân sự bảo
đảm đúng nguyên tắc quy định tại khoản 2 Điều 16 của Bộ luật này; c) Quyết định thay đổi Thẩm phán,
Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án trước khi mở phiên
tòa; d) Quyết định thay đổi người giám
định, người phiên dịch trước khi mở phiên tòa; đ) Ra quyết định và tiến hành
hoạt động tố tụng dân sự theo quy định của Bộ luật này; e) Giải quyết khiếu nại, tố cáo
theo quy định của Bộ luật này; g) Kháng nghị theo thủ tục giám
đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án theo
quy định của Bộ luật này hoặc kiến nghị Chánh án Tòa án có thẩm quyền xem
xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định đã có
hiệu lực pháp luật của Tòa án; h) Kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét, sửa đổi,
bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật nếu
phát hiện có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc
hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban
thường vụ Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của cơ
quan nhà nước cấp trên theo quy định của Bộ luật này; i) Xử lý hành vi cản trở hoạt
động tố tụng dân sự theo quy định của pháp
luật; k) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn
khác theo quy định của pháp luật. 2. Khi Chánh án vắng mặt, một Phó
Chánh án được Chánh án ủy nhiệm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Chánh án, trừ
quyền kháng nghị quy định tại điểm g khoản 1 Điều này. Phó Chánh án chịu trách
nhiệm trước Chánh án về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền
hạn được ủy nhiệm. Khi được Chánh án Tòa án phân
công, Thẩm phán có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây: 1. Xử lý đơn khởi kiện, đơn yêu
cầu, thụ lý vụ việc dân sự theo quy định của Bộ luật
này; 2. Lập hồ sơ vụ việc dân
sự; 3. Tiến hành thu thập, xác minh
chứng cứ, tổ chức phiên tòa, phiên họp để giải quyết vụ việc dân sự theo quy
định của Bộ luật này; 4. Quyết định việc áp dụng, thay
đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời; 5. Quyết định tạm đình chỉ hoặc
đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự, quyết định tiếp tục đưa vụ việc dân sự
ra giải quyết; 6. Giải thích, hướng dẫn cho
đương sự biết để họ thực hiện quyền được yêu cầu trợ giúp pháp lý theo quy định
của pháp luật về trợ giúp pháp lý; 7. Tiến hành phiên họp kiểm tra
việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, ra quyết định công nhận
sự thoả thuận của các đương sự theo quy định của Bộ luật này; 8. Quyết định đưa vụ án dân sự ra
xét xử, đưa việc dân sự ra giải quyết; 9. Triệu tập người tham gia phiên
tòa, phiên họp; 10. Chủ tọa hoặc tham gia xét xử
vụ án dân sự, giải quyết việc dân sự; 11. Đề nghị Chánh án Tòa án phân
công Thẩm tra viên hỗ trợ thực hiện hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật
này; 12. Phát hiện và đề nghị Chánh án
Tòa án kiến nghị cơ quan nhà nước
có thẩm
quyền xem xét, sửa đổi, bổ sung hoặc bãi
bỏ văn bản
quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với
Hiến pháp,
luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc
hội, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên theo quy định của
Bộ luật này; 13. Xử lý hành vi cản trở hoạt
động tố tụng dân sự theo quy định của pháp
luật; 14. Tiến hành hoạt động tố tụng
khác khi giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của Bộ luật này. Khi được Chánh án Tòa án phân
công, Hội thẩm nhân dân có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây: 1. Nghiên cứu hồ sơ vụ án trước
khi mở phiên tòa; 2. Đề nghị Chánh án Tòa án, Thẩm
phán ra các quyết định cần thiết thuộc thẩm quyền; 3. Tham gia Hội đồng xét
xử vụ án dân sự; 4. Tiến hành các hoạt động tố
tụng và ngang quyền với Thẩm phán khi biểu quyết những vấn đề thuộc thẩm quyền
của Hội đồng xét xử. Khi được Chánh án Tòa án phân
công, Thẩm tra viên có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây: 1. Thẩm tra hồ sơ vụ việc dân sự
mà bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật cần xem xét lại theo
thủ
tục giám đốc
thẩm, tái thẩm; 2. Kết luận về việc thẩm tra và
báo cáo kết quả thẩm tra, đề xuất phương án giải quyết vụ việc dân sự với Chánh
án Tòa án; 3. Thu thập tài liệu, chứng cứ có
liên quan đến vụ việc dân sự theo quy định của Bộ luật này; 4. Hỗ trợ Thẩm phán thực hiện
hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật này; 5. Thực hiện nhiệm vụ khác theo
quy định của Bộ luật này. Khi được Chánh án Tòa án phân
công, Thư ký Tòa án có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây: 1. Chuẩn bị các công tác nghiệp
vụ cần thiết trước khi khai mạc phiên tòa; 2. Phổ biến nội quy phiên
tòa; 3. Kiểm tra và báo cáo với Hội
đồng xét xử danh sách những người được triệu tập đến phiên tòa; 4. Ghi biên bản phiên tòa, phiên
họp, biên bản lấy lời khai của người tham gia
tố tụng; 5. Thực hiện nhiệm vụ khác theo quy định của Bộ luật
này. Người tiến hành tố tụng phải từ
chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi trong những trường hợp sau
đây: 1. Họ đồng thời là đương sự,
người đại diện, người thân thích của đương sự; 2. Họ đã tham gia tố tụng với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của đương sự, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch trong cùng
vụ việc đó; 3. Có căn cứ rõ ràng cho rằng họ
có thể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ. Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân phải
từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi trong những trường hợp sau
đây: 1. Thuộc một trong những trường
hợp quy định tại Điều 52 của Bộ luật này; 2. Họ cùng trong một Hội đồng xét
xử và là người thân thích với nhau; trong trường hợp này, chỉ có một người được
tiến hành tố tụng; 3. Họ đã tham gia giải quyết theo
thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm vụ việc dân sự đó và đã
ra bản án sơ thẩm, bản án, quyết định phúc thẩm, quyết định giám đốc thẩm hoặc
tái thẩm, quyết định giải quyết việc dân sự, quyết định đình chỉ giải quyết vụ
việc, quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, trừ trường hợp là
thành viên của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Ủy ban Thẩm phán Tòa
án nhân dân cấp cao thì vẫn được tham gia giải quyết vụ việc đó theo thủ tục
giám đốc thẩm, tái thẩm; 4. Họ đã là người tiến hành tố
tụng trong vụ việc đó với tư cách là Thẩm tra viên,
Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên. Thư ký Tòa án, Thẩm tra viên phải
từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi trong những trường hợp sau
đây: 1. Thuộc một trong những trường
hợp quy định tại Điều 52 của Bộ luật này; 2. Họ đã là người tiến hành tố
tụng trong vụ việc đó với tư cách là Thẩm phán, Hội
thẩm nhân dân, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên, Kiểm tra
viên; 3. Là người thân thích với một
trong những người tiến hành tố tụng khác trong vụ việc đó. 1. Việc từ chối tiến hành tố tụng
hoặc đề nghị thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án
trước khi mở phiên tòa, phiên họp
phải được
lập thành văn bản, trong đó nêu rõ lý do và căn cứ của việc từ chối tiến hành tố
tụng hoặc đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng. 2. Việc từ chối tiến hành tố tụng
hoặc đề nghị thay đổi những người quy định tại khoản 1 Điều này tại phiên
tòa, phiên họp phải được ghi vào biên bản phiên
tòa, phiên họp. 1. Trước khi mở phiên tòa, việc
thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa
án do Chánh án Tòa án quyết định. Trường hợp Thẩm phán bị thay đổi là Chánh án
Tòa án thì thẩm quyền quyết định việc thay đổi như sau: a) Thẩm phán là Chánh án Tòa án
nhân dân cấp huyện thì do Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh quyết
định; b) Thẩm phán là Chánh án Tòa án
nhân dân cấp tỉnh thì do Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao có thẩm quyền theo
lãnh thổ đối với Tòa án nhân dân cấp tỉnh đó quyết định; c) Thẩm phán là Chánh án Tòa án
nhân dân cấp cao thì do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết định. 2. Tại phiên tòa, việc thay đổi
Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án do Hội đồng xét xử
quyết định sau khi nghe ý kiến của người bị yêu cầu thay đổi. Hội đồng xét xử
thảo luận tại phòng nghị án và quyết định theo đa số. Trường hợp phải thay đổi
Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án thì Hội đồng xét xử
ra quyết định hoãn phiên tòa. Chánh án Tòa án quyết định cử Thẩm phán, Hội thẩm
nhân dân, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án thay thế người bị thay đổi. Nếu người bị
thay đổi là Chánh án Tòa án thì thẩm quyền quyết định được thực hiện theo quy
định tại khoản 1 Điều này. 3. Việc thay đổi Thẩm phán,
Thư ký Tòa án khi giải quyết việc dân sự được thực hiện theo quy định tại khoản
1 và khoản 2 Điều 368 của Bộ luật này. 4. Trong thời hạn 03 ngày làm
việc, kể từ ngày hoãn phiên tòa, phiên họp,
Chánh án Tòa
án phải cử người khác thay thế. 1. Khi kiểm sát việc tuân theo
pháp luật trong tố tụng dân sự, Viện trưởng Viện kiểm sát có nhiệm vụ, quyền hạn
sau đây: a) Tổ chức và chỉ đạo thực hiện
công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự; b) Quyết định phân công Kiểm sát
viên thực hiện kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, tham gia
phiên tòa xét xử vụ án dân sự, phiên họp giải quyết việc dân sự theo quy định
của Bộ luật này và thông báo cho Tòa án; quyết định phân công Kiểm tra viên tiến
hành tố tụng đối với vụ việc dân sự bảo đảm đúng nguyên tắc quy định tại khoản
2 Điều 16 của Bộ luật
này; c) Quyết định thay đổi Kiểm sát
viên, Kiểm tra viên; d) Kháng nghị theo thủ tục phúc
thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định của Tòa án theo quy định của Bộ
luật này; đ) Yêu cầu, kiến nghị theo quy
định của Bộ luật này; e) Giải quyết khiếu nại, tố cáo
theo quy định của Bộ luật này; g) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn
khác theo quy định của pháp luật. 2. Khi Viện trưởng vắng mặt, một
Phó Viện trưởng được Viện trưởng ủy nhiệm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Viện
trưởng, trừ quyền quyết định kháng nghị quy định tại điểm d khoản 1 Điều này.
Phó Viện trưởng chịu trách nhiệm trước Viện trưởng về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được ủy nhiệm. Khi được Viện trưởng Viện kiểm sát phân công thực hiện kiểm sát việc
tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, Kiểm sát viên có nhiệm vụ, quyền hạn
sau đây: 1. Kiểm sát việc trả lại đơn khởi
kiện, đơn yêu cầu; 2. Kiểm sát việc thụ lý, giải
quyết vụ việc dân sự; 3. Nghiên cứu hồ sơ vụ việc; yêu
cầu Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự
theo quy định của Bộ luật này; thu thập tài liệu, chứng cứ theo quy định tại
khoản 6 Điều 97 của Bộ luật này; 4. Tham gia phiên tòa, phiên họp
và phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ việc theo quy định
của Bộ luật này; 5. Kiểm sát bản án, quyết định
của Tòa án; 6. Kiến nghị, yêu cầu Tòa án thực
hiện đúng các hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật này; 7. Đề nghị Viện trưởng Viện kiểm
sát có thẩm quyền kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án có vi phạm pháp
luật; 8. Kiểm sát hoạt động tố tụng của
người tham gia tố tụng; yêu cầu, kiến nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xử lý
nghiêm minh người tham gia tố tụng vi phạm pháp luật; 9. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn
tố tụng dân sự khác thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát theo quy định của Bộ luật
này. Khi được phân công tiến hành hoạt động tố tụng, Kiểm tra viên có nhiệm vụ,
quyền hạn sau đây: 1. Nghiên cứu hồ sơ vụ việc, báo
cáo kết quả với Kiểm sát viên; 2. Lập hồ sơ kiểm sát vụ việc dân
sự theo phân công của Kiểm sát viên hoặc Viện trưởng Viện kiểm sát; 3. Giúp Kiểm sát viên kiểm sát
việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự. Kiểm sát viên, Kiểm tra viên phải
từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi trong những trường hợp sau
đây: 1. Thuộc một trong những trường
hợp quy định tại Điều 52 của Bộ luật này; 2. Họ đã là người tiến hành tố
tụng trong vụ việc đó với tư cách là Thẩm phán, Hội
thẩm nhân dân, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên, Kiểm tra
viên. 1. Trước khi mở phiên tòa, việc từ chối tiến hành tố tụng
hoặc đề nghị thay đổi Kiểm sát viên phải được lập thành văn bản, trong đó nêu rõ
lý do và căn cứ của việc từ chối hoặc đề nghị thay đổi Kiểm sát
viên. Việc từ chối tiến hành tố tụng
hoặc đề nghị thay đổi Kiểm tra viên phải được lập thành văn bản, trong đó nêu rõ
lý do và căn cứ của việc từ chối hoặc đề nghị thay đổi Kiểm tra viên. 2. Tại phiên tòa, việc từ chối tiến hành tố tụng
hoặc đề nghị thay đổi Kiểm sát viên phải được ghi vào biên bản phiên
tòa. 1. Trước khi mở phiên tòa, việc thay đổi Kiểm sát viên do
Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp quyết định; nếu Kiểm sát viên bị thay đổi là
Viện trưởng Viện kiểm sát thì do Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp
quyết định. Việc thay đổi Kiểm tra viên do
Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp quyết định. 2. Tại phiên tòa, việc thay đổi
Kiểm sát viên do Hội đồng xét xử quyết định sau khi nghe ý kiến của người bị yêu
cầu thay đổi. Hội đồng xét xử thảo luận tại phòng nghị án và quyết định theo đa
số. Trường hợp phải thay đổi Kiểm sát
viên thì Hội đồng xét xử ra quyết định hoãn phiên tòa. Việc cử Kiểm sát viên
thay thế Kiểm sát viên bị thay đổi do Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp quyết
định. Nếu Kiểm sát viên bị thay đổi là Viện trưởng Viện kiểm sát thì do Viện
trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp quyết định. 3. Việc thay đổi Kiểm sát
viên khi giải quyết việc dân sự được thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều
368 của Bộ luật này. 4. Trong thời hạn 03 ngày làm
việc, kể từ ngày hoãn phiên tòa, phiên họp,
Viện trưởng
Viện kiểm sát phải cử người khác thay thế và thông báo bằng văn bản cho Tòa
án. Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án dân
sự gồm một Thẩm phán và hai Hội thẩm nhân dân, trừ trường hợp quy định tại Điều
65 của Bộ luật này. Trong trường hợp đặc biệt thì Hội đồng xét xử sơ thẩm có thể
gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm nhân dân. Đối với vụ án có đương sự là
người chưa thành niên thì phải có Hội thẩm nhân dân là người đã hoặc đang công
tác tại Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, cơ
quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ
em. Đối với vụ án lao động thì phải
có Hội thẩm nhân dân là người đã hoặc
đang công
tác trong tổ chức đại diện tập thể lao động hoặc người có kiến thức về pháp luật
lao động. Hội đồng xét xử phúc thẩm vụ án
dân sự gồm ba Thẩm phán, trừ trường hợp quy định tại Điều 65 của Bộ luật
này. Việc xét xử sơ thẩm, phúc thẩm vụ
án dân sự theo thủ tục rút gọn do một Thẩm phán tiến hành. 1. Ủy ban thẩm phán Tòa án nhân
dân cấp cao xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm bằng Hội đồng xét xử gồm ba Thẩm phán
hoặc toàn thể Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao. 2. Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân
dân tối cao xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm bằng Hội đồng xét xử gồm năm Thẩm
phán hoặc toàn thể Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. 1. Yêu cầu về dân sự, hôn nhân và
gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại khoản 5 Điều 27, khoản 9
Điều 29, khoản 4 và khoản 5 Điều 31, khoản 2, 3 và 4 Điều 33 của Bộ luật này
hoặc việc xét kháng cáo, kháng nghị đối với quyết định giải quyết việc dân sự do
tập thể gồm ba Thẩm phán giải quyết. 2. Yêu cầu về dân sự, hôn nhân và
gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động không thuộc trường hợp quy định tại
khoản 1 Điều này do một Thẩm phán giải quyết. 3. Thành phần giải quyết yêu cầu
về kinh doanh, thương mại quy định tại khoản 2 Điều 31 của Bộ luật này được thực
