|
|
KẾ TOÁN - THUẾ - DOANH NGHIỆP - LAO ĐỘNG |
|
|
|
|
HƯỚNG DẪN KẾ TOÁN CHUẨN
MỰC "THÔNG TIN VỀ CÁC BÊN LIÊN
QUAN" 1. Quy định
chung 1.1. Báo cáo tài chính (phần
thuyết minh báo cáo tài chính) phải trình bày mối quan hệ với các bên liên quan
và các giao dịch giữa doanh nghiệp với các bên liên quan. 1.2. Các trường hợp sau được
coi là các bên liên quan: a) Những doanh nghiệp có
quyền kiểm soát, hoặc bị kiểm soát trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua một hoặc
nhiều bên trung gian, hoặc dưới quyền bị kiểm soát chung với doanh nghiệp báo
cáo, gồm: - Công ty
mẹ; - Công ty con;
- Các công ty con cùng tập
đoàn; - Các bên liên
doanh; - Cơ sở kinh doanh được đồng
kiểm soát. b) Các công ty liên kết
c) Các cá nhân có quyền trực
tiếp hoặc gián tiếp biểu quyết ở các doanh nghiệp báo cáo dẫn đến có ảnh hưởng
đáng kể tới doanh nghiệp này, kể cả các thành viên mật thiết trong gia đình của
các cá nhân này. Thành viên mật thiết trong gia đình của một cá nhân là những
người có thể chi phối hoặc bị chi phối bởi người đó khi giao dịch với doanh
nghiệp như quan hệ: Bố, mẹ, vợ, chồng, con, anh, chị em
ruột. d) Các nhân viên quản lý chủ
chốt có quyền và trách nhiệm về việc lập kế hoạch, quản lý và kiểm soát các hoạt
động của doanh nghiệp báo cáo, gồm: Những người lãnh đạo, các nhân viên quản lý
của công ty và các thành viên mật thiết trong gia đình của các cá nhân
này; đ) Các doanh nghiệp do các
cá nhân được nêu ở điểm (c) hoặc (d) nắm trực tiếp hoặc gián tiếp quyền biểu
quyết hoặc người đó có thể có ảnh hưởng đáng kể tới doanh
nghiệp. Trong việc xem xét từng mối
quan hệ của các bên liên quan cần chú ý tới bản chất của mối quan hệ chứ không
phải chỉ hình thức pháp lý của các quan hệ đó. 1.3. Các trường hợp sau đây
không được coi là các bên liên quan: a) Hai công ty có chung Giám
đốc trong trường hợp người giám đốc đó là người làm thuê không có ảnh hưởng tới
chính sách của cả 2 công ty trong các giao dịch chung. b) Các tổ chức, cá nhân có
quan hệ thông thường với doanh nghiệp, như: - Tổ chức, cá nhân cung cấp
tài chính (như cho vay); - Tổ chức chính trị, đoàn
thể, xã hội; - Đơn vị phục vụ công
cộng; - Cơ quan quản lý nhà
nước. c) Khách hàng, nhà cung cấp,
nhà phân phối, hay đại lý nói chung mà doanh nghiệp tiến hành một khối lượng lớn
giao dịch mặc dù có thể có sự phụ thuộc về kinh tế. 1.4. Không phải trình bày
trong báo cáo tài chính hợp nhất đối với các giao dịch nội bộ của tập
đoàn. 1.5. Không phải trình bày
giao dịch với các bên liên quan trong báo cáo tài chính của công ty mẹ, khi báo
cáo này được lập và công bố cùng với báo cáo tài chính hợp
nhất. Trường hợp báo cáo tài chính
của công ty mẹ được lập và công bố không cùng với báo cáo tài chính hợp nhất thì
phải trình bày giao dịch với các bên liên quan trong báo cáo tài chính của công
ty mẹ. 1.6. Không phải trình bày
giao dịch với các bên liên quan trong báo cáo tài chính của công ty con do công
ty mẹ sở hữu toàn bộ nếu công ty mẹ cũng được thành lập ở Việt Nam và công bố
báo cáo tài chính hợp nhất tại Việt Nam. Trường hợp công ty mẹ không
sở hữu toàn bộ công ty con hoặc công ty mẹ được thành lập ở nước ngoài và không
công bố Báo cáo tài chính hợp nhất ở Việt Nam thì phải trình bày giao dịch với
các bên liên quan trong báo cáo tài chính của công ty con. 2. Hướng dẫn cụ thể thực
hiện Chuẩn mực "Thông tin về các bên liên quan" 2.1. Để xác định giá giao
dịch giữa các bên liên quan có thể sử dụng các phương pháp chủ yếu
sau: - Phương pháp giá không bị
kiểm soát có thể so sánh được; - Phương pháp giá bán
lại; - Phương pháp giá vốn cộng
lãi. a) Phương pháp giá không bị
kiểm soát có thể so sánh được, được xác định bằng cách so
sánh giá của hàng hóa bán ra trên thị trường có thể so sánh được về mặt kinh tế
mà người bán không có liên quan với người mua. Phương pháp này thường được
