|
|
KẾ TOÁN - THUẾ - DOANH NGHIỆP - LAO ĐỘNG |
|
|
|
|
TRÌNH BÀY BỔ SUNG BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC NGÂN HÀNGVÀ TỔ CHỨC TÀI CHÍNH TƯƠNG
TỰ (ban hành và công bố theo Quyết định số 12/2005/QĐ-BTC ngày
15/02/2005của Bộ trưởng Bộ Tài
chính) QUY ĐỊNH
CHUNG 01. Mục đích của chuẩn mực
này là quy định và hướng dẫn việc trình bày bổ sung các thông tin cần thiết
trong báo cáo tài chính của các Ngân hàng và tổ chức tài chính tương tự.
02. Chuẩn mực này áp dụng
cho các Ngân hàng và Tổ chức tài chính tương tự (sau đây gọi chung là Ngân hàng)
bao gồm các ngân hàng, tổ chức tín dụng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, các tổ
chức tài chính tương tự có hoạt động chính là nhận tiền gửi, đi vay với mục đích
để cho vay và đầu tư trong phạm vi hoạt động của ngân hàng theo quy định của
Luật các Tổ chức tín dụng và các văn bản pháp luật khác về hoạt động ngân hàng.
03. Chuẩn mực này hướng dẫn
việc trình bày những thông tin cần thiết trong báo cáo tài chính riêng và báo
cáo tài chính hợp nhất của các Ngân hàng. Bên cạnh đó cũng khuyến khích việc
trình bày trên thuyết minh báo cáo tài chính những thông tin về kiểm soát khả
năng thanh toán và kiểm soát rủi ro của các Ngân hàng. Đối với những tập đoàn có
hoạt động ngân hàng thì chuẩn mực này được áp dụng cho các hoạt động đó trên cơ
sở hợp nhất. 04. Chuẩn mực này bổ sung
cho các chuẩn mực kế toán khác áp dụng cho các Ngân hàng trừ khi chuẩn mực kế
toán và các quy định khác có điều khoản ngoại trừ. NỘI DUNG CHUẨN
MỰC Chính sách kế
toán 05. Để phù hợp với quy định
của Chuẩn mực số 21 “Trình bày báo cáo tài chính” và để giúp người sử dụng hiểu
được cơ sở lập báo cáo tài chính của Ngân hàng, các chính sách kế toán liên quan
đến các khoản mục sau đây phải được trình bày: a) Ghi nhận các loại thu
nhập chủ yếu (xem đoạn 07 và đoạn 08); b) Định giá chứng khoán đầu
tư và chứng khoán kinh doanh; c) Phân biệt các giao dịch,
sự kiện khác dẫn đến việc ghi nhận tài sản và nợ phải trả trên Bảng cân đối kế
toán và những giao dịch, sự kiện chỉ làm tăng nghĩa vụ nợ tiềm ẩn và các cam kết
(xem đoạn 20, 21, 22); d) Cơ sở xác định tổn thất
các khoản cho vay và ứng trước và cơ sở xoá sổ các khoản cho vay và ứng trước
không có khả năng thu hồi (xem các đoạn từ 36 đến 40); e) Cơ sở xác định chi phí
phát sinh từ các rủi ro chung trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng và phương
pháp hạch toán đối với các chi phí đó (xem đoạn 41, 42,
43). Báo cáo kết quả hoạt động
kinh doanh 06. Báo
cáo kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng phải trình bày các khoản thu nhập
và chi phí theo bản chất của chúng và phải trình bày giá trị các loại thu nhập
và chi phí chủ yếu. 07. Ngoài các yêu cầu của chuẩn mực kế toán
khác, Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh hay Bản thuyết minh báo cáo tài chính
của Ngân hàng phải trình bày tối thiểu các khoản mục thu nhập, chi phí sau
đây: - Thu nhập lãi và các khoản
thu nhập tương tự; - Chi phí lãi và các chi phí
tương tự; - Lãi được chia từ góp vốn
và mua cổ phần; - Thu phí hoạt động dịch
vụ; - Phí và chi phí hoa
hồng; - Lãi hoặc lỗ thuần từ kinh