hiện theo quy định của pháp luật về Trọng tài thương mại. 1. Đương sự trong vụ án dân sự là
cơ quan, tổ chức, cá nhân bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan. Đương sự trong việc dân sự là cơ
quan, tổ chức, cá nhân bao gồm người yêu cầu giải quyết việc dân sự và người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. 2. Nguyên đơn trong vụ án dân sự
là người khởi kiện, người được cơ quan, tổ chức, cá nhân khác do Bộ luật này quy
định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và
lợi ích hợp pháp của người đó bị xâm phạm. Cơ quan, tổ chức do Bộ luật này
quy định khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi
ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách cũng là nguyên đơn. 3. Bị đơn trong vụ án dân sự là
người bị nguyên đơn khởi kiện hoặc bị cơ quan, tổ chức, cá nhân khác do Bộ luật
này quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng
quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bị người đó xâm phạm. 4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan trong vụ án dân sự là người tuy không khởi kiện, không bị kiện, nhưng
việc giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ
được tự mình đề nghị hoặc các đương sự khác đề nghị và được Tòa án chấp nhận đưa
họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan. Trường hợp việc giải quyết vụ án
dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của một người nào đó mà không có ai
đề nghị đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan thì Tòa án phải đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. 5. Người yêu cầu giải quyết việc
dân sự là người yêu cầu Tòa án công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp
lý làm căn cứ phát sinh quyền, nghĩa vụ về
dân sự, hôn
nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của mình hoặc của cơ quan, tổ
chức, cá nhân khác; yêu cầu Tòa án công nhận cho mình quyền về dân sự, hôn nhân
và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động. 6. Người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan trong việc dân sự là người tuy không yêu cầu giải quyết việc dân sự
nhưng việc giải quyết việc dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ
nên họ được tự mình đề nghị hoặc đương sự trong việc dân sự đề nghị và được Tòa
án chấp nhận đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan. Trường hợp giải quyết việc dân sự
có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của một người nào đó mà không có ai đề nghị
đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan thì Tòa án phải đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan trong việc dân sự. 1. Năng lực pháp luật tố tụng dân
sự là khả năng có các quyền, nghĩa vụ trong tố tụng dân sự do pháp luật quy
định. Mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân có năng lực pháp luật tố tụng dân sự như
nhau trong việc yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
mình. 2. Năng lực hành vi tố tụng dân
sự là khả năng tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự hoặc ủy quyền
cho người đại diện tham gia tố tụng dân sự. 3. Đương sự là người từ đủ mười
tám tuổi trở lên có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự, trừ người mất năng
lực hành vi dân sự hoặc pháp luật có quy định khác. Đối với người bị hạn chế năng lực
hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì năng lực
hành vi tố tụng dân sự của họ được xác định theo quyết định của Tòa
án. 4. Đương sự là người chưa đủ sáu
tuổi hoặc người mất năng lực hành vi dân sự thì không có năng lực hành vi tố
tụng dân sự. Việc thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự của đương sự, việc
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho những người này tại Tòa án do người đại
diện hợp pháp của họ thực hiện. 5. Đương sự là người từ đủ sáu
tuổi đến chưa đủ mười lăm tuổi thì việc thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự
của đương sự, việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho những người này tại Tòa
án do người đại diện hợp pháp của họ thực hiện. Đối với người bị hạn chế năng lực
hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì việc thực
hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự của họ, việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp cho họ được xác định theo quyết định của Tòa án. 6. Đương sự là người từ đủ mười
lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi đã tham gia lao động theo hợp đồng lao động
hoặc giao dịch dân sự bằng tài sản riêng của mình được tự mình tham gia tố tụng
về những việc có liên quan đến quan hệ lao động hoặc quan hệ dân sự đó. Trong
trường hợp này, Tòa án có quyền triệu tập người đại diện hợp pháp của họ tham
gia tố tụng. Đối với những việc khác, việc thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân
sự của đương sự tại Tòa án do người đại diện hợp pháp của họ thực
hiện. 7. Đương sự là cơ quan, tổ chức
do người đại diện hợp pháp tham gia Đương sự có quyền, nghĩa vụ ngang
nhau khi tham gia tố tụng. Khi tham gia tố tụng, đương sự có quyền, nghĩa vụ sau
đây: 1. Tôn trọng Tòa án, chấp hành
nghiêm chỉnh nội quy phiên tòa; 2. Nộp tiền tạm ứng án phí, tạm
ứng lệ phí, án phí, lệ phí và chi phí tố tụng khác theo quy định của pháp
luật; 3. Cung cấp đầy đủ, chính xác địa
chỉ nơi cư trú, trụ sở của mình; trong quá trình Tòa án giải quyết vụ
việc nếu có thay đổi địa chỉ nơi cư
trú, trụ sở thì phải thông báo kịp thời cho đương sự khác và Tòa án; 4. Giữ nguyên, thay đổi, bổ sung
hoặc rút yêu cầu theo quy định của Bộ luật này; 5. Cung cấp tài liệu, chứng cứ;
chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; 6. Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá
nhân đang lưu giữ, quản lý tài liệu, chứng cứ cung cấp tài liệu, chứng cứ đó cho
mình; 7. Đề nghị Tòa án xác minh, thu
thập tài liệu, chứng cứ của vụ việc
mà tự mình
không thể thực hiện được; đề nghị Tòa án yêu cầu đương sự khác xuất trình tài
liệu, chứng cứ mà họ đang giữ; đề nghị Tòa án ra quyết định yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang
lưu giữ, quản lý tài liệu, chứng cứ cung cấp tài liệu, chứng cứ đó; đề nghị Tòa
án triệu tập người làm chứng, trưng cầu giám định, quyết định việc định giá tài sản; 8. Được biết, ghi chép, sao chụp tài liệu,
chứng cứ do đương sự khác xuất trình hoặc do Tòa án thu thập, trừ tài liệu, chứng cứ quy định tại khoản 2
Điều 109 của Bộ luật này; 9. Có nghĩa vụ gửi
cho đương sự khác hoặc người đại diện hợp pháp của họ bản sao đơn khởi kiện và
tài liệu, chứng cứ, trừ tài liệu,
chứng cứ
mà đương sự khác đã có, tài liệu, chứng cứ
quy định tại
khoản 2 Điều 109 của Bộ luật này. Trường hợp vì lý do chính đáng
không thể sao chụp, gửi đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ thì họ có quyền yêu
cầu Tòa án hỗ trợ; 10. Đề nghị Tòa án quyết định áp
dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời; 11. Tự thoả thuận với nhau về
việc giải quyết vụ án; tham gia hòa giải do Tòa án tiến hành; 12. Nhận thông báo hợp lệ để thực
hiện quyền, nghĩa vụ của mình; 13. Tự bảo vệ hoặc nhờ người khác
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình; 14. Yêu cầu thay đổi người tiến
hành tố tụng, người tham gia tố tụng theo quy định của Bộ luật này; 15. Tham gia phiên tòa, phiên họp
theo quy định của Bộ luật này; 16. Phải có mặt theo giấy triệu
tập của Tòa án và chấp hành quyết định của Tòa án trong quá trình Tòa án giải
quyết vụ việc; 17. Đề nghị Tòa án đưa người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng; 18. Đề nghị Tòa án tạm đình chỉ
giải quyết vụ việc theo quy định của Bộ luật này; 19. Đưa ra câu hỏi với người khác
về vấn đề liên quan đến vụ án hoặc đề xuất với Tòa án những vấn đề cần hỏi người
khác; được đối chất với nhau hoặc với người làm chứng; 20. Tranh luận tại phiên tòa, đưa
ra lập luận về đánh giá chứng cứ và pháp luật áp dụng; 21. Được cấp trích lục bản án,
bản án, quyết định của Tòa
án; 22. Kháng cáo, khiếu nại bản án,
quyết định của Tòa án theo quy định của Bộ luật này; 23. Đề nghị người có thẩm quyền
kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định của Tòa án đã
có hiệu lực pháp luật; 24. Chấp hành nghiêm chỉnh bản
án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật; 25. Sử dụng quyền của đương sự
một cách thiện chí, không được lạm dụng để gây cản trở hoạt động tố tụng của Tòa
án, đương sự khác; trường hợp không thực hiện nghĩa vụ thì phải chịu hậu quả do
Bộ luật này quy định; 26. Quyền, nghĩa vụ khác mà pháp
luật có quy định. 1. Các quyền, nghĩa vụ của đương
sự quy định tại Điều 70 của Bộ luật này. 2. Thay đổi nội dung yêu cầu khởi
kiện; rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện. 3. Chấp nhận hoặc bác bỏ một phần
hoặc toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
có yêu cầu độc lập. 1. Các quyền, nghĩa vụ của đương
sự quy định tại Điều 70 của Bộ luật này. 2. Được Tòa án thông báo về việc
bị khởi kiện. 3. Chấp nhận hoặc bác bỏ một phần
hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có
yêu cầu độc lập. 4. Đưa ra yêu cầu phản tố đối với
nguyên đơn, nếu có liên quan đến yêu cầu của nguyên đơn hoặc đề nghị đối trừ với
nghĩa vụ của nguyên đơn. Đối với yêu cầu phản tố thì bị đơn có quyền, nghĩa vụ
của nguyên đơn quy định tại Điều 71 của Bộ luật này. 5. Đưa ra yêu cầu độc lập đối với
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và yêu cầu độc lập này có liên quan đến
việc giải quyết vụ án. Đối với yêu cầu độc lập thì bị đơn có quyền, nghĩa vụ của
nguyên đơn quy định tại Điều 71 của Bộ luật này. 6. Trường hợp yêu cầu phản tố
hoặc yêu cầu độc lập không được Tòa án chấp nhận để giải quyết trong cùng vụ án
thì bị đơn có quyền khởi kiện vụ án khác. 1. Người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan có quyền, nghĩa vụ sau đây: a) Các quyền, nghĩa vụ quy định
tại Điều 70 của Bộ luật này; b) Có thể có yêu cầu độc lập hoặc
tham gia tố tụng với bên nguyên đơn hoặc với bên bị đơn. 2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan có yêu cầu độc lập và yêu cầu độc lập này có liên quan đến việc giải
quyết vụ án thì có quyền, nghĩa vụ của nguyên đơn quy định tại Điều 71 của Bộ
luật này. Trường hợp yêu cầu độc lập không được Tòa án chấp nhận để giải quyết
trong cùng vụ án thì người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền khởi kiện vụ án khác. 3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan nếu tham gia tố tụng với bên nguyên đơn hoặc chỉ có quyền lợi thì có
quyền, nghĩa vụ của nguyên đơn quy định tại Điều 71 của Bộ luật này. 4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan nếu tham gia tố tụng với bên bị đơn hoặc chỉ có nghĩa vụ thì có quyền,
nghĩa vụ của bị đơn quy định tại Điều 72 của Bộ luật này. 1. Trường hợp đương sự là cá nhân
đang tham gia tố tụng chết mà quyền, nghĩa vụ về tài sản của họ được thừa kế thì
người thừa kế tham gia tố tụng. 2. Trường hợp đương sự là cơ
quan, tổ chức đang tham gia tố tụng phải chấm dứt hoạt động, bị giải thể, hợp
nhất, sáp nhập, chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức thì việc kế thừa quyền,
nghĩa vụ tố tụng dân sự của cơ quan, tổ chức đó được xác định như
sau: a) Trường hợp tổ chức phải chấm
dứt hoạt động, bị giải thể là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công
ty hợp danh thì cá nhân, tổ chức là thành viên của tổ chức đó hoặc đại diện của
họ tham gia tố tụng; b) Trường hợp cơ quan, tổ chức
phải chấm dứt hoạt động, bị giải thể là cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân
dân, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội -
nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, doanh nghiệp nhà nước
thì đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp của cơ quan, tổ
chức đó hoặc đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức tiếp nhận các quyền, nghĩa
vụ của cơ quan, tổ chức đó tham gia tố tụng; c) Trường hợp tổ chức hợp nhất,
sáp nhập, chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức thì cá nhân, tổ chức tiếp
nhận quyền, nghĩa vụ của tổ chức đó tham gia tố tụng. 3. Trường hợp thay đổi chủ sở hữu
của tổ chức và có việc chuyển giao quyền, nghĩa vụ cho chủ sở hữu mới thì chủ sở
hữu mới kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng. 4. Trường hợp tổ chức được chuyển
giao quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật về dân sự thì tổ chức đó kế
thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng. 5. Trường hợp tổ chức không
có tư cách pháp nhân tham gia quan hệ dân sự mà người đại diện đang tham gia
tố tụng chết thì tổ chức đó phải cử người khác làm đại diện để tham gia tố tụng;
nếu không cử được người đại diện hoặc
tổ chức đó
phải chấm dứt hoạt động, bị giải thể thì các cá nhân là thành viên của tổ chức
đó tham gia tố tụng. 1. Người bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của đương sự là người tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của đương sự. 2. Những người sau đây được làm
người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự khi có yêu cầu của đương sự
và được Tòa án làm thủ tục đăng ký
người bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự: a) Luật sư tham gia tố tụng theo
quy định của pháp luật về luật sư; b) Trợ giúp viên pháp lý hoặc
người tham gia trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật về trợ giúp pháp
lý; c) Đại diện của tổ chức đại diện
tập thể lao động là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động
trong vụ việc lao động theo quy định của pháp luật về lao động, công
đoàn; d) Công dân Việt Nam có năng lực
hành vi dân sự đầy đủ, không có án tích hoặc đã được xóa án tích,
không thuộc trường hợp đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính; không
phải là cán bộ, công chức trong các cơ quan Tòa án, Viện kiểm sát và công chức, sĩ quan, hạ
sĩ quan trong ngành Công an. 3. Người bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của đương sự có thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhiều đương sự
trong cùng một vụ án, nếu quyền và lợi ích hợp pháp của những người đó không đối
lập nhau. Nhiều người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có thể cùng
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của một đương sự trong vụ án. 4. Khi đề nghị Tòa án làm thủ tục
đăng ký người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người đề nghị phải
xuất trình các giấy tờ sau đây: a) Luật sư xuất trình các giấy tờ
theo quy định của Luật luật sư; b) Trợ giúp viên pháp lý hoặc
người tham gia trợ giúp pháp lý xuất trình văn bản cử người thực hiện trợ giúp
pháp lý của tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý và thẻ trợ giúp viên pháp lý hoặc
thẻ luật sư; c) Đại diện của tổ chức đại diện
tập thể lao động xuất trình văn bản của tổ chức đó cử mình tham gia bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp cho người lao động, tập thể người lao động; d) Công dân Việt Nam có đủ điều
kiện quy định tại điểm d khoản 2 Điều này xuất trình giấy yêu cầu của đương sự
và giấy tờ tùy thân. 5. Sau khi kiểm tra giấy tờ và thấy người đề nghị có đủ
điều kiện làm người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự quy định tại
các khoản 2, 3 và 4 Điều này thì trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày
nhận được đề nghị, Tòa án phải vào sổ đăng ký người bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của đương sự và xác nhận vào giấy yêu cầu người bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của đương sự. Trường hợp từ chối đăng ký thì
Tòa án phải thông báo bằng văn bản và
nêu rõ lý do
cho người đề nghị. 1. Tham gia tố tụng từ khi khởi
kiện hoặc bất cứ giai đoạn nào trong quá trình tố tụng dân sự. 2. Thu thập và cung cấp tài liệu,
chứng cứ cho Tòa án; nghiên cứu hồ sơ vụ án và được ghi chép, sao chụp những tài
liệu cần thiết có trong hồ sơ vụ án để thực hiện việc bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của đương sự, trừ tài liệu, chứng
cứ quy định