sử dụng trong trường hợp hàng hóa và dịch vụ cung cấp trong giao dịch giữa các
bên có liên quan và các điều kiện của việc mua bán tương tự như trong các giao
dịch thông thường. Phương pháp này còn thường được sử dụng để xác định giá phí
của các khoản tài trợ. b) Theo phương pháp giá bán
lại, giá
chuyển giao cho người bán lại được xác định bằng cách trừ vào giá bán lại một
khoản chênh lệch, phản ánh giá trị mà người bán muốn thu để bù vào chi phí của
mình đồng thời có lãi hợp lý. Ở đây có khó khăn trong việc xem xét để xác định
phần đền bù hợp lý cho các chi phí do người bán lại đã góp vào trong quá trình
này. Phương pháp này được sử dụng
trong trường hợp hàng hóa được chuyển giao giữa các bên liên quan trước khi được
bán cho một bên khác không liên quan. Phương pháp này cũng được sử dụng trong
việc chuyển giao các nguồn lực khác như quyền sở hữu và các dịch
vụ. c) Phương pháp giá vốn cộng
lãi được
xác định bằng cách cộng một khoản chênh lệch phù hợp vào chi phí của người cung
cấp. Sử dụng phương pháp này có khó khăn trong việc xác định cả hai yếu tố chi
phí và khoản chênh lệch. Một trong số các tiêu chuẩn so sánh có thể xác định giá
chuyển giao là dựa vào tỷ lệ lãi có thể so sánh được trên doanh thu hoặc trên
vốn kinh doanh của các ngành tương tự. 2.2. Báo cáo tài chính phải
trình bày một số mối quan hệ nhất định giữa các bên liên quan. Các quan hệ
thường được chú ý là giao dịch của những người lãnh đạo doanh nghiệp, đặc biệt
là khoản tiền lương và các khoản tiền vay của họ, do vai trò quan trọng của họ
đối với doanh nghiệp. Bên cạnh đó cần trình bày các giao dịch lớn có tính chất
liên công ty và số dư các khoản đầu tư lớn với tập đoàn, với các công ty liên
kết và với Ban Giám đốc. 2.3. Các giao dịch chủ yếu
giữa các bên liên quan cũng phải được trình bày trong thuyết minh báo cáo tài
chính của doanh nghiệp báo cáo trong năm mà các giao dịch đó có ảnh hưởng,
gồm: - Giá trị hàng tồn kho được
mua hoặc bán giữa các bên liên quan; - Giá trị tài sản cố định và
các tài sản khác được mua hoặc bán giữa các bên liên quan; - Giá trị dịch vụ được cung
cấp hoặc nhận giữa các bên liên quan; - Giá trị hàng bán đại lý
cung cấp giữa các bên liên quan; - Giao dịch thuê tài sản
giữa các bên liên quan; - Chuyển giao về nghiên cứu
và phát triển; - Thỏa thuận về giấy
phép; - Các khoản tài trợ (bao gồm
cho vay và góp vốn bằng tiền hoặc hiện vật); - Bảo lãnh và thế
chấp; - Các hợp đồng quản
lý. 2.4. Những mối quan hệ giữa
các bên liên quan có tồn tại sự kiểm soát đều phải được trình bày trong báo cáo
tài chính, bất kể là có các giao dịch giữa các bên liên quan hay
không. 2.5. Trường hợp có các giao
dịch giữa các bên liên quan thì doanh nghiệp báo cáo cần phải trình bày bản chất
các mối quan hệ của các bên liên quan cũng như các loại giao dịch và các yếu tố
của các giao dịch đó. Các yếu tố của các giao dịch
thường bao gồm: - Khối lượng các giao dịch
thể hiện bằng giá trị hoặc tỷ lệ phần trăm tương ứng; - Giá trị hoặc tỷ lệ phần
trăm tương ứng của các khoản mục chưa thanh toán; - Chính sách giá
cả. 2.6. Các khoản mục có cùng
bản chất có thể được trình bày gộp lại trừ trường hợp việc trình bày riêng biệt
là cần thiết để hiểu được ảnh hưởng của các giao dịch giữa các bên liên quan đối
với báo cáo tài chính của doanh nghiệp báo cáo. Ví dụ: Các loại nguyên vật liệu
dùng cho sản xuất sản phẩm có thể trình bày gộp thành một khoản mục là "Nguyên
vật liệu chính". 2.7. Trong các Báo cáo tài
chính hợp nhất của tập đoàn không cần thiết phải trình bày các giao dịch giữa
các thành viên vì báo cáo này đã nêu lên các thông tin về công ty mẹ và các công
ty con như là một doanh nghiệp báo cáo. Các giao dịch với các công ty liên kết
do được hạch toán theo phương pháp vốn chủ sở hữu không được loại trừ do đó cần
được trình bày riêng biệt như là các giao dịch với bên liên
quan. |
ĐƠN VỊ HỖ TRỢ
|