|
|
KẾ TOÁN - THUẾ - DOANH NGHIỆP - LAO ĐỘNG |
|
|
|
|
Phần
thứ ba Xét xử phúc thẩm là việc Tòa án
cấp phúc thẩm trực tiếp xét xử lại vụ án mà bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ
thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị. Đương sự, người đại diện hợp pháp
của đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân
khởi kiện có
quyền kháng cáo bản án sơ thẩm, quyết định tạm đình chỉ
giải quyết vụ án dân sự, quyết định đình chỉ giải quyết
vụ án dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm để yêu cầu
Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm. 1. Khi thực hiện quyền kháng cáo,
người kháng cáo phải làm đơn kháng cáo. Đơn kháng cáo phải có các nội dung chính
sau đây: a) Ngày, tháng, năm làm đơn kháng
cáo; b) Tên, địa chỉ; số điện thoại,
fax, địa chỉ thư điện tử (nếu có) của người kháng cáo; c) Kháng cáo toàn bộ hoặc phần
của bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm
chưa có hiệu lực pháp luật; d) Lý do của việc kháng cáo và
yêu cầu của người kháng cáo; đ) Chữ ký hoặc điểm chỉ của người
kháng cáo. 2. Người kháng cáo là cá nhân có đầy đủ năng lực
hành vi tố tụng dân sự có thể tự mình làm đơn kháng cáo. Tại mục tên, địa chỉ
của người kháng cáo trong đơn phải ghi họ, tên, địa chỉ; số điện thoại, fax, địa
chỉ thư điện tử (nếu có) của người
kháng cáo. Ở
phần cuối đơn kháng cáo, người kháng cáo
phải ký tên
hoặc điểm chỉ. 3. Người kháng cáo quy định tại khoản 2 Điều này nếu
không tự mình kháng cáo thì có thể ủy quyền cho người khác đại diện cho mình
kháng cáo. Tại mục tên, địa chỉ của người kháng cáo trong đơn phải ghi họ, tên,
địa chỉ của người đại diện theo ủy quyền của người kháng cáo, của người kháng cáo ủy quyền kháng cáo; số điện
thoại, fax, địa chỉ thư điện tử (nếu có) của người kháng cáo ủy quyền kháng cáo và văn bản ủy
quyền. Ở phần cuối đơn kháng cáo, người đại diện theo ủy quyền phải ký tên hoặc
điểm chỉ. 4. Người đại diện theo pháp luật
của đương sự là cơ quan, tổ chức có thể tự mình làm đơn kháng cáo. Tại mục tên,
địa chỉ của người kháng cáo trong đơn phải ghi tên, địa chỉ; số điện thoại, fax,
địa chỉ thư điện tử (nếu có) của đương sự là cơ quan, tổ chức; họ, tên, chức vụ
của người đại diện theo pháp luật của đương sự là cơ quan, tổ chức. Ở phần cuối
đơn kháng cáo, người đại diện theo pháp luật phải ký tên và đóng dấu của cơ
quan, tổ chức đó, trường hợp doanh nghiệp kháng cáo thì việc sử dụng con dấu
theo quy định của Luật doanh nghiệp. Trường hợp người đại diện theo
pháp luật của cơ quan, tổ chức ủy quyền cho người khác kháng cáo thì tại mục
tên, địa chỉ của người kháng cáo trong đơn phải ghi họ, tên, địa chỉ của người
đại diện theo ủy quyền, của đương sự là cơ quan, tổ chức ủy quyền; số điện
thoại, fax, địa chỉ thư điện tử (nếu có) của đương sự là cơ quan, tổ chức ủy
quyền; họ, tên, chức vụ của người đại diện theo pháp luật của đương sự là cơ
quan, tổ chức đó và văn bản ủy quyền. Ở phần cuối đơn kháng cáo, người đại diện
theo ủy quyền phải ký tên hoặc điểm chỉ. 5. Người đại diện theo pháp luật
của đương sự là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự có thể
tự mình làm đơn kháng cáo. Tại mục tên, địa chỉ của người kháng cáo trong đơn
phải ghi họ, tên, địa chỉ của người đại diện theo pháp luật; họ, tên, địa chỉ
của đương sự là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự. Ở phần
cuối đơn kháng cáo, người đại diện theo pháp luật phải ký tên hoặc điểm
chỉ. Trường hợp người đại diện theo
pháp luật của đương sự ủy quyền cho người khác đại diện cho mình kháng cáo thì
tại mục tên, địa chỉ của người kháng cáo trong đơn phải ghi họ, tên, địa chỉ của
người đại diện theo ủy quyền và văn bản ủy quyền; họ, tên, địa chỉ của người đại
diện theo pháp luật của đương sự ủy quyền; họ, tên, địa chỉ của đương sự là
người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự. Ở phần cuối đơn kháng
cáo, người đại diện theo ủy quyền phải ký tên hoặc điểm chỉ. 6. Việc ủy quyền quy định tại các
khoản 3, 4 và 5 Điều này phải được làm thành văn bản có công chứng, chứng thực
hợp pháp, trừ trường hợp văn bản ủy quyền đó được lập tại Tòa án có sự chứng
kiến của Thẩm phán hoặc người được Chánh án Tòa án phân công. Trong văn bản ủy
quyền phải có nội dung đương sự ủy quyền cho người đại diện theo ủy quyền kháng
cáo bản án, quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp
sơ thẩm. 7. Đơn kháng cáo phải được gửi
cho Tòa án cấp sơ thẩm đã ra bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo. Trường hợp
đơn kháng cáo được gửi cho Tòa án cấp phúc thẩm thì Tòa án đó phải chuyển cho
