|
|
KẾ TOÁN - THUẾ - DOANH NGHIỆP - LAO ĐỘNG |
|
|
|
|
BỘ
TƯ PHÁP VỤ
PHỔ BIẾN, GIÁO
DỤC PHÁP LUẬT ---------- TRƯỜNG
ĐẠI HỌC LUẬT
HÀ NỘI --------------- ĐỀ
CƯƠNG GIỚI THIỆU LUẬT ĐẦU TƯ NĂM 2014 Ngày
26 tháng 11 năm 2014, tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XIII đã thông qua
Luật Đầu tư năm 2014 thay thế cho Luật Đầu tư năm 2005. Luật Đầu tư năm 2014 có
hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/07/2015. I.
SỰ CẦN THIẾT SỬA ĐỔI LUẬT ĐẦU TƯ Luật
đầu tư năm 2005 ra đời là một bước tiến quan trọng trong tiến trình hội nhập
kinh tế, quốc tế Việt Nam. Cùng với Luật Doanh nghiệp năm 2005, Luật Đầu tư năm
2005 đã tạo ra hệ thống pháp luật đầu tư chung áp dụng thống nhất cho nhà đầu tư
trong nước, nhà đầu tư nước ngoài. Những
quy định của Luật Đầu tư năm 2005 đã mở rộng quyền tự chủ trong hoạt động đầu
tư, kinh doanh của các nhà đầu tư bằng việc xóa bỏ một loạt rào cản đầu tư không
phù hợp với thông lệ kinh tế thị trường và cam kết hội nhập của Việt Nam, tạo cơ
sở pháp lý cho việc cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh theo hướng ngày càng
thuận lợi, minh bạch và bình đẳng giữa các nhà đầu tư. Tuy
nhiên, sau hơn 8 năm triển khai thi hành, bên cạnh những kết quả tích cực nêu
trên, Luật Đầu tư 2005 đã bộc lộ một số hạn chế cần phải nghiên cứu sửa đổi, bổ
sung; cụ thể như sau: Một
là,
với phạm vi điều chỉnh rộng, bao quát toàn bộ hoạt động đầu tư, gồm cả đầu tư trực tiếp và đầu tư gián
tiếp, đầu tư kinh doanh vốn nhà nước và đầu tư của doanh nghiệp Việt Nam ra nước
ngoài, Luật Đầu tư về cơ bản bảo đảm thực hiện chức năng như một luật khung điều
chỉnh hoạt động đầu tư kinh doanh trong tất cả các lĩnh vực. Tuy nhiên,
sau
khi Luật Đầu tư có hiệu lực thi hành, một số đạo luật liên quan đến hoạt động
đầu tư, kinh doanh đã được ban hành hoặc sửa đổi (như Luật Chứng khoán, Luật Tổ
chức tín dụng, Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật
Xây dựng, Luật Đất đai, Luật Nhà ở, Luật Kinh doanh bất động sản...). Trong bối
cảnh đó, Luật Đầu tư cần được xem xét sửa đổi để xác định rõ nguyên tắc áp dụng
giữa các Luật nhằm đảm bảo tính thống nhất trong hệ thống pháp luật về đầu tư,
đặc biệt là các quy định liên quan đến điều kiện đầu tư, thủ tục đầu tư và ưu
đãi, hỗ trợ đầu tư.
Hai
là, thực
tiễn thi hành Luật trong thời gian qua cho thấy, những vướng mắc trong quá trình
hoạt động đầu tư, kinh doanh của các nhà đầu tư có nguyên nhân phát sinh từ một
số khái niệm chưa được quy định cụ thể trong Luật (như khái niệm lĩnh vực đầu tư
có điều kiện, điều kiện đầu tư, nhà đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài...). Các lĩnh vực, ngành nghề ưu đãi đầu tư cũng như đối tượng ưu
đãi đầu tư chưa được quy định thống nhất giữa Luật Đầu tư với các luật thuế và
một số luật chuyên ngành. Quy định về một số lĩnh vực đầu tư có điều kiện còn
thiếu minh bạch, dẫn đến cách hiểu không thống nhất giữa các cơ quan quản lý và
nhà đầu tư. Bên cạnh đó, những biện
pháp bảo đảm đầu tư theo quy định của Luật cũng chưa được cập nhật và phản ánh
đầy đủ cam kết của Việt Nam về bảo hộ đầu tư theo các điều ước quốc tế được ký
kết trong thời gian qua, trong đó có cam kết trong Tổ chức thương mại thế giới
(WTO).
Ba
là,
Luật Đầu tư hiện hành còn tồn tại một số quy định khác biệt giữa nhà đầu tư
trong nước và nhà đầu tư nước ngoài trong việc thành lập doanh nghiệp và thực
hiện dự án đầu tư, đồng thời chưa xác định rõ hồ sơ, trình tự, thủ tục cấp Giấy
chứng nhận đầu tư và triển khai thực hiện dự án. Các thủ tục đầu tư, đất đai,
xây dựng chưa được quy định thống nhất giữa các luật nên đã dẫn đến sự chồng
chéo về mục tiêu, nội dung quản lý cũng như cơ quan thẩm định, phê duyệt. Cộng
đồng doanh nghiệp cho rằng, thủ tục đầu tư, đất đai, xây dựng là chuỗi thủ tục
tồn tại nhiều khó khăn nhất cho doanh nghiệp và là một trong những “nút thắt”
phải tháo gỡ nhằm tạo môi trường thông thoáng, thuận lợi cho hoạt động đầu tư,
kinh doanh. Bốn
là,
các quy định về quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư theo quy định của Luật
chưa được hoàn thiện kịp thời trong bối cảnh thực hiện chế độ phân cấp. Sự phối
hợp giữa các Bộ, ngành, địa phương trong việc thực hiện chức năng quản lý nhà
nước về đầu tư còn tồn tại một số bất cập từ công tác xây dựng cơ chế, chính
sách, xúc tiến đầu tư đến cấp, điều chỉnh, thu hồi Giấy chứng nhận đầu tư và
quản lý hoạt động đầu tư.