doanh chứng khoán kinh doanh; - Lãi hoặc lỗ thuần từ kinh
doanh chứng khoán đầu tư; - Lãi hoặc lỗ thuần hoạt
động kinh doanh ngoại hối; - Thu nhập từ hoạt động
khác; - Tổn thất khoản cho vay và
ứng trước; - Chi phí quản lý;
và - Chi phí hoạt động
khác. 08. Các loại thu nhập chủ
yếu phát sinh từ hoạt động của Ngân hàng bao gồm: Thu nhập lãi, thu phí dịch vụ,
hoa hồng và các kết quả kinh doanh khác. Mỗi loại thu nhập được trình bày theo
các chỉ tiêu riêng biệt để giúp người sử dụng có thể đánh giá được tình hình
hoạt động của Ngân hàng. Việc trình bày như vậy để bổ sung thêm thông tin về các
nguồn thu nhập theo yêu cầu của Chuẩn mực số 28 “Báo cáo bộ
phận”. 09. Các loại chi phí chủ yếu
phát sinh từ hoạt động của Ngân hàng bao gồm: Chi phí lãi, chi phí hoa hồng, chi
phí dự phòng rủi ro tổn thất các khoản cho vay và ứng trước, chi phí dự phòng
giảm giá các khoản đầu tư và chi phí quản lý. Mỗi loại chi phí được trình bày
theo chỉ tiêu riêng giúp người sử dụng đánh giá được tình hình hoạt động của
Ngân hàng. 10. Các khoản mục thu nhập
và chi phí không được bù trừ, ngoại trừ trường hợp những khoản mục liên quan đến
tài sản và nợ phải trả, tài sản để đảm bảo rủi ro được bù trừ theo quy định tại
đoạn 19. 11. Sự bù trừ trong trường
hợp không liên quan đến các hợp đồng tự bảo hiểm, tài sản và nợ phải trả được bù
trừ theo quy định tại đoạn 19 sẽ gây khó khăn cho người sử dụng trong việc đánh
giá hoạt động của Ngân hàng, ngược lại nó sẽ giúp phân tích được cách phân loại
các tài sản chi tiết. 12. Lãi và lỗ phát sinh từ
mỗi giao dịch dưới đây được báo cáo trên cơ sở thuần: a) Thanh lý chứng khoán kinh
doanh; b) Thanh lý chứng khoán đầu
tư; c) Hoạt động kinh doanh
ngoại hối. 13. Thu nhập lãi và chi phí
lãi được trình bày riêng rẽ nhằm cung cấp thông tin dễ hiểu hơn về các yếu tố
cấu thành lãi thuần và lý do của sự thay đổi lãi thuần. 14. Lãi thuần là chênh lệch
của lãi suất và giá trị khoản đi vay và cho vay. Lãi thuần rất hữu ích nếu Ban
Lãnh đạo diễn giải lãi suất trung bình, giá trị trung bình của tài sản sinh lời
và giá trị trung bình của các khoản nợ phát sinh trong kỳ. Trường hợp được Nhà
nước trợ giúp về lãi suất thì báo cáo tài chính phải trình bày quy mô của các
khoản tín dụng ưu đãi này và ảnh hưởng của chúng đến lãi
thuần. Bảng cân đối kế toán
15. Trong Bảng cân đối kế
toán, Ngân hàng phải trình bày các nhóm tài sản và nợ phải trả theo bản chất và
sắp xếp theo thứ tự phản ánh tính thanh khoản giảm dần của
chúng. 16. Ngoài các yêu cầu của
chuẩn mực kế toán khác, Bảng cân đối kế toán hoặc Bản thuyết minh báo cáo tài
chính của Ngân hàng phải trình bày tối thiểu các khoản mục tài sản và nợ phải
trả sau đây: Khoản mục tài sản:
- Tiền mặt, vàng bạc, đá
quý; - Tiền gửi tại Ngân hàng Nhà
nước; - Tín phiếu Kho bạc và các
chứng chỉ có giá khác dùng tái chiết khấu với Ngân hàng Nhà
nước; - Trái phiếu Chính phủ và
các chứng khoán khác được nắm giữ với mục đích thương
mại; - Tiền gửi tại các Ngân hàng
khác, cho vay và ứng trước cho các tổ chức tín dụng và các tổ chức tài chính
tương tự khác; - Tiền gửi khác trên thị
trường tiền tệ; - Cho vay và ứng trước cho