Tòa án cấp sơ thẩm để tiến hành các thủ tục cần thiết theo quy định của Bộ luật này. 8. Kèm theo đơn kháng cáo, người
kháng cáo phải gửi tài liệu, chứng cứ bổ sung (nếu có) để chứng minh cho kháng
cáo của mình là có căn cứ và hợp pháp. 1. Thời hạn
kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15
ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khởi kiện
không có mặt
tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn
kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được
bản án hoặc
bản án được niêm yết. Đối với trường hợp đương
sự, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân
khởi kiện đã
tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt khi Tòa án tuyên án mà không có lý do chính
đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày tuyên án. 2. Thời hạn kháng cáo đối với
quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm là 07
ngày, kể từ ngày đương sự, cơ quan, tổ
chức, cá nhân khởi kiện nhận được quyết định hoặc kể từ
ngày quyết định được niêm yết theo quy định của Bộ luật này. 3. Trường hợp đơn kháng cáo được
gửi qua dịch vụ bưu chính thì ngày kháng cáo được xác định căn cứ vào ngày tổ
chức dịch vụ bưu chính nơi gửi đóng dấu ở phong bì. Trường hợp người kháng cáo
đang bị tạm giam thì ngày kháng cáo là ngày đơn kháng cáo được giám thị trại
giam xác nhận. 1. Sau khi nhận được đơn kháng
cáo, Tòa án cấp sơ thẩm phải kiểm tra tính hợp lệ của đơn kháng cáo theo quy
định tại Điều 272 của Bộ luật này. 2. Trường hợp đơn kháng cáo quá
hạn thì Tòa án cấp sơ thẩm yêu cầu người kháng cáo trình bày rõ lý do và xuất
trình tài liệu, chứng cứ (nếu có) để chứng minh lý do nộp đơn kháng cáo quá hạn
là chính đáng. 3. Trường hợp đơn kháng cáo chưa
đúng quy định tại Điều 272 của Bộ luật này thì Tòa án cấp sơ thẩm yêu cầu người
kháng cáo làm lại hoặc sửa đổi, bổ sung đơn kháng cáo. 4. Tòa án trả lại đơn kháng cáo
trong các trường hợp sau đây: a) Người kháng cáo không có quyền
kháng cáo; b) Người kháng cáo không làm lại
đơn kháng cáo hoặc không sửa đổi, bổ sung đơn kháng cáo theo yêu cầu của Tòa án
quy định tại khoản 3 Điều này. c) Trường hợp quy định tại khoản
2 Điều 276 của Bộ luật này. 1. Kháng cáo quá thời hạn quy
định tại Điều 273 của Bộ luật này là kháng cáo quá hạn. Sau khi nhận được đơn
kháng cáo quá hạn, Tòa án cấp sơ thẩm phải gửi đơn kháng cáo, bản tường trình
của người kháng cáo về lý do kháng cáo quá hạn và tài liệu, chứng cứ (nếu có)
cho Tòa án cấp phúc thẩm. 2. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ
ngày nhận được đơn kháng cáo quá hạn và tài liệu, chứng cứ kèm theo, Tòa án cấp
phúc thẩm thành lập Hội đồng gồm ba Thẩm phán để xem xét kháng cáo quá hạn.
Phiên họp xem xét kháng cáo quá hạn phải có sự tham gia của đại diện Viện kiểm
sát cùng cấp và người kháng cáo quá hạn. Trường hợp
người kháng cáo, Kiểm sát viên vắng mặt thì Tòa án
vẫn tiến hành phiên họp. 3. Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ
có liên quan đến việc kháng cáo quá hạn, ý kiến của người kháng cáo quá hạn, đại diện Viện
kiểm sát tại phiên họp, Hội đồng xét kháng cáo quá hạn quyết định theo đa số về
việc chấp nhận hoặc không chấp nhận việc kháng cáo quá hạn và phải ghi rõ lý do
của việc chấp nhận hoặc không chấp nhận trong quyết định. Tòa án cấp phúc thẩm
phải gửi quyết định cho người kháng cáo quá hạn, Tòa án cấp sơ thẩm và Viện kiểm
sát cùng cấp; nếu Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận việc kháng cáo quá hạn thì Tòa
án cấp sơ thẩm phải tiến hành các thủ tục do Bộ luật này quy định. 1. Sau khi chấp nhận đơn kháng
cáo hợp lệ, Tòa án cấp sơ thẩm phải thông báo cho người kháng cáo biết để họ nộp
tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật, nếu họ không thuộc
trường hợp được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí phúc
thẩm. 2. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ
ngày nhận được thông báo của Tòa án về việc nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm,
người kháng cáo phải nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm và nộp cho Tòa án cấp sơ thẩm
biên lai thu tiền tạm ứng án phí phúc thẩm. Hết thời hạn này mà người kháng
cáo không nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm thì được coi là từ bỏ việc kháng
cáo, trừ trường hợp có lý do chính đáng. Trường hợp sau khi hết thời hạn
10 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo của Tòa án về việc nộp tiền tạm ứng án
phí phúc thẩm, người kháng cáo mới nộp cho Tòa án biên lai thu tiền tạm ứng án phí phúc thẩm mà
không nêu rõ lý do thì Tòa án cấp sơ thẩm yêu cầu người kháng cáo trong thời hạn
03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu của Tòa án phải có văn bản trình