tại khoản 2 Điều 109 của Bộ luật này. 3. Tham gia việc hòa giải, phiên
họp, phiên tòa hoặc trường hợp không tham gia thì được gửi văn bản bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của đương sự cho Tòa án xem xét. 4. Thay mặt đương sự yêu cầu thay
đổi người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng khác theo quy định của Bộ
luật này. 5. Giúp đương sự về mặt pháp lý
liên quan đến việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ; trường hợp được
đương sự ủy quyền thì thay mặt đương sự nhận giấy tờ,
văn bản tố tụng mà Tòa án tống đạt hoặc thông báo và có trách nhiệm chuyển cho
đương sự. 6. Các quyền, nghĩa vụ quy định
tại các khoản 1, 6, 16, 17, 18, 19 và 20 Điều 70 của Bộ luật này. 7. Quyền, nghĩa vụ khác mà pháp
luật có quy định. Người biết các tình tiết có liên
quan đến nội dung vụ việc được đương sự đề nghị,
Tòa án triệu tập tham gia tố tụng với tư cách là người làm chứng. Người mất năng
lực hành vi dân sự không thể là người làm chứng. 1. Cung cấp toàn bộ thông tin,
tài liệu, đồ vật mà mình có được có liên quan đến việc giải quyết vụ
việc. 2. Khai báo trung thực những tình
tiết mà mình biết được có liên quan đến việc giải quyết vụ việc. 3. Được từ chối khai báo nếu lời
khai của mình liên quan đến bí mật nhà nước, bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh
doanh, bí mật cá nhân, bí mật gia đình hoặc việc khai báo đó có ảnh hưởng xấu,
bất lợi cho đương sự là người có quan hệ thân thích với mình. 4. Được nghỉ việc trong thời gian
Tòa án triệu tập hoặc lấy lời khai, nếu làm việc trong cơ quan, tổ
chức. 5. Được thanh toán các khoản chi phí có liên quan theo quy định của pháp
luật. 6. Yêu cầu Tòa án đã triệu tập,
cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm,
tài sản và các quyền và lợi ích hợp pháp khác của mình khi tham gia tố tụng;
khiếu nại hành vi tố tụng của người tiến hành tố tụng. 7. Bồi thường thiệt hại và chịu
trách nhiệm trước pháp luật do khai báo sai sự thật gây thiệt hại cho đương sự
hoặc cho người khác. 8. Phải có mặt tại Tòa án,
phiên tòa, phiên họp theo giấy triệu tập của Tòa án nếu việc lấy lời
khai của người làm chứng phải thực hiện công khai tại Tòa án,
phiên tòa, phiên họp; trường hợp người làm chứng không đến phiên tòa,
phiên họp mà không có lý do chính đáng và việc vắng mặt của họ cản trở việc xét
xử, giải quyết thì Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Hội đồng giải quyết việc dân sự
có thể ra quyết định dẫn giải người làm chứng đến phiên tòa, phiên họp, trừ
trường hợp người làm chứng là người chưa thành niên. 9. Phải cam đoan trước Tòa án về
việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình, trừ trường hợp người làm chứng là người
chưa thành niên. Người giám định là người có kiến
thức, kinh nghiệm cần thiết theo quy định của pháp luật về lĩnh vực có đối tượng
cần giám định mà Tòa án trưng cầu giám định hoặc được đương sự yêu cầu giám định
theo quy định tại Điều 102 của Bộ luật này. 1. Người giám định có quyền,
nghĩa vụ sau đây: a) Được đọc tài liệu có trong hồ
sơ vụ án liên quan đến đối tượng giám định; yêu cầu Tòa án cung cấp tài liệu cần
thiết cho việc giám định; b) Đặt câu hỏi đối với người tham
gia tố tụng về những vấn đề có liên quan đến đối tượng giám định; c) Phải có mặt theo giấy triệu
tập của Tòa án; trình bày, giải thích, trả lời những vấn đề liên quan đến việc
giám định và kết luận giám định một cách trung thực, có căn cứ, khách
quan; d) Phải thông báo bằng văn bản
cho Tòa án về việc không thể giám định được do việc cần giám định vượt quá khả
năng chuyên môn, tài liệu cung cấp phục vụ cho việc giám định không đủ hoặc
không sử dụng được; đ) Phải bảo quản tài liệu đã nhận
và gửi trả lại Tòa án cùng với kết luận giám định hoặc cùng với thông báo về
việc không thể giám định được; e) Không được tự mình thu thập
tài liệu để tiến hành giám định, tiếp xúc với người tham gia tố tụng khác nếu
việc tiếp xúc đó làm ảnh hưởng đến kết quả giám định; không được tiết lộ bí mật
thông tin mà mình biết khi tiến hành giám định hoặc thông báo kết quả giám định
cho người khác, trừ Thẩm phán quyết định trưng cầu giám định; g) Được thanh toán các chi phí có liên quan theo quy định của pháp
luật; h) Phải cam đoan trước Tòa án về
việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình. 2. Người giám định phải từ chối
giám định hoặc bị thay đổi trong những trường hợp sau đây: a) Thuộc một trong những trường
hợp quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 52 của Bộ luật này và tại Điều 34 của
Luật giám định tư pháp; b) Họ đã tham gia tố tụng với tư
cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng,
người phiên dịch trong cùng vụ án đó; c) Họ đã tiến hành tố tụng trong
vụ án đó với tư cách là Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa
án, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên. 1. Người phiên dịch là người có
khả năng dịch từ một ngôn ngữ khác ra tiếng Việt và ngược lại trong trường hợp
có người tham gia tố tụng không sử dụng được tiếng Việt. Người phiên dịch được
một bên đương sự lựa chọn hoặc các bên đương sự thoả thuận lựa chọn và được Tòa
án chấp nhận hoặc được Tòa án yêu cầu để phiên dịch. 2. Người biết chữ của người
khuyết tật nhìn hoặc biết nghe, nói bằng ngôn ngữ, ký hiệu của người khuyết tật
nghe, nói cũng được coi là người phiên dịch. Trường hợp chỉ có người đại diện
hoặc người thân thích của người khuyết tật nhìn hoặc người khuyết tật nghe, nói
biết được chữ, ngôn ngữ, ký hiệu của người khuyết tật thì người đại diện hoặc
người thân thích có thể được Tòa án chấp nhận làm người phiên dịch cho người khuyết tật
đó. 1. Người phiên dịch có quyền,
nghĩa vụ sau đây: a) Phải có mặt theo giấy triệu
tập của Tòa án; b) Phải phiên dịch trung thực,
khách quan, đúng nghĩa; c) Đề nghị người tiến hành tố
tụng, người tham gia tố tụng giải thích thêm nội dung cần phiên dịch; d) Không được tiếp xúc với người
tham gia tố tụng khác nếu việc tiếp xúc đó làm ảnh hưởng đến tính trung thực,
khách quan, đúng nghĩa khi phiên dịch; đ) Được thanh toán các chi phí có liên quan theo quy định của pháp
luật; e) Phải cam đoan trước Tòa án về
việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình. 2. Người phiên dịch phải từ chối
phiên dịch hoặc bị thay đổi trong những trường hợp sau đây: a) Thuộc một trong những trường
hợp quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 52 của Bộ luật này; b) Họ đã tham gia tố tụng với tư
cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng,
người giám định trong cùng vụ án đó; c) Họ đã tiến hành tố tụng với tư
cách là Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án, Kiểm sát
viên, Kiểm tra viên. 1. Việc từ chối giám định, phiên
dịch hoặc đề nghị thay đổi người giám định, người phiên dịch trước khi mở phiên
tòa, phiên họp phải được lập thành văn bản nêu rõ lý do của việc từ chối hoặc đề
nghị thay đổi. 2. Việc từ chối giám định, phiên
dịch hoặc đề nghị thay đổi người giám định, người phiên dịch tại phiên tòa,
phiên họp phải được ghi vào biên bản phiên tòa, phiên họp. 1. Trước khi mở phiên tòa, phiên
họp, việc thay đổi người giám định,
người phiên dịch do Chánh án Tòa án quyết định. 2. Tại phiên tòa, phiên
họp, việc thay đổi người giám định,
người phiên dịch do Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Hội đồng giải quyết việc dân sự
quyết định sau khi nghe ý kiến của người bị yêu cầu thay đổi. Hội đồng xét xử,
Hội đồng giải quyết việc dân sự thảo luận tại phòng nghị án và quyết định theo
đa số. Trường hợp phải thay đổi người
giám định, người phiên dịch thì Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Hội đồng giải quyết
việc dân sự ra quyết định hoãn phiên tòa, phiên họp. Việc trưng cầu người giám
định khác hoặc thay người phiên dịch khác được thực hiện theo quy định tại Điều
79 và Điều 81 của Bộ luật này. 1. Người đại diện trong tố tụng
dân sự bao gồm người đại diện theo pháp luật và người đại diện theo ủy quyền.
Người đại diện có thể là cá nhân hoặc pháp nhân theo quy định của Bộ luật dân
sự. 2. Người đại diện theo pháp luật
theo quy định của Bộ luật dân sự là người đại diện
theo pháp luật trong tố tụng dân sự, trừ trường hợp bị hạn chế quyền đại diện
theo quy định của pháp luật. Cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi
kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác cũng là người đại diện
theo pháp luật trong tố tụng dân sự của người được bảo vệ. 3. Tổ chức đại diện tập thể lao
động là người đại diện theo pháp luật cho tập thể người lao động khởi kiện vụ án
lao động, tham gia tố tụng tại Tòa án khi quyền, lợi ích hợp pháp của tập thể
người lao động bị xâm phạm; tổ chức đại diện tập thể lao động đại diện cho người
lao động khởi kiện vụ án lao động, tham gia tố tụng khi được người lao động ủy
quyền. Trường hợp nhiều người lao động
có cùng yêu cầu đối với người sử dụng lao động, trong cùng một doanh nghiệp, đơn
vị thì họ được ủy quyền cho một đại diện của tổ chức đại diện tập thể lao động
thay mặt họ khởi kiện vụ án lao động, tham gia tố tụng tại Tòa án. 4. Người đại diện theo ủy quyền
theo quy định của Bộ luật dân sự là người đại diện
theo ủy quyền trong tố tụng dân sự. Đối với việc ly hôn, đương sự
không được ủy quyền cho người khác thay mặt mình tham gia tố tụng. Trường hợp
cha, mẹ, người thân thích khác yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn theo quy định
tại khoản 2 Điều 51 của Luật hôn nhân và gia đình thì họ là người đại
diện. 1. Người đại diện theo pháp luật
trong tố tụng dân sự thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự của đương sự
trong phạm vi mà mình đại diện. 2. Người đại diện theo ủy quyền
trong tố tụng dân sự thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự của đương sự theo nội dung văn bản ủy
quyền. 1. Những người sau đây không được
làm người đại diện theo pháp luật: a) Nếu họ cũng là đương sự trong
cùng một vụ việc với người được đại diện mà quyền
và lợi ích hợp pháp của họ đối lập với quyền và lợi ích hợp pháp của người được
đại diện; b) Nếu họ đang là người đại diện
theo pháp luật trong tố tụng dân sự cho một đương sự khác mà quyền và lợi ích
hợp pháp của đương sự đó đối lập với quyền và lợi ích hợp pháp của người được
đại diện trong cùng một vụ việc. 2. Quy định tại khoản 1 Điều này
cũng được áp dụng đối với trường hợp đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân
sự. 3. Cán bộ, công chức trong các cơ
quan Tòa án, Kiểm sát, Công an không được làm người đại diện trong
tố tụng dân sự, trừ trường hợp họ tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện cho cơ quan của họ
hoặc với tư cách là người đại diện theo pháp luật. 1. Khi tiến hành tố tụng dân sự, nếu
có đương sự là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người
bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận
thức, làm chủ hành vi mà không có người
đại diện hoặc người đại diện theo pháp luật của họ thuộc một trong các trường
hợp quy định tại khoản 1 Điều 87 của Bộ luật này thì Tòa án phải chỉ định người
đại diện để tham gia tố tụng. 2. Đối với vụ việc lao động mà có
đương sự thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này hoặc người lao động là
người chưa thành niên mà không có người đại diện và Tòa án cũng không chỉ định
được người đại diện theo quy định tại khoản 1 Điều này thì Tòa án chỉ định tổ
chức đại diện tập thể lao động đại diện cho người lao động đó. Người đại diện theo pháp luật,
người đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự chấm dứt việc đại diện theo
quy định của Bộ luật dân sự. 1. Trường hợp chấm dứt đại diện
theo pháp luật mà người được đại diện đã thành niên hoặc đã khôi phục năng lực
hành vi dân sự thì người đó tự mình tham gia tố tụng dân sự hoặc ủy quyền cho
người khác tham gia tố tụng dân sự theo thủ tục do Bộ luật này quy
định. 2. Trường hợp chấm dứt đại diện
theo ủy quyền thì đương sự hoặc người thừa kế của đương sự trực tiếp tham gia tố
tụng hoặc ủy quyền cho người khác đại diện tham gia tố tụng theo thủ tục do Bộ
luật này quy định. Chương VII 1. Đương sự có yêu cầu Tòa án bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa
án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp, trừ
các trường hợp sau đây: a) Người tiêu dùng khởi kiện
không có nghĩa vụ chứng minh lỗi của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch
vụ. Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ bị kiện có nghĩa vụ chứng minh
mình không có lỗi gây ra thiệt hại theo quy định của Luật bảo vệ quyền lợi người
tiêu dùng; b) Đương sự là người lao động
trong vụ án lao động mà không cung cấp, giao nộp được cho Tòa án tài liệu, chứng
cứ vì lý do tài liệu, chứng cứ đó đang do người sử dụng lao động quản
lý, lưu giữ thì người sử dụng lao động có
trách nhiệm cung cấp, giao nộp tài liệu, chứng cứ đó cho Tòa án. Người lao động khởi kiện vụ án
đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động thuộc trường hợp người sử dụng lao động
không được thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hoặc trường hợp
không được xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động theo quy định của pháp
luật về lao động thì nghĩa vụ chứng minh thuộc về người sử dụng lao
động; c) Các trường hợp pháp luật có
quy định khác về nghĩa vụ chứng minh. 2. Đương sự phản đối yêu cầu của
người khác đối với mình phải thể hiện bằng văn bản và phải thu thập, cung cấp,
giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối
đó. 3. Cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi
kiện để bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước hoặc yêu cầu Tòa án bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác phải thu thập, cung cấp, giao nộp
cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho việc khởi kiện, yêu cầu của mình
là có căn cứ và hợp pháp. Tổ chức xã hội tham gia bảo vệ
quyền lợi người tiêu dùng không có nghĩa vụ chứng minh lỗi của tổ chức, cá nhân
kinh doanh hàng hóa, dịch vụ theo quy định của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu
dùng. 4. Đương sự có nghĩa vụ đưa ra
chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng
cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có
trong hồ sơ vụ việc. 1. Những tình tiết, sự kiện sau
đây không phải chứng minh: a) Những tình tiết, sự kiện rõ
ràng mà mọi người đều biết và được Tòa án thừa nhận; b) Những tình tiết, sự kiện đã
được xác định trong bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật hoặc
quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã có hiệu lực pháp
luật; c) Những tình tiết, sự kiện đã
được ghi trong văn bản và được công chứng, chứng thực hợp pháp; trường hợp có
dấu hiệu nghi ngờ tính khách quan của những tình tiết, sự kiện này hoặc tính
khách quan của văn bản công chứng, chứng thực thì Thẩm phán có thể yêu cầu đương
sự, cơ quan, tổ chức công chứng, chứng thực xuất trình
bản gốc, bản chính. 2. Một bên đương sự thừa nhận
hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ
quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng
minh. 3. Đương sự có người đại diện
tham gia tố tụng thì sự thừa nhận của người đại diện được coi là sự thừa nhận
của đương sự nếu không vượt quá phạm vi đại diện. Chứng cứ trong vụ việc dân sự là
những gì có thật được đương sự và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác giao nộp, xuất
trình cho Tòa án trong quá trình tố tụng hoặc do Tòa án thu thập được theo trình
tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và được
Tòa án sử
dụng làm căn cứ để xác định các tình tiết khách quan của vụ án cũng như xác định
yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp. Chứng cứ được thu thập từ các
nguồn sau đây: 1. Tài liệu đọc được, nghe được,
nhìn được, dữ liệu điện tử; 2. Vật chứng; 3. Lời khai của đương
sự; 4. Lời khai của người làm
chứng; 5. Kết luận giám
định; 6. Biên bản ghi kết quả thẩm định
tại chỗ; 7. Kết quả định giá tài sản, thẩm
định giá tài sản; 8. Văn bản ghi nhận sự kiện, hành
vi pháp lý do người có chức năng lập; 9. Văn bản công chứng, chứng