khách hàng; - Chứng khoán đầu
tư; - Góp vốn đầu
tư. Khoản mục nợ phải
trả: - Tiền gửi của các ngân hàng
và các tổ chức tương tự khác; - Tiền gửi từ thị trường
tiền tệ; - Tiền gửi của khách
hàng; - Chứng chỉ tiền
gửi; - Thương phiếu, hối phiếu và
các chứng chỉ nhận nợ; - Các khoản đi vay
khác. 17. Cách phân loại tài sản
và nợ phải trả hữu ích nhất của Ngân hàng là phân loại chúng theo bản chất và
sắp xếp theo tính thanh khoản tương ứng với kỳ đáo hạn của chúng. Các khoản mục
tài sản, nợ phải trả ngắn hạn và dài hạn không được trình bày riêng biệt vì phần
lớn tài sản và nợ phải trả của Ngân hàng có thể được thực hiện hoặc thanh toán
trong tương lai gần. 18. Sự phân biệt giữa số dư
tiền gửi của ngân hàng tại các Ngân hàng khác và tại các đơn vị khác trên thị
trường tiền tệ với tiền gửi của khách hàng là thông tin thiết thực vì cho biết
mối liên hệ, sự độc lập của Ngân hàng với các Ngân hàng khác cũng như với thị
trường tiền tệ. Do vậy các Ngân hàng phải trình bày tách biệt các
khoản: a) Số dư tiền gửi tại Ngân
hàng Nhà nước; b) Các khoản tiền gửi tại
các Ngân hàng khác; c) Các khoản tiền gửi tại
các nơi khác trên thị trường tiền tệ; d) Các khoản tiền gửi của
các Ngân hàng khác; e) Các khoản tiền gửi của
các đối tượng khác trên thị trường tiền tệ. 19. Ngân hàng không được bù
trừ bất kỳ khoản mục tài sản và nợ phải trả với các khoản mục tài sản và nợ phải
trả khác trong Bảng cân đối kế toán, trừ trường hợp pháp luật quy định cho phép
bù trừ và việc bù trừ thể hiện dự kiến điều chuyển thanh lý hoặc quyết toán
khoản tài sản và nợ phải trả. Nghĩa vụ nợ tiềm ẩn và cam
kết trình bày ngoài Bảng cân đối kế toán 20. Ngân hàng phải trình bày
các nghĩa vụ nợ tiềm ẩn và các cam kết sau: a) Nội dung và giá trị của
các cam kết cho vay không thể huỷ ngang (Trường hợp huỷ ngang các cam kết không
thể huỷ ngang thì phải chịu phạt) b) Nội dung và giá trị của
các nghĩa vụ nợ tiềm ẩn và các cam kết được trình bày ngoài Bảng cân đối kế toán
bao gồm các khoản liên quan đến: i) Các khoản tín dụng gián
tiếp, như: Các khoản bảo lãnh nợ, bảo lãnh thanh toán và thư tín dụng dự phòng
có vai trò như là các khoản bảo lãnh tài chính cho các khoản vay và chứng
khoán; ii) Các nghĩa vụ nợ tiềm ẩn
liên quan đến các nghiệp vụ kinh tế, như: Bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh
dự thầu, các khoản đảm bảo khác và thư tín dụng dự phòng liên quan đến các
nghiệp vụ đặc biệt; iii)Các nghĩa vụ nợ tiềm ẩn
ngắn hạn phát sinh từ việc giao nhận hàng hoá, như: Thư tín dụng, chứng từ có sử
dụng hàng hoá giao nhận làm tài sản đảm bảo; iv) Các cam kết khác và cam
kết bảo lãnh phát hành chứng từ có giá khác. 21. Nhiều Ngân hàng cũng
thực hiện các giao dịch không được ghi nhận là tài sản hay nợ phải trả trên Bảng
cân đối kế toán nhưng chúng làm phát sinh các nghĩa vụ nợ tiềm ẩn và các cam
kết. Những khoản mục này thường có vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh
và có mối liên quan chặt chẽ với mức độ rủi ro của các Ngân hàng. Những khoản
mục này có thể làm tăng, giảm các khoản rủi ro khác, (Như: Nghiệp vụ phòng ngừa
rủi ro về tài sản và nợ phải trả trên Bảng cân đối kế toán).