bày lý do chậm nộp biên lai thu
tiền tạm ứng
án phí phúc thẩm nộp cho Tòa án cấp sơ thẩm để đưa vào hồ sơ vụ án. Trường hợp
này được xử lý theo thủ tục xem xét kháng cáo quá hạn. 1. Sau khi chấp nhận đơn kháng
cáo hợp lệ, Tòa án cấp sơ thẩm phải thông báo ngay bằng văn bản cho Viện kiểm
sát cùng cấp và đương sự có liên quan đến kháng cáo biết về việc kháng cáo kèm
theo bản sao đơn kháng cáo, tài liệu, chứng cứ bổ sung mà người kháng cáo gửi
kèm đơn kháng cáo. 2. Đương sự có liên quan đến kháng cáo được thông báo về việc kháng cáo
có quyền gửi văn bản nêu ý kiến của mình về nội dung kháng cáo cho Tòa án cấp
phúc thẩm. Văn bản nêu ý kiến của họ được đưa vào hồ sơ vụ án. Viện trưởng Viện kiểm sát cùng
cấp và cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị bản án sơ thẩm, quyết định tạm đình chỉ
giải quyết vụ án dân sự, quyết định đình chỉ giải quyết
vụ án dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm để yêu cầu
Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm. 1. Quyết định kháng nghị của Viện
kiểm sát phải bằng văn bản và có các nội dung chính sau đây: a) Ngày, tháng, năm ra quyết định
kháng nghị và số của quyết định kháng nghị; b) Tên của Viện kiểm sát ra quyết
định kháng nghị; c) Kháng nghị toàn bộ hoặc phần
của bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp
luật; d) Lý do của việc kháng nghị và
yêu cầu của Viện kiểm sát; đ) Họ, tên của người ký quyết
định kháng nghị và đóng dấu của Viện kiểm sát ra quyết định kháng
nghị. 2. Quyết định kháng nghị phải
được gửi ngay cho Tòa án cấp sơ thẩm đã ra bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng
nghị để Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành các thủ tục do Bộ luật này quy định và gửi
hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp phúc thẩm theo quy định tại Điều 283 của Bộ luật
này. 3. Kèm theo quyết định kháng nghị
là tài liệu, chứng cứ bổ sung (nếu có) để chứng minh cho kháng nghị của Viện
kiểm sát là có căn cứ và hợp pháp. 1. Thời hạn kháng nghị đối với
bản án của Tòa án cấp sơ thẩm của Viện kiểm sát cùng cấp là 15 ngày, của Viện
kiểm sát cấp trên trực tiếp là 01
tháng, kể từ
ngày tuyên án. Trường hợp Kiểm sát viên không tham gia phiên tòa thì thời hạn
kháng nghị tính từ ngày Viện kiểm sát cùng cấp nhận được bản án. 2. Thời hạn kháng nghị của Viện
kiểm sát cùng cấp đối với quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ giải
quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm là 07 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực
tiếp là 10 ngày, kể từ ngày Viện kiểm sát cùng cấp nhận được quyết
định. 3. Khi Tòa án nhận được quyết
định kháng nghị của Viện kiểm sát mà quyết định kháng nghị đó đã quá thời hạn
quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì Tòa án cấp sơ thẩm yêu cầu Viện
kiểm sát giải thích bằng văn bản và nêu rõ lý do. 1. Viện kiểm sát ra quyết định
kháng nghị phải gửi ngay quyết định kháng nghị cho đương sự có liên quan đến
kháng nghị. 2. Người được thông báo về việc
kháng nghị có quyền gửi văn bản nêu ý kiến của mình về nội dung kháng nghị cho
Tòa án cấp phúc thẩm. Văn bản nêu ý kiến của họ được đưa vào hồ sơ vụ
án. 1. Bản án sơ thẩm, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm hoặc những phần bản án sơ thẩm, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị thì chưa
được đưa ra thi hành, trừ trường hợp pháp luật quy định cho thi hành
ngay. 2. Bản án sơ thẩm, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm hoặc những phần bản án sơ thẩm, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị
theo thủ tục phúc thẩm thì có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng
cáo, kháng nghị. Tòa án cấp sơ thẩm phải gửi hồ sơ
vụ án, đơn kháng cáo, quyết định kháng nghị và tài liệu, chứng cứ
bổ sung kèm theo cho Tòa án cấp phúc thẩm trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ
ngày: 1. Hết thời hạn kháng
nghị; 2. Hết thời hạn kháng cáo, người
kháng cáo đã nộp cho Tòa án cấp sơ thẩm biên lai thu tiền tạm ứng án phí phúc
thẩm. 1. Trường hợp chưa hết thời hạn
kháng cáo theo quy định tại Điều 273 của Bộ luật này thì người đã kháng cáo có
quyền thay đổi, bổ sung kháng cáo mà không bị giới hạn bởi phạm vi kháng cáo ban
đầu. Trường hợp chưa hết thời hạn
kháng nghị theo quy định tại Điều 280 của Bộ luật này thì Viện kiểm sát đã kháng
nghị có quyền thay đổi, bổ sung kháng nghị mà không bị giới hạn bởi phạm vi
kháng nghị ban đầu. 2. Trước khi bắt đầu phiên tòa
hoặc tại phiên tòa phúc thẩm, người kháng cáo có quyền thay đổi, bổ sung kháng
