|
|
KẾ TOÁN - THUẾ - DOANH NGHIỆP - LAO ĐỘNG |
|
|
|
|
Phần
thứ hai Cơ quan, tổ chức, cá nhân có
quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án (sau đây
gọi chung là người khởi kiện) tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của mình. 1. Cơ quan quản lý nhà nước về
gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam
trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền khởi kiện vụ án về hôn nhân
và gia đình theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình. 2. Tổ chức đại diện tập thể lao
động có quyền khởi kiện vụ án lao động trong trường hợp cần bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của tập thể người lao động hoặc khi được người lao động ủy quyền
theo quy định của pháp luật. 3. Tổ chức xã hội tham gia bảo vệ
quyền lợi người tiêu dùng có quyền đại diện cho người tiêu dùng khởi kiện bảo vệ
quyền lợi người tiêu dùng hoặc tự mình khởi kiện vì lợi ích công cộng theo quy
định của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. 4. Cơ quan, tổ chức
trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền khởi kiện vụ án dân sự để
yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực
mình phụ trách hoặc theo quy định của pháp luật. 5. Cá nhân có quyền khởi kiện vụ
án hôn nhân và gia đình để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người khác theo
quy định của Luật hôn nhân và gia đình. 1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có
thể khởi kiện một hoặc nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân khác về một quan hệ pháp
luật hoặc nhiều quan hệ pháp luật có liên quan với nhau để giải quyết trong cùng
một vụ án. 2. Nhiều cơ quan, tổ
chức, cá nhân có thể cùng khởi kiện một
cơ quan, một tổ chức, một cá nhân khác về một quan hệ
pháp luật hoặc nhiều quan hệ pháp luật có liên quan với nhau để giải quyết trong
cùng một vụ án. 3. Cơ quan, tổ chức, cá nhân
quy định tại Điều 187 của Bộ luật này có thể khởi
kiện một hoặc nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân khác về một quan hệ pháp luật hoặc
nhiều quan hệ pháp luật có liên quan với nhau để giải quyết trong cùng một vụ
án. 1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi
kiện phải làm đơn khởi kiện. 2. Việc làm đơn khởi kiện của cá
nhân được thực hiện như sau: a) Cá nhân có đầy đủ năng lực
hành vi tố tụng dân sự thì có thể tự mình hoặc nhờ người khác làm hộ đơn khởi
kiện vụ án. Tại mục tên, địa chỉ nơi cư trú của người khởi kiện trong đơn phải
ghi họ tên, địa chỉ nơi cư trú của cá nhân đó; ở phần cuối đơn, cá nhân đó phải
ký tên hoặc điểm chỉ; b) Cá nhân là người chưa thành
niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm
chủ hành vi thì người đại diện hợp pháp của họ có thể tự mình hoặc nhờ người
khác làm hộ đơn khởi kiện vụ án. Tại mục tên, địa chỉ nơi cư trú của người khởi
kiện trong đơn phải ghi họ tên, địa chỉ nơi cư trú của người đại diện hợp pháp
của cá nhân đó; ở phần cuối đơn, người đại diện hợp pháp đó phải ký tên hoặc
điểm chỉ; c) Cá nhân thuộc trường hợp quy
định tại điểm a và điểm b khoản này là người không biết chữ, người khuyết tật
nhìn, người không thể tự mình làm đơn khởi kiện, người không thể tự mình ký tên
hoặc điểm chỉ thì có thể nhờ người khác làm hộ đơn khởi kiện và phải có người có
đủ năng lực tố tụng dân sự làm chứng. Người làm chứng phải ký xác nhận vào đơn
khởi kiện. 3. Cơ quan, tổ chức là người khởi
kiện thì người đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó có thể tự mình hoặc nhờ
người khác làm hộ đơn khởi kiện vụ án. Tại mục tên, địa chỉ của người khởi kiện
phải ghi tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức và họ, tên, chức vụ của người đại diện
hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó; ở phần cuối đơn, người đại diện hợp pháp của
cơ quan, tổ chức phải ký tên và đóng dấu của cơ quan, tổ chức đó; trường hợp tổ
chức khởi kiện là doanh nghiệp thì việc sử dụng con dấu theo quy định của Luật
doanh nghiệp. 4. Đơn khởi kiện phải có các nội
dung chính sau đây: a) Ngày, tháng, năm làm đơn khởi
kiện; b) Tên Tòa án nhận đơn khởi
kiện; c) Tên, nơi cư trú, làm việc của
người khởi kiện là cá nhân hoặc trụ sở của người khởi kiện là cơ quan, tổ chức;
số điện thoại, fax và địa chỉ thư điện tử (nếu có). Trường hợp các bên thỏa thuận địa
chỉ để Tòa án liên hệ thì ghi rõ địa chỉ đó; d) Tên, nơi cư trú, làm việc của
người có quyền và lợi ích được bảo vệ là cá nhân hoặc trụ sở của người có quyền
và lợi ích được bảo vệ là cơ quan, tổ chức; số điện thoại, fax và địa chỉ thư
điện tử (nếu có); đ) Tên, nơi cư trú, làm việc của
người bị kiện là cá nhân hoặc trụ sở của người bị kiện là cơ quan, tổ chức; số
điện thoại, fax và địa chỉ thư điện tử (nếu có). Trường hợp không rõ nơi cư trú,
làm việc hoặc trụ sở của người bị kiện thì ghi rõ địa chỉ nơi cư trú, làm việc
hoặc nơi có trụ sở cuối cùng của người bị kiện; e) Tên, nơi cư trú, làm việc của
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cá nhân hoặc trụ sở của người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan là cơ quan, tổ chức; số điện thoại, fax và địa chỉ thư
điện tử (nếu có). Trường hợp không rõ nơi cư trú,
làm việc hoặc trụ sở của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì ghi rõ địa
chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở cuối cùng của người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan; g) Quyền, lợi ích hợp pháp của
người khởi kiện bị xâm phạm; những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án
giải quyết đối với người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan; h) Họ, tên, địa chỉ của người làm
chứng (nếu có); i) Danh mục tài liệu, chứng cứ
kèm theo đơn khởi kiện. 5. Kèm theo đơn khởi kiện phải có
tài liệu, chứng cứ chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm
phạm. Trường hợp vì lý do khách quan mà người khởi kiện không thể nộp đầy đủ tài
liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện thì họ phải nộp tài liệu, chứng cứ hiện có
để chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm. Người
khởi kiện bổ sung hoặc giao nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ khác theo yêu cầu của
Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án. 1. Người khởi kiện gửi đơn khởi
kiện kèm theo tài liệu, chứng cứ mà mình hiện có đến Tòa án có thẩm quyền giải
quyết vụ án bằng các phương thức sau đây: a) Nộp trực tiếp tại Tòa
án; b) Gửi đến Tòa án theo đường dịch vụ bưu chính; c) Gửi trực tuyến bằng hình thức
điện tử qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có). 2. Ngày khởi kiện là ngày đương
sự nộp đơn khởi kiện tại Tòa án hoặc ngày được ghi
trên dấu của tổ chức dịch vụ bưu chính nơi gửi. Trường hợp không xác định được
ngày, tháng, năm theo dấu bưu chính nơi gửi thì ngày khởi kiện là ngày đương sự
gửi đơn tại tổ chức dịch vụ bưu chính.
Đương sự
phải chứng minh ngày mình gửi đơn tại tổ chức dịch vụ bưu chính; trường hợp đương sự không chứng
minh được thì ngày khởi kiện là ngày Tòa án nhận được đơn khởi kiện do tổ chức dịch vụ bưu chính chuyển
đến. 3. Trường hợp người khởi kiện gửi
đơn khởi kiện bằng phương thức gửi
trực tuyến
thì ngày khởi kiện là ngày gửi đơn. 4. Trường hợp chuyển vụ án cho
Tòa án khác theo quy định tại Điều 41 của Bộ luật này thì ngày khởi kiện là
ngày gửi đơn khởi kiện đến Tòa án đã thụ lý nhưng không đúng thẩm quyền và được
xác định theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này. 5. Tòa án nhân dân tối cao hướng
dẫn thi hành Điều này. 1. Tòa án qua bộ phận tiếp nhận
đơn phải nhận đơn khởi kiện do người khởi kiện nộp trực tiếp tại Tòa án hoặc gửi
qua dịch vụ bưu chính và phải ghi vào sổ nhận đơn; trường hợp Tòa án nhận đơn
khởi kiện được gửi bằng phương thức
gửi trực tuyến thì Tòa án in ra bản giấy và phải ghi vào sổ
nhận đơn. Khi
nhận đơn khởi kiện nộp trực tiếp, Tòa án có
trách nhiệm cấp ngay giấy xác nhận đã nhận đơn cho người khởi kiện. Đối với
trường hợp nhận đơn qua dịch vụ bưu chính thì trong thời hạn 02 ngày làm việc,
kể từ ngày nhận đơn, Tòa án phải gửi thông báo nhận đơn cho người khởi kiện.
Trường hợp
nhận đơn khởi kiện bằng phương thức gửi trực tuyến
thì Tòa án phải
thông báo ngay việc nhận đơn cho người khởi kiện qua Cổng
thông tin điện tử của Tòa án (nếu có). 2.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện, Chánh án
Tòa án phân công một Thẩm phán xem xét đơn khởi kiện. 3.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải xem
xét đơn khởi kiện
và có một trong các quyết định sau đây: a)
Yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện; b)
Tiến hành thủ tục thụ lý vụ án theo thủ tục thông thường hoặc theo thủ tục rút
gọn nếu vụ án có đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục rút gọn quy định tại
khoản 1 Điều 317 của Bộ luật này; c)
Chuyển đơn khởi kiện cho Tòa án có thẩm quyền và thông báo cho
người khởi kiện nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
khác; d)
Trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện nếu vụ việc đó không
thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. 4.
Kết quả xử lý đơn của Thẩm phán quy định tại khoản 3 Điều này phải được ghi chú
vào sổ nhận đơn và
thông báo cho người khởi kiện qua Cổng thông
tin điện tử của Tòa án (nếu có). 1.
Thẩm phán trả lại đơn khởi kiện trong các trường hợp sau đây: a)
Người khởi kiện không có quyền khởi kiện theo quy định tại Điều 186 và Điều 187
của Bộ luật này hoặc không có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự; b)
Chưa có đủ điều kiện khởi kiện theo quy định của pháp luật. Chưa
có đủ điều kiện khởi kiện là trường hợp pháp luật có quy định về các điều kiện
khởi kiện nhưng người khởi kiện đã khởi kiện đến Tòa án khi còn thiếu một trong
các điều kiện đó; c)
Sự việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của
Tòa án hoặc quyết định đã có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trừ
trường hợp vụ án mà Tòa án bác đơn yêu cầu ly hôn,
yêu cầu thay
đổi nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng, mức bồi thường thiệt hại, yêu cầu thay đổi
người quản lý tài sản, thay đổi người quản lý di sản, thay đổi người giám hộ
hoặc vụ án đòi tài sản, đòi tài sản cho thuê, cho mượn, đòi nhà, đòi quyền sử
dụng đất cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ mà Tòa án chưa chấp nhận yêu cầu và theo
quy định của pháp luật được quyền khởi kiện lại; d)
Hết thời hạn quy định
tại khoản 2 Điều 195 của Bộ luật này mà người
khởi kiện không nộp biên lai thu tiền tạm ứng án phí cho Tòa án, trừ trường hợp
người khởi kiện được miễn hoặc không phải
nộp tiền tạm ứng án phí hoặc có trở ngại khách quan, sự kiện bất khả kháng; đ)
Vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án; e)
Người khởi kiện không sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện theo yêu cầu của Thẩm phán
quy định tại khoản 2 Điều 193 của Bộ luật này. Trường hợp
trong đơn khởi kiện, người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú
của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng họ không có nơi
cư trú ổn định, thường xuyên thay đổi nơi cư trú, trụ sở mà không thông báo địa
chỉ mới cho cơ quan,
người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về cư trú làm cho người khởi kiện không biết được nhằm mục
đích che giấu địa chỉ,
trốn tránh nghĩa vụ đối với người khởi kiện thì Thẩm phán không trả lại đơn khởi
kiện mà xác định người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cố tình
giấu địa
chỉ và tiến hành thụ lý, giải quyết theo thủ tục chung. Trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện không ghi
đầy đủ, cụ thể hoặc ghi không đúng tên, địa chỉ của người bị kiện, người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mà không sửa
chữa, bổ sung theo yêu cầu của Thẩm phán thì Thẩm phán trả lại đơn khởi
kiện; g)
Người khởi kiện rút đơn khởi kiện. 2.