22. Người sử dụng thông tin
trên báo cáo tài chính của Ngân hàng cần phải biết về các nghĩa vụ nợ tiềm ẩn và
các cam kết không huỷ ngang của Ngân hàng để đánh giá tính thanh khoản, khả năng
trả nợ và khả năng cố hữu của các khoản lỗ tiềm tàng. Kỳ hạn của tài sản và nợ
phải trả 23. Ngân hàng phải phân tích các khoản mục tài
sản và nợ phải trả theo các nhóm có kỳ hạn phù hợp dựa trên thời gian còn lại
tính từ ngày khoá sổ lập Báo cáo tài chính đến ngày đáo hạn theo điều khoản hợp
đồng. 24. Sự phù hợp và sự không
phù hợp có kiểm soát về kỳ hạn và lãi suất giữa tài sản và nợ phải trả có ý
nghĩa quan trọng trong quản lý của Ngân hàng. Trong thực tế rất hiếm Ngân hàng
tạo được sự phù hợp hoàn hảo, bởi vì các giao dịch thường có kỳ hạn không chắc
chắn và thuộc rất nhiều loại hình nghiệp vụ khác nhau trong hoạt động kinh
doanh. Tình trạng không phù hợp có thể làm tăng khả năng sinh lời nhưng cũng có
thể làm tăng rủi ro tổn thất. 25. Kỳ hạn của tài sản và nợ
phải trả và khả năng thay thế các khoản nợ chịu lãi khi đến hạn thanh toán với
một mức phí có thể chấp nhận được là yếu tố quan trọng trong việc đánh giá tính
thanh khoản và mức độ rủi ro khi có thay đổi lãi suất và tỷ giá hối đoái của
Ngân hàng. Để cung cấp thông tin thích hợp cho việc đánh giá tính thanh khoản
thì tối thiểu Ngân hàng phải phân tích được tài sản và nợ phải trả theo các nhóm
kỳ hạn thích hợp. 26. Việc phân nhóm theo kỳ
hạn các tài sản và nợ phải trả cụ thể rất khác nhau giữa các Ngân hàng và tuỳ
thuộc vào loại tài sản và nợ phải trả, như một số kỳ hạn thường được sử dụng
sau: (a) Dưới 1
tháng; (b) Từ 1 tháng đến 3
tháng; (c) Từ trên 3 tháng đến 1
năm; (d) Từ trên 1 năm đến 3 năm;
(e) Từ trên 3 năm đến 5 năm;
và (f) Từ trên 5 năm trở
lên. Thông thường những kỳ hạn
này được kết hợp với nhau, ví dụ: Trường hợp cho vay và ứng trước có thể được
phân ra kỳ hạn dưới 1 năm và trên 1 năm. Nếu việc hoàn trả kéo dài trong nhiều
kỳ, thì mỗi lần thanh toán được phân bổ theo kỳ hạn được thoả thuận trong hợp
đồng tín dụng hoặc được dự kiến thanh toán hoặc trả nợ. 27. Kỳ hạn áp dụng cho việc
phân loại kỳ hạn tài sản và nợ phải trả đòi hỏi phải nhất quán với nhau. Điều
này chỉ ra một cách rõ ràng mức độ phù hợp về kỳ hạn của tài sản và nợ phải trả
và sự phụ thuộc của Ngân hàng vào các nguồn vốn có thể huy động nhanh.