cáo, Viện kiểm sát đã kháng nghị có quyền thay đổi, bổ sung kháng nghị, nhưng
không được vượt quá phạm vi kháng cáo, kháng nghị ban đầu, nếu thời hạn kháng
cáo, kháng nghị đã hết. 3. Trước khi bắt đầu phiên tòa
hoặc tại phiên tòa phúc thẩm, người kháng cáo có quyền rút kháng cáo, Viện kiểm
sát đã kháng nghị hoặc Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền rút kháng
nghị. Tòa án cấp phúc thẩm đình chỉ xét
xử phúc thẩm đối với những phần của vụ án mà người kháng cáo đã rút kháng cáo
hoặc Viện kiểm sát đã rút kháng nghị. Việc đình chỉ xét xử phúc thẩm
trước khi mở phiên tòa do Thẩm phán chủ tọa phiên tòa quyết định, tại phiên
tòa do Hội đồng xét xử quyết
định. 4. Việc thay đổi, bổ sung, rút
kháng cáo, kháng nghị trước khi mở phiên tòa phải được lập thành văn bản và gửi cho Tòa án cấp
phúc thẩm. Tòa án cấp phúc thẩm phải thông báo cho các đương sự về việc thay
đổi, bổ sung, rút kháng cáo, kháng nghị,
thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp về việc thay đổi, bổ sung, rút kháng
cáo. Việc thay đổi, bổ sung, rút kháng
cáo, kháng nghị tại phiên tòa phải được ghi vào biên bản phiên tòa. 1. Ngay sau khi nhận được hồ sơ
vụ án, kháng cáo, kháng nghị và tài liệu, chứng cứ kèm theo, Tòa án cấp phúc
thẩm phải vào sổ thụ lý. Trong thời hạn 03 ngày làm việc,
kể từ ngày thụ lý vụ án, Tòa án phải thông báo bằng văn bản cho các đương
sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện
và Viện kiểm
sát cùng cấp về việc Tòa án đã thụ lý vụ án và thông báo trên Cổng thông tin
điện tử của Tòa án (nếu có). 2. Chánh án Tòa án cấp phúc thẩm
thành lập Hội đồng xét xử phúc thẩm và phân công một Thẩm phán làm chủ tọa phiên
tòa. 1. Trong thời hạn 02 tháng, kể từ
ngày thụ lý vụ án, tuỳ từng trường hợp, Tòa án cấp phúc thẩm ra một trong các
quyết định sau đây: a) Tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm
vụ án; b) Đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ
án; c) Đưa vụ án ra xét xử phúc
thẩm. Đối với vụ án có tính chất phức
tạp hoặc do sự kiện bất khả kháng,
trở ngại
khách quan thì Chánh án Tòa án cấp phúc thẩm có thể quyết định kéo dài thời hạn
chuẩn bị xét xử, nhưng không được quá 01 tháng. 2. Trong thời hạn 01 tháng, kể từ
ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa phúc thẩm;
trường hợp có lý do chính đáng thì thời hạn này là 02 tháng. 3. Trường hợp có quyết định tạm
đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án thì thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm được tính
lại kể từ ngày quyết định tiếp tục giải quyết vụ án của Tòa án có hiệu lực pháp
luật. 4. Thời hạn quy định tại Điều này
không áp dụng đối với vụ án xét xử phúc thẩm theo thủ tục rút gọn, vụ án có yếu
tố nước ngoài. 1. Đương sự được quyền bổ sung
tài liệu, chứng cứ sau đây trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc
thẩm: a) Tài liệu, chứng cứ mà Tòa án
cấp sơ thẩm đã yêu cầu giao nộp nhưng đương sự không cung cấp, giao nộp được vì
có lý do chính đáng; b) Tài liệu, chứng cứ mà Tòa án
cấp sơ thẩm không yêu cầu đương sự giao nộp hoặc đương sự không thể biết được
trong quá trình giải quyết vụ việc theo thủ tục sơ thẩm. 2. Thủ tục giao nộp tài liệu,
chứng cứ được thực hiện theo quy định tại Điều 96 của Bộ luật này. 1. Trường hợp tòa án cấp phúc
thẩm ra quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án thì hậu quả của việc tạm
đình chỉ xét xử phúc thẩm và việc tiếp tục xét xử phúc thẩm được thực hiện theo
quy định tại các điều 214, 215 và 216 của Bộ luật này. 2. Quyết định tạm đình chỉ xét xử
phúc thẩm vụ án có hiệu lực thi hành ngay và được gửi ngay cho đương sự,
cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện,
Viện kiểm
sát cùng cấp. 1. Tòa án cấp phúc thẩm
ra quyết định đình chỉ xét xử phúc
thẩm vụ án hoặc một phần vụ án trong các trường hợp sau đây: a) Các trường hợp quy định tại
điểm a và điểm b khoản 1 Điều 217 của Bộ luật này; b) Người kháng cáo rút toàn bộ
kháng cáo hoặc Viện kiểm sát rút toàn bộ kháng nghị; c) Người kháng cáo rút một phần
kháng cáo hoặc Viện kiểm sát rút một phần kháng nghị; d) Các trường hợp khác theo quy
định của pháp luật. 2. Trường hợp người kháng cáo rút
toàn bộ kháng cáo hoặc Viện kiểm sát rút toàn bộ kháng nghị trước khi Tòa án cấp
phúc thẩm ra quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm thì Thẩm phán được phân
công làm chủ tọa phiên tòa ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm; trường hợp
người kháng cáo rút toàn bộ kháng cáo, Viện kiểm sát rút toàn bộ kháng nghị sau
khi Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm thì Hội
đồng xét xử phúc thẩm ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm. Trong các trường hợp này, bản án,
