|
|
KẾ TOÁN - THUẾ - DOANH NGHIỆP - LAO ĐỘNG |
|
|
|
|
CHÍNH PHỦ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Số:
20/2017/NĐ-CP Hà Nội, ngày 24 tháng 02 năm 2017 QUY ĐỊNH VỀ QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP CÓ
GIAO DỊCH LIÊN KẾT Căn cứ Luật tổ chức Chính phủ ngày 19 tháng 6 năm
2015; Căn cứ Luật quản lý thuế ngày 29 tháng 11 năm 2006; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật quản lý thuế ngày 20 tháng 11 năm
2012; Căn cứ Luật thuế thu nhập doanh nghiệp ngày 03
tháng 6 năm 2008; Luật sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp ngày 19 tháng 6 năm 2013; Căn cứ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật
về thuế ngày 26 tháng 11 năm 2014; Căn cứ Luật đầu tư ngày 26 tháng 11 năm 2014; Căn cứ Luật doanh nghiệp ngày 26 tháng 11 năm 2014; Căn cứ Luật kế toán ngày 20 tháng 11 năm 2015; Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài chính; Chính phủ ban hành Nghị định quy định về quản lý
thuế đối với
doanh nghiệp có giao dịch liên kết. 1.
Nghị định này quy định nguyên tắc, phương pháp, trình tự, thủ tục xác định giá
giao dịch liên kết; nghĩa vụ của người
nộp thuế trong kê khai, xác định giá của giao dịch liên kết và kê khai nộp thuế;
trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong quản lý, kiểm tra, thanh tra thuế đối
với người nộp thuế có phát sinh giao dịch liên kết. 2.
Các giao dịch liên kết thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định này là các giao dịch
phát sinh trong hoạt động sản xuất kinh doanh của người nộp thuế có quan hệ
liên kết theo quy định tại Điều 5 Nghị định này, trừ các giao dịch kinh doanh đối với hàng hóa, dịch vụ thuộc phạm vi điều chỉnh
giá của Nhà nước được thực hiện theo quy định của pháp luật về giá. 1. Tổ
chức sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ (sau đây gọi chung là người nộp thuế)
là đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo phương pháp kê khai và có phát
sinh giao dịch với các bên có quan hệ liên kết theo quy định tại Điều 5 Nghị định
này. 2.
Cơ quan thuế bao gồm Tổng cục Thuế, Cục Thuế và Chi cục Thuế. 3.
Cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến việc áp dụng quy định
về quản lý giá của giao dịch liên kết, bao gồm cả Cơ quan thuế của quốc gia,
vùng lãnh thổ có Hiệp định thuế đang còn hiệu lực với Việt Nam. 1.
Người nộp thuế có giao dịch liên kết phải thực hiện kê khai các giao dịch liên
kết; loại trừ các yếu tố làm giảm nghĩa vụ thuế do quan hệ liên kết chi phối,
tác động để xác định nghĩa vụ thuế đối với các giao dịch liên kết tương đương với các giao dịch
độc lập có cùng điều kiện. 2.
Cơ quan thuế thực hiện quản lý, kiểm tra, thanh tra đối với giá giao dịch liên kết của người nộp
thuế theo nguyên tắc giao dịch độc lập và bản chất quyết định hình thức để
không công nhận các giao dịch liên kết làm giảm nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp
với ngân sách nhà nước và thực hiện điều chỉnh giá giao dịch liên kết để xác định
đúng nghĩa vụ thuế quy định tại Nghị định này. 3.
Nguyên tắc giao dịch độc lập được áp dụng theo nguyên tắc giao dịch giữa các
bên độc lập, không có quan hệ liên kết tại các Hiệp định thuế có hiệu lực thi hành
tại Việt Nam. 1.