Khi trả lại đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo cho người khởi kiện,
Thẩm phán phải có văn bản nêu rõ lý do trả lại đơn khởi kiện, đồng thời gửi cho
Viện kiểm sát cùng cấp. Đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ mà Thẩm phán
trả lại cho người khởi kiện phải được sao chụp và lưu tại
Tòa án để làm cơ sở giải quyết khiếu nại, kiến nghị khi có yêu cầu. 3.
Đương sự có quyền nộp đơn khởi kiện lại trong các trường hợp sau
đây: a)
Người khởi kiện đã có
đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự; b)
Yêu cầu ly
hôn, yêu cầu
thay đổi nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng, mức bồi thường
thiệt hại, yêu cầu
thay đổi người quản lý tài sản, thay đổi người quản lý di
sản, thay đổi người giám hộ hoặc vụ án đòi tài sản, đòi tài sản cho thuê, cho
mượn, đòi nhà, đòi quyền sử dụng đất cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ mà trước đó
Tòa án chưa chấp nhận yêu cầu mà theo quy định của pháp luật được quyền khởi
kiện lại; c)
Đã có đủ điều kiện khởi kiện; d)
Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật. 4. Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn
thi hành khoản 1 và khoản 3 Điều này. 1.
Trường hợp đơn khởi kiện không có đủ các nội dung quy định tại khoản 4 Điều 189
của Bộ luật này thì Thẩm phán thông báo bằng văn bản nêu rõ những vấn đề cần sửa
đổi, bổ sung cho người khởi kiện để họ sửa đổi, bổ sung trong thời hạn do
Thẩm phán ấn định nhưng không quá 01 tháng; trường hợp đặc biệt, Thẩm phán có
thể gia hạn nhưng không quá 15 ngày. Văn bản thông báo có thể được giao trực
tiếp, gửi trực tuyến hoặc gửi cho người khởi kiện qua dịch vụ bưu chính và phải
ghi chú vào sổ nhận đơn để theo dõi. Thời hạn thực hiện việc sửa đổi, bổ sung
đơn khởi kiện không tính vào thời hiệu khởi kiện. 2.
Trường hợp người khởi kiện đã sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện theo đúng quy định
tại khoản 4 Điều 189 của Bộ luật này thì Thẩm phán tiếp tục việc thụ lý vụ án;
nếu họ không sửa đổi, bổ sung theo yêu cầu thì Thẩm phán trả lại đơn khởi kiện
và tài liệu, chứng cứ kèm theo cho người khởi kiện. 1.
Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản trả lại đơn khởi kiện,
người khởi kiện có quyền khiếu nại, Viện kiểm sát có quyền kiến nghị với Tòa án
đã trả lại đơn khởi kiện. 2.
Ngay sau khi nhận được khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện, Chánh
án Tòa án phải phân công một Thẩm phán khác xem xét, giải quyết khiếu nại, kiến
nghị. 3.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải mở
phiên họp xem xét, giải quyết khiếu nại, kiến nghị. Phiên họp xem xét, giải
quyết khiếu nại, kiến nghị có sự tham gia của đại diện Viện kiểm sát cùng cấp và
đương sự có khiếu nại;
trường hợp đương sự vắng mặt thì Thẩm phán vẫn tiến hành
phiên họp. 4.
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có liên quan đến việc trả lại đơn khởi kiện, ý
kiến của đại diện Viện kiểm sát và đương sự có khiếu nại tại phiên họp, Thẩm
phán phải ra một trong các quyết định sau đây: a)
Giữ nguyên việc trả lại đơn khởi kiện và thông báo cho đương sự, Viện kiểm sát
cùng cấp; b)
Nhận lại đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo để
tiến hành việc thụ lý vụ án. 5.
Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định trả lời khiếu nại, kiến
nghị về việc trả lại đơn khởi kiện của Thẩm phán, người khởi kiện có quyền khiếu
nại, Viện kiểm sát có quyền kiến nghị với Chánh án Tòa án trên một cấp trực tiếp
xem xét, giải quyết. 6.
Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại, kiến nghị về việc trả
lại đơn khởi kiện, Chánh án Tòa án trên một cấp trực tiếp
phải ra một trong các quyết định sau đây: a)
Giữ nguyên việc trả lại đơn khởi kiện; b)
Yêu cầu Tòa án cấp sơ thẩm nhận lại đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo
để tiến hành việc thụ lý vụ án. Quyết định giải quyết khiếu nại, kiến nghị của Chánh án Tòa
án trên một cấp
trực tiếp có hiệu lực thi hành và được gửi ngay cho người
khởi kiện, Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát đã kiến nghị và Tòa án đã ra
quyết định trả lại đơn khởi kiện. 7.
Trường hợp có căn cứ xác định quyết định giải quyết của Chánh án Tòa án trên
một cấp trực
tiếp quy định tại khoản 6 Điều này có vi phạm pháp luật thì trong thời hạn 10
ngày, kể từ ngày nhận được quyết định, đương sự có
quyền khiếu nại, Viện kiểm sát có quyền kiến nghị với Chánh án Tòa án nhân dân
cấp cao nếu quyết định bị khiếu nại, kiến nghị là của Chánh
án Tòa án nhân dân cấp tỉnh hoặc với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao nếu quyết
định bị khiếu nại,
kiến nghị là của Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại của
đương sự, kiến nghị của Viện kiểm sát thì Chánh án phải giải quyết. Quyết định
của Chánh án là quyết định cuối cùng. 1.
Sau khi nhận đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo, nếu xét thấy vụ án
thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án thì Thẩm phán phải thông báo ngay cho
người khởi kiện biết để họ đến Tòa án làm thủ tục nộp tiền tạm ứng án phí trong
trường hợp họ phải nộp tiền tạm ứng án phí. 2.
Thẩm phán dự tính số tiền tạm ứng án phí, ghi vào giấy báo và giao cho người
khởi kiện để họ nộp tiền tạm ứng án phí. Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận
được giấy báo của Tòa án về việc nộp tiền tạm ứng án phí, người khởi kiện phải
nộp tiền tạm ứng án phí và nộp cho Tòa án biên lai thu tiền tạm ứng án
phí. 3.
Thẩm phán thụ lý vụ án khi người khởi kiện nộp cho Tòa án biên lai thu tiền tạm
ứng án phí. 4.
Trường hợp người khởi kiện được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí thì
Thẩm phán phải thụ lý vụ án khi nhận được đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ
kèm theo. 1.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý vụ án, Thẩm phán phải thông
báo bằng văn bản cho nguyên đơn, bị đơn, cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết vụ án, cho Viện kiểm sát cùng cấp về việc
Tòa án đã thụ lý vụ án. Đối
với vụ án do người tiêu dùng khởi kiện thì Tòa án phải niêm yết công khai tại
trụ sở Tòa án thông tin về việc thụ lý vụ án trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể
từ ngày thụ lý vụ án. 2.
Văn bản thông báo phải có các nội dung chính sau đây: a)
Ngày, tháng, năm làm văn bản thông báo; b)
Tên, địa chỉ Tòa án đã thụ lý vụ án; c)
Tên, địa chỉ;
số điện thoại, fax, địa chỉ thư điện tử (nếu có) của người
khởi kiện; d)
Những vấn đề cụ thể người khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết; đ)
Vụ án được thụ lý theo thủ tục thông thường hay thủ tục rút gọn; e)
Danh mục tài liệu, chứng cứ người khởi kiện nộp kèm theo đơn khởi
kiện; g)
Thời hạn bị đơn, người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải có ý
kiến bằng văn bản nộp cho Tòa án đối với yêu cầu của người khởi kiện và tài
liệu, chứng cứ kèm theo, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập (nếu có); h)
Hậu quả pháp lý của việc bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không nộp cho Tòa án văn bản về ý kiến của mình đối với yêu
cầu khởi
kiện. 3.
Trường hợp nguyên đơn có đơn yêu cầu Tòa án hỗ trợ trong việc gửi tài liệu,
chứng cứ thì kèm theo thông báo về việc thụ lý vụ án, Tòa án gửi cho bị đơn,
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bản sao tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn
cung cấp. 1.
Trên cơ sở báo cáo thụ lý vụ án của Thẩm phán được phân công thụ lý vụ án, Chánh
án Tòa án quyết định phân công Thẩm phán giải quyết vụ án bảo đảm nguyên tắc vô
tư, khách quan, ngẫu
nhiên. 2.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý vụ án, Chánh án Tòa án quyết
định phân công Thẩm phán giải quyết vụ án. Đối
với vụ án phức tạp, việc giải quyết có thể phải kéo dài thì Chánh án Tòa án phân
công Thẩm phán dự khuyết để bảo đảm xét xử đúng thời hạn theo quy định của
Bộ luật này. 3.
Trong quá trình giải quyết vụ án, nếu Thẩm phán được phân công không thể tiếp
tục tiến hành được nhiệm vụ thì Chánh án Tòa án phân công Thẩm phán khác tiếp
tục nhiệm vụ; trường hợp đang xét xử mà không có Thẩm phán dự khuyết thì vụ án
phải được xét xử lại từ đầu và Tòa án phải thông báo
cho đương sự, Viện kiểm sát cùng cấp. 1.
Lập hồ sơ vụ án theo quy định tại Điều 204 của Bộ luật này. 2.
Yêu cầu đương sự giao
nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án. 3.
Tiến hành xác minh, thu
thập chứng cứ theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 97 của Bộ luật
này. 1.
Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan phải nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu
cầu của nguyên đơn và tài liệu, chứng cứ kèm theo, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc
lập (nếu có). Trường hợp cần gia hạn thì bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan phải có đơn
đề nghị gia
hạn gửi cho Tòa án nêu rõ lý do; nếu việc đề nghị gia hạn là
có căn cứ thì Tòa án phải gia hạn nhưng không quá 15 ngày. 2.
Bị đơn, người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền yêu
cầu Tòa án cho xem, ghi chép, sao chụp đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm
theo đơn khởi kiện, trừ tài liệu, chứng cứ quy định tại
khoản 2 Điều 109 của Bộ luật này. 1.
Cùng với việc phải nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu
của nguyên đơn, bị đơn có quyền yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn, người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập. 2.