thực; 10. Các nguồn khác mà pháp luật
có quy định. 1. Tài liệu đọc được nội dung được
coi là chứng cứ nếu là bản chính hoặc bản sao có công chứng, chứng thực hợp pháp
hoặc do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cung cấp, xác nhận. 2. Tài liệu nghe được, nhìn được được
coi là chứng cứ nếu được xuất trình kèm theo văn bản trình bày của người có tài
liệu đó về xuất xứ của tài liệu nếu họ tự thu âm, thu hình hoặc văn bản có xác
nhận của người đã cung cấp cho người xuất trình về xuất xứ của tài liệu đó hoặc
văn bản về sự việc liên quan tới việc thu âm, thu hình đó. 3. Thông điệp dữ liệu điện tử được thể hiện dưới hình thức trao
đổi dữ liệu điện tử, chứng từ điện tử, thư điện tử, điện tín, điện báo, fax và
các hình thức tương tự khác theo quy định của pháp luật về giao dịch điện
tử. 4. Vật chứng là chứng cứ phải là
hiện vật gốc liên quan đến vụ việc. 5. Lời khai của đương sự, lời
khai của người làm chứng được coi là chứng cứ nếu được ghi bằng văn bản, băng
ghi âm, đĩa ghi âm, băng ghi hình, đĩa ghi hình, thiết bị khác chứa âm thanh, hình ảnh theo quy định tại khoản 2
Điều này hoặc khai bằng lời tại phiên tòa. 6. Kết luận giám định được coi là
chứng cứ nếu việc giám định đó được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy
định. 7. Biên bản ghi kết quả thẩm định
tại chỗ được coi là chứng cứ nếu việc thẩm định được tiến hành theo đúng thủ tục
do pháp luật quy định. 8. Kết quả định giá tài sản, kết
quả thẩm định giá tài sản được coi là chứng cứ nếu việc định giá, thẩm định giá
được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định. 9. Văn bản ghi nhận sự kiện, hành
vi pháp lý do người có chức năng lập tại chỗ được coi là chứng cứ nếu việc lập
văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý được tiến hành theo đúng thủ tục do
pháp luật quy định. 10. Văn bản công chứng, chứng
thực được coi là chứng cứ nếu việc công chứng, chứng thực được thực hiện theo
đúng thủ tục do pháp luật quy định. 11. Các nguồn khác mà pháp luật
có quy định được xác định là chứng cứ theo điều kiện, thủ tục mà pháp luật quy
định. 1. Trong quá trình Tòa án giải
quyết vụ việc dân sự, đương sự có quyền và nghĩa vụ giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án. Trường hợp
tài liệu, chứng cứ đã được giao nộp chưa
bảo đảm đủ cơ sở để giải quyết vụ việc thì Thẩm phán yêu cầu đương sự giao nộp
bổ sung tài liệu, chứng cứ. Nếu đương sự không giao nộp hoặc giao nộp không đầy
đủ tài liệu, chứng cứ do Tòa án yêu cầu mà
không có lý do chính đáng thì Tòa án căn cứ vào tài liệu, chứng cứ mà đương sự
đã giao nộp và Tòa án đã thu thập theo quy định tại Điều 97 của Bộ luật này để
giải quyết vụ việc dân sự. 2. Việc đương sự giao nộp
tài liệu, chứng cứ cho Tòa án phải được lập
biên bản. Trong biên bản phải ghi rõ tên gọi, hình thức, nội dung, đặc điểm của
tài liệu, chứng cứ; số bản, số trang của
chứng cứ và thời gian nhận; chữ ký hoặc điểm chỉ của người giao nộp, chữ ký của
người nhận và dấu của Tòa án. Biên bản phải lập thành hai bản, một bản lưu vào
hồ sơ vụ việc dân sự và một bản giao cho đương sự nộp chứng cứ. 3. Đương sự giao nộp cho Tòa án
tài liệu, chứng cứ bằng tiếng dân tộc thiểu
số, tiếng nước ngoài phải kèm theo bản dịch sang tiếng Việt, được công chứng,
chứng thực hợp pháp. 4. Thời hạn giao nộp tài liệu, chứng cứ do Thẩm phán được phân
công giải quyết vụ việc ấn định nhưng không được vượt quá thời hạn chuẩn bị xét
xử theo thủ tục sơ thẩm, thời hạn chuẩn bị giải quyết việc dân sự theo quy định
của Bộ luật này. Trường hợp sau khi có quyết định
đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục sơ thẩm,
quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân
sự, đương sự
mới cung cấp, giao nộp tài liệu,
chứng cứ mà
Tòa án đã yêu cầu giao nộp nhưng đương sự không giao nộp được vì có lý do chính
đáng thì đương sự phải chứng minh lý do của việc chậm giao nộp tài liệu, chứng cứ đó. Đối với tài liệu, chứng cứ mà trước đó Tòa án không
yêu cầu đương sự giao nộp hoặc tài liệu,
chứng cứ mà
đương sự không thể biết được trong quá trình giải quyết vụ việc theo thủ tục sơ
thẩm thì đương sự có quyền giao nộp, trình bày tại phiên tòa sơ thẩm, phiên họp giải quyết việc dân sự hoặc các giai đoạn tố tụng tiếp
theo của việc giải quyết vụ việc dân sự. 5. Khi đương sự giao nộp tài
liệu, chứng cứ cho Tòa án thì họ phải sao gửi tài liệu, chứng cứ đó cho đương sự
khác hoặc người đại diện hợp pháp của đương sự khác; đối với tài liệu, chứng cứ quy định tại khoản 2
Điều 109 của Bộ luật này hoặc tài liệu, chứng cứ không thể sao gửi được thì phải
thông báo bằng văn bản cho đương sự khác hoặc người đại diện hợp pháp của đương
sự khác. 1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có
quyền tự mình thu thập tài liệu,
chứng cứ
bằng những biện pháp sau đây: a) Thu thập tài liệu đọc được,
nghe được, nhìn được; thông điệp dữ liệu điện tử; b) Thu thập vật
chứng; c) Xác định người làm chứng và
lấy xác nhận của người làm chứng; d) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá
nhân cho sao chép hoặc cung cấp những tài liệu có liên quan đến việc giải quyết
vụ việc mà cơ quan, tổ chức, cá nhân đó
đang lưu giữ, quản lý; đ) Yêu cầu Ủy ban nhân dân cấp xã
chứng thực chữ ký của người làm chứng; e) Yêu cầu Tòa án thu thập tài
liệu, chứng cứ nếu đương sự không thể thu thập tài liệu, chứng cứ; g) Yêu cầu Tòa án ra quyết định
trưng cầu giám định, định giá tài sản; h) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá
nhân thực hiện công việc khác theo quy định của pháp luật. 2. Trong các trường hợp do Bộ
luật này quy định, Tòa án có thể tiến hành một hoặc một số biện pháp sau đây để
thu thập tài liệu, chứng cứ: a) Lấy lời khai của đương sự,
người làm chứng; b) Đối chất giữa các đương sự với
nhau, giữa đương sự với người làm chứng; c) Trưng cầu giám
định; d) Định giá tài sản; đ) Xem xét, thẩm định tại
chỗ; e) Ủy thác thu thập, xác minh tài
liệu, chứng cứ; g) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá
nhân cung cấp tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được hoặc hiện vật khác liên
quan đến việc giải quyết vụ việc dân sự; h) Xác minh sự có mặt hoặc vắng
mặt của đương sự tại nơi cư trú; i) Các biện pháp khác theo quy định của Bộ luật này. 3. Khi tiến hành các biện pháp
quy định tại các điểm c, d, đ, e và g khoản 2 Điều này, Tòa án phải ra quyết
định, trong đó nêu rõ lý do và yêu cầu của Tòa án. 4. Trong giai đoạn giám đốc thẩm,
tái thẩm, Thẩm tra viên có thể tiến hành các biện pháp thu thập tài liệu, chứng cứ quy định tại các điểm a,
g và h khoản 2 Điều này. Khi Thẩm tra viên tiến hành biện pháp quy định tại
điểm g khoản 2 Điều này, Tòa án phải ra quyết định, trong đó nêu rõ lý do và yêu
cầu của Tòa án. 5. Trong thời hạn 03 ngày làm
việc, kể từ ngày Tòa án thu thập được tài liệu, chứng cứ, Tòa án phải thông báo về tài
liệu, chứng cứ đó cho đương sự để họ thực hiện quyền, nghĩa vụ của
mình. 6. Viện kiểm sát thu thập tài
liệu, chứng cứ để bảo đảm cho việc thực hiện thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục
phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm. 1. Thẩm phán chỉ tiến hành lấy
lời khai của đương sự khi đương sự chưa có bản khai hoặc nội dung bản khai chưa
đầy đủ, rõ ràng. Đương sự phải tự viết bản khai và ký tên của mình. Trường hợp
đương sự không thể tự viết được thì Thẩm phán lấy lời khai của đương sự. Việc
lấy lời khai của đương sự chỉ tập trung vào những tình tiết mà đương sự khai
chưa đầy đủ, rõ ràng. Thẩm phán tự mình hoặc Thư ký Tòa án ghi lại lời khai của
đương sự vào biên bản. Thẩm phán lấy lời khai của đương sự tại trụ sở Tòa án;
trường hợp cần thiết có thể lấy
lời khai của đương sự ngoài trụ sở Tòa án. 2. Biên bản ghi lời khai của
đương sự phải được người khai tự đọc lại hay nghe đọc lại và ký tên hoặc điểm
chỉ. Đương sự có quyền yêu cầu ghi những sửa đổi, bổ sung vào biên bản ghi lời
khai và ký tên hoặc điểm chỉ xác nhận. Biên bản phải có chữ ký của người lấy lời
khai, người ghi biên bản và đóng dấu của Tòa án; nếu biên bản được ghi thành
nhiều trang rời nhau thì phải ký vào từng trang và đóng dấu giáp lai. Trường hợp
biên bản ghi lời khai của đương sự được lập ngoài trụ sở Tòa án thì phải có
người làm chứng hoặc xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an xã, phường, thị trấn hoặc
cơ quan, tổ chức nơi lập biên bản. 3. Việc lấy lời khai của đương sự
thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 4 và khoản 5 Điều 69 của Bộ
luật này phải được tiến hành với sự có mặt của người đại diện hợp pháp của đương
sự đó. 1. Theo yêu cầu của đương sự hoặc
khi xét thấy cần thiết, Thẩm phán tiến hành lấy lời khai của người làm chứng tại
trụ sở Tòa án hoặc ngoài trụ sở Tòa án. Trước khi lấy lời khai
của người làm chứng, Thẩm phán phải
giải thích quyền, nghĩa vụ của người làm chứng và yêu cầu người làm chứng cam
đoan về lời khai của mình. 2. Thủ tục lấy lời khai của người
làm chứng được tiến hành như thủ tục
lấy lời khai
của đương sự quy định tại khoản 2 Điều 98 của Bộ luật này. 3. Việc lấy lời khai của người
làm chứng chưa đủ mười tám tuổi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc
người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi phải được tiến hành với sự có
mặt của người đại diện theo pháp luật hoặc người đang thực hiện việc quản lý,
trông nom người đó. 1. Theo yêu cầu của đương sự hoặc
khi xét thấy có mâu thuẫn trong lời khai của các đương sự, người làm chứng, Thẩm
phán tiến hành đối chất giữa các đương sự với nhau, giữa đương sự với người làm
chứng hoặc giữa những người làm chứng với nhau. 2. Việc đối chất phải được
lập thành biên bản, có chữ ký
hoặc điểm chỉ của những người tham gia đối
chất. 1. Theo yêu cầu của đương sự hoặc
khi xét thấy cần thiết, Thẩm phán tiến hành việc
xem xét, thẩm định tại chỗ với sự có mặt của đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc
Công an xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi
có đối tượng cần xem xét, thẩm định và phải báo trước việc xem xét, thẩm định
tại chỗ để đương sự biết và chứng kiến việc xem xét, thẩm định đó. 2. Việc xem xét, thẩm định tại
chỗ phải được ghi thành biên bản. Biên bản phải ghi rõ kết quả xem xét, thẩm
định, mô tả rõ hiện trường, có chữ ký của người xem xét, thẩm định và chữ ký
hoặc điểm chỉ của đương sự nếu họ có mặt, của đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc
Công an xã, phường, thị trấn hoặc
cơ quan, tổ
chức nơi có đối tượng được xem xét, thẩm định và
những người khác được mời tham gia việc xem xét, thẩm định. Sau khi lập xong
biên bản, người xem xét, thẩm định phải yêu cầu đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc
Công an xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi
có đối tượng được xem xét, thẩm định ký tên và đóng
dấu xác nhận. 3. Nghiêm cấm mọi hành vi cản trở
việc xem xét, thẩm định tại chỗ. 4. Thẩm phán có quyền đề nghị Ủy
ban nhân dân cấp xã, Công an xã, phường, thị trấn nơi
có đối tượng được xem xét, thẩm định tại chỗ hỗ trợ
trong trường hợp có hành vi cản trở việc xem xét, thẩm định tại chỗ. 1. Đương sự có quyền yêu cầu Tòa
án trưng cầu giám định hoặc tự mình yêu cầu giám định sau khi đã đề nghị Tòa án
trưng cầu giám định nhưng Tòa án từ chối yêu cầu của đương sự. Quyền tự yêu cầu
giám định được thực hiện trước khi Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử
theo thủ tục sơ thẩm, quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân
sự. 2. Theo yêu cầu của đương sự hoặc
khi xét thấy cần thiết, Thẩm phán ra quyết định trưng cầu giám định. Trong quyết
định trưng cầu giám định phải ghi rõ tên, địa chỉ của người giám định, đối tượng
cần giám định, vấn đề cần giám định, các yêu cầu cụ thể cần có kết luận của
người giám định. 3. Trường hợp xét thấy kết luận
giám định chưa đầy đủ, rõ ràng hoặc có vi phạm pháp luật thì theo yêu cầu của
đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết,
Tòa án yêu
cầu người giám định giải thích kết luận giám định, triệu tập người giám định đến
phiên tòa, phiên họp để trực tiếp trình bày về các nội
dung cần thiết. 4. Theo yêu cầu của đương sự hoặc
khi xét thấy cần thiết, Tòa án ra quyết định trưng cầu giám định bổ sung trong trường
hợp nội dung kết luận giám định chưa rõ, chưa đầy đủ hoặc khi phát sinh vấn đề
mới liên quan đến tình tiết của vụ việc
đã được kết
luận giám định trước đó. 5. Việc giám định lại được thực
hiện trong trường hợp có căn cứ cho rằng kết luận giám định lần đầu không chính
xác, có vi phạm pháp luật hoặc trong trường hợp đặc biệt theo quyết định của
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao
theo quy định của Luật giám định tư pháp. 1. Trường hợp chứng cứ bị tố cáo
là giả mạo thì người đưa ra chứng cứ đó có quyền rút lại; nếu không rút lại thì
người tố cáo có quyền yêu cầu Tòa án hoặc Tòa án có quyền quyết định trưng cầu
giám định theo quy định tại Điều 102 của Bộ luật này. 2. Trường hợp việc giả mạo chứng
cứ có dấu hiệu tội phạm thì Tòa án chuyển tài liệu, chứng cứ có liên quan cho Cơ quan điều tra có thẩm
quyền xem xét theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự. 3. Người đưa ra chứng cứ được kết
luận là giả mạo phải bồi thường thiệt hại nếu việc giả mạo chứng cứ đó gây thiệt
hại cho người khác và phải chịu chi phí giám định nếu Tòa án quyết định trưng
cầu giám định. 1. Đương sự có quyền cung cấp giá
tài sản đang tranh chấp; thỏa thuận về giá tài sản đang tranh chấp. 2. Các đương sự có quyền thỏa
thuận lựa chọn tổ chức thẩm định giá tài sản để thực hiện việc thẩm định giá tài sản và cung cấp
kết quả thẩm định giá cho Tòa án. Việc thẩm định giá tài sản được
thực hiện theo quy định của pháp luật về thẩm định giá tài sản. 3. Tòa án ra quyết định định
giá tài sản và thành lập Hội đồng định giá khi thuộc một trong các trường
hợp sau đây: a) Theo yêu cầu của một hoặc các
bên đương sự; b) Các đương sự không thỏa thuận
lựa chọn tổ chức thẩm định giá tài sản hoặc đưa ra giá tài sản khác nhau hoặc
không thỏa thuận được giá tài sản; c) Các bên thoả thuận với nhau
hoặc với tổ chức thẩm định giá tài sản
theo mức giá
thấp so với giá thị trường nơi có tài sản định giá tại thời điểm định giá nhằm
trốn tránh nghĩa vụ với Nhà nước hoặc người
thứ ba hoặc có căn cứ cho thấy tổ chức thẩm
định giá tài sản đã vi phạm pháp luật khi thẩm
định giá. 4. Trình tự, thủ tục thành
lập Hội đồng định giá, định giá tài sản: a) Hội đồng định giá do Tòa án
thành lập gồm Chủ tịch Hội đồng định giá là đại diện cơ quan tài chính và thành
viên là đại diện các cơ quan chuyên môn có liên quan. Người đã tiến hành tố tụng
trong vụ án đó, người quy định tại Điều 52
của Bộ luật
này không được tham gia Hội đồng định giá. Hội đồng định giá chỉ tiến hành
định giá khi có mặt đầy đủ các thành viên của Hội đồng. Trong trường hợp cần
thiết, đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có tài sản định giá được mời chứng
kiến việc định giá. Các đương sự được thông báo trước về thời gian, địa điểm
tiến hành định giá, có quyền tham dự và phát biểu ý kiến về việc định giá. Quyền
quyết định về giá đối với tài sản định giá thuộc Hội đồng định giá; b) Cơ quan tài chính và các cơ
quan chuyên môn có liên quan có trách nhiệm cử người tham gia Hội đồng định giá
và tạo điều kiện để họ làm nhiệm vụ. Người được cử làm thành viên Hội đồng định
giá có trách nhiệm tham gia đầy đủ vào việc định giá. Trường hợp cơ quan tài
chính, các cơ quan chuyên môn không cử người tham gia Hội đồng định giá thì Tòa
án yêu cầu cơ quan quản lý có thẩm quyền trực tiếp chỉ đạo cơ quan tài chính, cơ
quan chuyên môn thực hiện yêu cầu của Tòa án. Người được cử tham gia Hội đồng
định giá không tham gia mà không có lý do chính đáng thì Tòa án yêu cầu lãnh đạo
cơ quan đã cử người tham gia Hội đồng định giá xem xét trách nhiệm, cử người
khác thay thế và thông báo cho Tòa án biết để tiếp tục tiến hành định
giá; c) Việc định giá phải được lập
biên bản, trong đó ghi rõ ý kiến của từng thành viên, đương sự nếu họ tham dự.