“Hiệp định thuế” là thuật ngữ rút gọn của Hiệp định tránh đánh thuế hai lần và
ngăn ngừa việc trốn lậu thuế đối với các loại thuế đánh vào thu nhập ký kết giữa
Việt Nam và các quốc gia, vùng lãnh thổ và Hiệp định sửa đổi, bổ sung các Hiệp
định hiện có hiệu lực thi hành tại Việt Nam. 2.
“Cơ quan thuế đối tác” là Cơ quan thuế của nước, vùng lãnh thổ ký kết Hiệp định
thuế với Việt Nam. 3.
“Giao dịch liên kết” là giao dịch phát sinh giữa các bên có quan hệ liên kết
trong quá trình sản xuất, kinh doanh, bao gồm: Mua, bán, trao đổi, thuê, cho
thuê, mượn, cho mượn, chuyển giao, chuyển nhượng máy móc, thiết bị, hàng hóa,
cung cấp dịch vụ; vay, cho vay, dịch vụ tài chính, đảm bảo tài chính và các công cụ tài
chính khác; mua, bán, trao đổi, thuê, cho thuê, mượn, cho mượn, chuyển giao,
chuyển nhượng tài sản hữu hình, tài sản vô hình và thỏa thuận sử dụng chung nguồn
lực như hợp lực,
hợp tác khai thác sử dụng nhân lực; chia sẻ chi phí giữa các bên liên kết. 4.
“Giao dịch độc lập” là giao dịch giữa các bên không có quan hệ liên kết. 5.
“Đối tượng so sánh độc lập”
là các giao dịch độc lập hoặc doanh nghiệp thực hiện giao dịch độc lập được lựa chọn trên cơ sở phân tích so sánh, xác định đối
tượng so sánh tương đồng để xác định mức giá; tỷ suất lợi nhuận; tỷ lệ phân bổ lợi nhuận nhằm xác định
nghĩa vụ thuế phải nộp ngân sách nhà nước của người nộp thuế, đảm bảo đúng quy
định của Luật quản lý thuế và Luật thuế thu nhập doanh nghiệp. 6.
“Khác biệt trọng yếu” là khác biệt về thông tin hoặc dữ liệu có ảnh hưởng quan trọng hoặc đáng kể đến mức
giá; tỷ suất lợi nhuận và tỷ lệ phân bổ lợi nhuận của các bên tham gia giao dịch. 7.
“Cơ sở dữ liệu của Cơ quan thuế” là các thông tin, dữ liệu do Cơ quan thuế xây
dựng, quản lý theo quy định tại Luật quản lý thuế liên quan đến việc xác định
nghĩa vụ thuế của người nộp thuế do cơ quan thuế thu thập, phân tích, lưu giữ,
cập nhật và quản lý từ các nguồn khác nhau, bao gồm cả cơ sở dữ liệu và thông
tin trao đổi với các cơ quan quản lý thuế, cơ quan có thẩm quyền ở nước ngoài. 8.
Nguyên tắc “Bản chất quyết định hình thức” là nguyên tắc nhằm phân tích hoạt động
sản xuất kinh doanh của người nộp thuế để xác định bản chất của giao dịch liên
kết làm cơ sở đối chiếu với các giao dịch độc lập tương đương, đảm bảo các giao dịch liên kết thể
hiện đúng bản chất thương mại, kinh tế, tài chính được tiến hành giữa các bên
không có quan hệ liên kết, không để các quan hệ liên kết này chi phối làm sai lệch
nghĩa vụ thuế với ngân sách nhà nước của người nộp thuế. Nguyên tắc này căn cứ
dữ liệu, thực tế thực hiện giao dịch giữa các bên liên kết để so sánh với giao
dịch độc lập trong điều kiện tương đồng, không phụ thuộc hình thức của giao dịch được thể hiện trong hợp đồng, văn bản giữa các
bên có quan hệ liên kết. Việc xác định bản chất quan hệ kinh tế, tài chính,
thương mại của giao dịch liên kết được thực hiện dựa trên so sánh, đối chiếu với
các giao dịch độc lập có điều kiện tương đồng. 9.