28. Các kỳ hạn có thể được
xác định theo những thời hạn sau: (a) Thời gian còn lại đến
ngày phải trả; (b) Kỳ hạn gốc đến ngày phải
trả; hoặc (c) Thời gian còn lại đến
ngày lãi suất thay đổi. Việc phân tích tài sản và nợ
phải trả dựa vào khoảng thời gian còn lại đến ngày đáo hạn sẽ cung cấp cơ sở tốt
nhất để đánh giá khả năng thanh khoản của Ngân hàng. Ngân hàng cũng có thể trình
bày kỳ hạn phải trả dựa vào kỳ hạn gốc để cung cấp thông tin về nguồn vốn và
chiến lược kinh doanh. Ngoài ra Ngân hàng có thể trình bày các nhóm kỳ hạn đến
hạn tiếp theo dựa trên thời gian còn lại đến kỳ thay đổi lãi suất tiếp theo để
phản ánh mức độ rủi ro lãi suất. Ban Giám đốc có thể cung cấp thông tin trên báo
cáo tài chính về khả năng thay đổi lãi suất và cách thức quản lý và kiểm soát
rủi ro lãi suất đó. 29. Trên thực tế, những
khoản tiền gửi và ứng trước không kỳ hạn từ Ngân hàng thường có thời gian hoàn
trả dài hơn thời gian của hợp đồng tín dụng. Ngày thực tế hoàn trả có hiệu lực
thường muộn hơn ngày ghi trong hợp đồng. Ngân hàng cần phải trình bày việc phân
tích ngày phải trả theo hợp đồng mặc dù không phải là kỳ hạn thực tế bởi vì kỳ
đáo hạn ghi trong hợp đồng phản ánh những rủi ro có tính thanh khoản liên quan
tới tài sản và nợ phải trả của Ngân hàng. 30. Một số tài sản của Ngân
hàng không có kỳ hạn thanh toán theo hợp đồng. Kỳ hạn mà những tài sản này được
giả định thanh toán thường được coi là ngày tài sản sẽ được thực
hiện. 31. Việc đánh giá khả năng
thanh khoản của Ngân hàng dựa vào việc công khai kỳ hạn các tài sản và nợ phải
trả cần được xem xét trong bối cảnh cụ thể của Ngân hàng, bao gồm cả sự sẵn có
các nguồn vốn huy động đối với Ngân hàng. 32. Để cung cấp cho người sử
dụng sự hiểu biết đầy đủ về các nhóm kỳ hạn của tài sản và nợ phải trả, khi
trình bày báo cáo tài chính cần bổ sung thêm thông tin về khả năng có thể hoàn
trả trước trong thời gian còn lại. Do vậy, báo cáo tài chính cần phải cung cấp
thông tin, kỳ hạn thực tế và cách thức quản lý, kiểm soát rủi ro liên quan đến
đặc trưng của các kỳ hạn khác nhau và lãi suất. Trình bày sự tập trung của
tài sản, nợ phải trả và khoản mục ngoài Bảng cân đối kế
toán. 33. Các Ngân hàng phải trình bày trên báo cáo
tài chính bất kỳ sự tập trung đáng kể nào của các khoản mục tài sản, nợ phải trả
và khoản mục ngoài Bảng cân đối kế toán. Việc trình bày phải phân theo từng khu
vực địa lý, từng nhóm khách hàng, nhóm ngành kinh tế hoặc những tập trung khác
của rủi ro. Ngân hàng cũng cần trình bày trạng thái ngoại tệ thuần lớn.