Yêu cầu phản tố của bị đơn đối với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan có yêu cầu độc lập được chấp nhận khi thuộc một trong các trường hợp sau
đây: a)
Yêu cầu phản tố để bù trừ nghĩa vụ với yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập; b)
Yêu cầu phản tố được chấp nhận dẫn đến loại trừ việc chấp nhận một phần hoặc
toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu
cầu độc lập; c)
Giữa yêu cầu phản tố và yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan có yêu cầu độc lập có sự liên quan với nhau và nếu được giải quyết
trong cùng một vụ án thì làm cho việc giải quyết vụ án được chính xác và nhanh
hơn. 3.
Bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố trước thời điểm mở
phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa
giải. 1.
Trường hợp người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không tham gia tố tụng với bên
nguyên đơn hoặc với bên bị đơn thì họ có quyền yêu cầu độc lập khi có các điều
kiện sau đây: a)
Việc giải quyết vụ án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ; b)
Yêu cầu độc lập của họ có liên quan đến vụ án đang được giải quyết; c)
Yêu cầu độc lập của họ được giải quyết trong cùng một vụ án làm cho việc giải
quyết vụ án được chính xác và nhanh hơn. 2.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền đưa ra yêu cầu độc lập
trước thời
điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa
giải. Điều 202. Thủ tục yêu cầu phản tố
hoặc yêu cầu độc lập Thủ
tục yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập được thực hiện theo quy định của Bộ
luật này về thủ tục khởi kiện của nguyên đơn. 1.
Thời hạn chuẩn bị xét xử các loại vụ án, trừ các vụ án được xét xử theo
thủ tục rút gọn hoặc vụ án có yếu tố nước ngoài, được quy định như sau: a)
Đối với các vụ án quy định tại Điều 26 và Điều 28 của Bộ luật này thì thời hạn là
04 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án; b)
Đối với các vụ án quy định tại Điều 30 và Điều 32 của Bộ luật này thì thời hạn là
02 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án. Đối
với vụ án có tính chất phức tạp hoặc do sự kiện bất khả kháng, trở ngại
khách quan thì Chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét
xử nhưng không quá 02 tháng đối với vụ án thuộc trường hợp quy định tại điểm a
khoản này và không quá 01 tháng đối với vụ án thuộc trường hợp quy định tại điểm
b khoản này. Trường hợp có quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án
thì thời hạn chuẩn bị xét xử được tính lại kể từ ngày quyết định tiếp tục giải
quyết vụ án của Tòa án có hiệu lực pháp luật. 2.
Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Thẩm phán thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn sau
đây: a)
Lập hồ sơ vụ án theo quy
định tại Điều 198 của Bộ luật này; b)
Xác định tư cách đương sự, người tham gia tố tụng khác; c)
Xác định quan hệ tranh chấp giữa các đương sự và pháp luật
cần áp dụng; d)
Làm rõ những tình tiết khách quan của vụ án; đ)
Xác minh, thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật này; e)
Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; g)
Tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa
giải theo quy định của Bộ luật này, trừ trường hợp vụ án được giải quyết
theo thủ tục rút gọn; h)
Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của Bộ luật này. 3.
Trong thời hạn chuẩn bị xét xử quy định tại khoản 1 Điều này, tuỳ từng trường
hợp, Thẩm phán ra một
trong các quyết định sau đây: a)
Công nhận sự thoả thuận của các đương sự; b)
Tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự; c)
Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự; d)
Đưa vụ án ra xét xử. 4.
Trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án
phải mở phiên tòa; trường hợp có lý do chính đáng thì thời hạn này là 02
tháng. 1.
Hồ sơ vụ án dân sự bao gồm đơn và toàn bộ tài liệu, chứng cứ của đương sự, người
tham gia tố tụng khác; tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập liên quan đến vụ
án; văn bản tố tụng của Tòa án, Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án dân
sự. 2.
Các giấy tờ, tài liệu trong hồ sơ vụ án dân sự phải được đánh số bút lục, sắp
xếp theo thứ tự ngày, tháng, năm. Giấy tờ, tài liệu có trước thì để ở dưới, giấy
tờ, tài liệu có sau thì để ở trên và phải được quản lý, lưu giữ, sử dụng theo
quy định của pháp luật. 1.
Trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án, Tòa án tiến hành hòa giải để các
đương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, trừ những vụ án không
được hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải được quy định tại Điều 206 và Điều
207 của Bộ luật này hoặc vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn. 2.
Việc hòa giải được tiến hành theo các nguyên tắc sau đây: a)
Tôn trọng sự tự nguyện thoả thuận của các đương sự, không được dùng vũ lực hoặc
đe dọa dùng vũ lực, bắt buộc các đương sự phải thoả thuận không phù hợp với ý
chí của mình; b)
Nội dung thoả thuận giữa các đương sự không vi phạm điều cấm của luật, không
trái đạo đức xã hội. 1.
Yêu cầu đòi bồi thường vì lý do gây thiệt
hại đến tài sản của Nhà nước. 2.
Những vụ án phát sinh từ giao dịch dân sự vi phạm điều cấm của luật hoặc trái
đạo đức xã hội. 1.
Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ
lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt. 2.
Đương sự không thể tham gia hòa giải được vì có lý do chính đáng. 3.
Đương sự là vợ hoặc chồng trong vụ án ly hôn là người mất năng lực hành vi dân
sự. 4.
Một trong
các đương sự đề nghị không tiến hành hòa giải. 1.
Thẩm phán tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai
chứng cứ và hòa giải giữa các đương sự. Trước khi
tiến hành phiên họp, Thẩm phán phải thông báo cho đương sự, người đại diện hợp
pháp của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự về thời
gian, địa điểm tiến hành phiên họp và nội dung của phiên họp. 2.
Trường hợp vụ án dân sự không được hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải được
quy định tại Điều 206 và Điều 207 của Bộ luật này thì Thẩm phán tiến hành phiên
họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ mà không tiến hành hòa
giải. 3.
Đối với vụ án hôn nhân và gia đình liên quan đến người chưa thành niên, trước
khi mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa
giải giữa các đương sự thì Thẩm phán, Thẩm tra viên được Chánh án Tòa án phân
công phải thu thập tài liệu, chứng cứ để xác định nguyên nhân của việc phát sinh
tranh chấp. Khi xét
thấy cần thiết, Thẩm phán
có thể tham khảo ý
kiến của cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà
nước về trẻ em về hoàn cảnh gia đình, nguyên nhân phát sinh tranh chấp và nguyện
vọng của vợ, chồng, con có liên quan đến vụ án. Đối
với vụ án tranh chấp về nuôi con khi ly hôn hoặc thay đổi người trực tiếp nuôi
con sau khi ly hôn, Thẩm phán phải lấy ý kiến của con chưa thành niên từ đủ
bảy tuổi
trở lên, trường hợp cần thiết có thể mời đại diện cơ quan quản lý nhà nước về
gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em chứng kiến, tham gia ý kiến. Việc
lấy ý kiến của con chưa thành niên và các thủ tục tố tụng khác đối với người
chưa thành niên phải bảo đảm thân thiện, phù hợp với tâm lý, lứa tuổi, mức độ
trưởng thành, khả năng nhận thức của người chưa thành niên, bảo đảm quyền, lợi
ích hợp pháp, giữ bí mật cá nhân của người chưa thành niên. 1.
Thành phần tham gia phiên họp gồm có: a)
Thẩm phán chủ trì phiên họp; b)
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên họp; c)
Các đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của các đương sự; d)
Đại diện tổ chức đại diện tập thể lao động đối với vụ án lao động khi có yêu cầu
của người lao động,
trừ vụ án lao động đã có tổ chức đại diện tập thể lao động
là người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho tập thể người lao
động, người lao động. Trường hợp đại diện tổ chức đại diện tập thể lao động
không tham gia hòa giải thì phải có ý kiến bằng văn bản; đ)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự (nếu có); e)
Người phiên dịch (nếu có). 2.
Trường hợp cần thiết, Thẩm phán yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan
tham gia phiên họp; đối với vụ án về hôn nhân và gia đình, Thẩm phán yêu cầu đại
diện cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em,
Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam tham gia phiên họp; nếu họ vắng mặt thì Tòa án vẫn
tiến hành phiên họp. 3. Trong vụ án có nhiều đương sự mà có đương sự vắng mặt,
nhưng các đương sự có mặt vẫn đồng ý tiến hành phiên họp và việc tiến hành phiên
họp đó không ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương sự vắng mặt thì Thẩm phán
tiến hành phiên họp giữa các đương sự có mặt; nếu các đương sự đề nghị hoãn
phiên hòa giải để có mặt tất cả các đương sự trong vụ án thì Thẩm phán phải hoãn
phiên họp. Thẩm phán phải thông báo
việc hoãn phiên họp và việc mở lại phiên họp cho đương sự. 1.
Trước khi tiến hành phiên họp, Thư ký Tòa án báo cáo Thẩm phán về sự có mặt,
vắng mặt của những người tham gia phiên họp đã được Tòa án thông báo. Thẩm phán
chủ trì phiên họp kiểm tra lại sự có mặt và căn cước của những người tham gia,
phổ biến cho các đương sự về quyền và
nghĩa vụ của họ theo quy định của Bộ luật này. 2.
Khi kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, Thẩm phán công bố tài
liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, hỏi đương sự về những vấn đề sau
đây: a)
Yêu cầu và phạm vi khởi kiện, việc sửa đổi, bổ sung, thay đổi, rút yêu cầu khởi
kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập; những vấn đề đã thống nhất, những vấn đề
chưa thống nhất yêu cầu Tòa án giải quyết; b)
Tài liệu, chứng cứ đã giao nộp cho Tòa án và việc gửi tài liệu, chứng cứ cho
đương sự khác; c)
Bổ sung tài liệu, chứng cứ; yêu cầu Tòa án thu thập tài liệu, chứng cứ; yêu cầu
Tòa án triệu tập đương sự khác, người làm chứng và người tham gia tố tụng khác
tại phiên tòa; d)
Những vấn đề khác mà đương sự thấy cần thiết. 3.
Sau khi các đương sự đã trình bày xong, Thẩm phán xem xét các ý kiến, giải quyết các yêu
cầu của đương sự quy định tại khoản 2 Điều này. Trường hợp người được Tòa án
triệu tập vắng mặt thì Tòa án thông báo kết quả phiên họp cho họ. 4.
Thủ tục tiến hành hòa giải được thực hiện như sau: a)
Thẩm phán phổ biến cho các đương sự về các quy định
của pháp luật có liên quan đến việc giải quyết vụ án để các đương sự liên hệ đến
quyền, nghĩa vụ của mình, phân tích hậu quả pháp lý của việc hòa giải thành để
họ tự nguyện thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án; b)
Nguyên đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ trình bày nội dung
tranh chấp, bổ sung yêu cầu khởi kiện; những căn cứ để bảo vệ yêu cầu khởi kiện
và đề xuất quan điểm về những vấn đề cần hòa giải, hướng giải quyết vụ án (nếu
có); c)
Bị đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ trình bày ý kiến của mình
đối với yêu cầu của nguyên đơn, yêu cầu phản tố (nếu có); những căn cứ để phản
đối yêu cầu của nguyên đơn; những căn cứ để bảo vệ yêu cầu phản tố của mình và
đề xuất quan điểm về những vấn đề cần hòa giải, hướng giải quyết vụ án (nếu
có); d)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của họ trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn; trình
bày yêu cầu độc lập của mình (nếu có); những căn cứ để phản đối yêu cầu của
nguyên đơn, bị đơn; những căn cứ để bảo vệ yêu cầu độc lập của mình và đề xuất
quan điểm về những vấn đề cần hòa giải, hướng giải quyết vụ án (nếu
có); đ)
Người khác tham gia phiên họp hòa giải (nếu có) phát biểu ý kiến; e)
Sau khi các đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ trình bày
hết ý kiến của mình, Thẩm phán xác định những vấn đề các đương sự đã thống
nhất, chưa thống nhất và yêu cầu các đương sự trình bày bổ sung về những nội
dung chưa rõ, chưa thống nhất; g)
Thẩm phán kết luận về những vấn đề các đương sự đã thống nhất, chưa thống
nhất. 1.