Quyết định của Hội đồng định giá phải được quá nửa tổng số thành viên biểu quyết
tán thành. Các thành viên Hội đồng định giá, đương sự, người chứng kiến ký tên
hoặc điểm chỉ vào biên bản. 5. Việc định giá lại tài sản được
thực hiện trong trường hợp có căn cứ cho rằng kết quả định giá lần đầu không
chính xác hoặc không phù hợp với giá thị trường nơi có tài sản định giá tại thời
điểm giải quyết vụ án dân sự. 1. Trong quá trình giải quyết vụ
việc dân sự, Tòa án có thể ra quyết định ủy thác để Tòa án khác hoặc cơ quan có
thẩm quyền quy định tại khoản 4 Điều này lấy lời khai của đương sự, người làm
chứng, thẩm định tại chỗ, tiến hành
định giá tài
sản hoặc các biện pháp khác để thu thập chứng cứ, xác minh các tình tiết của vụ
việc dân sự. 2. Trong quyết định ủy thác phải
ghi rõ tên, địa chỉ của nguyên đơn, bị đơn, quan hệ tranh chấp và những công
việc cụ thể ủy thác để thu thập chứng cứ. 3. Tòa án nhận được quyết định ủy
thác có trách nhiệm thực hiện công việc cụ thể được ủy thác trong thời hạn 01
tháng, kể từ ngày nhận được quyết định ủy thác và thông báo kết quả bằng văn bản
cho Tòa án đã ra quyết định ủy thác; trường hợp không thực hiện được việc ủy
thác thì phải thông báo bằng văn bản và
nêu rõ lý do
cho Tòa án đã ra quyết định ủy thác. 4. Trường hợp việc thu thập chứng
cứ phải tiến hành ở nước ngoài thì Tòa án làm thủ tục ủy thác thông qua cơ quan
có thẩm quyền của Việt Nam hoặc cơ quan có
thẩm quyền của nước ngoài mà nước đó và
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cùng là thành viên của điều ước quốc tế có quy định về
vấn đề này. 5. Trường hợp không thực hiện
được việc ủy thác theo quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều này hoặc đã thực
hiện việc ủy thác nhưng không nhận được kết quả trả lời thì Tòa án giải quyết vụ
án trên cơ sở chứng cứ đã có trong hồ sơ vụ việc dân sự. 1. Đương sự có quyền yêu cầu cơ
quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu,
chứng cứ.
Khi yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, chứng cứ, đương sự phải làm văn
bản yêu cầu ghi rõ tài liệu, chứng cứ cần cung cấp; lý
do cung cấp; họ, tên, địa chỉ của cá nhân, tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức
đang quản lý, lưu giữ tài liệu,
chứng cứ cần
cung cấp. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có
trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ cho đương sự
trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu; trường hợp không cung cấp
được thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do cho người có yêu
cầu. 2. Trường hợp đương sự đã áp dụng
các biện pháp cần thiết để thu thập tài
liệu, chứng
cứ mà vẫn không thể tự mình thu thập được thì có thể đề nghị Tòa án ra quyết định
yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang
lưu giữ, quản lý tài liệu, chứng cứ cung cấp cho
mình hoặc đề nghị Tòa án tiến hành thu thập
tài liệu, chứng cứ nhằm bảo đảm cho việc
giải quyết vụ việc dân sự đúng đắn. Đương sự yêu cầu Tòa án thu thập
tài liệu, chứng cứ phải làm đơn ghi rõ vấn
đề cần chứng minh; tài liệu, chứng cứ cần thu thập; lý
do mình không tự thu thập được; họ, tên, địa chỉ
của cá nhân, tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức đang quản lý, lưu giữ
tài liệu, chứng cứ cần thu
thập. 3. Trường hợp có yêu cầu của
đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết, Tòa án ra
quyết định yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý, lưu giữ cung cấp
tài liệu, chứng cứ cho Tòa án. Cơ quan, tổ chức, cá nhân đang
quản lý, lưu giữ tài liệu, chứng cứ có trách nhiệm
cung cấp đầy đủ tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của
Tòa án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu; hết thời hạn này mà
không cung cấp đầy đủ tài liệu,
chứng cứ
theo yêu cầu của Tòa án thì cơ quan, tổ chức, cá nhân được yêu cầu phải trả lời
bằng văn bản và nêu rõ lý do. Cơ quan, tổ chức, cá nhân không thực hiện yêu cầu
của Tòa án mà không có lý do chính đáng thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm
có thể bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của
pháp luật. Việc xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy
định của pháp luật đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân không phải là lý do miễn
nghĩa vụ cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa
án. 4. Trường hợp Viện kiểm sát có
yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ thì cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm
thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều này. 1. Tài liệu, chứng cứ đã được giao nộp tại Tòa
án thì việc bảo quản tài liệu, chứng cứ đó do Tòa án
chịu trách nhiệm. 2. Tài liệu, chứng cứ không thể giao nộp được
tại Tòa án thì người đang lưu giữ tài liệu,
chứng cứ đó
có trách nhiệm bảo quản. 3. Trường hợp cần giao
tài liệu, chứng cứ cho người thứ ba bảo
quản thì Thẩm phán ra quyết định và lập biên bản giao cho người đó bảo quản.
Người nhận bảo quản phải ký tên vào biên bản, được hưởng thù lao và phải chịu
trách nhiệm về việc bảo quản tài liệu,
chứng cứ
theo quy định của pháp luật. 4. Nghiêm cấm việc hủy hoại
tài liệu, chứng cứ. 1. Việc đánh giá chứng cứ phải
khách quan, toàn diện, đầy đủ và chính xác. 2. Tòa án phải đánh giá từng
chứng cứ, sự liên quan giữa các chứng cứ và khẳng định tính hợp pháp, tính liên
quan, giá trị chứng minh của từng chứng cứ. 1. Mọi chứng cứ được công bố và
sử dụng công khai như nhau, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều
này. 2. Tòa án không công khai nội
dung tài liệu, chứng cứ có liên quan đến bí mật
nhà nước, thuần phong mỹ tục của dân tộc, bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh,
bí mật cá nhân, bí mật gia đình theo yêu cầu chính đáng của đương sự nhưng phải
thông báo cho đương sự biết những tài liệu,
chứng cứ
không được công khai. 3. Người tiến hành tố tụng, người
tham gia tố tụng phải giữ bí mật tài liệu,
chứng cứ
thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này theo quy định của pháp
luật. 1. Trường hợp chứng cứ đang bị
tiêu huỷ, có nguy cơ bị tiêu hủy hoặc sau này khó có thể thu thập được thì đương
sự có quyền đề nghị Tòa án quyết định áp dụng biện pháp cần thiết để bảo toàn
chứng cứ. Đề nghị của đương sự phải thể hiện bằng văn bản. Tòa án có thể quyết
định áp dụng một hoặc một số trong các biện pháp niêm phong, thu giữ, chụp ảnh,
ghi âm, ghi hình, phục chế, khám nghiệm, lập biên bản và các biện pháp
khác. 2. Trường hợp người làm chứng bị
lừa dối, đe dọa, cưỡng ép hoặc mua chuộc để không cung cấp
chứng cứ hoặc cung cấp chứng cứ sai sự thật thì Tòa án có quyền quyết định buộc
người có hành vi lừa dối, đe dọa, cưỡng ép hoặc mua chuộc phải chấm dứt hành
vi đó. Trường hợp hành vi đó có dấu hiệu tội phạm thì Tòa án
yêu cầu Viện kiểm sát xem xét về trách nhiệm hình sự. 1. Trong quá trình giải quyết vụ
án, đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự hoặc cơ quan, tổ chức, cá
nhân khởi kiện vụ án quy định tại Điều 187 của Bộ luật này có quyền yêu
cầu Tòa án đang giải quyết vụ án đó áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khẩn
cấp tạm thời quy định tại Điều 114 của Bộ luật này để tạm thời giải quyết yêu
cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản,
thu thập chứng cứ, bảo vệ chứng cứ, bảo toàn tình trạng hiện có tránh
gây thiệt hại không thể khắc phục được, đảm
bảo cho việc giải quyết vụ án hoặc việc thi hành
án. 2. Trong trường hợp do tình thế
khẩn cấp, cần phải bảo vệ ngay chứng cứ, ngăn chặn hậu quả nghiêm trọng
có thể xảy ra thì cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm
quyền ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại Điều 114
của Bộ luật này đồng thời với việc nộp đơn khởi kiện cho Tòa án đó. 3. Tòa án chỉ tự mình ra quyết
định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong trường hợp quy định tại Điều 135
của Bộ luật này. 1. Trước khi mở phiên tòa, việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ
biện pháp khẩn cấp tạm thời do một Thẩm phán xem xét, quyết định. 2. Tại phiên tòa, việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ
biện pháp khẩn cấp tạm thời do Hội đồng xét xử xem xét, quyết định. 1. Người yêu cầu Tòa án áp dụng
biện pháp khẩn cấp tạm thời phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về yêu cầu của
mình; trường hợp yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng mà gây
thiệt hại cho người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc cho người thứ ba
thì phải bồi thường. 2. Tòa án áp dụng biện pháp khẩn
cấp tạm thời không đúng mà gây thiệt hại cho người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp
tạm thời hoặc cho người thứ ba thì Tòa án phải bồi thường nếu thuộc một trong
các trường hợp sau đây: a) Tòa án tự mình áp dụng biện
pháp khẩn cấp tạm thời; b) Tòa án áp dụng biện pháp khẩn
cấp tạm thời khác với biện pháp khẩn cấp tạm thời mà cơ quan, tổ chức, cá nhân
yêu cầu; c) Tòa án áp dụng biện pháp khẩn
cấp tạm thời vượt quá yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của cơ quan,
tổ chức, cá nhân; d) Tòa án áp dụng biện pháp khẩn
cấp tạm thời không đúng thời hạn theo quy định
của pháp luật hoặc không áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời mà không có lý do
chính đáng. 3. Việc bồi thường thiệt hại quy
định tại khoản 2 Điều này được thực hiện theo quy định của Luật trách nhiệm bồi
thường của Nhà nước. 1. Giao người chưa thành niên,
người mất năng lực hành vi dân sự, người có
khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi cho cá nhân hoặc tổ chức trông
nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. 2. Buộc thực hiện trước một phần
nghĩa vụ cấp dưỡng. 3. Buộc thực hiện trước một phần
nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khoẻ bị xâm phạm. 4. Buộc người sử dụng lao động
tạm ứng tiền lương, tiền bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp,
chi phí cứu chữa tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp, tiền bồi thường, trợ
cấp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp cho người lao động. 5. Tạm đình chỉ thi hành
quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng lao
động, quyết
định sa thải người lao động. 6. Kê biên tài sản đang tranh
chấp. 7. Cấm chuyển dịch quyền về tài
sản đối với tài sản đang tranh chấp. 8. Cấm thay đổi hiện trạng tài
sản đang tranh chấp. 9. Cho thu hoạch, cho bán hoa màu
hoặc sản phẩm, hàng hoá khác. 10. Phong tỏa tài khoản tại ngân
hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc nhà nước; phong tỏa tài sản ở nơi gửi
giữ. 11. Phong tỏa tài sản của người
có nghĩa vụ. 12. Cấm hoặc buộc thực hiện hành
vi nhất định. 13. Cấm xuất cảnh đối với người
có nghĩa vụ. 14. Cấm tiếp xúc với nạn nhân bạo
lực gia đình. 15. Tạm dừng việc đóng thầu và
các hoạt động có liên quan đến việc đấu thầu. 16. Bắt giữ tàu bay, tàu biển để
bảo đảm giải quyết vụ án. 17. Các biện pháp khẩn cấp tạm
thời khác mà luật có quy định. Giao người chưa thành niên, người
mất năng lực hành vi dân sự, người có khó
khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi cho cá nhân hoặc tổ chức trông
nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục được áp dụng nếu việc giải quyết vụ án có
liên quan đến những người này mà họ chưa có người giám hộ. Việc giao người chưa thành niên
từ đủ bảy tuổi trở lên thì phải xem xét
nguyện vọng của người đó. Buộc thực hiện trước một phần
nghĩa vụ cấp dưỡng được áp dụng nếu việc giải quyết vụ án có liên quan đến yêu
cầu cấp dưỡng và xét thấy yêu cầu đó là có căn cứ và nếu không thực hiện trước
ngay một phần nghĩa vụ cấp dưỡng sẽ ảnh hưởng đến sức khoẻ, đời sống của người
được cấp dưỡng. Buộc thực hiện trước một phần
nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khoẻ bị xâm phạm được áp dụng
nếu việc giải quyết vụ án có liên quan đến yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại do
tính mạng, sức khoẻ bị xâm phạm. Buộc người sử dụng lao động tạm
ứng tiền lương, tiền bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, chi
phí cứu chữa tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp, tiền bồi thường, trợ cấp
tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp cho người lao động được áp dụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp
của người lao động về tiền lương, tiền bảo hiểm, tiền bồi thường, tiền trợ cấp,
chăm sóc sức khỏe theo quy định của pháp luật. Tạm đình chỉ thi hành
quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng lao
động, quyết
định sa thải người lao động được áp dụng nếu việc giải quyết vụ án có liên quan
đến đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động,
sa thải
người lao động thuộc trường hợp người sử dụng lao động không được thực hiện
quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hoặc không được xử lý kỷ luật
sa thải đối với người lao động theo quy
định của pháp luật về lao động. 1. Kê biên tài sản đang tranh
chấp được áp dụng nếu trong quá trình giải quyết vụ án có căn cứ cho thấy người
giữ tài sản đang tranh chấp có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản. 2. Tài sản bị kê biên có thể được
thu giữ, bảo quản tại cơ quan thi hành án dân sự hoặc lập biên bản giao cho một
bên đương sự hoặc người thứ ba quản lý cho đến khi có quyết định của Tòa
án. Cấm chuyển dịch quyền về tài sản
đối với tài sản đang tranh chấp được áp dụng nếu trong quá trình giải quyết vụ
án có căn cứ cho thấy người đang chiếm hữu hoặc giữ tài sản đang tranh chấp có
hành vi chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp cho người
khác. Cấm thay đổi hiện trạng tài sản
đang tranh chấp được áp dụng nếu trong quá trình giải quyết vụ án có căn cứ cho
thấy người đang chiếm hữu hoặc giữ tài sản đang tranh chấp có hành vi tháo gỡ,
lắp ghép, xây dựng thêm hoặc có hành vi khác làm thay đổi hiện trạng tài sản
đó. Cho thu hoạch, cho bán hoa màu
hoặc sản phẩm, hàng hoá khác được áp dụng nếu trong quá trình giải quyết vụ án
có tài sản đang tranh chấp hoặc liên quan đến tranh chấp mà có hoa màu hoặc sản
phẩm, hàng hoá khác ở thời kỳ thu hoạch hoặc không thể bảo quản được lâu
dài. Phong tỏa tài khoản tại ngân
hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc nhà nước được áp dụng nếu trong quá trình