Năm
là, Luật
Đầu tư hiện hành chưa phân định những hoạt động đầu tư ở nước ngoài thuộc phạm
vi điều chỉnh của pháp luật Việt Nam và những hoạt động thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật nước
tiếp nhận đầu tư. Mặt khác, các quy định về quản lý, sử
dụng vốn nhà nước đầu tư ra nước ngoài còn
chưa
đầy đủ,
dẫn đến khó xác định thẩm quyền,
trách nhiệm của nhà đầu tư cũng như cơ quan quản lý trong việc quyết định đầu tư
và quản lý hoạt động đầu tư ở nước ngoài.
Những
hạn chế nêu trên đã làm cho môi trường đầu tư trở nên kém hấp dẫn đối với các
nhà đầu tư, nhất là trong bối cảnh Việt Nam đang phải đối mặt với xu hướng cạnh
tranh thu hút đầu tư nước ngoài ngày càng gay gắt từ các nước trên thế giới và
trong khu vực. Theo đánh giá của cộng đồng doanh nghiệp, so
với một số nước trong Khu vực thì hệ thống pháp luật và thủ tục hành chính của
nước ta vẫn chưa thật sự đáp ứng kỳ
vọng của nhà đầu tư. Bên cạnh đó, quá trình tái cấu trúc nền kinh tế, chuyển đổi
mô hình tăng trưởng theo hướng
chất lượng, hiệu quả và hội nhập sâu rộng hơn với khu vực và thế giới đã và đang
đặt ra yêu cầu cấp bách phải tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách
trong đó có Luật Đầu tư để thích ứng với đòi hỏi cao hơn của quá trình phát
triển kinh tế- xã hội cũng như thực hiện cam kết quốc tế về tự do hóa đầu
tư. II.
MỤC TIÊU, QUAN ĐIỂM SỬA ĐỔI LUẬT
1.
Mục tiêu
sửa đổi Luật Luật
được xây dựng trên cơ sở những mục tiêu, quan điểm và những yêu cầu cơ bản sau
đây: Một
là,
tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm tạo môi trường đầu tư bình đẳng,
thuận lợi và minh bạch hơn nữa để huy động tối đa nguồn vốn đầu tư trong nước và
đầu tư nước ngoài; góp phần thể
chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về tiếp
tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội
nhập quốc tế. Hai
là,
tạo bước chuyển biến mới về cải cách thủ tục hành chính trong thực hiện hoạt
động đầu tư gắn liền với việc đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu qủa công tác quản
lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư ; góp phần tháo gỡ khó khăn, tạo điều
kiện để các nhà đầu tư thực hiện hoạt động đầu tư với thủ tục đơn giản hơn và
chi phí thấp hơn. Ba
là,
bổ sung, hoàn thiện cơ chế khuyến khích và bảo hộ đầu tư phù hợp với cam kết của
Việt Nam về mở cửa thị trường và tự do hóa đầu tư theo các điều ước quốc tế đã
và sẽ thỏa thuận trong thời gian tới. Bốn
là,
những nội dung của Luật phải bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất với các luật liên
quan đến hoạt động đầu tư, kinh doanh, đồng thời kế thừa, tiếp tục phát triển và
hoàn thiện những quy định thông thoáng của Luật Đầu tư hiện hành còn phù hợp với
thực tế. 2.
Quan điểm sửa đổi -
Đảm bảo kế thừa, tiếp tục phát triển và hoàn thiện những quy định thông thoáng
của Luật còn phù hợp với thực tế và đã có tác động tích cực đối với môi trường
đầu tư, đồng thời xem xét sửa đổi, bổ sung những quy định đã phát sinh hạn chế,
vướng mắc trong quá trình thực hiện, đặc biệt là các quy định về điều kiện, thủ
tục đầu tư, triển khai dự án đầu tư và công tác quản lý nhà nước đối với hoạt
động đầu tư. - Đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất của hệ
thống pháp luật về đầu tư theo hướng phân định rõ mối quan hệ và nguyên tắc áp
dụng Luật Đầu tư, các luật liên quan và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành
viên. - Cải cách mạnh mẽ thủ tục hành chính
trong hoạt động đầu tư, nhưng phải đảm bảo thực hiện có hiệu qủa công tác quản
lý nhà nước, tăng cường chế độ kiểm tra, giám sát và phối hợp giữa các cơ quan
quản lý ở trung ương và địa phương. - Đảm bảo thực hiện cam kết mở cửa thị
trường và tự do hóa đầu tư theo các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành
viên. III.
BỐ
CỤC Luật
Đầu
tư năm 2014
bao gồm 07
chương, 76
điều (so với Luật Đầu
tư năm 2005,
Luật
Đầu
tư năm 2014 giảm
03
chương,
trong đó bãi bỏ toàn bộ Chương VII về đầu tư kinh doanh vốn nhà nước, đồng thời
sửa đổi căn bản các nội dung về thủ tục thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam
và hoạt động đầu tư ra nước ngoài), cụ
thể như sau: -
Chương I: Những quy định chung,
gồm 08
điều (từ Điều 1 đến
Điều 8).
Chương
này quy định về phạm vi điều chỉnh;
đối tượng áp dụng;
giải
thích từ ngữ; Áp
dụng Luật đầu tư, các luật có liên quan và điều ước quốc tế;
Chính
sách về đầu tư kinh doanh;
Ngành,
nghề cấm đầu tư kinh doanh;
Ngành,
nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện;
-
Chương II: Bảo
đảm đầu tư,
gồm 06
điều (từ Điều 9
đến Điều 14).
Chương này quy định về các biện pháp bảo đảm đầu tư của Nhà nước Việt Nam đối
với nhà đầu tư. -
Chương III: Ưu
đãi và hỗ trợ đầu tư,
gồm
02
mục và 07
điều (từ Điều 15
đến Điều 21).
Cụ
thể: +
Mục 1: Ưu đãi đầu tư từ Điều 15 đến Điều 18, quy định về:
Hình thức và đối tượng áp dụng ưu đãi đầu tư, Ngành, nghề ưu đãi đầu tư và địa
bàn ưu đãi đầu tư, thủ tục áp dụng ưu đãi đầu tư, mở rộng ưu đãi đầu
tư -
Chương IV: Hoạt
động đầu tư tại Việt Nam,
gồm 04
mục với 29
điều (từ Điều 22
đến Điều 50),
cụ thể như sau: + Mục 1. Hình thức đầu tư từ Điều 22 đến
Điều 29 quy định về các hình thức đầu tư: Đầu
tư thành lập tổ chức kinh tế;
thực hiện hoạt động đầu tư của tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài; đầu tư
theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ chức kinh tế; hình thức
và điều kiện góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ chức kinh tế; thủ tục đầu
tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp; đầu
tư theo hình thức hợp đồng PPP; đầu tư theo hình thức hợp đồng BCC; -
Chương V: Hoạt
động đầu tư ra nước ngoài,
gồm
04 mục và
16
điều (từ Điều 51
đến Điều 66).