34. Ngân hàng phải trình bày
sự tập trung đáng kể về tài sản và nợ phải trả của mình. Việc trình bày này rất
có ích để chỉ ra những rủi ro tiềm tàng có trong giao dịch thanh toán các tài
sản và nợ phải trả của Ngân hàng. Những trình bày trên phải theo từng khu vực
địa lý, nhóm khách hàng, nhóm ngành kinh tế hoặc với những rủi ro trọng yếu phản
ánh đúng thực trạng của Ngân hàng. Sự phân tích và giải thích tương tự đối với
các khoản mục ngoài Bảng cân đối kế toán cũng rất quan trọng. Sự tập trung đáng
kể về tài sản và nợ phải trả của Ngân hàng là các thông tin bộ phận phải được
trình bày phù hợp với yêu cầu của Chuẩn mực kế toán số 28 “Báo cáo bộ
phận”. 35. Việc trình bày rủi ro
của số ngoại tệ thuần lớn cũng rất hữu ích để chỉ ra sự rủi ro của khoản vay
phát sinh từ thay đổi tỷ giá hối đoái. Tổn thất của khoản cho vay
và ứng trước 36. Báo cáo tài chính của
Ngân hàng phải trình bày: a) Chính sách kế toán làm cơ
sở cho việc ghi nhận chi phí hoặc xoá sổ các khoản cho vay và ứng trước không có
khả năng thu hồi; b) Chi tiết về những thay
đổi dự phòng tổn thất các khoản cho vay và ứng trước trong kỳ. Ngân hàng phải
trình bày riêng biệt giá trị được ghi nhận là chi phí trong kỳ đối với khoản dự
phòng tổn thất các khoản cho vay và ứng trước, giá trị được ghi nhận là chi phí
trong kỳ đối với các khoản cho vay và ứng trước được xoá sổ và số tiền thu hồi
các khoản cho vay và ứng trước đã xoá sổ trước đây nay thu hồi
được; c) Tổng giá trị dự phòng rủi
ro tổn thất khoản cho vay và ứng trước tại ngày khoá sổ kế toán lập báo cáo tài
chính. 37. Giá trị dự phòng rủi ro
tổn thất ngoài các khoản tổn thất của các khoản cho vay và ứng trước được ghi
nhận theo quy định tại Chuẩn mực kế toán “Công cụ tài chính” thì Ngân hàng phải
hạch toán vào lợi nhuận giữ lại. Việc hoàn nhập các khoản dự phòng rủi ro này
được hạch toán vào lợi nhuận giữ lại và không được hạch toán vào lãi, lỗ trong
kỳ. 38. Ngân hàng có thể được
lập dự phòng tổn thất đối với các khoản cho vay và ứng trước ngoài các khoản dự
phòng tổn thất đã hạch toán theo Chuẩn mực kế toán “Công cụ tài chính”. Các
khoản dự phòng này được trích lập từ lợi nhuận sau thuế mà không được tính vào
chi phí trong kỳ và khi hoàn nhập khoản dự phòng đã lập này cũng được ghi tăng
lợi nhuận sau thuế mà không được hạch toán vào Báo cáo kết quả hoạt động kinh
doanh trong kỳ. 39. Những người sử dụng báo
cáo tài chính của Ngân hàng cần biết về các khoản tổn thất khoản cho vay và ứng
trước ảnh hưởng đến tình hình tài chính cũng như quá trình hoạt động của Ngân
hàng được trình bày trong báo cáo tài chính. Điều này giúp họ đánh giá hiệu quả
sử dụng các nguồn lực của Ngân hàng. Ngân hàng phải trình bày tổng số giá trị dự
phòng tổn thất khoản cho vay và ứng trước tại ngày khoá sổ lập báo cáo tài chính
và các thay đổi dự phòng trong kỳ. Ngân hàng phải trình bày riêng rẽ các thay
đổi dự phòng, bao gồm cả các khoản trước đây đã được xóa sổ nay thu hồi
được. 40. Các khoản cho vay và ứng
trước khi không thể thu hồi thì sẽ được xóa sổ và được bù đắp bằng khoản dự
phòng tổn thất khoản cho vay. Chỉ được thực hiện xoá sổ khi tất cả các thủ tục
pháp lý được hoàn tất và giá trị của khoản tổn thất đã được xác định cuối cùng.