quyết định sơ thẩm có hiệu lực pháp luật từ ngày Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết
định đình chỉ xét xử phúc thẩm. 3. Trường hợp người kháng cáo rút
một phần kháng cáo hoặc Viện kiểm sát rút một phần kháng nghị thì Hội đồng xét
xử phúc thẩm nhận định về việc người kháng cáo rút một phần kháng cáo, Viện kiểm
sát rút một phần kháng nghị và quyết định đình chỉ xét xử phần kháng cáo, kháng
nghị đó trong bản án phúc thẩm. 4. Quyết định đình chỉ
xét xử phúc thẩm vụ án có hiệu lực thi hành
ngay và phải
được gửi ngay cho đương sự, cơ quan tổ
chức, cá nhân khởi kiện, Viện kiểm sát cùng
cấp. 1. Quyết định đưa vụ án ra xét xử
phúc thẩm phải có các nội dung chính sau
đây: a) Các nội dung quy định tại các
điểm a, b, c, d, g, h và i khoản 1 Điều 220 của Bộ luật này; b) Họ, tên Thẩm phán, Thư ký Tòa
án; họ, tên Thẩm phán dự khuyết (nếu có); c) Họ, tên, tư cách tham gia tố
tụng của người kháng cáo; d) Viện kiểm sát kháng nghị (nếu
có); đ) Họ, tên Kiểm sát viên tham gia
phiên tòa; họ, tên Kiểm sát viên dự khuyết (nếu có). 2. Quyết định đưa vụ án ra xét xử
phúc thẩm phải được gửi cho đương sự, Viện
kiểm sát cùng cấp trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết
định. Trong thời hạn chuẩn bị xét xử
phúc thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm có quyền quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ
biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại Chương VIII của Bộ luật
này. 1. Tòa án cấp phúc thẩm phải
chuyển hồ sơ vụ án cùng với quyết định đưa vụ án ra xét xử cho Viện kiểm sát
cùng cấp nghiên cứu. 2. Thời hạn nghiên cứu hồ sơ của
Viện kiểm sát cùng cấp là 15 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án; hết thời
hạn đó, Viện kiểm sát phải trả hồ sơ vụ án cho Tòa án. Tòa án cấp phúc thẩm chỉ xem xét
lại phần của bản án sơ thẩm, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm có kháng cáo, kháng nghị
hoặc có liên quan đến việc xem xét nội dung kháng cáo, kháng nghị. 1. Người kháng cáo, đương sự, cơ
quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc giải quyết kháng cáo, kháng nghị và
người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải được triệu tập tham gia
phiên tòa. Tòa án có thể triệu tập những người tham gia tố tụng khác tham gia
phiên tòa nếu xét thấy cần thiết cho việc giải quyết kháng cáo, kháng
nghị. 2. Kiểm sát viên Viện kiểm sát
cùng cấp tham gia phiên tòa phúc thẩm. Tại phiên tòa phúc thẩm,
việc tạm đình chỉ, đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án được thực hiện theo quy định
tại Điều 288 và Điều 289 của Bộ luật này. 1. Kiểm sát viên được phân
công tham gia phiên tòa phúc thẩm vắng mặt thì Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét
xử, không hoãn phiên tòa, trừ trường hợp Viện kiểm sát có kháng nghị phúc
thẩm. 2. Người kháng cáo, người
không kháng cáo nhưng có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc kháng cáo, kháng
nghị, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ được Tòa án triệu tập hợp lệ
lần thứ nhất mà vắng mặt thì phải hoãn phiên tòa. Trường hợp họ có đơn đề nghị
xét xử vắng mặt thì Tòa án tiến hành phiên tòa phúc thẩm xét xử vắng mặt
họ. 3. Người kháng cáo được Tòa
án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vắng mặt thì bị coi như từ bỏ việc kháng cáo
và Tòa án đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của người đó, trừ
trường hợp người đó đề nghị xét xử vắng mặt thì Tòa án tiến hành phiên tòa phúc
thẩm xét xử vắng mặt họ. Trường hợp người kháng cáo
vắng mặt vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì phải hoãn phiên
tòa. Trường hợp có nhiều người
kháng cáo, trong đó có người kháng cáo được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai
mà vắng mặt nhưng không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt thì coi như người đó từ
bỏ việc kháng cáo và Tòa án đưa vụ án ra xét xử. Trong phần quyết định của bản
án, Tòa án đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với phần kháng cáo của người kháng cáo
vắng mặt đó. Người không kháng cáo nhưng
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc kháng cáo, kháng nghị và những người
tham gia tố tụng khác đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng
mặt thì Tòa án tiến hành xét xử vụ án. 4. Thời hạn hoãn phiên tòa
và quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm được thực hiện theo quy định tại Điều 233
của Bộ luật này. Chuẩn bị khai mạc phiên tòa
phúc thẩm và thủ tục bắt đầu phiên tòa phúc thẩm được thực hiện theo quy định
tại các điều 237, 239, 240, 241 và 242 của Bộ luật