Cụ thể: +
Mục 1. Quy định chung bao gồm 03 Điều từ Điều 51 đến Điều 53, quy định về:
Nguyên
tắc thực hiện hoạt động đầu tư ra nước ngoài; hình thức
đầu tư ra nước ngoài; nguồn vốn đầu tư ra nước
ngoài +
Mục 2. Thủ tục quyết định chủ trương đầu tư ra nước ngoài gồm 03 điều từ Điều 54
đến Điều 56, quy định cụ thể về: Thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư ra nước
ngoài; hồ sơ, trình tự, thủ tục
Thủ tướng Chính phủ quyết định chủ trương đầu tư ra nước ngoài ; hồ
sơ, trình tự, thủ tục Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư ra nước
ngoài +
Mục 3. Thủ tục cấp, điều chỉnh và chấm dứt hiệu lực của Giấy chứng nhận đăng ký
đầu tư ra nước ngoài gồm 06 điều, từ Điều 57 đến Điều 62, quy định cụ thể về:
nước ngoài; thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký
đầu tư ra nước ngoài; nội dung
Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài; điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu
tư ra nước ngoài; chấm dứt dự án
đầu tư ra nước ngoài; +
Mục 4. Triển khai hoạt động đầu tư ra nước ngoài gồm 04 điều từ Điều 63 đến Điều
66, quy định về: Mở tài khoản vốn đầu tư ra nước ngoài; chuyển vốn đầu tư ra
nước ngoài; chuyển lợi nhuận về nước; sử dụng lợi nhuận để đầu tư
ở nước ngoài
Chương
VI:
Quản lý nhà nước về đầu tư,
gồm
6
điều (từ Điều 67
đến Điều 72).
Chương này quy định về trách nhiệm của cơ quan Nhà nước với hoạt động đầu tư cụ
thể: nội
dung quản lý nhà nước về đầu tư; trách nhiệm quản lý
nhà nước về đầu tư; giám
sát, đánh giá đầu tư; hệ thống thông tin quốc gia về đầu tư; chế
độ báo cáo hoạt động đầu tư tại Việt Nam;
chế
độ báo cáo hoạt động đầu tư ở nước ngoài. -
Chương VII:
Tổ
chức thực hiện,
gồm 04
điều (Điều 73
và
Điều 76) quy
định về xử
lý vi phạm, điều khoản chuyển tiếp và hiệu lực thi hành của
Luật. III. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT
1.
Phạm vi điều chỉnh và nguyên tắc áp dụng pháp luật đầu tư
Luật
Đầu tư đã xác định rõ mối quan hệ cũng như nguyên tắc áp dụng Luật Đầu tư và các
luật liên quan. Theo Điều 4 Luật Đầu tư năm 2014: “Hoạt
động đầu tư kinh doanh trên lãnh thổ Việt Nam phải tuân thủ quy định của Luật
này và luật khác có liên quan. Trường hợp có quy định khác nhau giữa Luật này và
luật khác về ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh, ngành, nghề đầu tư kinh doanh có
điều kiện, trình tự, thủ tục đầu tư thì thực hiện theo quy định của Luật này,
trừ trình tự, thủ tục đầu tư kinh doanh theo quy định tại Luật chứng khoán, Luật
các tổ chức tín dụng, Luật kinh doanh bảo hiểm và Luật dầu khí.”
Như
vậy, theo quy định nêu trên, các hoạt
động đầu tư chứng khoán, đầu tư thành lập tổ
chức tín dụng, bảo hiểm thực hiện theo
quy định tương ứng của Luật chứng khoán, Luật các tổ chức tín dụng, Luật kinh
doanh bảo hiểm, Luật dầu khí. Những vấn đề chưa được quy định trong các Luật nêu
trên thì áp dụng theo quy định chung của Luật Đầu tư (như chính sách ưu đãi, hỗ
trợ đầu tư, bảo đảm đầu tư...). Bên
cạnh đó, những nội dung cụ thể của Luật Đầu tư năm 2014 đã phân định rõ mối quan
hệ giữa Luật Đầu tư với các luật liên quan khác nhằm đảm bảo tính thống nhất của
hệ thống pháp luật; cụ thể là: -
Trong quan hệ với Luật Đầu tư công và Luật quản lý, sử dụng vốn đầu tư của nhà
nước vào hoạt động sản xuất kinh doanh: Luật Đầu tư không điều chỉnh quá trình
lập, phê duyệt kế hoạch, chương trình, dự án đầu tư công, đồng thời cũng không
quy định nguyên tắc, thẩm quyền và thủ tục quyết định thực hiện dự án sử dụng
vốn nhà nước vào hoạt động sản xuất, kinh doanh. Tuy nhiên, đối với dự án sử
dụng vốn nhà nước để thực hiện các hình thức đầu tư quy định tại Luật Đầu tư,
thì sau khi kế hoạch và chủ trương thực hiện dự án đã được quyết định theo quy
định tại 02 Luật nêu trên, nhà đầu tư phải thực hiện thủ tục đầu tư theo Luật
Đầu tư và được hưởng ưu đãi, bảo đảm đầu tư theo quy định của Luật này. -
Trong quan hệ với Luật Doanh nghiệp: Luật Đầu tư quy định về lĩnh vực, điều
kiện, hình thức đầu tư, thủ tục thực hiện hoạt động đầu tư của tất cả các doanh
nghiệp, trong khi Luật Doanh nghiệp quy định về quyền thành lập, hoạt động và tổ
chức quản lý doanh nghiệp của các tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế,
không phân biệt hình thức sở hữu. -
Trong quan hệ với các luật về thuế: Luật Đầu tư quy định lĩnh vực, địa bàn ưu
đãi đầu tư và nguyên tắc áp dụng ưu đãi đầu tư, còn mức ưu đãi cụ thể được quy
định trong pháp luật thuế và pháp luật có liên quan. -
Trong quan hệ với Luật Xây dựng:
Luật Đầu tư điều chỉnh toàn bộ quá trình thực hiện dự án đầu tư, kể cả dự
án đầu tư có công trình xây dựng. Tuy nhiên, việc lập quy hoạch xây dựng, khảo
sát, thiết kế, thi công, giám sát thi công xây dựng công trình và quản lý xây
dựng công trình phải thực hiện theo quy định của pháp luật về xây dựng. -
Trong quan hệ với Luật Đất đai: Các quy định của Luật Đầu tư liên quan đến điều
kiện sử dụng đất, quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư thực hiện dự án đầu tư có sử
dụng đất... đã được thiết kế phù hợp với quy định tương ứng của Luật Đất đai năm
2013. 2.