Thư ký Tòa án phải lập biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai
chứng cứ và biên bản về việc hòa giải. 2.
Biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ phải có các nội
dung chính sau đây: a)
Ngày, tháng, năm tiến hành phiên họp; b)
Địa điểm tiến hành phiên họp; c)
Thành phần tham gia phiên họp; d) Ý
kiến của các đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của các đương sự về các nội
dung quy định tại khoản 2 Điều 210 của Bộ luật này; đ)
Các nội dung khác; e)
Quyết định của Tòa án về việc chấp nhận, không chấp nhận các yêu cầu của đương
sự. 3.
Biên bản về việc hòa giải phải có các nội dung chính sau đây: a)
Các nội dung quy định tại các điểm a, b và c khoản 2 Điều này; b) Ý
kiến của các đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương
sự; c)
Những nội dung đã được các đương sự thống nhất, không thống nhất. 4.
Biên bản phải có đầy đủ chữ ký hoặc điểm chỉ của những người tham gia phiên họp,
chữ ký của Thư ký Tòa án ghi biên bản và của Thẩm phán chủ trì phiên họp. Những
người tham gia phiên họp có quyền được xem biên bản ngay sau khi kết thúc phiên
họp, yêu cầu ghi những sửa đổi, bổ sung vào biên bản và ký xác nhận hoặc điểm
chỉ. 5.
Trường hợp các đương sự thoả thuận được với nhau về vấn đề phải giải quyết trong
vụ án dân sự thì Tòa án lập biên bản hòa giải thành. Biên bản này được gửi ngay
cho các đương sự tham gia hòa giải. 1.
Hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành mà không có đương
sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó thì Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải
hoặc một Thẩm phán được Chánh án Tòa án phân công phải ra quyết định công nhận
sự thoả thuận của các đương sự. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định
công nhận sự thoả thuận của các đương sự, Tòa án phải gửi quyết định đó cho các
đương sự và Viện kiểm sát cùng cấp. 2.
Thẩm phán chỉ ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự nếu các
đương sự thoả thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án. 3.
Trong trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 210 của Bộ luật này mà các đương sự
có mặt thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án thì thoả thuận đó chỉ
có giá trị đối với những người có mặt và được Thẩm phán ra quyết định công nhận
nếu không ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương sự vắng mặt. Trường hợp thoả
thuận của họ có ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương sự vắng mặt thì thoả
thuận này chỉ có giá trị và được Thẩm phán ra quyết định công nhận nếu được
đương sự vắng mặt tại phiên hòa giải đồng ý bằng văn bản. 1.
Quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự có hiệu lực pháp luật ngay
sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc
thẩm. 2.
Quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự chỉ có thể bị kháng nghị
theo thủ tục giám đốc thẩm nếu có căn cứ cho rằng sự thoả thuận đó là do bị nhầm
lẫn, lừa dối, đe dọa, cưỡng ép hoặc vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã
hội. 1.
Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự khi có một trong các
căn cứ sau đây: a)
Đương sự là cá nhân đã chết, cơ quan, tổ chức đã hợp nhất, sáp nhập, chia, tách,
giải thể mà chưa có cơ quan, tổ chức, cá nhân kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng
của cơ quan, tổ chức, cá nhân đó; b)
Đương sự là cá nhân mất năng lực hành vi dân sự, người chưa thành niên mà chưa
xác định được người đại diện theo pháp luật; c)
Chấm dứt đại diện hợp pháp của đương sự mà chưa có người thay thế; d)
Cần đợi kết quả giải quyết vụ án khác có liên quan hoặc sự việc được pháp luật
quy định là phải do cơ quan, tổ chức khác giải quyết trước mới giải quyết được
vụ án; đ)
Cần đợi kết quả thực hiện ủy thác tư pháp, ủy thác thu thập chứng cứ hoặc đợi cơ
quan, tổ chức cung cấp tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án mới giải quyết
được vụ án; e)
Cần đợi kết quả xử lý văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến việc giải
quyết vụ án có dấu hiệu trái với Hiến pháp,
luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc
hội, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên mà Tòa án đã có
văn bản kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm
quyền xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ; g)
Theo quy định tại Điều 41 của Luật phá sản; h)
Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật. 2.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định tạm đình chỉ giải
quyết vụ án dân
sự, Tòa án phải gửi quyết định đó cho đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi
kiện và Viện kiểm sát cùng cấp. 1.
Tòa án không xóa tên vụ án dân sự bị tạm đình chỉ giải quyết trong sổ thụ lý mà
chỉ ghi chú vào sổ thụ lý số và ngày, tháng, năm của quyết định tạm đình chỉ
giải quyết vụ án dân sự đó. 2.
Tiền tạm ứng án phí, lệ phí mà đương sự đã nộp được gửi tại kho bạc nhà nước và
được xử lý khi Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án dân sự. 3.
Trường hợp tạm đình chỉ theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 214 của Bộ luật
này thì trước khi tạm
đình chỉ, Chánh án Tòa án đang giải quyết vụ án phải có văn
bản đề nghị Chánh án
Tòa án nhân dân tối cao kiến nghị
cơ quan nhà nước có
thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản
quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp,
luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc
hội, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên theo quy định tại
Điều 221 của Bộ luật này. Trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày
nhận được văn bản kiến nghị của Tòa án, cơ quan có thẩm quyền phải có văn bản
trả lời. Hết thời hạn này mà cơ quan
có thẩm quyền không có văn bản trả lời thì Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án theo
thủ tục chung. 4.
Trong thời gian tạm đình chỉ giải quyết vụ án, Thẩm phán được phân công giải
quyết vụ án vẫn phải có trách nhiệm về việc giải quyết vụ án. Sau
khi có quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án quy định tại khoản 1 Điều 214
của Bộ luật này, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án có trách nhiệm theo
dõi, đôn đốc cơ quan, tổ chức, cá nhân nhằm khắc phục trong thời gian ngắn nhất
những lý do dẫn tới vụ án bị tạm đình chỉ để kịp thời đưa vụ án ra giải
quyết. 5.
Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự có thể bị kháng cáo, kháng nghị
theo thủ tục phúc thẩm. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày lý do tạm đình
chỉ giải quyết vụ án quy định tại Điều 214 của Bộ luật này không còn thì Tòa án
phải ra quyết định tiếp tục giải quyết vụ án dân sự
và gửi quyết định đó cho đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi
kiện, Viện kiểm sát cùng cấp. Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự hết hiệu lực
kể từ ngày ban hành quyết định tiếp tục giải quyết vụ án dân sự. Tòa án
tiếp tục giải quyết vụ án kể từ khi ban hành quyết định tiếp tục giải quyết vụ
án dân sự. 1.
Sau khi thụ lý vụ án thuộc thẩm quyền của mình, Tòa án ra quyết định đình chỉ
giải quyết vụ án dân sự trong các trường hợp sau đây: a)
Nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân đã chết mà quyền, nghĩa vụ của họ không được
thừa kế; b)
Cơ quan, tổ chức đã bị giải thể, phá sản mà
không có cơ quan, tổ chức, cá nhân nào kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của cơ
quan, tổ chức đó; c)
Người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện hoặc nguyên đơn đã được triệu tập
hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, trừ trường hợp họ đề nghị xét xử vắng mặt
hoặc vì sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan; d)
Đã có quyết định của Tòa án mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã
là một bên đương sự trong vụ án mà việc giải quyết vụ án có liên quan đến nghĩa
vụ, tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã đó; đ)
Nguyên đơn không nộp tiền tạm ứng chi
phí định giá tài sản và chi phí tố tụng khác theo quy định của Bộ luật
này. Trường hợp bị đơn có yêu cầu phản tố, người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập không nộp tiền tạm ứng chi
phí định giá tài sản và chi phí tố tụng khác theo quy định của Bộ luật này thì
Tòa án đình chỉ việc giải quyết yêu cầu phản tố của bị đơn, yêu cầu độc lập của
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; e)
Đương sự có yêu cầu áp dụng thời hiệu trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án,
quyết định giải quyết vụ án và thời hiệu khởi kiện
đã hết; g)
Các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 192 của Bộ luật này mà Tòa án đã thụ
lý; h)
Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật. 2.
Trường hợp nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện hoặc đã được triệu tập hợp
lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng, không đề nghị xét xử
vắng mặt và trong
vụ án đó có
bị đơn yêu cầu
phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu
độc lập thì giải quyết như sau: a)
Bị đơn rút toàn bộ yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan rút
toàn bộ yêu cầu độc lập thì Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ
án; b)
Bị đơn không rút hoặc chỉ rút một phần yêu cầu phản tố thì Tòa án ra quyết định
đình chỉ giải quyết
đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; bị đơn trở thành nguyên
đơn, nguyên đơn trở thành bị đơn; c)
Bị đơn rút toàn bộ yêu cầu phản tố, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan
không rút hoặc chỉ rút một phần yêu cần độc lập thì Tòa án ra quyết định đình
chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu phản tố của bị
đơn; người
có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan trở thành nguyên đơn,
người nào bị khởi kiện theo yêu cầu độc lập trở thành bị
đơn. 3.
Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, xóa tên vụ
án đó trong sổ thụ lý và trả lại đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ kèm theo cho
đương sự nếu có yêu cầu; trong trường hợp này, Tòa án phải sao chụp và lưu lại để
làm cơ sở giải quyết khiếu nại, kiến nghị khi có yêu cầu. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định
đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, Tòa án phải gửi quyết định đó cho đương
sự, cơ quan, tổ chức,
cá nhân khởi kiện và Viện kiểm
sát cùng cấp. 4.
Đối với vụ án được xét
xử lại theo thủ tục sơ thẩm sau khi có quyết định giám đốc
thẩm, tái thẩm mà Tòa
án quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án thì Tòa án đồng thời phải
giải quyết hậu quả của việc thi hành án, các vấn đề khác có
liên quan (nếu có);
trường hợp nguyên đơn rút đơn khởi kiện hoặc đã được triệu tập hợp lệ
lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì việc đình chỉ giải quyết vụ án phải có sự đồng ý
của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. 1.
Khi có quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, đương sự không có quyền khởi
kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án dân sự đó, nếu việc khởi kiện vụ án sau
không có gì khác với vụ án trước về nguyên đơn, bị đơn và quan hệ pháp luật có
tranh chấp, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 192, điểm c khoản 1 Điều
217 của Bộ luật này và các trường hợp khác theo quy định của pháp
luật. 2.
Trường hợp Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự theo quy định
tại điểm a và
điểm b khoản 1 Điều 217 hoặc vì lý do nguyên đơn
đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217 của Bộ luật này thì tiền tạm ứng án phí mà
đương sự đã nộp được sung vào công quỹ nhà nước. 3.
Trường hợp Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự do người khởi
kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện quy định tại điểm c và trường hợp khác quy định tại các
điểm d, đ, e
và g khoản 1 Điều 217 của Bộ luật này thì tiền tạm ứng án phí mà
đương sự đã nộp được trả lại cho họ. 4.
Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo
thủ tục phúc thẩm. 1.
Trước khi mở
phiên tòa,
Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án dân sự có thẩm
quyền ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, quyết định
tiếp tục giải quyết vụ án dân sự, quyết định
đình chỉ giải quyết vụ án dân sự. 2.
Tại phiên tòa,
Hội đồng xét xử có thẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ
giải quyết vụ án dân
sự, quyết định tiếp tục giải quyết vụ án dân sự, quyết định
đình chỉ giải quyết vụ án dân sự. 1.
Quyết định đưa vụ án ra xét xử phải có các nội dung chính sau đây: a)
Ngày, tháng, năm ra quyết định; b)
Tên Tòa án ra quyết định; c)
Vụ án được đưa ra xét xử; d)
Tên, địa chỉ của nguyên đơn, bị đơn hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện quy
định tại Điều 187 của Bộ luật này, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan; đ)
Họ, tên Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án; họ, tên Thẩm phán, Hội thẩm
nhân dân dự khuyết (nếu có); e)
Họ, tên Kiểm sát viên tham gia phiên tòa; họ, tên Kiểm sát viên dự khuyết (nếu
có); g)
Ngày, giờ, tháng, năm, địa điểm mở phiên tòa; h)
Xét xử công khai hoặc xét xử kín; i)
Họ, tên người được triệu tập tham gia phiên tòa. 2.
Quyết định đưa vụ án ra xét xử phải được gửi cho đương sự và Viện kiểm sát cùng
cấp trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định. Trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên tòa theo quy định
tại khoản 2 Điều 21 của Bộ luật này thì Tòa án phải gửi hồ sơ vụ án cùng quyết
định đưa vụ án ra xét xử cho Viện kiểm sát cùng cấp; trong thời hạn 15 ngày, kể
từ ngày nhận được hồ sơ, Viện kiểm sát phải nghiên cứu và trả lại hồ sơ cho Tòa
án. 1.
Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, nếu phát hiện văn bản quy phạm pháp
luật liên quan đến việc giải quyết vụ án dân sự có dấu hiệu trái với Hiến pháp,
luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc
hội, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên thì Tòa án thực
hiện như sau: a)
Trường hợp chưa có quyết định đưa vụ án ra xét xử thì Thẩm phán được phân công
giải quyết vụ án báo cáo và đề nghị Chánh án Tòa án đang giải quyết vụ án có
văn bản đề nghị Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kiến nghị cơ quan nhà nước có
thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản
quy phạm pháp luật; b)
Trường hợp đã có quyết định đưa vụ án ra xét xử hoặc vụ án đang được xem xét tại
phiên tòa hoặc đang được xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm thì Hội
đồng xét xử tạm ngừng phiên tòa theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 259 của Bộ luật này và báo cáo
Chánh án Tòa án đang
giải quyết vụ án có văn bản
đề nghị Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm
quyền xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản
quy phạm pháp luật. 2.
Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị của Chánh án Tòa án
cấp dưới thì Chánh án Tòa án nhân dân tối cao phải xem xét và xử lý như
sau: a)
Trường hợp đề nghị có căn cứ thì phải ra văn bản kiến nghị gửi cơ quan nhà nước
có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản
quy phạm pháp luật và thông báo cho Tòa án đã đề nghị để ra quyết định tạm đình chỉ giải
quyết vụ án; b)
Trường hợp đề nghị không có căn cứ thì phải ra văn bản trả lời cho Tòa án đã đề
nghị để tiếp tục giải quyết vụ án theo đúng quy định của pháp luật. 3.
Cơ quan nhận được kiến nghị của Tòa án về việc sửa đổi, bổ
sung hoặc bãi
bỏ văn bản quy phạm pháp luật có trách nhiệm giải quyết như
sau: a)
Đối với văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Hiến
pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ
Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên bị kiến nghị
xem xét thì trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày
nhận được kiến nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, cơ quan đã ban hành
văn bản đó phải xem xét và trả lời bằng văn bản cho Tòa án nhân dân tối
cao; nếu quá thời
hạn này mà không nhận
được văn bản trả lời thì Tòa án áp dụng văn bản có hiệu lực cao hơn để
giải quyết vụ án; b)
Trường hợp kiến nghị xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản
quy phạm pháp luật là luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của
Ủy ban thường vụ của Quốc hội thì thực hiện theo quy định của Luật ban hành văn
bản quy phạm pháp luật. Phiên tòa sơ thẩm phải được tiến hành đúng thời gian, địa
điểm đã được ghi trong quyết định đưa vụ án ra xét xử hoặc trong giấy báo mở lại
phiên tòa trong trường hợp phải hoãn phiên tòa. Phiên tòa được tổ chức tại trụ sở Tòa án hoặc có thể ngoài
trụ sở Tòa án nhưng phải bảo đảm tính trang nghiêm và hình thức phòng xử án quy
định tại Điều 224 của Bộ luật này. 1.
Quốc huy nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được treo chính giữa phía trên
phòng xử án và phía trên chỗ ngồi của Hội đồng xét xử. 2.
Phòng xử án phải có các khu vực được bố trí riêng cho Hội đồng xét xử, Kiểm sát
viên, Thư ký Tòa án, đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương
sự, những người tham gia tố tụng khác và người tham dự phiên tòa. 1.
Tòa án phải trực tiếp xác định những tình tiết của vụ án bằng cách nghe lời
trình bày của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ
án, người đại diện hợp pháp, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự
và những người tham gia tố tụng khác, cơ quan, tổ chức được mời tham dự phiên
tòa; hỏi và nghe trả lời câu hỏi; xem xét, kiểm tra tài liệu, chứng cứ đã thu
thập được; điều hành và nghe tranh luận giữa các đương sự; nghe Kiểm sát viên
phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát. 2.
Việc xét xử phải
bằng lời nói và được tiến hành tại phòng xử án. 1.
Trường hợp có
Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân không thể tiếp tục tham gia xét xử vụ án nhưng có
Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân dự khuyết thì những người này được tham gia xét xử
tiếp vụ án nếu họ có mặt tại phiên tòa từ đầu. Trường hợp Hội đồng xét xử có hai Thẩm phán mà Thẩm phán
chủ toạ phiên tòa không thể tiếp tục
tham gia xét xử vụ án
thì Thẩm phán là thành viên Hội đồng xét xử làm chủ toạ
phiên tòa và Thẩm phán dự khuyết được bổ sung làm thành viên Hội đồng xét
xử. 2.
Trường hợp không có Thẩm phán hoặc Hội thẩm nhân dân dự khuyết để thay thế thành
viên Hội đồng xét xử hoặc phải thay đổi Thẩm phán chủ toạ
phiên tòa mà không có Thẩm phán để thay thế theo quy định tại khoản 1 Điều này
thì vụ án phải được xét xử lại từ đầu. 1.
Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất, đương sự hoặc người đại diện của họ, người
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt tại phiên tòa;
nếu có
người vắng mặt thì Hội đồng xét xử phải hoãn phiên
tòa, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Tòa
án phải thông báo cho đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của đương sự về việc hoãn
phiên tòa. 2.
Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, đương sự hoặc người đại diện của họ, người
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt tại phiên
tòa, trừ trường hợp họ
có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; nếu vắng mặt
vì sự
kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì Tòa án có thể hoãn phiên tòa, nếu không vì sự
kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì xử lý như sau: a)
Nguyên đơn vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì
bị coi
là từ bỏ việc khởi kiện và Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án đối
với yêu cầu khởi kiện của người đó, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét
xử vắng mặt. Nguyên đơn có quyền khởi kiện lại theo quy định của pháp
luật; b)
Bị đơn không có yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có
yêu cầu độc lập vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì Tòa
án tiến hành xét xử vắng mặt họ; c)
Bị đơn có yêu cầu phản tố vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa
thì bị coi là từ bỏ yêu cầu phản tố và Tòa án quyết định đình chỉ giải quyết
đối với yêu
cầu phản tố, trừ trường hợp bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn có
quyền khởi kiện lại đối với yêu cầu phản tố đó theo quy định của pháp
luật; d)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập vắng mặt mà không có
người đại diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ yêu cầu độc lập và Tòa án
quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu độc lập của người đó, trừ trường
hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan có yêu cầu độc lập có quyền khởi kiện lại đối với yêu cầu độc lập đó theo
quy định của pháp luật; đ)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự vắng mặt thì Tòa án vẫn tiến
hành xét xử vắng mặt họ. Tòa
án vẫn tiến hành xét xử vụ án trong các trường hợp sau đây: 1.
Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người đại diện của
họ vắng mặt tại phiên tòa có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; 2.
Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên
tòa nhưng có người đại diện tham gia phiên tòa; 3.
Các trường hợp quy định tại các điểm b, c, d và đ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật
này. 1.
Người làm chứng có nghĩa vụ tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập của Tòa
án. 2.
Trường hợp người làm chứng vắng mặt thì Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành
xét xử hoặc hoãn phiên tòa. Hội
đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử trong trường hợp người làm chứng vắng mặt
nhưng trước đó họ đã có lời khai trực tiếp với Tòa án hoặc gửi
lời khai cho Tòa án. Chủ toạ phiên tòa công bố lời khai đó. Hội
đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa nếu việc vắng mặt của người làm chứng tại
phiên tòa gây khó khăn, ảnh hưởng đến việc giải quyết khách quan, toàn diện vụ
án. 3.
Người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do chính đáng và việc vắng
mặt của họ gây cản trở cho việc xét xử thì có thể bị dẫn giải đến phiên tòa theo
quyết định của Hội đồng xét xử, trừ trường hợp người làm chứng là người chưa thành
niên. 1.
Người giám định có nghĩa vụ tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập của Tòa án để
giải thích, trả lời những vấn đề liên quan đến việc giám định và kết luận giám
định. 2.
Trường hợp người giám định vắng mặt thì Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến
hành xét xử hoặc
hoãn phiên tòa. 1.
Người phiên dịch có nghĩa vụ tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập của Tòa
án. 2.
Trường hợp người phiên dịch vắng mặt mà không có người khác thay thế thì Hội
đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa. 1.
Kiểm sát viên được Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp phân công có nhiệm vụ tham
gia phiên tòa; nếu Kiểm sát viên vắng mặt thì Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét
xử, không hoãn phiên tòa. 2.
Trường hợp Kiểm sát viên bị thay đổi tại phiên tòa hoặc không thể tiếp tục tham
gia phiên tòa xét xử, nhưng có Kiểm sát viên dự khuyết thì người này được tham
gia phiên tòa xét xử tiếp vụ án nếu họ có mặt tại phiên tòa từ đầu. 1.
Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa trong các trường hợp quy định tại
khoản 2 Điều 56, khoản 2 Điều 62, khoản 2 Điều 84, Điều 227,
khoản 2 Điều
229, khoản 2 Điều 230, khoản 2 Điều 231 và
Điều 241
của Bộ luật này. Thời hạn hoãn phiên tòa là không quá 01 tháng, đối với phiên tòa
xét xử vụ án theo thủ tục rút gọn là không quá 15 ngày, kể từ ngày
ra quyết định hoãn phiên tòa. 2.
Quyết định hoãn phiên tòa phải có các nội dung chính sau đây: a)
Ngày, tháng, năm ra quyết định; b)
Tên Tòa án và họ, tên những người tiến hành tố tụng; c)
Vụ án được đưa ra xét xử; d)
Lý do của việc hoãn phiên tòa; đ)
Thời gian, địa điểm mở lại phiên tòa. 3.