Trong một số trường hợp, chúng có thể được xóa sổ sớm hơn, ví dụ: Trường hợp
người đi vay không trả được một đồng lãi hoặc tiền gốc nào mặc dù còn hạn hoặc
đã quá hạn một thời gian cụ thể. Các khoản cho vay và ứng trước không thể thu
hồi, được xoá sổ vào thời điểm khác nhau; Tổng số tiền vay và ứng trước và dự
phòng tổn thất có thể rất khác nhau. Do đó, Ngân hàng phải trình bày chính sách
xóa sổ các khoản cho vay và ứng trước không có khả năng thu
hồi. Dự phòng rủi ro chung trong
hoạt động của Ngân hàng 41. Bất kỳ khoản dự phòng
nào lập cho các rủi ro chung trong hoạt động của Ngân hàng, bao gồm các khoản lỗ
dự kiến trong tương lai và các khoản rủi ro không thể dự kiến khác hoặc các
nghĩa vụ nợ tiềm ẩn đều phải được trình bày riêng rẽ như là phần trích lập từ
lợi nhuận sau thuế. Các khoản hoàn nhập dự phòng đã lập được ghi tăng lợi nhuận
giữ lại mà không được tính vào lãi, lỗ trong kỳ. 42. Ngân hàng được lập dự
phòng cho các khoản rủi ro chung trong hoạt động của Ngân hàng, bao gồm các
khoản tổn thất dự kiến trong tương lai hoặc các rủi ro khác không dự kiến được,
ngoài các khoản dự phòng cho các khoản tổn thất cho vay và ứng trước được xác
định theo đoạn 38. Ngân hàng cũng được lập dự phòng cho các tổn thất đột xuất.
Dự phòng cho các rủi ro chung trong hoạt động của Ngân hàng và các tổn thất đột
xuất không đáp ứng điều kiện ghi nhận theo quy định của Chuẩn mực kế toán “Dự
phòng, nợ phải trả và tài sản ngẫu nhiên”. Do đó, Ngân hàng phải trích lập các
khoản dự phòng đó từ lợi nhuận sau thuế. Điều này là cần thiết để tránh làm tăng
nợ phải trả, làm giảm tài sản hoặc các khoản dự phòng ngầm dẫn đến làm sai lệch
các chỉ tiêu thu nhập thuần và vốn chủ sở hữu. 43. Báo cáo kết quả hoạt
động kinh doanh sẽ không thể hiện thông tin thích hợp và trung thực về tình hình
hoạt động của Ngân hàng nếu lãi (lỗ) trong kỳ chịu ảnh hưởng của các chỉ tiêu,
như: Các khoản dự phòng ngầm cho các rủi ro chung trong hoạt động của Ngân hàng;
các khoản tổn thất hoặc các khoản hoàn nhập số dự phòng ngầm đã lập. Tương tự
như vậy, Bảng cân đối kế toán cũng không thể cung cấp những thông tin thích hợp
và trung thực về tình trạng tài chính của Ngân hàng nếu Bảng cân đối kế toán có
các chỉ tiêu thể hiện đánh giá tăng nợ phải trả và đánh giá giảm tài sản hoặc
các khoản dự phòng ngầm. Tài sản được sử dụng để đảm
bảo 44. Ngân hàng phải trình bày
trên Bản thuyết minh báo cáo tài chính tổng giá trị khoản nợ phải trả được đảm
bảo, tính chất và số tiền sinh lời của các tài sản dùng để thế
chấp. 45. Ngân hàng có thể được
yêu cầu phải sử dụng tài sản thế chấp để đảm bảo cho các khoản huy động vốn hay
khoản nợ khác. Những khoản này thường có giá trị đáng kể do đó sẽ có ảnh hưởng