Những quy định chung Luật
Đầu tư đã chuẩn xác lại khái niệm đầu
tư, dự án đầu tư, dự án đầu tư mới, dự án đầu tư mở rộng và các khái niệm về khu
công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế, trên cơ sở luật hóa quy định tương ứng
trong các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật,
đồng thời bãi bỏ một số khái niệm không
còn thích hợp, trùng lặp với quy định của luật khác hoặc không cần thiết để điều
chỉnh một số nội dung của Luật
(như khái niệm vốn
nhà nước, chủ đầu tư, đầu tư trong nước, đầu tư nước ngoài, đầu tư trực tiếp,
đầu tư gián tiếp...). Mặt khác, nhằm tạo cơ sở pháp lý áp dụng
điều kiện đầu tư và thủ tục đầu tư đối với nhà đầu tư nước ngoài, Luật đã sửa
đổi khái niệm nhà đầu tư nước ngoài (Khoản 13 Điều 3) theo hướng thiết kế quy
định này trên cơ sở quốc tịch, nơi đăng
ký thành lập của cá nhân, tổ chức nước ngoài cũng như tỷ lệ sở hữu, mức độ tham
gia quản lý của tổ chức, cá nhân nước ngoài trong tổ chức kinh tế đã thành lập
tại Việt Nam. Nhằm
hoàn thiện chính sách đầu tư theo hình thức đối tác công- tư (PPP) phù hợp với
thông lệ quốc tế, Luật Đầu tư năm 2014 thay thế khái niệm về hợp đồng BOT, hợp
đồng BTO, hợp đồng BT bằng khái niệm chung nhất về hợp đồng đầu tư theo hình
thức PPP. Theo đó, hợp đồng PPP gồm
hợp
đồng BOT, BTO, BT, và
các hình thức hợp đồng khác được ký kết giữa Cơ quan nhà nước có thẩm quyền và
nhà đầu tư. 3.
Bảo đảm đầu tư Những
quy định về bảo đảm đầu tư theo Luật Đầu tư hiện hành được các nhà đầu tư đánh
giá về cơ bản phù hợp với thông lệ quốc tế cũng như các cam kết quốc tế về đầu
tư của Việt Nam tại thời điểm ban hành Luật Đầu tư. Tuy nhiên, để
tiếp tục hoàn thiện chính sách bảo đảm đầu tư phù hợp với cam kết quốc tế về bảo
hộ đầu tư mà Việt Nam đã thỏa thuận trong thời gian qua, Bên cạnh những biện
pháp bảo hộ cơ bản như Bảo đảm quyền sở hữu tài sản của nhà đầu tư (Điều 9), Bảo
đảm chuyển tài sản của nhà đầu tư nước ngoài ra nước ngoài (Điều 11), Bảo đảm
giải quyết tranh chấp trong hoạt động đầu tư kinh doanh (Điều 14), Luật Đầu tư
đã quy định một số nội mới cụ thể như sau: -
Bổ sung cam kết của nhà nước trong việc đối xử không phân biệt giữa các nhà đầu
tư nước ngoài (nguyên tắc đối xử tối huệ quốc) phù
hợp với điều kiện và lộ trình quy định tại các điều ước quốc tế mà Việt Nam là
thành viên (Khoản 1 Điều 10).
Quy định này nhằm cụ thể hóa cam kết của Việt Nam về đối xử tối huệ quốc theo
các Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư. -
Bổ sung nguyên tắc không hồi tố về điều kiện đầu tư trong trường hợp pháp luật,
chính sách thay đổi làm ảnh hưởng bất lợi đến điều kiện đầu tư đã được quy định
tại Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư (Khoản 1 Điều 13). Việc bổ sung quy định này
nhằm
bảo đảm để Việt Nam thực hiện đầy đủ cam kết trong
WTO về việc không hồi tố các điều kiện đầu tư (phạm vi hoạt động, tỷ lệ sở hữu của nhà
đầu tư nước ngoài).
Nguyên
tắc không hồi tố là biện pháp bảo đảm đầu tư quan trọng, góp phần tạo môi trường
đầu tư an toàn, tin cậy cho nhà đầu tư, nhất là trong bối cảnh hệ thống pháp
luật đầu tư đang trong quá trình hoàn thiện, có nhiều thay đổi gây xáo trộn hoạt
động đầu tư của nhà đầu tư. Tuy nhiên, việc thực hiện nguyên tắc này có liên
quan đến thẩm quyền ban hành, điều chỉnh pháp luật. Do vậy, để bảo đảm tính khả
thi của Luật và có thời gian hoàn thiện quy định về vấn đề này trên cơ sở tổng
kết, rút kinh nghiệm trong quá trình thực hiện, Luật Đầu tư năm 2014 giao Chính
phủ quy định chi tiết điều kiện, thủ tục thực hiện. Ngoài
ra, để phù hợp với thông lệ quốc tế cũng như cam kết của Việt Nam theo các Hiệp
định khuyến khích và bảo hộ đầu tư, Điều 14 Luật Đầu tư năm 2014 đã bổ sung
Khoản 4 về giải quyết tranh chấp trong hoạt động đầu tư. Theo đó, việc giải
quyết tranh chấp giữa cơ quan nhà nước và nhà đầu tư thông qua trọng tài chỉ
được thực hiện trong trường hợp có thỏa thuận trọng tài theo hợp đồng giữa các
bên tranh chấp hoặc theo điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành
viên. 4.
Ưu đãi và hỗ trợ đầu tư 4.1.