này. 1. Sau khi kết thúc thủ tục
bắt đầu phiên tòa phúc thẩm thì một thành viên của Hội đồng xét xử phúc thẩm
công bố nội dung vụ án, quyết định của bản án sơ thẩm và nội dung kháng cáo,
kháng nghị. 2. Chủ tọa phiên tòa hỏi về
các vấn đề sau đây: a) Hỏi nguyên đơn có rút
đơn khởi kiện hay không; b) Hỏi người kháng cáo,
Kiểm sát viên có thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo, kháng nghị hay
không; c) Hỏi các đương sự có thoả
thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án hay
không. 3. Trường hợp người kháng
cáo rút một phần kháng cáo, Viện kiểm sát rút một phần kháng nghị thì Tòa án
chấp nhận việc rút kháng cáo, kháng nghị. Trường hợp người kháng cáo, Viện kiểm
sát bổ sung nội dung mới vượt quá phạm vi kháng cáo, kháng nghị ban đầu thì Tòa
án không xem xét nội dung đó. 1. Trước khi mở phiên tòa
hoặc tại phiên tòa phúc thẩm, nếu nguyên đơn rút đơn khởi kiện thì Hội đồng xét
xử phúc thẩm phải hỏi bị đơn có đồng ý hay không và tuỳ từng trường hợp mà giải
quyết như sau: a) Bị đơn không đồng ý thì
không chấp nhận việc rút đơn khởi kiện của nguyên
đơn; b) Bị đơn đồng ý thì chấp
nhận việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn. Hội đồng xét xử phúc thẩm ra quyết
định hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án. Trong trường hợp này, các
đương sự vẫn phải chịu án phí sơ thẩm theo quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm và
phải chịu một nửa án phí phúc thẩm theo quy định của pháp
luật. 2. Trường hợp Hội đồng xét
xử phúc thẩm ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án theo quy định tại điểm b
khoản 1 Điều này thì nguyên đơn có quyền khởi kiện lại vụ án theo thủ tục do Bộ
luật này quy định. 1. Tại phiên tòa phúc thẩm,
nếu các đương sự thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án và thoả thuận
của họ là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã
hội thì Hội đồng xét xử phúc thẩm ra bản án phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, công
nhận sự thoả thuận của các đương sự. 2. Các đương sự tự thoả
thuận với nhau về việc chịu án phí sơ thẩm, nếu không thoả thuận được thì Tòa án
quyết định theo quy định của pháp luật. Nội dung và phương thức
tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm được thực hiện theo quy định tại Điều 247 của
Bộ luật này. Trường hợp có đương sự vẫn
giữ kháng cáo, Viện kiểm sát vẫn giữ kháng nghị thì việc trình bày tại phiên tòa
phúc thẩm được tiến hành như sau: 1. Trình bày kháng cáo,
kháng nghị: a) Người bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của người kháng cáo trình bày nội dung kháng cáo, căn cứ của
việc kháng cáo. Người kháng cáo có quyền bổ sung ý
kiến. Trường hợp tất cả đương sự
đều kháng cáo thì việc trình bày được thực hiện theo thứ tự người bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn kháng cáo và nguyên đơn; người bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của bị đơn kháng cáo và bị đơn; người bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan kháng cáo và người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; b) Trường hợp chỉ có Viện
kiểm sát kháng nghị thì Kiểm sát viên trình bày về nội dung kháng nghị, căn cứ
của việc kháng nghị. Trường hợp vừa có kháng cáo, vừa có kháng nghị thì các
đương sự trình bày về nội dung kháng cáo và các căn cứ của việc kháng cáo trước,
sau đó Kiểm sát viên trình bày về nội dung kháng nghị và các căn cứ của việc
kháng nghị; c) Trường hợp đương sự
không có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình thì họ tự trình bày ý
kiến về nội dung kháng cáo và đề nghị của mình. 2. Người bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của các đương sự khác có liên quan đến kháng cáo, kháng nghị
trình bày ý kiến về nội dung kháng cáo, kháng nghị. Đương sự có quyền bổ sung ý
kiến. 3. Tại phiên tòa phúc thẩm,
đương sự, Kiểm sát viên có quyền xuất trình bổ sung tài liệu, chứng
cứ. 1. Thủ tục hỏi những người
tham gia tố tụng và công bố tài liệu, chứng cứ, xem xét vật chứng quy định tại
Điều 287 của Bộ luật này tại phiên tòa phúc thẩm được thực hiện như tại phiên
tòa sơ thẩm. 2. Việc hỏi được thực hiện
đối với những vấn đề thuộc phạm vi xét xử phúc thẩm quy định tại Điều 293 của Bộ
luật này. Việc tạm ngừng phiên tòa
phúc thẩm được thực hiện theo quy định tại Điều 259 của Bộ luật
này. 1. Tại phiên tòa phúc thẩm,
đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự chỉ được tranh
luận về những vấn đề thuộc phạm vi xét xử phúc thẩm và đã được hỏi tại phiên tòa
phúc thẩm. 2. Trình tự tranh luận đối