“Khoảng giá trị giao dịch độc lập” là tập hợp các giá trị về mức giá; tỷ suất lợi
nhuận hoặc tỷ lệ phân bổ lợi nhuận của các đối tượng so sánh độc lập được Cơ
quan thuế và người nộp thuế lựa chọn trên cơ sở dữ liệu quy định tại Điều 9 Nghị
định này. Các giá trị thuộc tập hợp này có mức độ so sánh tin cậy tương đương
nhau. Trong trường hợp cần thiết, áp dụng phương pháp xác suất thống kê để xác định khoảng giá trị giao dịch độc lập
chuẩn và giá trị giữa mang tính chất đại diện, phổ quát, phổ biến nhằm tăng độ tin cậy của tập hợp các đối tượng so sánh độc
lập. 10.
“Công ty mẹ tối cao của tập đoàn” là thuật ngữ sử dụng để chỉ pháp nhân có vốn
chủ sở hữu trực tiếp hoặc gián tiếp tại các pháp nhân khác của một tập đoàn đa
quốc gia và không bị sở hữu bởi bất kỳ pháp nhân nào khác. Báo cáo tài chính hợp nhất của
Công ty mẹ tối cao
của tập đoàn không được hợp nhất vào bất kỳ báo cáo tài chính của một pháp nhân
nào khác trên toàn cầu. Điều 5. Các bên có quan hệ liên kết 1.
Các bên có quan hệ liên kết (sau đây viết tắt là “bên liên kết”) là các bên có
mối quan hệ thuộc một trong các trường hợp: a) Một
bên tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào việc điều hành, kiểm soát, góp vốn hoặc
đầu tư vào bên kia; b) Các
bên trực tiếp hay gián tiếp cùng chịu sự điều hành, kiểm soát, góp vốn hoặc đầu
tư của một bên khác. 2.
Các bên liên kết tại khoản 1 Điều này được quy định cụ thể như sau: a) Một
doanh nghiệp nắm giữ trực tiếp hoặc gián tiếp ít nhất 25% vốn góp của chủ sở hữu
của doanh nghiệp kia; b) Cả
hai doanh nghiệp đều có ít nhất 25% vốn góp của chủ sở hữu do một bên thứ ba nắm giữ trực tiếp hoặc gián tiếp; c) Một
doanh nghiệp là cổ đông lớn nhất về vốn góp của chủ sở hữu của doanh nghiệp
kia, nắm giữ trực tiếp hoặc gián tiếp ít nhất 10% tổng số cổ phần của doanh
nghiệp kia; d) Một
doanh nghiệp bảo lãnh hoặc cho một doanh nghiệp khác vay vốn dưới bất kỳ hình
thức nào (bao gồm cả các khoản vay từ bên thứ ba được đảm bảo từ nguồn tài chính của bên liên kết và các giao dịch tài
chính có bản chất tương tự) với điều kiện khoản vốn vay ít nhất bằng 25% vốn
góp của chủ sở hữu của doanh nghiệp đi vay và chiếm trên 50% tổng giá trị các
khoản nợ trung và dài hạn của doanh nghiệp đi vay; đ) Một
doanh nghiệp chỉ định thành viên ban lãnh đạo điều hành hoặc nắm quyền kiểm
soát của một doanh nghiệp khác với điều kiện số lượng các thành viên được doanh
nghiệp thứ nhất chỉ
định chiếm
trên 50% tổng số thành viên ban lãnh đạo điều hành hoặc nắm quyền
kiểm soát của doanh nghiệp thứ hai; hoặc một thành viên được doanh nghiệp thứ