Các quy định về ưu đãi đầu tư Trên
cơ sở kế thừa quy định của Luật Đầu tư năm 2005, Luật Đầu tư năm 2014 khẳng định
nguyên tắc nhà đầu tư được hưởng ưu đãi đầu tư khi có dự án đầu tư thuộc lĩnh
vực và địa bàn ưu đãi đầu tư và ưu đãi này được áp dụng cho cả dự án đầu tư mới
và dự án đầu tư mở rộng (Điều 15). Luật
Đầu tư năm 2014 đã quy định thủ tục áp dụng ưu đãi đầu tư theo cơ chế nhà đầu tư
căn cứ vào các ưu đãi và điều kiện hưởng ưu đãi đầu tư quy định tại Luật này để
tự xác định ưu đãi và làm thủ tục hưởng ưu đãi đầu tư tại cơ quan nhà nước có
thẩm quyền. Trường hợp nhà đầu tư có yêu cầu xác nhận ưu đãi đầu tư thì thực
hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư để được ghi ưu đãi đầu tư tại
Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư (Điều 17). Hình
thức ưu đãi đầu tư tập trung vào ưu đãi về thuế và đất
đai: -
Áp dụng mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp thấp hơn mức thuế suất thông
thường có thời hạn hoặc toàn bộ thời gian thực hiện dự án đầu tư; miễn, giảm
thuế thu nhập doanh nghiệp; -
Miễn thuế nhập khẩu đối với hàng hóa nhập khẩu để tạo tài sản cố định; nguyên
liệu, vật tư, linh kiện để thực hiện dự án đầu tư; -
Miễn, giảm tiền thuê đất, tiền sử dụng đất, thuế sử dụng
đất. Về
Danh mục lĩnh vực ưu đãi đầu (Điều 16) Luật
Đầu tư đã hoàn
thiện các quy định về lĩnh vực ưu đãi đầu tư theo hướng tiếp tục khuyến khích
các dự án có công nghệ hiện đại, thân thiện với môi trường, sử dụng có hiệu quả
các nguồn tài nguyên, khoáng sản, đất đai, v.v.. Nhằm đảm bảo tính khả thi, minh
bạch và đồng bộ giữa quy định của Luật này với quy định của pháp luật liên quan,
Luật Đầu tư năm 2014 đã làm rõ tiêu chí xác định một số dự án thuộc lĩnh vực ưu
đãi đầu tư chưa được quy định cụ thể trong Luật hiện hành, như: dự án sử dụng
công nghệ cao, kỹ thuật hiện đại, bảo vệ môi trường sinh thái, phát triển kết
cấu hạ tầng, v.v.. Về
địa bàn ưu đãi đầu tư: Luật Đầu tư năm 2014 kế thừa những quy định của Luật Đầu
tư năm 2005 khi quy định địa bàn đầu tư bao gồm: -
Địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, địa bàn có điều kiện kinh tế -
xã hội đặc biệt khó khăn; -
Khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh
tế. 4.2.
Các quy định về hỗ trợ đầu tư (các Điều 19-21) Luật
Đầu tư năm 2014 tiếp tục duy trì các hình thức hỗ trợ đầu tư đã được quy định
trong Luật Đầu tư năm 2005 (như hỗ trợ chuyển giao công nghệ, đào tạo, dịch vụ
đầu tư, v.v..), đồng thời hoàn thiện chính sách hỗ trợ phát triển khu công
nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế theo
hướng: -
Xác định rõ các điều kiện, tiêu chí hỗ trợ một phần vốn ngân sách và nguồn vốn
tín dụng ưu đãi để đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng
xã hội trong và ngoài hàng rào KCN, KCX, KKT tại một số địa phương có địa bàn
kinh tế - xã hội khó khăn hoặc địa bàn kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.
-
Tạo cơ chế hỗ trợ
phát triển nhà ở và công
trình dịch vụ, tiện ích công cộng
cho người lao động trong KCN,
KCX, KKT theo hướng yêu cầu các địa phương
có KCN, KCX, KKT phải xây dựng quy
hoạch, kế hoạch phát triển nhà ở, công
trình dịch vụ và tiện ích công cộng
cho
người lao động. Đối
với các KCN, KCX gặp khó khăn trong bố trí quỹ đất xây dựng nhà ở cho người lao
động, cơ quan có thẩm quyền quyết định việc dành
một phần diện tích đất để phát
triển nhà ở và
công
trình dịch vụ, tiện ích công cộng
cho người lao động. 5.
Hình thức đầu tư
5.1.
Về đầu tư theo hình thức thành lập tổ chức kinh tế (Khoản 1 Điều
22) Nhằm
xóa bỏ một số hạn chế, phân biệt đối xử đối với nhà đầu tư nước ngoài trong việc
thành lập doanh nghiệp và thực hiện hoạt động đầu tư, góp phần tạo mặt bằng pháp
lý thống nhất về quyền thực hiện hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp thuộc mọi
thành phần kinh tế, Luật Đầu tư năm 2014 đã quy định một số nội dung
sau: Nhà
đầu tư trong nước và nước ngoài được thành lập tổ chức kinh tế phù hợp với tất
cả loại hình tổ chức kinh tế. . Trước khi thành lập tổ chức kinh tế, nhà đầu tư
nước ngoài phải có dự án đầu tư, thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký
đầu tư (Khoản 1 Điều 22).
Nhà
đầu tư nước ngoài được sở hữu vốn điều lệ với mức không hạn chế trong doanh
nghiệp Việt Nam, trừ trường hợp pháp luật chuyên ngành và điều ước quốc tế mà
Việt Nam là thành viên có quy định khác (Khoản 3 Điều).
Như vậy, theo các quy định nêu trên, trừ một số hạn chế về tỷ lệ vốn góp và phạm
vi hoạt động theo quy định của pháp luật và điều ước quốc tế, nhà đầu tư nước
ngoài đã được đối xử bình đẳng với nhà đầu tư trong nước về quyền thực hiện hoạt
động đầu tư. 5.2.