với kháng cáo được thực hiện như sau: a) Người bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của người kháng cáo trình bày. Người kháng cáo có quyền bổ sung
ý kiến; b) Người bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của đương sự tranh luận, đối đáp. Đương sự có quyền bổ sung ý
kiến; c) Khi xét thấy cần thiết,
Hội đồng xét xử có thể yêu cầu các đương sự tranh luận bổ sung về những vấn đề
cụ thể để làm căn cứ giải quyết vụ án. 3. Trình tự tranh luận đối
với kháng nghị được thực hiện như sau: a) Người bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của đương sự phát biểu về tính hợp pháp, tính có căn cứ của
kháng nghị. Đương sự có quyền bổ sung ý kiến; b) Kiểm sát viên phát biểu
ý kiến về những vấn đề mà người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự,
đương sự đã nêu. 4. Trường hợp đương sự
không có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình thì họ tự mình tranh
luận. 5. Trường hợp vắng mặt một
trong các đương sự và người tham gia tố tụng khác thì chủ tọa phiên tòa phải
công bố lời khai của họ để trên cơ sở đó các đương sự có mặt tại phiên tòa tranh
luận và đối đáp. Sau khi kết thúc việc tranh
luận và đối đáp, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân
theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn phúc
thẩm. Ngay sau khi kết thúc phiên
tòa, Kiểm sát viên phải gửi văn bản phát biểu ý kiến cho Tòa án để lưu vào hồ sơ
vụ án. Việc nghị án, trở lại việc
hỏi và tranh luận, thời gian nghị án, tuyên án, sửa chữa, bổ sung bản án phúc
thẩm được thực hiện như thủ tục xét xử sơ thẩm. Hội đồng xét xử phúc thẩm
có quyền sau đây: 1. Giữ nguyên bản án sơ
thẩm; 2. Sửa bản án sơ
thẩm; 3. Hủy bản án sơ thẩm, hủy
một phần bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết
lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm; 4. Hủy bản án sơ thẩm và
đình chỉ giải quyết vụ án; 5. Đình chỉ xét xử phúc
thẩm; 6. Tạm đình chỉ việc giải
quyết vụ án khi có văn bản của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kiến nghị cơ
quan nhà nước có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy
phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội,
pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật
của cơ quan nhà nước cấp trên cho đến khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền có văn
bản trả lời Tòa án kết quả xử lý. Hội đồng xét xử phúc thẩm
sửa một phần hoặc toàn bộ bản án sơ thẩm nếu Tòa án cấp sơ thẩm quyết định không
đúng pháp luật trong các trường hợp sau đây: 1. Việc thu thập chứng cứ
và chứng minh đã được thực hiện đầy đủ và theo đúng quy định tại Chương VII của
Bộ luật này; 2. Việc thu thập chứng cứ
và chứng minh chưa được thực hiện đầy đủ ở cấp sơ thẩm nhưng tại phiên tòa phúc
thẩm đã được bổ sung đầy đủ. Hội đồng xét xử phúc thẩm
hủy bản án sơ thẩm, hủy một phần bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án
cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm khi thuộc một trong các
trường hợp sau đây: 1. Việc thu thập chứng cứ
và chứng minh không theo đúng quy định tại Chương VII của Bộ luật này hoặc chưa
được thực hiện đầy đủ mà tại phiên tòa phúc thẩm không thể thực hiện bổ sung
được; 2. Thành phần của Hội đồng
xét xử sơ thẩm không đúng quy định của Bộ luật này hoặc có vi phạm nghiêm trọng
khác về thủ tục tố tụng ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương
sự. Hội đồng xét xử phúc thẩm
hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án nếu trong quá trình giải quyết
vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm, vụ án thuộc một trong các trường hợp quy định tại
Điều 217, điểm b khoản 1 Điều 299 của Bộ luật này. Hội đồng xét xử phúc thẩm
đình chỉ xét xử phúc thẩm và giữ nguyên bản án sơ thẩm khi thuộc một trong các
trường hợp sau đây: 1. Theo quy định tại khoản
2 Điều 289 của Bộ luật này; 2. Người kháng cáo đã được
triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà không có mặt theo quy định tại khoản 3 Điều 296
của Bộ luật này, trừ trường hợp vụ án có người khác kháng cáo, Viện kiểm sát
kháng nghị. 1. Hội đồng xét xử phúc
thẩm ra bản án phúc thẩm nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam. 2. Bản án phúc thẩm gồm
có: a) Phần mở
đầu; b) Phần nội dung vụ án,
kháng cáo, kháng nghị và nhận định; c) Phần quyết
định. 3. Trong phần mở đầu phải
ghi rõ tên của Tòa án xét xử phúc thẩm; số và ngày thụ lý vụ án; số bản án và
ngày tuyên án; họ, tên của các thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa,
Kiểm sát viên, người giám định, người phiên dịch; tên, địa chỉ của nguyên đơn,
bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi
kiện; người đại diện hợp pháp, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ;
người kháng cáo, Viện kiểm sát kháng nghị; xét xử công khai hoặc xét xử kín;
thời gian và địa điểm xét xử. 4. Trong phần nội dung vụ
án, kháng cáo, kháng nghị và nhận định phải tóm tắt nội dung vụ án, quyết định
của Tòa án cấp sơ thẩm; nội dung kháng cáo, kháng
nghị. Tòa án phải căn cứ vào tài
liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa
để phân tích, đánh giá, nhận định về kháng cáo, kháng nghị, các tình tiết của vụ
án, việc giải quyết, xét xử của Tòa án cấp sơ thẩm, những căn cứ pháp luật mà
Tòa án áp dụng, nếu vụ án thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 4 của Bộ
luật này thì còn phải căn cứ vào tập quán, tương tự pháp luật, những nguyên tắc
cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ hoặc lẽ công bằng, để chấp nhận hoặc không
chấp nhận kháng cáo, kháng nghị và giải quyết các vấn đề khác có liên
quan. Trong phần quyết định phải
ghi rõ các căn cứ pháp luật, quyết định của Hội đồng xét xử về từng vấn đề phải
giải quyết trong vụ án, về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, án phí sơ thẩm,
phúc thẩm, chi phí tố tụng (nếu có). 5. Khi xét xử lại vụ án mà
bản án, quyết định đã bị hủy một phần hoặc toàn bộ theo quyết định giám đốc
thẩm, tái thẩm thì Tòa án phải giải quyết vấn đề tài sản, nghĩa vụ đã được thi
hành (nếu có) theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật nhưng bị hủy và ghi
rõ trong bản án. 6. Bản án phúc thẩm có hiệu
lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. 1. Khi phúc thẩm đối với
quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng phúc thẩm
không phải mở phiên tòa, không phải triệu tập các đương sự, trừ trường hợp cần
phải nghe ý kiến của họ trước khi ra quyết định. 2. Trong thời hạn 01 tháng,
kể từ ngày thụ lý vụ án có quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm bị kháng cáo, kháng
nghị, Tòa án phải mở phiên họp phúc thẩm để xem xét quyết định đó; trường hợp có
lý do chính đáng thì thời hạn này là 02 tháng. Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng
cấp tham gia phiên họp phúc thẩm. Kiểm sát viên vắng mặt thì Tòa án vẫn tiến
hành phiên họp, trừ trường hợp Viện kiểm sát có kháng
nghị. 3. Một thành viên của Hội
đồng phúc thẩm trình bày tóm tắt nội dung quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng
nghị, nội dung của kháng cáo, kháng nghị và tài liệu, chứng cứ kèm theo (nếu
có). 4. Kiểm sát viên phát biểu
ý kiến của Viện kiểm sát về việc giải quyết kháng cáo, kháng nghị trước khi Hội
đồng phúc thẩm ra quyết định. 5. Khi xem xét quyết định
của Tòa án cấp sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng phúc thẩm có
quyền: a) Giữ nguyên quyết định
của Tòa án cấp sơ thẩm; b) Sửa quyết định của Tòa
án cấp sơ thẩm; c) Hủy quyết định của Tòa
án cấp sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm để tiếp tục giải
quyết vụ án. 6. Quyết định phúc thẩm có
hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định. 1. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ
ngày ra bản án, quyết định phúc thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm phải gửi bản án,
quyết định phúc thẩm cho Tòa án đã xét xử sơ thẩm, Viện kiểm sát cùng cấp, cơ
quan thi hành án dân sự có thẩm quyền, người kháng cáo, người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan đến việc kháng cáo, kháng nghị hoặc người đại diện hợp pháp
của họ. Trường hợp Tòa án nhân dân cấp
cao xét xử phúc thẩm thì thời hạn này có thể dài hơn, nhưng không quá 25
ngày. 2. Bản án, quyết định phúc thẩm
có liên quan đến bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng do tổ chức xã hội tham gia bảo
vệ người tiêu dùng khởi kiện phải được niêm yết công khai tại trụ sở Tòa án và
công bố công khai trên một trong các báo hàng ngày của trung ương hoặc địa
phương trong ba số liên tiếp. Bản án, quyết định phúc thẩm có
liên quan đến trách nhiệm bồi thường của Nhà nước phải được Tòa án cấp phúc thẩm
gửi cho cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về bồi thường nhà
nước. Bản án, quyết định phúc thẩm có
liên quan đến việc thay đổi hộ tịch của cá nhân thì trong thời hạn 05 ngày làm
việc, kể từ ngày bản án, quyết định đó có hiệu lực pháp luật phải được Tòa án cấp phúc thẩm
thông báo bằng văn bản kèm theo trích lục bản án, quyết định cho Ủy ban nhân dân
nơi đã đăng ký hộ tịch của cá nhân đó theo quy định của Luật hộ
tịch. 3. Bản án phúc thẩm được Tòa án
cấp phúc thẩm công bố trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có), trừ
trường hợp có chứa thông tin quy định tại khoản
2 Điều 109 của Bộ luật này. |
ĐƠN VỊ HỖ TRỢ
|