Quyết định hoãn phiên tòa phải được chủ toạ phiên tòa thay mặt Hội đồng xét xử
ký tên và thông báo công khai tại phiên tòa; đối với người vắng mặt thì Tòa án
gửi ngay cho họ quyết định đó, đồng thời gửi cho Viện kiểm sát cùng
cấp. 4.
Trường hợp
sau khi hoãn phiên tòa mà Tòa án không thể mở lại phiên tòa đúng thời gian, địa
điểm mở lại phiên tòa ghi trong quyết định hoãn phiên tòa thì Tòa án phải thông
báo ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp và những người tham gia tố tụng về thời
gian, địa điểm mở lại phiên tòa. 1.
Khi vào phòng xử án, mọi người đều phải chấp hành việc kiểm tra an ninh của lực
lượng có trách nhiệm bảo vệ phiên tòa. 2.
Nghiêm cấm mang vào phòng xử án vũ khí, hung khí, chất nổ, chất cháy, chất độc,
chất phóng xạ, đồ vật cấm lưu hành, truyền đơn, khẩu hiệu và tài liệu, đồ vật
khác ảnh hưởng đến sự tôn nghiêm của phiên tòa, trừ vật chứng của vụ án phục vụ
cho công tác xét xử hoặc vũ khí, công cụ hỗ trợ được người có thẩm quyền mang
theo để làm nhiệm vụ bảo vệ phiên tòa. 3.
Người tham gia phiên tòa theo yêu cầu của Tòa án phải xuất trình giấy triệu tập,
giấy mời, các giấy tờ có liên quan khác cho Thư ký phiên tòa tại bàn thư ký chậm
nhất là 15 phút trước giờ khai mạc phiên tòa và ngồi đúng vị trí trong phòng xử
án theo hướng dẫn của Thư ký phiên tòa; trường hợp đến muộn thì phải xuất trình
giấy triệu tập, giấy mời, các giấy tờ có liên quan khác cho Thư ký phiên tòa
thông qua lực lượng làm nhiệm vụ bảo vệ phiên tòa. 4.
Nhà báo tham dự phiên tòa để đưa tin về diễn biến phiên tòa phải chấp hành sự
điều khiển của chủ tọa phiên
tòa về khu vực tác nghiệp. Nhà báo ghi âm lời nói, ghi hình ảnh của Hội đồng xét
xử phải được sự đồng ý của chủ tọa phiên
tòa. Việc ghi âm lời nói, ghi hình ảnh của đương sự, người tham gia tố tụng khác
phải được sự đồng ý của họ. 5.
Mọi người tham dự phiên tòa phải có trang phục nghiêm chỉnh; có thái độ tôn
trọng Hội đồng xét xử, giữ trật tự và tuân theo sự điều khiển của chủ tọa phiên
tòa. 6.
Không đội mũ, nón, đeo kính màu trong phòng xử án, trừ trường hợp có lý do chính
đáng và được sự đồng ý
của chủ tọa phiên tòa; không sử dụng điện thoại di
động, không hút thuốc, không ăn uống trong phòng xử án hoặc có
hành vi khác ảnh hưởng đến sự tôn nghiêm của phiên tòa. 7.
Người tham gia phiên tòa theo yêu cầu của Tòa án phải có mặt tại phiên tòa trong
suốt thời gian xét xử vụ án, trừ trường hợp được chủ tọa phiên
tòa đồng ý
cho rời khỏi phòng xử án khi có lý do chính
đáng. Người dưới mười sáu tuổi không
được vào phòng xử án, trừ trường hợp được Tòa án triệu tập tham gia phiên
tòa. 8.
Mọi người trong phòng xử án phải đứng dậy khi Hội đồng xét xử vào phòng xử án và
khi tuyên án, trừ trường hợp đặc biệt được sự đồng ý của
chủ tọa phiên
tòa. 9.
Chỉ những người được Hội đồng xét xử đồng ý mới được
hỏi, trả lời hoặc phát biểu. Người hỏi, trả lời hoặc phát biểu phải đứng dậy,
trừ trường hợp vì lý do sức khỏe được chủ tọa phiên
tòa đồng ý
cho ngồi để hỏi, trả lời, phát
biểu. 1.
Bản án phải được Hội đồng xét xử thảo luận và thông qua tại phòng nghị
án. 2.
Quyết định thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch,
chuyển vụ án, tạm đình chỉ hoặc đình chỉ giải quyết vụ án, hoãn phiên tòa, quyết
định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, tạm ngừng phiên tòa phải được Hội
đồng xét xử thảo luận, thông qua tại phòng nghị án và lập thành văn
bản. 3.
Quyết định về các vấn đề khác được Hội đồng xét xử thảo luận và thông qua tại
phòng xử án, không phải lập thành văn
bản nhưng phải được ghi vào biên bản phiên tòa. 1.
Biên bản phiên tòa phải ghi đầy đủ các nội dung sau đây: a)
Các nội dung chính trong quyết định đưa vụ án ra xét xử quy định tại khoản 1
Điều 220 của Bộ luật này; b)
Mọi diễn biến tại phiên tòa từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc phiên
tòa; c)
Các câu hỏi, câu trả lời và phát biểu tại phiên tòa. 2.
Ngoài việc ghi biên bản phiên tòa, Hội đồng xét xử có thể thực hiện việc ghi âm,
ghi hình về diễn biến phiên tòa. 3.
Sau khi kết thúc phiên tòa, chủ toạ phiên tòa phải kiểm tra biên bản và cùng với
Thư ký phiên tòa ký biên bản đó. 4.
Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng có quyền được xem biên bản phiên
tòa ngay sau khi kết thúc phiên tòa, yêu cầu ghi những sửa đổi, bổ sung vào biên
bản phiên tòa và ký xác nhận. Điều 237. Chuẩn bị khai mạc phiên
tòa Trước khi khai mạc phiên tòa, Thư ký phiên tòa phải tiến
hành các công việc sau đây: 1.
Phổ biến nội quy phiên tòa. 2.
Kiểm tra, xác định sự có mặt, vắng mặt của những người tham gia phiên tòa theo
giấy triệu tập, giấy báo của Tòa án; nếu có người vắng mặt thì phải làm rõ lý
do. 3.
Ổn định trật tự trong phòng xử án. 4.
Yêu cầu mọi người trong phòng xử án đứng dậy khi Hội đồng xét xử vào phòng xử
án. Điều 238. Thủ tục xét xử vắng mặt
tất cả những người tham gia tố tụng 1.
Tòa án căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ để xét xử vắng mặt đương sự,
người tham gia tố tụng khác theo quy định của pháp luật khi có đủ các điều kiện
sau đây: a)
Nguyên đơn, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng
mặt; b)
Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người đại diện hợp pháp của bị
đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn đề nghị xét xử vắng mặt hoặc
đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt; c)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn đề nghị xét xử vắng mặt hoặc đã được triệu tập
hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt. 2.
Chủ tọa phiên tòa công bố lý do đương sự vắng mặt hoặc đơn của đương sự đề
nghị Hội đồng xét xử vắng mặt. 3.
Chủ tọa phiên tòa công bố tóm tắt nội dung vụ án và tài liệu, chứng cứ có trong
hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử thảo luận về những vấn đề cần giải quyết trong vụ
án. 4.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát. 5.
Hội đồng xét xử tiến hành nghị án và tuyên án theo quy định của Bộ luật
này. THỦ TỤC
BẮT ĐẦU PHIÊN TÒA 1.
Chủ tọa phiên tòa khai mạc phiên tòa và đọc quyết định đưa vụ án ra xét
xử. 2.
Thư ký phiên tòa
báo cáo Hội đồng xét xử về sự có mặt, vắng mặt của những
người tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập, giấy báo của Tòa án và lý do vắng
mặt. 3.
Chủ tọa phiên tòa kiểm tra lại sự có mặt của những người tham gia phiên tòa theo
giấy triệu tập, giấy báo của Tòa án và kiểm tra căn cước của đương
sự, người tham gia tố
tụng khác. 4.
Chủ tọa phiên tòa phổ biến quyền, nghĩa vụ của đương sự và của người tham gia tố
tụng khác. 5.
Chủ toạ phiên tòa giới thiệu họ, tên những người tiến hành tố tụng, người giám định, người
phiên dịch. 6.
Chủ tọa phiên tòa hỏi những người có quyền yêu cầu thay đổi người tiến hành tố
tụng, người giám định, người phiên dịch xem họ có
yêu cầu thay đổi ai không. 7.
Yêu cầu người làm chứng cam kết khai báo đúng sự thật, nếu khai không đúng phải
chịu trách nhiệm trước pháp luật, trừ trường hợp người làm chứng là người chưa
thành niên. 8.
Yêu cầu người giám định, người phiên dịch cam kết cung cấp kết quả giám định
chính xác, phiên dịch đúng nội dung cần phiên dịch. Điều 240. Giải quyết yêu cầu thay
đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên
dịch Trường hợp có người yêu cầu thay đổi người tiến hành tố
tụng, người giám định, người phiên dịch thì Hội đồng xét xử phải xem xét, quyết
định theo thủ tục do Bộ luật này quy định và có thể chấp nhận hoặc không chấp
nhận; trường hợp không chấp nhận thì phải nêu rõ lý do. Điều 241. Xem xét, quyết định hoãn
phiên tòa khi có người vắng mặt Khi
có người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa mà không thuộc trường hợp Tòa
án phải hoãn phiên tòa thì chủ toạ phiên tòa phải hỏi xem có ai đề nghị hoãn
phiên tòa hay không; nếu có người đề nghị thì Hội đồng xét xử xem xét, quyết
định theo thủ tục do Bộ luật này quy định và có thể chấp nhận hoặc không chấp
nhận; trường hợp không chấp nhận thì phải nêu rõ lý
do. Điều 242. Bảo đảm tính khách quan
của người làm chứng 1.
Trước khi hỏi
người làm chứng về những vấn đề mà họ biết có liên quan đến
việc giải quyết vụ án, chủ toạ phiên tòa có thể quyết định những biện pháp cần
thiết để những người làm chứng không nghe được lời khai của nhau hoặc tiếp xúc
với những người có liên quan. 2.
Trường hợp
lời khai của đương sự và người làm chứng có ảnh hưởng lẫn nhau thì chủ toạ phiên
tòa có thể quyết định cách ly đương sự với người làm chứng trước khi hỏi người
làm chứng. Điều 243. Hỏi đương sự về việc thay
đổi, bổ sung, rút yêu cầu Thủ
tục hỏi đương sự về việc thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu được bắt đầu bằng việc
chủ toạ phiên tòa hỏi đương sự về các vấn đề sau đây: 1.
Hỏi nguyên đơn có thay đổi, bổ sung, rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện
hay không; 2.
Hỏi bị đơn có thay đổi, bổ sung, rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu phản tố hay
không; 3.
Hỏi người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có thay đổi, bổ
sung, rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu độc lập hay không. Điều 244. Xem xét việc thay đổi, bổ
sung, rút yêu cầu 1.
Hội đồng xét xử chấp nhận việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự nếu việc
thay đổi, bổ sung yêu cầu của họ không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện, yêu
cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập ban đầu. 2.
Trường hợp có đương sự rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của mình và việc rút
yêu cầu của họ là tự nguyện thì Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử đối
với phần yêu cầu hoặc toàn bộ yêu cầu đương sự đã rút. Điều 245. Thay đổi địa vị tố
tụng 1.