Đầu
tư theo hình thức góp vốn, mua lại phần vốn góp, cổ phần của doanh nghiệp (Điều
25, Điều 26) Luật
Đầu tư năm 2014 sửa đổi bổ sung quy định về vấn đề này theo hướng khẳng định
quyền của nhà đầu tư trong việc góp vốn, mua lại phần vốn góp, mua cổ phần của
doanh nghiệp phù hợp với quy định của Luật Doanh nghiệp và trên cơ sở đáp ứng
các điều kiện, thủ tục được quy định cụ thể tại Luật này. Doanh
nghiệp nhận vốn góp hoặc bán cổ phần, phần vốn góp cho nhà đầu tư nước ngoài
thực hiện thủ tục đăng ký thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh theo quy định của
pháp luật về doanh nghiệp. Luật
Đầu tư năm 2014 cũng quy định cụ thể trường hợp phải thực hiện thủ tục đăng ký
góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ chức kinh tế, cụ
thể: -
Nhà đầu tư nước ngoài góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ chức kinh tế
hoạt động trong ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện áp dụng đối với nhà
đầu tư nước ngoài; -
Việc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp dẫn đến nhà đầu tư nước ngoài, tổ chức
kinh tế có tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài trên 51%, nắm giữ từ 51% vốn
điều lệ trở lên của tổ chức kinh tế. 5.3.
Đầu tư theo hình thức hợp đồng PPP Luật
Đầu tư năm 2014 bổ sung quy định về đầu tư theo hình thức Hợp đồng PPP phù hợp
với chủ trương thu hút các nguồn vốn đầu tư tư nhân để phát triển các công trình
kết cấu hạ tầng hoặc cung cấp dịch vụ công (Điều 27). Theo đó, nhà đầu tư ký kết
Hợp
đồng PPP với Cơ quan nhà nước có thẩm quyền để xây dựng mới hoặc cải tạo, nâng
cấp, mở rộng, quản lý và vận hành công trình kết cấu hạ tầng hoặc cung cấp
dịch vụ công. 5.4.
Đầu tư theo hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh
BCC Luật
Đầu tư năm 2014 kế thừa những quy định của Luật Đầu tư năm 2005 về hình thức đầu
tư theo hợp đồng hợp tác kinh doanh BCC. Hợp
đồng BCC được ký kết giữa các nhà đầu tư trong nước thực hiện theo quy định của
pháp luật về dân sự. Hợp đồng BCC được ký kết giữa nhà đầu tư trong nước với nhà
đầu tư nước ngoài hoặc giữa các nhà đầu tư nước ngoài thực hiện thủ tục cấp Giấy
chứng nhận đăng ký đầu tư. Các bên tham gia hợp đồng BCC thành lập ban điều phối
để thực hiện hợp đồng BCC. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của ban điều phối do
các bên thỏa thuận.
6.
Thủ tục và triển khai đầu tư 6.1.
Thủ tục quyết định chủ trương đầu tư (Mục 2- Chương
IV) Luật
Đầu tư năm 2014 đã quy định cụ thể về phân cấp thẩm quyền quyết định chủ trương
đầu tư của Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Theo
đó: Quốc
hội quyết định chủ trương đầu tư đối với các dự án đầu tư sau
đây: -
Dự án ảnh hưởng lớn đến môi trường hoặc tiềm ẩn khả năng ảnh hưởng nghiêm trọng
đến môi trường, bao gồm: Nhà máy điện hạt nhân; Chuyển mục đích sử dụng đất vườn
quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, khu bảo vệ cảnh quan, khu rừng nghiên cứu,
thực nghiệm khoa học từ 50 héc ta trở lên; rừng phòng hộ đầu nguồn từ 50 héc ta
trở lên; rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát bay, chắn sóng, lấn biển, bảo vệ môi
trường từ 500 héc ta trở lên; rừng sản xuất từ 1.000 héc ta trở
lên; -
Sử dụng đất có yêu cầu chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa nước từ hai vụ trở
lên với quy mô từ 500 héc ta trở lên; -
Di dân tái định cư từ 20.000 người trở lên ở miền núi, từ 50.000 người trở lên ở
các vùng khác; -
Dự án có yêu cầu phải áp dụng cơ chế, chính sách đặc biệt cần được Quốc hội
quyết định. Thủ
tướng Chính phủ quyết định chủ trương đầu tư đối với các dự án sau
đây: -
Dự án không phân biệt nguồn vốn thuộc một trong các trường hợp sau: Di dân tái
định cư từ 10.000 người trở lên ở miền núi, từ 20.000 người trở lên ở vùng khác;
Xây dựng và kinh doanh cảng hàng không; vận tải hàng không; Xây dựng và kinh
doanh cảng biển quốc gia; Thăm dò, khai thác, chế biến dầu khí; Hoạt động kinh
doanh cá cược, đặt cược, casino; Sản xuất thuốc lá điếu; Phát triển kết cấu hạ
tầng khu công nghiệp, khu chế xuất, khu chức năng trong khu kinh tế; Xây dựng và
kinh doanh sân gôn; -
Dự án không thuộc trường hợp trên có quy mô vốn đầu tư từ 5.000 tỷ đồng trở
lên; -
Dự án của nhà đầu tư nước ngoài trong các lĩnh vực kinh doanh vận tải biển, kinh
doanh dịch vụ viễn thông có hạ tầng mạng, trồng rừng, xuất bản, báo chí, thành
lập tổ chức khoa học và công nghệ, doanh nghiệp khoa học và công nghệ 100% vốn
nước ngoài; Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh quyết định chủ trương đầu tư đối với các dự án sau
đây: -
Dự án được Nhà nước giao đất, cho thuê đất không thông qua đấu giá, đấu thầu
hoặc nhận chuyển nhượng; dự án có yêu cầu chuyển mục đích sử dụng
đất; -
Dự án có sử dụng công nghệ thuộc Danh mục công nghệ hạn chế chuyển giao theo quy
định của pháp luật về chuyển giao công nghệ. -
Dự án đầu tư như trên thực hiện tại khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ
cao, khu kinh tế phù hợp với quy hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt không
phải trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định chủ trương đầu tư. Luật
Đầu tư năm 2014 quy định cụ thể và chi tiết thủ tục và quy trình xin quyết định
chủ trương đầu tư của Quốc hội (Điều 35), Thủ tướng Chính phủ (Điều 34), Ủy ban
nhân dân cấp tỉnh (Điều 33) 6.2.