giải quyết vụ án có căn cứ cho thấy người có nghĩa vụ có tài khoản tại ngân
hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc nhà nước và việc áp dụng biện pháp này là
cần thiết để bảo đảm cho việc giải quyết vụ án hoặc việc thi hành
án. Phong tỏa tài sản ở nơi gửi giữ
được áp dụng nếu trong quá trình giải quyết vụ án có căn cứ cho thấy người có
nghĩa vụ có tài sản đang gửi giữ và việc áp dụng biện pháp này là cần thiết để
bảo đảm cho việc giải quyết vụ án hoặc bảo việc thi hành án. Phong tỏa tài sản của người có
nghĩa vụ được áp dụng nếu trong quá trình giải quyết vụ án có căn cứ cho thấy
người có nghĩa vụ có tài sản và việc áp dụng biện pháp này là cần thiết để bảo
đảm cho việc giải quyết vụ án hoặc việc thi hành án. Cấm hoặc buộc thực hiện hành vi
nhất định được áp dụng nếu trong quá trình giải quyết vụ án có căn cứ cho thấy
đương sự hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác thực hiện hoặc không thực hiện
một hoặc một số hành vi nhất định làm ảnh
hưởng đến việc giải quyết vụ án,
quyền và lợi
ích hợp pháp của người khác có liên quan trong vụ án đang được Tòa án giải
quyết. Cấm xuất cảnh đối với người có
nghĩa vụ được áp dụng nếu có căn cứ cho thấy việc giải quyết vụ án có liên quan
đến nghĩa vụ của họ đối với Nhà nước, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác
và việc xuất cảnh của họ ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, lợi ích
của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác hoặc
để bảo đảm việc thi hành án. Cấm người có hành vi bạo lực gia
đình tiếp xúc với nạn nhân bạo lực gia đình được áp dụng nếu biện pháp đó là cần
thiết để bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự của nạn nhân bạo lực gia đình theo
quy định của Luật phòng chống bạo lực gia đình. Tạm dừng việc đóng thầu, phê
duyệt danh sách ngắn, kết quả lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư, ký kết hợp đồng,
thực hiện hợp đồng được áp dụng nếu quá trình giải quyết vụ án cho thấy việc áp
dụng biện pháp này là cần thiết để bảo đảm cho việc giải quyết vụ án theo đúng
quy định của pháp luật. 1. Tòa án quyết định áp dụng biện
pháp khẩn cấp tạm thời bắt giữ tàu bay để bảo đảm giải quyết vụ án dân sự mà vụ
án đó do chủ sở hữu tàu bay, chủ nợ trong trường hợp tàu bay là tài sản bảo đảm,
người bị thiệt hại do tàu bay đang bay gây ra hoặc người có quyền, lợi ích liên
quan đối với tàu bay khởi kiện theo quy định của pháp luật về hàng không dân
dụng Việt Nam. 2. Tòa án quyết định áp dụng biện
pháp khẩn cấp tạm thời bắt giữ tàu biển trong các trường hợp sau
đây: a) Tàu biển bị yêu cầu
bắt giữ để bảo đảm việc giải quyết khiếu nại hàng hải mà người yêu cầu
bắt giữ tàu biển đã khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án; b) Chủ tàu là người có nghĩa vụ
về tài sản trong vụ án đang giải quyết và vẫn là chủ tàu tại thời điểm áp dụng
biện pháp khẩn cấp tạm thời bắt giữ tàu biển; c) Người thuê tàu trần, người
thuê tàu định hạn, người thuê tàu chuyến hoặc người khai thác tàu là người có
nghĩa vụ về tài sản trong vụ án dân sự phát sinh từ khiếu nại hàng hải theo quy
định của Bộ luật hàng hải Việt Nam và vẫn là người thuê tàu trần, người thuê tàu
định hạn, người thuê tàu chuyến, người khai thác tàu hoặc là chủ tàu tại thời
điểm áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời bắt giữ tàu biển; d) Tranh chấp đang được giải
quyết trong vụ án phát sinh trên cơ sở của việc thế chấp tàu biển
đó; đ) Tranh chấp đang được giải
quyết trong vụ án liên quan đến quyền sở hữu hoặc quyền chiếm hữu tàu biển
đó. 3. Trình tự, thủ tục bắt giữ tàu
bay, tàu biển được áp dụng theo quy định của pháp luật về bắt giữ tàu bay, tàu
biển. Ngoài các biện pháp khẩn cấp tạm
thời quy định tại các khoản từ khoản 1 đến khoản 16 Điều 114 của Bộ luật này,
Tòa án có trách nhiệm giải quyết yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn tạm thời khác do
luật khác quy định. 1. Người yêu cầu Tòa án áp dụng
biện pháp khẩn cấp tạm thời phải làm đơn gửi đến Tòa án có thẩm quyền. Đơn yêu
cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải có các nội dung chính sau
đây: a) Ngày, tháng, năm làm đơn; b) Tên, địa chỉ; số điện thoại,
fax, địa chỉ thư điện tử (nếu có) của người yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp
tạm thời; c) Tên, địa chỉ; số điện thoại,
fax, địa chỉ thư điện tử (nếu có) của người bị yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn
cấp tạm thời; d) Tóm tắt nội dung tranh chấp
hoặc hành vi xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của mình; đ) Lý do cần phải áp dụng biện
pháp khẩn cấp tạm thời; e) Biện pháp khẩn cấp tạm thời
cần được áp dụng và các yêu cầu cụ thể. Tuỳ theo yêu cầu áp dụng biện
pháp khẩn cấp tạm thời mà người yêu cầu phải cung cấp cho Tòa án chứng cứ để
chứng minh cho sự cần thiết phải áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
đó. 2. Yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn
cấp tạm thời trong trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 111 của Bộ luật này được
giải quyết như sau: a) Trường hợp Tòa án nhận đơn yêu
cầu trước khi mở phiên tòa thì Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án phải
xem xét, giải quyết. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày
nhận đơn, nếu người yêu cầu không phải thực hiện biện pháp bảo đảm hoặc ngay sau
khi người đó thực hiện xong biện pháp bảo đảm quy định tại Điều 136 của Bộ luật
này thì Thẩm phán phải ra ngay quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;
nếu không chấp nhận yêu cầu thì Thẩm phán phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ
lý do cho người yêu cầu; b) Trường hợp Hội đồng xét xử
nhận đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời tại phiên tòa thì Hội đồng
xét xử xem xét, thảo luận, giải quyết tại phòng xử án. Nếu chấp nhận thì Hội
đồng xét xử ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời ngay hoặc sau khi
người yêu cầu đã thực hiện xong biện pháp bảo đảm quy định tại Điều 136 của Bộ
luật này. Việc thực hiện biện pháp bảo đảm được bắt đầu từ thời điểm Hội đồng
xét xử ra quyết định buộc thực hiện biện pháp bảo đảm, nhưng người yêu cầu phải
xuất trình chứng cứ về việc đã thực hiện xong biện pháp bảo đảm trước khi Hội
đồng xét xử vào phòng nghị án; nếu không chấp nhận yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì Hội đồng xét xử phải
thông báo ngay tại phòng xử án và ghi vào biên bản phiên tòa. 3. Đối với trường hợp yêu cầu áp
dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại khoản 2 Điều 111 của Bộ luật này
thì sau khi nhận được đơn yêu cầu cùng với đơn khởi kiện và chứng cứ kèm theo,
Chánh án Tòa án phân công ngay một Thẩm phán thụ lý
giải quyết đơn yêu cầu. Trong thời hạn 48 giờ, kể từ thời điểm nhận được đơn yêu
cầu, Thẩm phán phải xem xét và ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm
thời; nếu không chấp nhận yêu cầu thì Thẩm phán phải thông báo bằng văn bản và
nêu rõ lý do cho người yêu cầu biết. 4. Trường hợp áp dụng biện pháp khẩn
cấp tạm thời quy định tại khoản 10 và khoản 11 Điều 114 của Bộ luật này thì chỉ
được phong tỏa tài khoản, tài sản có giá trị tương đương với nghĩa vụ tài sản mà
người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời có nghĩa vụ phải thực
hiện. Cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi
kiện vụ án quy định tại Điều 187 của Bộ luật này kiến nghị Tòa án áp dụng biện
pháp khẩn cấp tạm thời bằng văn bản, trong đó phải nêu rõ lý do kiến nghị; biện
pháp khẩn cấp tạm thời cần được áp dụng; tên, địa chỉ của người có quyền và lợi
ích hợp pháp cần được bảo vệ; tên, địa chỉ của người bị yêu cầu áp dụng biện
pháp khẩn cấp tạm thời; tóm tắt nội dung tranh chấp, hành vi xâm phạm quyền và lợi
ích hợp pháp của đương sự; chứng cứ để chứng minh cho việc kiến nghị của mình là
có căn cứ và hợp pháp. Tòa án tự mình ra quyết định áp
dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Điều 114
của Bộ luật này trong trường hợp đương sự không yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn
cấp tạm thời. 1. Người yêu cầu Tòa án áp dụng
một trong các biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại các khoản 6, 7, 8, 10,
11, 15 và 16 Điều 114 của Bộ luật này phải nộp cho Tòa án chứng từ bảo lãnh được
bảo đảm bằng tài sản của ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng khác hoặc của cơ quan,
tổ chức, cá nhân khác hoặc gửi một khoản tiền, kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ
có giá do Tòa án ấn định nhưng phải tương đương với tổn thất hoặc thiệt hại có
thể phát sinh do hậu quả của việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng
để bảo vệ lợi ích của người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời và ngăn ngừa
sự lạm dụng quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời từ phía người có
quyền yêu cầu. Đối với trường hợp quy định tại
khoản 2 Điều 111 của Bộ luật này thì thời hạn thực hiện biện pháp bảo đảm quy
định tại khoản này không được quá 48 giờ, kể từ thời điểm nộp đơn yêu
cầu. 2. Khoản tiền, kim khí quý, đá
quý hoặc giấy tờ có giá phải được gửi vào tài khoản phong tỏa tại ngân hàng nơi
có trụ sở của Tòa án quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong thời
hạn do Tòa án ấn định. Trong trường hợp thực hiện biện
pháp bảo đảm vào ngày lễ hoặc ngày nghỉ thì khoản tiền bảo đảm được gửi giữ tại
Tòa án. Tòa án phải làm thủ tục giao nhận và gửi ngay khoản tiền đó vào ngân
hàng vào ngày làm việc tiếp theo. Khi xét thấy biện pháp khẩn cấp
tạm thời đang được áp dụng không còn phù hợp mà cần thiết phải thay đổi hoặc áp
dụng bổ sung biện pháp khẩn cấp tạm thời khác thì thủ tục thay đổi, áp dụng bổ
sung biện pháp khẩn cấp tạm thời khác được thực hiện theo quy định tại Điều 133
của Bộ luật này. 1. Tòa án ra ngay quyết định hủy
bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời đã được áp dụng khi thuộc một trong các trường
hợp sau đây: a) Người yêu cầu áp dụng biện
pháp khẩn cấp tạm thời đề nghị hủy bỏ; b) Người phải thi hành quyết định
áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời nộp tài sản hoặc có người khác thực hiện
biện pháp bảo đảm thi hành nghĩa vụ đối với bên có yêu cầu; c) Nghĩa vụ dân sự của bên có
nghĩa vụ chấm dứt theo quy định của Bộ luật dân sự; d) Việc giải quyết vụ án được
đình chỉ theo quy định của Bộ luật này; đ) Quyết định áp dụng biện pháp
khẩn cấp tạm thời không đúng theo quy định của Bộ luật này; e) Căn cứ của việc áp dụng biện
pháp khẩn cấp tạm thời không còn; g) Vụ việc đã được giải quyết
bằng bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật; h) Các trường hợp Tòa án trả lại
đơn khởi kiện theo quy định của Bộ luật này. 2. Trường hợp hủy bỏ biện pháp
khẩn cấp tạm thời, Tòa án phải xem xét, quyết định để người yêu cầu áp dụng biện
pháp khẩn cấp tạm thời nhận lại chứng từ bảo lãnh được bảo đảm bằng tài sản của
ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng khác hoặc khoản tiền, kim khí quý, đá quý hoặc
giấy tờ có giá quy định tại Điều 136 của Bộ luật này, trừ trường hợp quy định
tại khoản 1 Điều 113 của Bộ luật này. 3. Thủ tục ra quyết định hủy bỏ
việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời được thực hiện theo quy định tại Điều
133 của Bộ luật này. Trường hợp đã có bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực
pháp luật thì việc giải quyết yêu cầu hủy quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp
tạm thời do một Thẩm phán được Chánh án của Tòa án đã ra
quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phân công giải quyết. 1. Quyết định áp dụng, thay đổi,
hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời có hiệu lực thi hành ngay. 2. Tòa án phải cấp hoặc gửi quyết
định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời ngay sau khi ra quyết
định cho người có yêu cầu, người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, cơ
quan, tổ chức, cá nhân có liên quan, cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền và
Viện kiểm sát cùng cấp. Đương sự có quyền khiếu nại, Viện
kiểm sát có quyền kiến nghị với Chánh án Tòa án đang giải quyết vụ án về quyết
định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc việc Thẩm phán
không quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời. Thời hạn
khiếu nại, kiến nghị là 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định áp
dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc trả lời của Thẩm phán về
việc không ra quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm
thời. 1. Chánh án Tòa án phải xem xét,
giải quyết khiếu nại, kiến nghị quy định tại Điều 140 của Bộ luật này trong thời
hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được khiếu nại, kiến nghị. 2. Quyết định giải quyết khiếu
nại, kiến nghị của Chánh án là quyết định cuối cùng và phải được cấp hoặc gửi
ngay theo quy định tại khoản 2 Điều 139 của Bộ luật này. 3. Tại phiên tòa, việc giải quyết
khiếu nại, kiến nghị thuộc thẩm quyền của Hội đồng xét xử. Quyết định giải quyết
khiếu nại, kiến nghị của Hội đồng xét xử là quyết định cuối cùng. 1. Quyết định áp dụng, thay đổi,
hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời được thi hành theo quy định của pháp luật về
thi hành án dân sự. 2. Trường hợp quyết định áp dụng
biện pháp khẩn cấp tạm thời đối với tài sản có đăng ký quyền sở hữu, quyền sử
dụng thì đương sự có nghĩa vụ nộp bản sao quyết định cho cơ quan quản lý đăng ký
quyền sở hữu, quyền sử dụng. 1. Tiền tạm ứng án phí bao gồm
tiền tạm ứng án phí sơ thẩm và tiền tạm ứng án phí phúc thẩm. 2. Án phí bao gồm án phí sơ thẩm
và án phí phúc thẩm. 3. Tiền tạm ứng lệ phí giải quyết
việc dân sự bao gồm tiền tạm ứng lệ phí sơ thẩm và tiền tạm ứng lệ phí phúc
thẩm. 4. Lệ phí bao gồm lệ phí cấp bản
sao bản án, quyết định và các giấy tờ khác của Tòa án, lệ phí nộp đơn yêu cầu
Tòa án giải quyết việc dân sự, lệ phí giải quyết việc dân sự và các khoản lệ phí
khác mà luật có quy định. 1. Toàn bộ án phí, lệ phí thu
được phải nộp đầy đủ, kịp thời vào ngân sách nhà nước tại kho bạc nhà
nước. 2. Tiền tạm ứng án phí, tiền tạm
ứng lệ phí được nộp cho cơ quan thi hành án có thẩm quyền để gửi vào tài khoản