lớn đến việc đánh giá tình hình tài chính của Ngân hàng. Hoạt động nhận uỷ
thác 46. Ngân hàng thường đóng
vai trò là người nhận uỷ thác cho vay dẫn đến việc nắm giữ hoặc đại diện cho tài
sản của các cá nhân, người uỷ thác và các Ngân hàng khác. Cung cấp các thông tin
về uỷ thác cũng như mối quan hệ tương tự là một chứng minh hợp pháp rằng những
tài sản này không phải là tài sản của Ngân hàng và do vậy không nằm trong Bảng
cân đối kế toán. Nếu Ngân hàng có các hoạt động nhận uỷ thác quan trọng thì phải
trình bày và phải chỉ ra quy mô của hoạt động đó trong Bản thuyết minh báo cáo
tài chính. Những khoản nợ tiềm tàng nếu xảy ra tổn thất sẽ liên quan tới trách
nhiệm người nhận ủy thác nó. Với mục đích này, hoạt động nhận uỷ thác không bao
gồm các chức năng bảo đảm an toàn. Giao dịch các bên liên
quan 47. Một số giao dịch nhất
định giữa các bên liên quan có thể được thực hiện theo các điều khoản khác so
với các bên không liên quan, ví dụ trong cùng một hoàn cảnh như nhau, một ngân
hàng có thể cấp một khoản tín dụng có hạn mức lớn hơn hoặc áp dụng một tỷ lệ lãi
thấp hơn với một bên liên quan so với hạn mức hoặc tỷ lệ lãi suất áp dụng cho
một bên không liên quan. Tương tự như vậy, các khoản cho vay hay tiền gửi giữa
các bên liên quan có thể được thực hiện nhanh hơn, với thủ tục đơn giản hơn so
với các bên không liên quan. Khi các giao dịch với các bên liên quan phát sinh
trong hoạt động kinh doanh thông thường của ngân hàng thì thông tin về các giao
dịch này là phù hợp và cần thiết cho người sử dụng báo cáo tài chính và phải
được trình bày theo yêu cầu của Chuẩn mực kế toán số 26 “Thông tin về các bên
liên quan”. 48. Khi một ngân hàng thực
hiện giao dịch với các bên liên quan, phải trình bày bản chất các mối quan hệ
giữa các bên liên quan cũng như đặc điểm về nghiệp vụ và số dư hiện có để người
đọc có thể hiểu được các ảnh hưởng trọng yếu và các mối quan hệ đối với báo cáo
tài chính của ngân hàng. Các yếu tố thường được trình bày theo yêu cầu của Chuẩn
mực kế toán số 26 bao gồm cả chính sách tín dụng của ngân hàng với các bên liên
quan. Ngân hàng phải trình bày về
giao dịch với các bên liên quan theo các thông tin định lượng
sau: (a) Từng khoản cho vay và
ứng trước, các khoản tiền gửi, chấp nhận thanh toán và các kỳ phiếu phát hành
đồng thời với các thông tin: Tổng số dư tại ngày bắt đầu và ngày kết thúc kỳ hạn
và các biến động của các khoản tạm ứng, tiền gửi, trả nợ và các biến động khác
trong kỳ; (b) Từng loại thu nhập, chi
phí và hoa hồng phải trả chủ yếu; (c) Tổng số chi phí do thất
thoát khoản cho vay và ứng trước và tổng số dự phòng tại ngày khoá sổ lập báo
cáo tài chính; và (d) Các cam kết và các nghĩa
vụ nợ tiềm ẩn không thể huỷ ngang phát sinh từ các khoản mục ngoài Bảng cân đối
kế toán./. |
ĐƠN VỊ HỖ TRỢ
|