Thủ tục cấp, điều chỉnh và thu hồi giấy chứng nhận đầu tư
Luật
Đầu tư năm 2014 đã loại bỏ nghĩa vụ thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận đầu tư
đối với nhà đầu tư trong nước, theo đó các trường hợp phải thực hiện dự án đầu
tư bao gồm: -
Dự
án đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài; -
Dự án của nhà đầu tư có vốn nước ngoài mà nhà
đầu tư nước ngoài nắm giữ từ 51% vốn điều lệ trở lên hoặc có đa số thành viên
hợp danh là cá nhân nước ngoài đối với tổ chức kinh tế là công ty hợp danh; Có
tổ chức kinh tế như trên nắm giữ từ 51% vốn điều lệ trở lên; Có nhà đầu tư nước
ngoài và tổ chức kinh tế như trên nắm giữ từ 51% vốn điều lệ trở
lên. Luật
Đầu tư năm 2014 quy định thẩm quyền thực hiện thủ tục đầu
tư: -
Ban
Quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế tiếp nhận,
cấp, điều chỉnh, thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với các dự án đầu tư
trong khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh
tế. -
Sở Kế hoạch và Đầu tư tiếp nhận, cấp, điều
chỉnh, thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với các dự án đầu tư ngoài khu
công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế, thay thế thẩm quyền
quyền của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo quy định của Luật Đầu tư năm
2005.
6.3.
Triển khai dự án đầu tư Luật
Đầu tư năm 2014 quy định cụ thể về việc thực hiện triển khai dự án đầu tư bao
gồm: Thành
lập văn phòng điều hành của nhà đầu tư nước ngoài trong hợp đồng BCC,
nhà
đầu tư nước ngoài trong hợp đồng BCC được thành lập văn phòng điều hành tại Việt
Nam để thực hiện hợp đồng. Địa điểm văn phòng điều hành do nhà đầu tư nước ngoài
trong hợp đồng BCC quyết định theo yêu cầu thực hiện hợp đồng. 7.
Quy định về hoạt động đầu tư ra nước ngoài Để
xác định rõ mục tiêu quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư ra nước ngoài,
đồng thời tạo cơ sở pháp lý nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện công tác
này. Luật Đầu tư năm 2014 khẳng định nguyên tắc nhà đầu tư được thực
hiện hoạt động đầu tư ra nước ngoài nhằm khai thác, phát triển, mở rộng thị
trường, tăng năng lực xuất khẩu, thu ngoại tệ và góp phần bảo đảm an ninh năng
lượng. Căn cứ định hướng phát triển kinh tế, xã hội và chính sách quản lý ngoại
hối trong từng thời kỳ, Chính phủ ban hành Danh mục lĩnh vực cấm đầu tư và Danh
mục lĩnh vực đầu tư ra nước ngoài có điều kiện (Điều
51). Quy định về hoạt động đầu tư ra nước ngoài là một điểm sáng lớn trong Luật
Đầu tư năm 2014. Luật
Đầu tư năm 2014 quy định những hình thức đầu tư ra nước
ngoài: -
Thành lập tổ chức kinh tế theo quy định của pháp luật nước tiếp nhận đầu
tư; -
Thực hiện hợp đồng BCC ở nước ngoài; -
Mua lại một phần hoặc toàn bộ vốn điều lệ của tổ chức kinh tế ở nước ngoài để
tham gia quản lý và thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh tại nước
ngoài; -
Mua, bán
chứng khoán, giấy tờ có giá khác hoặc
đầu tư thông
qua các quỹ đầu tư chứng khoán, các định chế tài chính trung gian khác
ở
nước ngoài; -
Các hình thức đầu tư khác theo quy định của pháp luật nước tiếp nhận đầu
tư. Luật
Đầu tư năm 2014 đã quy định cụ thể về thẩm quyên, thủ tục quyết định chủ trương
đầu tư ra nước ngoài của Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ. Bộ
Kế hoạch và Đầu tư có thẩm quyền cấp, điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư
ra nước ngoài trong thời hạn 05 ngày đối với dự án phỉ xin chủ trương đầu tư và
15 ngày đối với dự án không phải xin chủ trương đầu tư. Điều
kiện cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài bao gồm: -
Hoạt động đầu tư ra nước ngoài phù hợp với nguyên tắc quy định của pháp luật đầu
tư; -
Hoạt
động đầu tư ra nước ngoài không thuộc
ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh; -
Nhà đầu tư có cam kết tự thu xếp ngoại tệ hoặc được tổ chức tín dụng được phép
cam kết thu xếp ngoại tệ để thực hiện hoạt động đầu tư ra nước ngoài; trường hợp
khoản vốn bằng ngoại tệ chuyển ra nước ngoài tương đương 20 tỷ đồng trở lên và
không thuộc dự án quy định phải xin chủ trương đầu tư thì Bộ Kế hoạch và Đầu tư
lấy ý kiến bằng văn bản của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. -
Có quyết định đầu tư ra nước ngoài; -
Có văn bản của cơ quan thuế xác nhận việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế của nhà
đầu tư tính đến thời điểm nộp hồ sơ dự án đầu tư. Luật
Đầu tư năm 2014 đã bổ sung những quy định chi tiết về triển khai dự án đầu tư ra
nước ngoài: Mở tài khoản vốn đầu tư ra nước ngoài; chuyển vốn đầu tư ra nước
ngoài; chuyển lợi nhuận về nước; sử dụng lợi nhuận để đầu tư ở nước
ngoài 8.
Quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư Bên
cạnh việc sửa đổi, bổ sung một số
điều khoản về thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư và triển khai hoạt động
của dự án đầu tư nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của dự án cũng như công tác
quản lý nhà nước về vấn đề này, Dự Luật Đầu tư năm 2014 đã bổ sung một số nội
dung quản lý nhà nước, gồm: cấp, điều chỉnh, thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký đầu
tư, tổng hợp, báo cáo hoạt động đầu tư, quản lý nhà nước về khu công nghiệp, khu
chế xuất, khu kinh tế, quản lý hoạt động xúc tiến đầu tư. Căn
cứ các quy định nêu trên của Luật, Chính phủ sẽ quy định chi tiết nhiệm vụ,
quyền hạn của các Bộ, ngành, UBND và Ban quản lý KCN cấp tỉnh cũng như cơ chế
phân cấp, phối hợp trong hoạt động quản lý nhà nước giữa các cơ quan
này
từ công tác xây dựng cơ chế, chính sách, xúc tiến đầu tư đến cấp, điều chỉnh,
thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư và quản lý hoạt động đầu tư.
Luật
Đầu tư năm 2014 đã quy định thêm một số công cụ nhằm nâng cao hiệu quả quản lý
nhà nước về đầu tư, cụ thể: 9.