tạm giữ mở tại kho bạc nhà nước và được rút ra để thi hành án theo quyết định
của Tòa án. 3. Người đã nộp tiền tạm ứng án
phí, tiền tạm ứng lệ phí phải chịu án phí, lệ phí thì ngay sau khi bản án, quyết
định của Tòa án có hiệu lực pháp
luật, số
tiền tạm ứng đã thu được phải được nộp vào ngân sách nhà nước. Trường hợp người đã nộp tiền tạm
ứng án phí, tiền tạm ứng lệ phí được hoàn trả một phần hoặc toàn bộ số tiền đã
nộp theo bản án, quyết định của Tòa án thì cơ quan thi hành án đã thu tiền tạm
ứng án phí, tiền tạm ứng lệ phí phải làm thủ tục trả lại tiền cho
họ. 4. Trường hợp việc giải quyết vụ
việc dân sự bị tạm đình chỉ thì tiền tạm ứng án phí, tiền tạm ứng lệ phí đã nộp
được xử lý khi vụ việc được tiếp tục giải quyết. Việc thu tiền tạm ứng án phí và
án phí, tiền tạm ứng lệ phí và lệ phí; việc chi trả tiền tạm ứng án phí, tiền
tạm ứng lệ phí phải được thực hiện theo quy định của pháp luật. 1. Nguyên đơn, bị đơn có yêu cầu
phản tố đối với nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu
độc lập trong vụ án dân sự phải nộp tiền tạm ứng án phí sơ thẩm, người kháng cáo
theo thủ tục phúc thẩm phải nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm, trừ trường hợp
được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí. 2. Người nộp đơn yêu cầu Tòa án
giải quyết việc dân sự phải nộp tiền tạm ứng lệ phí giải quyết việc dân sự đó,
trừ trường hợp được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm
ứng lệ phí. Đối với yêu cầu công nhận
thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn thì vợ, chồng có
thể thỏa thuận về việc nộp tiền tạm ứng lệ phí, trừ trường hợp được miễn hoặc
không phải nộp tiền tạm ứng lệ phí theo quy định của pháp luật. Trường hợp vợ,
chồng không thỏa thuận được người nộp tiền tạm ứng lệ phí thì mỗi người phải nộp
một nửa tiền tạm ứng lệ phí. 1. Đương sự phải chịu án phí sơ
thẩm nếu yêu cầu của họ không được Tòa án chấp nhận, trừ trường hợp được miễn
hoặc không phải chịu án phí sơ thẩm. 2. Trường hợp các đương sự không
tự xác định được phần tài sản của mình trong khối tài sản chung và có yêu cầu
Tòa án giải quyết chia tài sản chung đó thì mỗi đương sự phải chịu án phí sơ thẩm tương ứng với giá
trị phần tài sản mà họ được hưởng. 3. Trước khi mở phiên tòa, Tòa án
tiến hành hòa giải; nếu các đương sự thoả thuận được
với nhau về việc giải quyết vụ án thì họ chỉ phải chịu 50% mức án phí sơ thẩm
quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này. 4. Trong vụ án ly hôn thì nguyên
đơn phải chịu án phí sơ thẩm, không phụ thuộc
vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Trường hợp
cả hai thuận tình ly hôn thì mỗi bên đương sự phải chịu một nửa án phí sơ
thẩm. 5. Trong vụ án có đương sự được
miễn án phí sơ thẩm thì đương sự khác vẫn phải nộp án phí sơ thẩm mà mình phải
chịu theo quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều này. 6. Trường hợp vụ án bị tạm đình
chỉ giải quyết thì nghĩa vụ chịu
án phí sơ
thẩm được quyết định khi vụ án được tiếp tục giải quyết theo quy định tại
Điều này. 1. Đương sự kháng cáo phải
chịu án phí phúc thẩm, nếu Tòa án cấp
phúc thẩm giữ nguyên bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, trừ trường hợp
được miễn hoặc không phải chịu án phí phúc
thẩm. 2. Trường hợp Tòa án cấp phúc
thẩm sửa bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo thì đương sự kháng cáo không
phải chịu án phí phúc thẩm; Tòa án cấp phúc
thẩm phải xác định lại nghĩa vụ chịu
án phí sơ
thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật này. 3. Trường hợp Tòa án cấp phúc
thẩm hủy bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo để xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm thì đương sự kháng cáo
không phải chịu án phí phúc thẩm; nghĩa vụ
chịu án phí được xác định lại khi giải
quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm. 1. Nghĩa vụ chịu lệ phí được xác định tuỳ theo
từng loại việc dân sự cụ thể và do luật quy định. 2. Đối với yêu cầu công nhận
thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn thì vợ, chồng có
thể thỏa thuận về việc chịu lệ phí, trừ trường hợp
được miễn hoặc không phải chịu lệ phí theo quy định của
pháp luật. Trường hợp vợ, chồng không thỏa thuận được người
có nghĩa vụ chịu lệ phí thì mỗi người phải
chịu một nửa lệ phí. Căn cứ vào quy định của
Luật phí và lệ phí và Bộ luật này, Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định cụ thể về
án phí, lệ phí Tòa án; mức thu án phí, lệ phí Tòa án đối với mỗi loại vụ việc cụ thể; các trường hợp được miễn, giảm hoặc không phải nộp án
phí, lệ phí Tòa án; chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa
án. 1. Tiền tạm ứng chi phí ủy thác
tư pháp ra nước ngoài là số tiền mà Tòa án tạm tính để chi trả cho việc ủy thác
tư pháp khi tiến hành thu thập, cung cấp chứng cứ, tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài
liệu, triệu tập người làm chứng, người giám định và các yêu cầu tương trợ tư
pháp có liên quan đến việc giải quyết vụ việc dân sự. 2. Chi phí ủy thác tư pháp
ra nước ngoài là số tiền cần thiết và hợp lý
phải chi trả cho việc thực hiện ủy thác tư pháp theo quy định của pháp luật Việt
Nam và của nước được yêu cầu ủy thác tư pháp. 1. Nguyên đơn, người kháng cáo
theo thủ tục phúc thẩm hoặc đương sự khác trong vụ án phải nộp tiền tạm ứng chi
phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài khi yêu cầu của họ làm phát sinh việc ủy thác
tư pháp ra nước ngoài. 2. Người yêu cầu Tòa án giải
quyết việc dân sự, người kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm hoặc đương sự khác
trong việc dân sự phải nộp tiền tạm ứng chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài
khi yêu cầu của họ làm phát sinh việc ủy thác tư pháp ra nước ngoài. Trường hợp các bên đương sự không
có thoả thuận khác hoặc pháp luật không có quy định khác thì nghĩa vụ chịu chi
phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài được xác định như sau: 1. Đương sự phải chịu chi phí ủy
thác tư pháp ra nước ngoài nếu yêu cầu giải quyết vụ việc của họ không được Tòa
án chấp nhận; 2. Trường hợp yêu cầu Tòa án chia
tài sản chung thì mỗi người được chia tài sản phải chịu phần chi phí ủy thác tư
pháp ra nước ngoài tương ứng với tỷ lệ giá trị phần tài sản mà họ được
chia; 3. Trong vụ án ly hôn thì nguyên
đơn phải nộp chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài, không phụ thuộc vào việc Tòa
án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Trường hợp cả hai thuận
tình ly hôn thì mỗi bên đương sự phải chịu một nửa chi phí ủy thác tư pháp ra
nước ngoài; 4. Trường hợp đình chỉ giải quyết
vụ án quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217, điểm b khoản 1 Điều 299 của Bộ luật này
thì nguyên đơn phải chịu chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài. Trường hợp đình chỉ giải quyết
việc xét xử phúc thẩm quy định tại điểm b khoản 1 Điều 289, khoản 3 Điều 296 của
Bộ luật này thì người kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm phải chịu chi phí ủy thác
tư pháp ra nước ngoài; 5. Đối với các trường hợp đình
chỉ giải quyết vụ án khác theo quy định của Bộ luật này thì người yêu cầu phải
chịu chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài. 1. Trường hợp người đã nộp tiền
tạm ứng chi phí ủy thác tư pháp không phải chịu chi phí ủy thác tư pháp thì
người phải chịu chi phí ủy thác tư pháp theo quyết định của Tòa án phải hoàn trả
cho người đã nộp tiền tạm ứng chi phí ủy thác tư pháp. 2. Trường hợp người đã nộp tiền
tạm ứng chi phí ủy thác tư pháp phải chịu chi phí ủy thác tư pháp, nếu số tiền
tạm ứng đã nộp chưa đủ cho chi phí ủy thác tư pháp thực tế thì họ phải nộp thêm
phần tiền còn thiếu; nếu số tiền tạm ứng đã nộp nhiều hơn chi phí ủy thác tư
pháp thực tế thì họ được trả lại phần tiền còn thừa theo quyết định của Tòa
án. 1. Tiền tạm ứng chi phí
xem xét, thẩm định tại chỗ là số tiền mà
Tòa án tạm tính để tiến hành việc xem
xét, thẩm định tại chỗ. 2. Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là số tiền cần
thiết và hợp lý phải chi trả cho việc xem
xét, thẩm định tại chỗ căn cứ vào quy
định của pháp luật. 1. Người yêu cầu Tòa án
xem xét, thẩm định tại chỗ phải nộp tiền
tạm ứng chi phí xem xét,
thẩm
định tại chỗ theo yêu cầu của Tòa án. 2. Trường hợp Tòa án xét thấy cần
thiết và quyết định xem xét,
thẩm
định tại chỗ thì nguyên đơn, người yêu cầu giải quyết việc dân sự, người kháng
cáo theo thủ tục phúc thẩm phải nộp tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ. Trường hợp các bên đương sự không
có thoả thuận khác hoặc pháp luật không có quy định khác thì nghĩa vụ chịu chi
phí xem xét, thẩm định tại chỗ được xác định
như sau: 1. Đương sự phải chịu chi phí
xem xét, thẩm định tại chỗ nếu yêu cầu của
họ không được Tòa án chấp nhận; 2. Trường hợp yêu cầu Tòa án chia
tài sản chung thì mỗi người được chia tài sản phải chịu phần chi phí
xem xét, thẩm định tại chỗ theo tỷ lệ giá
trị phần tài sản mà họ được chia; 3. Trong vụ án ly hôn thì nguyên
đơn phải nộp chi phí xem xét,
thẩm
định tại chỗ, không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu
cầu của nguyên đơn. Trường hợp cả hai thuận tình ly hôn thì mỗi bên đương sự
phải chịu một nửa chi phí xem xét,
thẩm
định tại chỗ; 4. Trường hợp đình chỉ giải quyết
vụ án quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217, điểm b khoản 1 Điều 299 của Bộ luật này
thì nguyên đơn phải chịu chi phí xem
xét, thẩm định tại chỗ. Trường hợp đình chỉ giải quyết
việc xét xử phúc thẩm quy định tại điểm b khoản 1 Điều 289, khoản 3 Điều 296 của
Bộ luật này thì người kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm phải chịu chi phí
xem xét, thẩm định tại chỗ; 5. Đối với các trường hợp đình
chỉ giải quyết vụ án khác theo quy định của Bộ luật này thì người yêu cầu
xem xét, thẩm định phải chịu chi phí
xem xét, thẩm định tại chỗ. 1. Trường hợp người đã nộp tiền
tạm ứng chi phí xem xét,
thẩm
định tại chỗ không phải chịu chi phí xem
xét, thẩm định tại chỗ thì người phải
chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ theo
quyết định của Tòa án phải hoàn trả cho người đã nộp tiền tạm ứng chi phí
xem xét, thẩm định tại chỗ. 2. Trường hợp người đã nộp tiền
tạm ứng chi phí xem xét,
thẩm
định tại chỗ phải chịu chi phí xem xét,
thẩm
định tại chỗ, nếu số tiền tạm ứng đã nộp chưa đủ cho chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ thực tế thì họ
phải nộp thêm phần tiền còn thiếu; nếu số tiền tạm ứng đã nộp nhiều hơn chi phí
xem xét, thẩm định tại chỗ thực tế thì họ
được trả lại phần tiền còn thừa theo quyết định của Tòa án. 1. Tiền tạm ứng chi phí giám định
là số tiền mà người giám định tạm tính để tiến
hành việc giám định theo quyết định của Tòa án hoặc theo yêu cầu giám định của
đương sự. 2. Chi phí giám định là số tiền
cần thiết và hợp lý phải chi trả cho việc giám định và do người giám định tính
căn cứ vào quy định của pháp luật. Trường hợp các đương sự không có
thỏa thuận khác hoặc pháp luật không có quy định khác thì nghĩa vụ nộp tiền tạm
ứng chi phí giám định được xác định như sau: 1. Người yêu cầu Tòa án trưng cầu
giám định phải nộp tiền tạm ứng chi phí giám định. Trường hợp các bên đương sự yêu
cầu Tòa án trưng cầu giám định về cùng một đối tượng thì mỗi bên đương sự phải
nộp một nửa số tiền tạm ứng chi phí giám định; 2. Trường hợp Tòa án xét thấy cần
thiết và quyết định trưng cầu giám định thì nguyên đơn, người yêu cầu giải quyết
việc dân sự, người kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm phải nộp tiền tạm ứng chi
phí giám định; 3. Đương sự, người có yêu cầu
giải quyết việc dân sự, người kháng cáo đã yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định mà
không được chấp nhận và tự mình yêu cầu tổ chức, cá nhân thực hiện giám định thì
việc nộp tiền tạm ứng chi phí giám định được thực hiện theo quy định của Luật
giám định tư pháp. Trường hợp các bên đương sự không
có thoả thuận khác hoặc pháp luật không có quy định khác thì nghĩa vụ chịu chi
phí giám định được xác định như sau: 1. Người yêu cầu Tòa án trưng cầu
giám định phải chịu chi phí giám định, nếu kết quả giám định chứng minh yêu cầu
của người đó là không có căn cứ. Trường hợp kết quả giám định chứng minh yêu cầu
của họ chỉ có căn cứ một phần thì họ phải nộp chi phí giám định đối với phần yêu
cầu của họ đã được chứng minh là không có căn cứ; 2. Người không chấp nhận yêu cầu
trưng cầu giám định của đương sự khác trong vụ án phải nộp chi phí giám định,
nếu kết quả giám định chứng minh yêu cầu của người yêu cầu trưng cầu giám định
là có căn cứ. Trường hợp kết quả giám định chứng minh yêu cầu trưng cầu giám
định chỉ có căn cứ một phần thì người không chấp nhận yêu cầu trưng cầu giám
định phải chịu chi phí giám định tương ứng với phần yêu cầu đã được chứng minh
là có căn cứ; 3. Trường hợp đình chỉ giải quyết
vụ án quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217, điểm b khoản 1 Điều 299 của Bộ luật này
thì nguyên đơn phải chịu chi phí giám định. Trường hợp đình chỉ giải quyết
việc xét xử phúc thẩm quy định tại điểm b khoản 1 Điều 289, khoản 3 Điều 296 của
Bộ luật này thì người kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm phải chịu chi phí giám
định; 4. Trường hợp người tự mình yêu
cầu giám định theo quy định tại khoản 3 Điều 160 của Bộ luật này, nếu kết quả
giám định chứng minh yêu cầu của người đó là có căn cứ thì người thua kiện phải
chịu chi phí giám định. Trường hợp kết quả giám định chứng minh yêu cầu giám
định của họ chỉ có căn cứ một phần thì họ phải nộp chi phí giám định đối với
phần yêu cầu của họ đã được chứng minh là không có căn cứ; 5. Đối với các trường hợp đình
chỉ giải quyết vụ án khác theo quy định của Bộ luật này thì người yêu cầu trưng
cầu giám định phải chịu chi phí giám định. 1 Trường hợp người đã nộp tiền
tạm ứng chi phí giám định không phải chịu chi phí giám định thì người phải chịu
chi phí giám định theo quyết định của Tòa án phải hoàn trả cho người đã nộp tiền
tạm ứng chi phí giám định. 2. Trường hợp người đã nộp tiền
tạm ứng chi phí giám định phải chịu chi phí giám định, nếu số tiền tạm ứng đã
nộp chưa đủ cho chi phí giám định thực tế thì họ phải nộp thêm phần tiền còn
thiếu; nếu số tiền tạm ứng đã nộp nhiều hơn chi phí giám định thực tế thì họ