Trường hợp nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện, nhưng bị đơn vẫn giữ nguyên
yêu cầu phản tố của mình thì bị đơn trở thành nguyên đơn và nguyên đơn trở thành
bị đơn. 2.
Trường hợp nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện, bị đơn rút toàn bộ yêu cầu
phản tố, nhưng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vẫn giữ nguyên yêu cầu độc
lập của mình thì người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trở thành nguyên đơn,
người bị khởi kiện
theo yêu cầu độc lập trở thành bị đơn. Điều 246. Công nhận sự thoả thuận
của các đương sự 1.
Chủ tọa phiên tòa hỏi các đương sự có thoả thuận được với nhau về việc giải
quyết vụ án hay không;
trường hợp các đương sự thoả thuận được với nhau về việc
giải quyết vụ án và thoả thuận của họ là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của
luật và không trái đạo đức xã hội thì Hội đồng xét xử ra quyết định
công nhận sự thoả thuận của các đương sự về việc giải quyết vụ án. 2.
Quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự về việc giải quyết vụ án có
hiệu lực pháp luật theo quy định tại Điều 213 của Bộ luật này. TRANH TỤNG
TẠI PHIÊN TÒA Điều 247. Nội dung và phương thức
tranh tụng tại phiên tòa 1.
Tranh tụng tại phiên tòa bao gồm việc trình bày chứng cứ, hỏi, đối đáp, trả lời
và phát biểu quan điểm, lập luận về đánh giá chứng cứ, tình tiết của vụ án dân
sự, quan hệ pháp luật tranh chấp và pháp luật áp dụng để
giải quyết yêu cầu của các đương sự trong vụ
án. 2.
Việc tranh tụng tại phiên tòa được tiến
hành theo sự điều khiển của chủ tọa phiên tòa. 3.
Chủ tọa phiên tòa
không được hạn chế thời gian tranh tụng, tạo điều kiện cho
những người tham gia tranh tụng trình bày hết ý kiến nhưng có quyền yêu cầu họ dừng trình bày
những ý kiến không có liên quan đến vụ án dân
sự. Điều 248. Trình bày của đương sự,
người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự 1.
Trường hợp có đương sự vẫn giữ nguyên yêu cầu của mình và các đương sự không tự
thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án thì các đương sự trình bày
theo trình tự sau đây: a)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày về yêu cầu và
chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ và hợp pháp.
Nguyên đơn có quyền bổ sung ý kiến. Trường hợp cơ
quan, tổ chức khởi kiện vụ án thì đại diện cơ quan, tổ chức trình bày về yêu cầu
và chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện là có căn cứ và hợp
pháp; b)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày ý kiến của bị đơn
đối với yêu cầu của nguyên đơn; yêu cầu phản tố, đề nghị của bị đơn và chứng cứ
để chứng minh cho yêu cầu, đề nghị đó là có căn cứ và hợp pháp. Bị đơn có quyền
bổ sung ý kiến; c)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan trình bày ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đối với yêu
cầu, đề nghị của nguyên đơn, bị đơn; yêu cầu độc lập, đề nghị của người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan và chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu, đề nghị đó là có
căn cứ và hợp pháp. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền bổ sung ý
kiến. 2.
Trường hợp
nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có người bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp cho mình thì họ tự trình bày về yêu cầu, đề nghị của
mình và chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu, đề nghị đó là có căn cứ và hợp
pháp. 3.
Tại phiên tòa, đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự chỉ
có quyền bổ sung chứng cứ theo quy định tại khoản 4 Điều 96 của Bộ luật này để
chứng minh cho yêu cầu, đề nghị của mình. Điều 249. Thứ tự và nguyên tắc hỏi
tại phiên tòa 1.
Sau khi nghe xong lời trình bày của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của đương sự theo quy định tại Điều 248 của Bộ luật này, theo sự điều hành
của chủ
tọa phiên tòa, thứ tự hỏi của từng người được thực hiện như sau: a)
Nguyên đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn hỏi trước,
tiếp đến bị đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn, sau đó là
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; b)
Những người tham gia tố tụng khác; c)
Chủ tọa phiên tòa, Hội thẩm nhân dân; d)
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa. 2.
Việc đặt câu hỏi phải rõ ràng, nghiêm túc, không trùng lắp, không lợi dụng việc
hỏi và trả lời để xâm phạm danh dự, nhân phẩm của những người tham gia tố
tụng. 1.
Trường hợp có nhiều nguyên đơn thì phải hỏi riêng từng nguyên đơn. 2.
Chỉ hỏi nguyên đơn về những vấn đề mà người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
nguyên đơn, nguyên đơn trình bày chưa rõ, có mâu thuẫn với nhau hoặc mâu thuẫn
với lời khai của họ trước đó, mâu thuẫn với lời trình bày của bị đơn, người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
những người này. 3.
Nguyên đơn có thể tự mình trả lời hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của nguyên đơn trả lời thay cho nguyên đơn và sau đó nguyên đơn trả lời bổ
sung. 1.
Trường hợp có nhiều bị đơn thì phải hỏi riêng từng bị đơn. 2.
Chỉ hỏi bị đơn về những vấn đề mà người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị
đơn, bị đơn trình bày chưa rõ, có mâu thuẫn với nhau hoặc mâu thuẫn với lời khai
của họ trước đó, mâu thuẫn với yêu cầu, lời trình bày của nguyên
đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của những người này. 3.
Bị đơn có thể tự mình trả lời hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị
đơn trả lời thay cho bị đơn và sau đó bị đơn trả lời bổ sung. Điều 252. Hỏi người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan 1.
Trường hợp có nhiều người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì phải hỏi riêng
từng người một. 2.
Chỉ hỏi người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về những vấn đề mà họ, người bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ trình bày chưa rõ, có mâu thuẫn với nhau
hoặc mâu thuẫn với lời khai của họ trước đó, mâu thuẫn với yêu cầu, đề
nghị, lời trình bày
của nguyên đơn, bị đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của những người này. 3.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có thể tự mình trả lời hoặc người bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của họ trả lời thay cho họ và sau đó họ trả lời bổ
sung. 1.
Trước khi hỏi người làm chứng, chủ tọa phiên tòa phải hỏi rõ về quan hệ giữa họ
với các đương sự trong vụ án; nếu người làm chứng là người chưa thành niên thì
chủ tọa phiên tòa có thể yêu cầu cha, mẹ, người giám hộ hoặc thầy giáo, cô giáo
giúp đỡ để hỏi. Trường hợp có nhiều người làm chứng thì phải hỏi riêng từng
người một. 2.
Chủ tọa phiên tòa yêu cầu người làm chứng trình bày rõ những tình tiết của vụ án
mà họ biết; sau khi người làm chứng trình bày xong thì chỉ hỏi thêm người làm
chứng về những điểm mà họ trình bày chưa rõ, chưa đầy đủ hoặc có mâu thuẫn với
nhau, mâu thuẫn với lời khai của họ trước đó, mâu thuẫn với lời trình bày của
đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. 3.
Sau khi đã trình bày xong, người làm chứng ở lại phòng xử án để có thể được hỏi
thêm. 4.
Trong trường hợp cần thiết phải bảo đảm an toàn cho người làm chứng và những
người thân thích của họ, Hội đồng xét xử quyết định không tiết lộ thông tin về
nhân thân của người làm chứng và không để những người trong phiên tòa nhìn thấy
họ. 5.
Đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự hỏi người làm
chứng sau khi được sự đồng ý của chủ tọa phiên
tòa. 1.
Hội đồng xét xử công bố tài liệu, chứng cứ của vụ án trong các trường hợp sau
đây: a)
Người tham gia tố tụng không có mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai trong giai đoạn chuẩn bị xét xử; b)
Lời khai của người tham gia tố tụng tại phiên tòa mâu thuẫn với lời khai trước
đó; c)
Trong các trường hợp khác mà Hội đồng xét xử thấy cần thiết hoặc có yêu cầu của
Kiểm sát viên, đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự,
người tham gia tố tụng khác. 2.
Trường hợp
đặc biệt cần giữ bí mật nhà nước, giữ gìn thuần phong mỹ tục của dân tộc, giữ bí
mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, bảo vệ
người chưa thành niên theo yêu cầu của đương sự thì Hội đồng xét xử không công
bố tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Theo
yêu cầu của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người
tham gia tố tụng khác,
Kiểm sát viên hoặc khi xét thấy cần thiết, Hội đồng xét xử
cho nghe băng ghi âm, đĩa ghi âm, xem băng ghi hình, đĩa ghi hình, thiết bị khác chứa âm thanh, hình
ảnh tại phiên tòa, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 254
của Bộ luật này. Vật
chứng, ảnh hoặc biên bản xác nhận vật chứng được đưa ra để xem xét tại phiên
tòa. Khi
cần thiết, Hội đồng xét xử có thể cùng với đương sự đến xem xét tại chỗ vật
chứng không thể đưa đến phiên tòa được. 1.
Chủ tọa phiên tòa yêu cầu người giám định trình bày kết luận của mình về vấn đề
được yêu cầu giám định. Khi trình bày, người giám định có quyền giải thích về
kết luận giám định, các căn cứ để đưa ra kết luận giám định. 2.
Kiểm sát viên, đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự,
người tham gia tố tụng khác có mặt tại phiên tòa có quyền nhận xét về kết luận
giám định; hỏi những vấn đề còn chưa rõ hoặc có mâu thuẫn trong kết luận giám
định hoặc có mâu thuẫn với những tình tiết khác của vụ án sau khi được sự đồng ý
của chủ
tọa phiên tòa. 3.
Trường hợp người giám định không có mặt tại phiên tòa thì chủ tọa phiên tòa công
bố kết luận giám định. 4.
Khi có đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự không đồng
ý với kết luận giám định được công bố tại phiên tòa và có yêu cầu giám định bổ
sung hoặc giám định lại, nếu xét thấy việc giám định bổ sung, giám định lại là
cần thiết cho việc giải quyết vụ án thì Hội đồng xét xử quyết định giám định bổ
sung, giám định lại; trong trường hợp này, Hội đồng xét xử quyết định tạm ngừng
phiên tòa theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 259 của Bộ luật này. Khi
nhận thấy các tình tiết của vụ án đã được xem xét đầy đủ thì chủ tọa phiên tòa
hỏi Kiểm sát viên, đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự
và những người tham gia tố tụng khác xem họ có yêu cầu hỏi vấn đề gì nữa không;
trường hợp có người yêu cầu và xét thấy yêu cầu đó là có căn cứ thì chủ tọa
phiên tòa quyết định tiếp tục việc hỏi. 1.
Trong quá trình xét xử, Hội đồng xét xử có quyền quyết định tạm ngừng phiên tòa
khi có một trong các căn cứ sau đây: a)
Do tình trạng sức khỏe hoặc do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan khác
mà người tiến hành tố tụng không thể tiếp tục tiến hành phiên tòa, trừ trường
hợp thay thế được người tiến hành tố tụng; b)
Do tình trạng sức khỏe hoặc do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan khác
mà người tham gia tố tụng không thể tiếp tục tham gia phiên tòa, trừ trường hợp
người tham gia tố tụng có yêu cầu xét xử vắng mặt; c)
Cần phải xác minh, thu thập bổ sung tài liệu, chứng cứ mà nếu không thực hiện
thì không thể giải quyết được vụ án và không thể thực hiện được ngay tại phiên
tòa; d)
Chờ kết quả giám định bổ sung, giám định lại; đ)
Các đương sự thống nhất đề nghị Tòa án tạm ngừng phiên tòa để họ tự hòa
giải; e)
Cần phải báo cáo Chánh án Tòa án để đề nghị sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản
quy phạm pháp luật theo quy định tại Điều 221 của Bộ luật này. 2.