Tổ chức thực hiện Để
duy trì ổn định hoạt động của dự án đầu tư, doanh nghiệp đã hoạt động trước thời
điểm Luật Đầu tư năm 2014 có hiệu lực, Luật Đầu tư năm 2014 quy
định: - Nhà đầu tư đã được cấp Giấy phép đầu
tư, Giấy chứng nhận đầu tư trước ngày Luật Đầu tư năm 2014 có hiệu lực thi hành
được thực hiện dự án đầu tư theo Giấy phép đầu tư, Giấy chứng nhận đầu tư đã
được cấp. Trường hợp có yêu cầu, cơ quan đăng ký đầu tư cấp đổi sang Giấy chứng
nhận đăng ký đầu tư cho nhà đầu tư. -
Nhà đầu tư đã thực hiện dự án đầu tư trước ngày Luật Đầu tư năm 2014 có hiệu
lực thuộc trường hợp phải cấp Giấy
chứng nhận đăng ký đầu tư hoặc thuộc diện phải quyết định chủ trương đầu tư theo
quy định của Luật này thì không phải thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng
ký đầu tư, quyết định chủ trương đầu tư. Trường hợp có nhu cầu cấp Giấy chứng
nhận đăng ký đầu tư,
nhà
đầu tư
thực hiện thủ tục theo quy định tại pháp luật. IV.
VỀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN 1.
Xây
dựng văn bản triển khai, hướng dẫn thi hành Luật Theo
Quyết định số 1725/QĐ-TTg ngày 08/10/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban
hành Danh mục và phân công cơ quan chủ trì soạn thảo các Nghị định về điều kiện
đầu tư kinh doanh, quy định Bộ
trưởng các Bộ được phân công chủ trì soạn thảo phải trực tiếp chỉ đạo, ưu tiên
tập trung bố trí đủ nhân lực và kinh phí cho việc nghiên cứu,
soạn thảo, chủ động phối hợp
với
các Bộ, cơ quan có liên quan trong xây dựng các Nghị định, bảo đảm chất lượng và
tiến độ trình Chính phủ,
cụ
thể gồm các văn bản sau: -
Nghị
định thay thế
Nghị định
số
72/2009/NĐ-CP ngày 03/9/2009 của Chính phủ quy định
về điều
kiện an ninh, trật tự đối với một số ngành nghề kinh doanh có điều
kiện -
Nghị
định về điều
kiện kinh doanh dịch vụ bảo đảm an toàn hàng hải -
Nghị
định sửa đổi,
bổsung
Nghị định số
25/2011/NĐ-CP ngày 06/4/2011 của Chính phủ quy định
chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Viễn thông -
Nghị định quy định chi tiết về kinh doanh trong lĩnh vực an toàn thông
tin -
Nghị
định sửa đổi,
bổsung
Nghị định số
56/2008/NĐ-CP của Chính phủ về tổ chức, hoạt động của
Ngân hàng mô và trung tâm điều phối quốc gia về ghép bộ phận cơ thể người -
Nghị định
quy định về cấp chứng chỉ hành nghề đối
với người hành nghề và giấy phép hoạt động đối
với cơ sở khám, chữa bệnh -
Nghị định quy định về điều kiện kinh doanh dược Bên
cạnh đó tiếp tục nghiên cứu, rà soát các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan
để xây dựng văn bản quy định chi tiết Luật Đầu tư năm 2014 bao gồm những nội
dung cơ bản: -
Xây dựng, quản lý và vận hành Hệ thống thông tin quốc gia về đầu
tư. -
Cấp, điều chỉnh và thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, Giấy chứng nhận đăng
ký đầu tư ra nước ngoài, quyết định chủ trương đầu tư, quyết định chủ trương đầu
tư ra nước ngoài theo quy định tại Luật này. -
Quản lý nhà nước về khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao và khu kinh
tế. -
Tổ chức và thực hiện hoạt động xúc tiến đầu tư. -
Kiểm tra, thanh tra và giám sát hoạt động đầu tư; quản lý và phối hợp quản lý
hoạt động đầu tư. -
Hướng dẫn, hỗ trợ, giải quyết vướng mắc, yêu cầu của nhà đầu tư trong thực hiện
hoạt động đầu tư; giải quyết khiếu nại, tố cáo, khen thưởng và xử lý vi phạm
trong hoạt động đầu tư. Bên
cạnh đó cần thực hiện việc ban hành, phổ biến và tổ chức thực hiện văn bản quy
phạm pháp luật về đầu tư; xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch,
kế hoạch, chính sách về đầu tư tại Việt Nam và đầu tư từ Việt Nam ra nước ngoài;
tổng hợp tình hình đầu tư, đánh giá tác động và hiệu quả kinh tế vĩ mô của hoạt
động đầu tư. 2,
Tổ chức các hoạt động tuyên truyền, phổ biến Luật -
Tổ chức tuyên truyền, phổ biến rộng rãi nội dung, tinh thần của Luật trên Báo,
Trang thông tin điện tử của và các phương tiện thông tin đại chúng khác bằng các
hình thức thích hợp. -
Lựa chọn vấn đề pháp luật cần tập trung tuyên truyền cho các đối
tượng: +
Đối với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền: tập trung tuyền truyền về trách
nhiệm của cơ quan nhà nước trong việc tạo môi trường đầu tư lành mạnh, tránh
nhiệm trong quản lý nhà nước về đầu tư đặc biệt là vấn đề cải cách thủ tục hành
chính trong lĩnh vực đầu tư nhằm giảm thiểu thời gian gia nhập thị trường của
nhà đầu tư. +
Đối với nhà đầu tư, doanh nghiệp: dự kiến tập trung tuyên truyền về biện pháp
bảo đảm, ưu đãi và hỗ trợ đầu tư để nhà đầu tư nắm được những quyền lợi cơ bản
của nhà đầu tư. Bên cạnh đó cũng tuyên truyền liên quan đến thủ tục đầu tư để
nhà đầu tư nắm bắt và thực hiện đúng theo hướng dẫn nhằm giảm thời giản thực
hiện thủ tục hành chính tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, qua đó nhà đầu tư
tiết kiệm được thời gian, công sức, tiền bạc, sớm triển khai được dự định đầu
tư. |
ĐƠN VỊ HỖ TRỢ
|
||||