nhất chỉ định có quyền quyết định các chính sách tài chính hoặc hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp thứ hai; e)
Hai doanh nghiệp cùng có trên 50% thành viên ban lãnh đạo hoặc cùng có một
thành viên ban lãnh đạo có quyền quyết định các chính sách tài chính hoặc hoạt
động kinh doanh được chỉ định bởi một bên thứ ba; g)
Hai doanh nghiệp được điều hành hoặc chịu sự kiểm soát về nhân sự, tài chính và
hoạt động kinh doanh bởi các cá nhân thuộc một trong các mối quan hệ vợ, chồng, cha đẻ, cha nuôi, mẹ đẻ, mẹ nuôi, con đẻ, con
nuôi, anh ruột, chị ruột, em ruột, anh rể, em rể, chị dâu, em dâu, ông nội, bà
nội, cháu nội, ông ngoại, bà ngoại, cháu ngoại, cô, chú, bác, cậu, dì ruột và
cháu ruột; h)
Hai cơ sở kinh doanh có mối quan hệ
trụ sở chính và cơ sở thường trú hoặc cùng là cơ sở thường trú của tổ chức, cá
nhân nước ngoài; i) Một
hoặc nhiều doanh nghiệp chịu sự kiểm soát của một cá nhân thông qua vốn góp của
cá nhân này vào doanh nghiệp đó hoặc trực tiếp tham gia điều hành doanh nghiệp; k)
Các trường hợp khác trong đó doanh nghiệp chịu sự điều hành, kiểm soát quyết định trên thực tế đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp kia. 1.
Nguyên tắc phân tích so sánh với các giao dịch độc lập và nguyên tắc bản chất
quyết định hình thức
để xác định bản chất giao dịch liên kết có tính chất tương đồng với các đối tượng
so sánh độc lập. a) Bản
chất giao dịch được đối chiếu giữa hợp đồng pháp lý hoặc văn bản, thỏa thuận
giao dịch của các bên liên kết với thực tiễn thực hiện của các bên. Trường hợp
người nộp thuế phát sinh giao dịch liên kết nhưng không có thỏa thuận bằng văn
bản hoặc thỏa thuận không phù hợp nguyên tắc giao dịch độc lập hoặc thực tế thực hiện không phù hợp
nguyên tắc giao dịch độc lập giữa các bên không có quan hệ liên kết, giao dịch
liên kết phải được xác định theo đúng bản chất kinh doanh giữa các bên độc lập,
cụ thể: Bên liên kết nhận doanh thu, lợi nhuận từ giao dịch liên kết với người
nộp thuế phải có quyền sở
hữu và kiểm soát rủi ro kinh doanh đối với các tài sản, hàng hóa, dịch vụ, nguồn
lực, quyền mang lại lợi ích kinh tế và các quyền tạo ra thu nhập từ cổ phần, cổ phiếu và các công cụ tài chính khác và người nộp thuế phát sinh chi phí từ giao dịch với bên liên kết phải
nhận được lợi ích, giá trị kinh tế trực tiếp hoặc góp phần tạo ra doanh thu,
giá trị gia tăng cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của người nộp thuế phù hợp nguyên tắc giao dịch độc lập; b) Bản
chất giao dịch được xác định bằng phương pháp thu thập thông tin, chứng cứ, dữ
liệu về giao dịch, rủi ro của các bên liên kết trong thực tiễn hoạt động sản xuất kinh doanh. 2.