Việc tạm ngừng phiên tòa phải được
ghi vào biên bản phiên tòa. Thời hạn
tạm ngừng phiên tòa là không quá 01 tháng, kể từ ngày
Hội đồng xét xử quyết định tạm ngừng phiên tòa. Hết thời hạn này, nếu lý do để
ngừng phiên tòa không còn thì Hội đồng xét xử tiếp tục tiến hành phiên tòa; nếu
lý do để ngừng phiên tòa chưa được khắc phục thì Hội đồng xét xử ra quyết định
tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự. Hội đồng
xét xử phải thông báo bằng văn bản cho những người tham gia tố tụng và Viện kiểm
sát cùng cấp về thời gian tiếp tục phiên tòa. 1.
Sau khi kết thúc việc hỏi, Hội đồng xét xử chuyển sang phần tranh luận tại phiên tòa. Trình tự phát biểu
khi tranh luận được thực hiện như sau: a)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày. Nguyên đơn có
quyền bổ sung ý kiến. Trường hợp cơ quan, tổ chức khởi kiện thì đại diện cơ
quan, tổ chức trình bày ý kiến. Người có quyền và lợi ích hợp pháp được bảo vệ
có quyền bổ sung ý kiến; b)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn tranh luận, đối đáp. Bị đơn có
quyền bổ sung ý kiến; c)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan trình bày. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền bổ sung ý
kiến; d)
Các đương sự đối đáp theo sự điều khiển của chủ tọa phiên tòa; đ)
Khi xét thấy cần thiết, Hội đồng xét xử có thể yêu cầu các đương sự tranh luận
bổ sung về những vấn đề cụ thể để làm căn cứ giải quyết vụ án. 2.
Trường hợp nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có
người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp thì họ tự mình trình bày khi tranh
luận. 3.
Trường hợp vắng mặt một trong các đương sự và người tham gia tố tụng khác thì
chủ tọa phiên
tòa phải công bố lời khai của họ để trên cơ sở đó các đương sự có mặt tại phiên
tòa tranh luận và đối đáp. Khi
phát biểu về đánh giá chứng cứ, đề xuất quan điểm của mình về việc giải quyết vụ
án, người tham gia tranh luận phải căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã thu thập
được và đã được xem xét, kiểm tra tại phiên tòa cũng như kết quả việc hỏi tại
phiên tòa. Người tham gia tranh luận có quyền đáp lại ý kiến của người
khác. Sau
khi những người tham gia tố tụng phát biểu tranh luận và đối đáp xong, Kiểm sát
viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội
đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người
tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước
thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ
án. Ngay sau khi kết thúc phiên tòa, Kiểm sát viên phải gửi văn
bản phát biểu ý kiến cho Tòa án để lưu vào hồ sơ vụ án. Qua
tranh luận, nếu xét thấy có tình tiết của vụ án chưa được xem xét, việc xem xét
chưa được đầy đủ hoặc cần xem xét thêm chứng cứ thì Hội đồng xét xử quyết định
trở lại việc hỏi và tranh luận. 1.
Sau khi kết thúc phần tranh luận, Hội đồng xét xử vào phòng nghị án để nghị
án. 2.
Chỉ có các thành viên Hội đồng xét xử mới có quyền nghị án. Khi nghị án, các
thành viên Hội đồng xét xử phải căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét
tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật, nếu
vụ án thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 4 của Bộ luật này thì còn phải
căn cứ vào tập quán, tương tự pháp luật, những nguyên tắc cơ bản của pháp luật
dân sự, án lệ hoặc lẽ công bằng, để giải quyết tất cả các vấn đề của vụ án bằng
cách biểu quyết theo đa số về từng vấn đề. Hội thẩm nhân dân biểu quyết trước,
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa biểu quyết sau cùng. Người có ý kiến thiểu số có
quyền trình bày ý kiến của mình bằng văn bản và được đưa vào hồ sơ vụ
án. 3.
Khi nghị án phải có biên bản ghi lại các ý kiến đã
thảo luận và quyết định của Hội đồng xét xử. Biên bản nghị án phải được các
thành viên Hội đồng xét xử ký tên tại phòng nghị án trước khi tuyên
án. 4.
Trường hợp vụ
án có nhiều tình tiết phức tạp, việc nghị án đòi hỏi phải có thời gian dài thì
Hội đồng xét xử có thể quyết định thời gian nghị án nhưng không quá 05 ngày làm
việc, kể từ khi kết thúc tranh luận tại phiên tòa. Hội
đồng xét xử phải thông báo cho những người có mặt tại phiên tòa và người tham
gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa về giờ, ngày và
địa điểm tuyên án. Trường hợp Hội đồng xét xử đã thực hiện việc thông báo mà có
người tham gia tố tụng vắng mặt vào ngày, giờ và địa điểm tuyên án thì Hội đồng
xét xử vẫn tiến hành việc tuyên án theo quy định tại Điều 267 của Bộ luật
này. Qua
nghị án, nếu xét thấy có tình tiết của vụ án chưa được xem xét, việc hỏi chưa
đầy đủ hoặc cần xem xét thêm chứng cứ thì Hội đồng xét xử quyết định trở lại
việc hỏi và tranh luận. 1.
Tòa án ra bản án nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. 2.
Bản án gồm có phần mở đầu, phần nội dung vụ án và nhận định và phần quyết định
của Tòa án, cụ thể như sau: a)
Trong phần mở đầu phải ghi rõ tên Tòa án xét xử sơ thẩm; số và ngày thụ lý vụ
án; số bản án và ngày tuyên án; họ, tên của các thành viên Hội đồng xét xử, Thư
ký phiên
tòa, Kiểm sát viên, người giám định, người phiên dịch; tên,
địa chỉ của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, cơ quan,
tổ chức, cá nhân
khởi kiện; người đại diện hợp pháp, người bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của đương sự; đối tượng tranh chấp; số, ngày, tháng, năm của
quyết định đưa vụ án ra xét xử; xét xử công khai hoặc xét xử kín; thời gian và
địa điểm xét xử; b)
Trong phần nội dung vụ án và nhận định của Tòa án phải ghi yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn, yêu cầu khởi kiện của cơ quan, tổ chức, cá nhân; yêu cầu phản tố, đề
nghị của bị đơn; yêu cầu độc lập, đề nghị của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan. Tòa
án phải căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả
tranh tụng tại phiên tòa để phân tích, đánh giá, nhận định đầy đủ, khách quan về
các tình tiết của vụ án, những căn cứ pháp luật, nếu vụ án thuộc trường hợp quy
định tại khoản 2 Điều 4 của Bộ luật này thì còn phải căn cứ vào tập quán, tương
tự pháp luật, những nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ hoặc lẽ công
bằng, để chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu, đề nghị của đương sự, người bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự và giải quyết các vấn đề khác có liên
quan; c)
Trong phần quyết định phải ghi rõ các căn cứ pháp luật, quyết định của Hội đồng
xét xử về từng vấn đề phải giải quyết trong vụ án, về áp dụng biện pháp khẩn cấp
tạm thời, án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo đối với bản án; trường hợp
có quyết định phải thi hành ngay thì phải ghi rõ quyết định đó. 3.
Khi xét xử lại vụ án mà bản án, quyết định đã bị hủy một phần hoặc toàn bộ theo
quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm thì Tòa án phải
giải quyết vấn đề tài sản, nghĩa vụ đã được thi hành (nếu có) theo bản án,
quyết định có hiệu lực pháp luật nhưng bị hủy và ghi rõ trong bản
án. Hội
đồng xét xử tuyên đọc bản án với sự có mặt của các đương sự, đại diện cơ quan, tổ chức và cá
nhân khởi kiện. Trường hợp
đương sự có mặt tại phiên tòa nhưng vắng mặt khi tuyên án hoặc vắng mặt trong
trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 264 của Bộ luật này thì Hội đồng xét xử vẫn
tuyên đọc bản án. Khi
tuyên án, mọi người trong phòng xử án phải đứng dậy, trừ trường hợp đặc biệt
được sự đồng ý của
chủ tọa phiên tòa. Chủ tọa phiên tòa hoặc một thành viên
khác của Hội đồng xét xử tuyên đọc bản án và có thể giải thích thêm về việc thi
hành bản án và quyền kháng cáo. Trường hợp Tòa án xét xử kín theo quy định tại khoản 2 Điều
15 của Bộ luật này thì Hội đồng xét xử chỉ tuyên công khai phần mở đầu và phần quyết định
của bản án. Trường hợp đương sự cần có người phiên dịch thì người phiên
dịch phải dịch lại cho họ nghe toàn bộ bản án hoặc phần mở đầu và phần quyết định
của bản án được tuyên công khai. 1.
Sau khi tuyên án xong thì không được sửa chữa, bổ sung bản án, trừ trường hợp
phát hiện lỗi rõ ràng về chính tả, về số liệu do nhầm lẫn hoặc tính toán
sai. 2.
Trường hợp cần sửa chữa, bổ sung bản án theo quy định tại khoản 1 Điều này thì
Thẩm phán phối hợp với các Hội thẩm nhân dân là thành viên Hội đồng xét xử đã
tuyên bản án đó phải ra quyết định sửa chữa, bổ sung bản án và gửi ngay cho
đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện, Viện kiểm sát cùng cấp và cơ quan
thi hành án dân sự nếu bản án đã được gửi cho cơ quan thi hành án dân
sự. Trường hợp Thẩm phán đã xét xử vụ án đó không còn đảm nhiệm
chức vụ Thẩm phán tại
Tòa án đã ra bản án đó thì Chánh án
Tòa án thực hiện việc sửa chữa, bổ sung bản án. 1.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày kết thúc phiên tòa, các đương sự, cơ
quan, tổ chức, cá nhân
khởi kiện được Tòa án cấp trích lục bản án. 2.
Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày tuyên án, Tòa án phải giao hoặc gửi bản án
cho các đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện và Viện kiểm sát cùng
cấp. 3.
Bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật của Tòa án giải quyết vụ án dân sự bảo vệ
quyền lợi người tiêu dùng do tổ chức xã hội tham gia bảo vệ người tiêu dùng khởi
kiện phải được niêm yết công khai tại trụ sở Tòa án và công bố công khai trên
một trong các báo hàng ngày của trung ương hoặc địa phương trong ba số liên
tiếp. Bản
án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật của Tòa án có liên quan đến trách nhiệm bồi
thường của Nhà nước phải được Tòa án cấp sơ thẩm gửi cho cơ quan quản lý nhà
nước có thẩm quyền về bồi thường nhà nước. Bản
án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật của Tòa án có liên quan đến việc thay đổi hộ
tịch của cá nhân phải được Tòa án cấp sơ thẩm thông báo bằng văn bản kèm theo
trích lục bản án cho Ủy ban nhân dân nơi đã đăng ký hộ tịch của cá nhân đó theo
quy định của Luật hộ tịch. Thời
hạn niêm yết, công bố, gửi bản án, thông báo quy định tại khoản này là 05 ngày
làm việc, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. 4. Bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp
luật của Tòa án được công bố trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có),
trừ bản án, quyết định của Tòa án có chứa thông tin quy định tại khoản 2 Điều
109 của Bộ luật này. |
ĐƠN VỊ HỖ TRỢ
|