được trả lại phần tiền còn thừa theo quyết
định của Tòa án. 1. Tiền tạm ứng chi phí định giá
tài sản là số tiền mà Hội đồng định giá
tạm tính để tiến hành việc định giá tài sản
theo quyết
định của Tòa án. 2. Chi phí định giá tài sản là số tiền cần thiết và hợp lý
phải chi trả cho công việc định giá tài sản
và do Hội
đồng định giá tính căn cứ vào quy định của pháp luật. Trường hợp các bên đương sự không
có thoả thuận khác hoặc pháp luật không có quy định khác thì nghĩa vụ
nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản được xác định như
sau: 1. Người yêu cầu định giá
tài sản phải nộp tiền tạm ứng chi phí
định giá tài sản; 2. Trường hợp các bên đương sự
không thống nhất được về giá và cùng yêu cầu Tòa án định giá tài sản thì mỗi bên đương sự phải nộp một
nửa tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản. Trường hợp có nhiều đương sự,
thì các bên đương sự cùng phải nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản theo mức mà Tòa án quyết
định; 3. Đối với trường hợp quy định tại khoản 3
Điều 104 của Bộ luật này thì nguyên đơn, người kháng cáo phải nộp tiền tạm ứng
chi phí định giá tài sản. Trường hợp các bên đương sự không
có thoả thuận khác hoặc pháp luật không có quy định khác thì nghĩa vụ chịu chi
phí định giá tài sản, thẩm định giá được xác định
như sau: 1. Đương sự phải chịu chi phí
định giá tài sản nếu yêu cầu của họ không được Tòa
án chấp nhận; 2. Trường hợp yêu cầu Tòa án chia tài sản chung thì mỗi người
được chia tài sản phải chịu phần chi phí định giá tài sản tương ứng với tỷ lệ giá trị phần
tài sản mà họ được chia; 3. Trường hợp Tòa án ra quyết
định định giá tài sản quy định tại điểm c khoản 3 Điều
104 của Bộ luật này thì nghĩa vụ chịu chi
phí định giá tài sản được xác định như sau: a) Đương sự phải chịu chi phí
định giá tài sản quy định tại khoản 1 Điều này nếu
kết quả định giá chứng minh quyết định định giá tài sản của Tòa án là có căn
cứ; b) Tòa án trả chi phí định giá
tài sản nếu kết quả định giá tài sản chứng minh quyết định định giá
tài sản của Tòa án là không có căn
cứ. 4. Trường hợp đình chỉ giải quyết
vụ án quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217, điểm b khoản 1 Điều 299 của Bộ luật này
và Hội đồng định giá đã tiến hành định giá
thì nguyên đơn phải chịu chi phí định giá tài sản. Trường hợp đình chỉ giải quyết
việc xét xử phúc thẩm quy định tại điểm b khoản 1 Điều 289, khoản 3 Điều 296 của
Bộ luật này và Hội đồng định giá đã tiến hành
định giá thì người kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm phải chịu chi phí định giá
tài sản; 5. Các trường hợp đình chỉ giải
quyết vụ án khác theo quy định của Bộ luật này và Hội đồng định giá đã tiến hành định giá
thì người yêu cầu định giá tài sản
phải chịu
chi phí định giá tài
sản; 6. Nghĩa vụ chịu chi phí
thẩm định giá tài sản của đương sự được thực hiện như nghĩa vụ chịu chi phí định
giá tài sản quy định tại các khoản 1, 2, 4 và 5 Điều
này. 1. Trường hợp người đã nộp tiền
tạm ứng chi phí định giá tài sản
không phải
chịu chi phí định giá thì người phải chịu chi phí định giá theo quyết định của
Tòa án phải hoàn trả cho người đã nộp tiền tạm ứng chi phí định giá. 2. Trường hợp người đã nộp tiền
tạm ứng chi phí định giá tài sản
phải chịu
chi phí định giá, nếu số tiền tạm ứng đã nộp chưa đủ cho chi phí định giá thực
tế thì họ phải nộp thêm phần tiền còn thiếu; nếu số tiền tạm ứng đã nộp nhiều
hơn chi phí định giá thực tế thì họ được trả lại phần tiền còn thừa. 1. Chi phí hợp lý và thực tế cho
người làm chứng do đương sự chịu. 2. Người đề nghị Tòa án triệu tập
người làm chứng phải chịu tiền chi phí cho người làm chứng nếu lời làm chứng phù
hợp với sự thật nhưng không đúng với yêu
cầu của người đề nghị. Trường hợp lời làm chứng phù hợp với sự thật và đúng với
yêu cầu của người đề nghị triệu tập người làm chứng thì chi phí này do đương sự
có yêu cầu độc lập với yêu cầu của người đề nghị chịu. 1. Chi phí cho người phiên dịch
là khoản tiền phải trả cho người phiên dịch trong quá trình giải quyết vụ việc
dân sự theo thoả thuận của đương sự với người phiên dịch hoặc theo quy định của
pháp luật. 2. Chi phí cho luật sư là khoản
tiền phải trả cho luật sư theo thoả thuận của đương sự với luật sư trong phạm vi
quy định của tổ chức hành nghề luật sư
và theo quy
định của pháp luật. 3. Chi phí cho người phiên dịch,
luật sư do người có yêu cầu chịu, trừ trường hợp các bên đương sự có thoả thuận
khác. 4. Trường hợp Tòa án yêu cầu
người phiên dịch thì chi phí cho người phiên dịch do Tòa án trả. Căn cứ vào quy định của Bộ luật này, Ủy ban thường vụ
Quốc hội quy định cụ thể về chi phí ủy thác tư pháp ra nước
ngoài, chi phí xem xét, thẩm định tại
chỗ, chi phí giám định, định giá tài sản; chi phí cho người làm
chứng, người phiên dịch; chi phí tố tụng khác do luật khác quy định và việc miễn, giảm chi phí
tố tụng trong quá trình giải quyết vụ
án. Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan
thi hành án thực hiện việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng cho
đương sự, những người tham gia tố tụng khác và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên
quan theo quy định của Bộ luật này và pháp luật có liên quan. 1. Thông báo, giấy báo, giấy
triệu tập, giấy mời trong tố tụng dân sự. 2. Bản án, quyết định của Tòa
án. 3. Quyết định kháng nghị của Viện
kiểm sát; các văn bản của cơ quan thi hành án dân sự. 4. Các văn bản tố tụng khác mà
pháp luật có quy định. Việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng do
những người sau đây thực hiện: 1. Người tiến hành tố tụng, người
của cơ quan ban hành văn bản tố tụng được giao nhiệm vụ thực hiện việc cấp, tống
đạt, thông báo văn bản tố
tụng; 2. Ủy ban nhân dân cấp xã nơi
người tham gia tố tụng dân sự cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người tham gia tố
tụng dân sự làm việc khi Tòa án có yêu cầu; 3. Đương sự, người đại diện của
đương sự hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong những
trường hợp do Bộ luật này quy định; 4. Nhân viên tổ chức dịch vụ bưu
chính; 5. Người có chức năng tống
đạt; 6. Những người khác mà pháp luật
có quy định. Việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng được
thực hiện bằng các phương thức sau đây: 1. Cấp, tống đạt, thông báo trực
tiếp, qua dịch vụ bưu chính hoặc người thứ ba được ủy quyền thực hiện việc cấp,
tống đạt, thông báo; 2. Cấp, tống đạt, thông báo bằng
phương tiện điện tử theo yêu cầu của đương sự hoặc người tham gia tố tụng khác
phù hợp với quy định của pháp luật về giao dịch điện tử; 3. Niêm yết công
khai; 4. Thông báo trên các phương tiện
thông tin đại chúng; 5. Cấp, tống đạt, thông báo bằng
phương thức khác theo quy định tại Chương XXXVIII của Bộ luật này. 1. Việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng được
thực hiện theo quy định của Bộ luật này thì được coi là hợp lệ. 2. Người có nghĩa vụ thực hiện
việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng phải
thực hiện theo quy định của Bộ luật này. Người có nghĩa vụ thi hành các
văn bản tố tụng đã được cấp, tống đạt,
thông báo
hợp lệ phải nghiêm chỉnh thi hành. 1. Người thực hiện việc cấp, tống
đạt, thông báo văn bản tố tụng phải
trực tiếp chuyển giao cho người được cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng có liên
quan. Người được cấp, tống đạt,
thông báo
phải ký nhận vào biên bản hoặc sổ giao nhận văn bản tố tụng. Thời điểm để tính
thời hạn tố tụng là ngày họ được cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố
tụng. 2. Việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng qua
dịch vụ bưu chính phải bằng thư bảo đảm và có xác nhận của người nhận văn bản tố
tụng. Văn bản có xác nhận phải được
chuyển lại cho Tòa án. Thời điểm để tính thời hạn tố
tụng là ngày họ xác nhận đã nhận được văn bản tố tụng do tổ chức dịch vụ bưu
chính chuyển đến. Việc cấp, tống đạt, thông báo bằng phương tiện điện
tử được thực hiện theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử. Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn
thi hành Điều này. 1. Văn bản tố tụng được cấp, tống
đạt, thông báo đến địa chỉ mà các
đương sự đã gửi cho Tòa án theo phương thức đương sự yêu cầu hoặc tới địa chỉ mà
các đương sự đã thỏa thuận và đề nghị Tòa án liên hệ theo địa chỉ
đó. 2. Người được cấp, tống
đạt, thông báo là cá nhân thì văn bản
tố tụng phải được giao trực tiếp cho họ. Đương sự phải ký nhận theo quy định tại
khoản 1 Điều 175 của Bộ luật này. 3. Trường hợp người được cấp,
tống đạt, thông báo đã chuyển đến nơi cư
trú mới và đã thông báo cho Tòa án việc thay đổi nơi cư trú thì phải cấp, tống
đạt, thông báo theo địa chỉ nơi cư trú
mới của họ. Đương sự phải ký nhận hoặc điểm
chỉ theo quy
định tại khoản 1 Điều 175 của Bộ luật này. Nếu họ không thông báo cho Tòa án
biết về việc thay đổi địa chỉ nơi cư trú và địa chỉ nơi cư trú mới thì Tòa án thực hiện theo
quy định tại Điều 179 và Điều 180 của Bộ luật này. 4. Trường hợp người được cấp,
tống đạt, thông báo từ chối nhận văn bản tố
tụng thì người thực hiện việc cấp, tống đạt, thông báo phải lập biên bản trong
đó nêu rõ lý do của việc từ chối, có xác nhận của đại diện tổ dân phố hoặc
Công an xã, phường, thị trấn về
việc người đó từ chối nhận văn bản tố tụng. Biên bản phải được lưu trong hồ sơ
vụ án. 5. Trường hợp người được cấp,
tống đạt, thông báo vắng mặt thì người thực
hiện việc cấp, tống đạt, thông báo phải lập biên
bản và giao cho người thân thích có đủ năng lực hành vi dân sự cùng nơi cư trú
với họ hoặc tổ trưởng tổ dân phố, trưởng thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc để
thực hiện việc ký nhận hoặc điểm chỉ
và yêu cầu
người này cam kết giao lại tận tay ngay cho người được cấp, tống đạt, thông báo. Biên bản phải được lưu
trong hồ sơ vụ án. Trường hợp người được cấp, tống
đạt, thông báo vắng mặt ở nơi cư trú
mà không rõ thời điểm trở về hoặc không rõ địa chỉ nơi cư trú mới của họ thì
người thực hiện việc cấp, tống đạt,
thông báo
phải lập biên bản về việc không thực hiện được việc cấp, tống đạt, thông báo, có xác nhận của đại
diện tổ dân phố hoặc Công an xã, phường, thị trấn; đồng
thời, thực hiện thủ tục niêm yết công khai văn bản cần tống đạt theo quy định
tại Điều 179 của Bộ luật này. Biên bản phải được lưu trong hồ sơ vụ
án. 1. Trường hợp người được cấp,
tống đạt, thông báo là cơ quan, tổ chức thì
văn bản tố tụng phải được giao trực tiếp cho người đại diện theo pháp luật hoặc
người chịu trách nhiệm nhận văn bản của cơ quan, tổ chức đó và phải được những
người này ký nhận. Trường hợp cơ quan, tổ chức được
cấp, tống đạt, thông báo có người đại diện tham
gia tố tụng hoặc cử người đại diện nhận văn bản tố tụng thì những người này ký
nhận văn bản tố tụng đó. Ngày ký nhận là ngày được cấp, tống đạt, thông báo. 2. Trường hợp người được cấp,
tống đạt, thông báo từ chối nhận văn bản tố
tụng hoặc vắng mặt thì thực hiện theo quy định tại khoản 4 và khoản 5 Điều 177
của Bộ luật này. 1. Việc niêm yết công khai văn
bản tố tụng được thực hiện trong trường hợp không thể cấp, tống đạt, thông báo trực tiếp văn bản tố
tụng theo quy định tại Điều 177 và Điều 178 của Bộ luật này. 2. Việc niêm yết công khai văn
bản tố tụng do Tòa án trực tiếp thực hiện hoặc ủy quyền cho người có chức năng
tống đạt hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã nơi đương sự cư trú, nơi cơ quan, tổ chức có trụ sở thực hiện theo thủ tục sau
đây: a) Niêm yết bản chính tại trụ sở
Tòa án, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú
hoặc nơi cư trú cuối cùng của cá nhân, nơi có trụ sở hoặc trụ sở cuối cùng của
cơ quan, tổ chức được cấp, tống đạt,
thông
báo; b) Niêm yết bản sao tại nơi cư
trú hoặc nơi cư trú cuối cùng của cá nhân, nơi có trụ sở hoặc trụ sở cuối cùng
của cơ quan, tổ chức được cấp, tống đạt, thông báo; c) Lập biên bản về việc thực hiện
thủ tục niêm yết công khai, trong đó ghi rõ ngày, tháng, năm niêm
yết. 3. Thời hạn niêm yết công khai
văn bản tố tụng là 15 ngày, kể từ ngày niêm yết. 1. Việc thông báo trên phương
tiện thông tin đại chúng được thực hiện khi pháp luật có quy định hoặc có căn cứ
xác định là việc niêm yết công khai không bảo đảm cho người được cấp, tống
đạt, thông báo nhận được thông tin về
văn bản cần được cấp, tống đạt, thông báo. 2. Việc thông báo trên phương
tiện thông tin đại chúng có thể được thực hiện nếu có yêu cầu của các đương sự
khác. Trong trường hợp này, lệ phí thông báo trên phương tiện
thông tin đại chúng do đương sự có yêu cầu thông báo chịu. 3. Thông báo trên phương tiện
thông tin đại chúng phải được đăng trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án, trên
một trong các báo hàng ngày của trung ương
trong ba số liên tiếp và phát sóng trên
Đài phát thanh hoặc Đài truyền hình của trung ương ba lần trong 03 ngày liên
tiếp. Trường hợp người thực hiện việc
cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng không
phải là Tòa án hoặc cơ quan ban hành văn bản tố tụng hoặc cán bộ của các cơ quan
đó thì người thực hiện phải thông báo ngay kết quả việc cấp, tống
đạt, thông báo văn bản tố tụng cho Tòa
án hoặc cơ quan ban hành văn bản tố tụng đó. 1. Thời hạn tố tụng là một khoảng
thời gian được xác định từ thời điểm này đến thời điểm khác để người tiến hành
tố tụng, người tham gia tố tụng hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan thực
hiện hành vi tố tụng do Bộ luật này quy định. 2. Thời hạn tố tụng có thể được
xác định bằng giờ, ngày, tuần, tháng, năm hoặc bằng một sự kiện có thể
sẽ xảy ra. Cách tính thời hạn tố tụng, quy
định về thời hạn tố tụng, thời điểm bắt đầu, kết thúc thời hạn tố tụng trong Bộ
luật này được áp dụng theo các quy định tương ứng của Bộ luật dân
sự. 1. Thời hiệu khởi kiện,
thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự được thực hiện theo quy định của Bộ
luật dân sự. 2. Tòa án chỉ áp dụng quy định về
thời hiệu theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên với điều kiện
yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định
giải quyết vụ việc. Người được hưởng lợi từ việc áp
dụng thời hiệu có quyền từ chối áp dụng thời hiệu, trừ trường hợp việc từ chối
đó nhằm mục đích trốn tránh thực hiện nghĩa vụ. Các
quy định của Bộ luật dân sự về thời hiệu được áp dụng trong tố tụng dân
sự. |
ĐƠN VỊ HỖ TRỢ
|