Phân tích so sánh phải đảm bảo tính tương đồng giữa đối tượng so sánh độc lập
và giao dịch
liên kết, không có khác biệt ảnh hưởng trọng yếu đến mức giá; tỷ suất lợi nhuận hoặc tỷ lệ phân bổ
lợi nhuận giữa các bên. Trường hợp có khác biệt ảnh hưởng trọng yếu đến mức
giá; tỷ suất lợi
nhuận hoặc tỷ lệ phân bổ lợi
nhuận, phải phân tích, xác định và thực hiện điều chỉnh loại trừ khác biệt trọng
yếu theo các yếu tố so sánh quy định tại khoản 3 Điều này và phù hợp với từng
phương pháp xác định giá giao dịch liên kết theo quy định tại Điều 7 Nghị định
này. Phân
tích so sánh tìm kiếm các đối tượng so sánh độc lập tương đồng: a) Lựa
chọn đối tượng so sánh độc lập nội bộ là giao dịch giữa người nộp thuế với bên
không có quan hệ liên kết, đảm bảo tương đồng không có khác biệt ảnh hưởng trọng
yếu đến mức giá; tỷ suất lợi nhuận hoặc tỷ lệ phân bổ lợi nhuận giữa các bên. Trường hợp không có đối tượng
so sánh độc lập nội bộ tương đồng, thực hiện lựa chọn đối tượng so sánh theo điểm
b và c khoản 3 Điều 9 Nghị định này. Việc so sánh giữa giao dịch liên kết và
giao dịch độc lập được thực hiện trên cơ sở từng giao dịch đối với từng sản phẩm
tương đồng. Trường hợp không thể so sánh giao dịch theo sản phẩm, việc gộp
chung các giao dịch phải đảm bảo phù hợp bản chất, thực tiễn kinh doanh và việc áp dụng phương
pháp xác định giá của giao dịch liên kết được thực hiện theo quy định tại Điều
7 Nghị định này; b) Dữ
liệu tài chính của các đối tượng so sánh phải đảm bảo độ tin cậy để sử dụng cho
mục đích kê khai, tính thuế, phù hợp với các quy định về kế toán, thống kê và
thuế. Thời điểm phát sinh giao dịch của các đối tượng so sánh độc lập phải cùng
thời điểm phát sinh với giao dịch liên kết hoặc có năm tài chính cùng với năm
tài chính của người nộp thuế, trừ trường hợp đặc thù cần thiết mở rộng thời gian so sánh theo quy định tại điểm d khoản
này. Định dạng dữ liệu phải đảm bảo có thể so sánh, tính toán được các mức giá tại thời điểm giao dịch hoặc trong cùng kỳ tính
thuế; dữ liệu so sánh về tỷ suất lợi nhuận hoặc tỷ lệ phân bổ lợi nhuận phải đảm bảo ít nhất là ba kỳ tính thuế liên tục. Đối với các giá trị tỷ suất, tỷ lệ tương
đối, người nộp thuế làm tròn số đến chữ số thứ hai sau dấu thập phân. Trường hợp số tương đối
được lấy từ các số liệu công bố không có số tuyệt đối đi kèm và không sử dụng
nguyên tắc làm tròn này thì lấy theo số liệu đã công bố có trích dẫn nguồn; c) Số
lượng tối thiểu đối tượng so
sánh độc lập được chọn sau khi phân tích so sánh và điều chỉnh khác biệt trọng
yếu được lựa chọn như sau: Một đối tượng trong trường hợp giao dịch liên kết hoặc
người nộp thuế thực hiện giao dịch liên kết và đối tượng so sánh độc lập không
có khác biệt; ba đối tượng trong trường hợp đối tượng so sánh độc lập có khác
biệt nhưng có đủ thông tin, dữ liệu làm cơ sở để loại trừ tất cả các khác biệt
trọng yếu và năm đối tượng trở lên trong trường hợp chỉ có thông tin, dữ liệu
làm cơ sở để loại trừ hầu hết
các khác biệt trọng yếu của đối tượng so sánh độc lập; Trong
trường hợp các đối tượng so sánh được lựa chọn không có độ tin cậy tương đương
nhau, thực hiện áp dụng phương pháp xác suất thống kê để xác định khoảng giá trị
giao dịch độc lập chuẩn và lựa chọn giá trị giữa của tập hợp để
điều chỉnh, xác định lại mức
giá, tỷ suất lợi nhuận hoặc tỷ lệ phân bổ lợi nhuận của người nộp thuế theo các
phương pháp xác định giá giao dịch liên kết quy định tại Điều 7 Nghị định này; Trường
hợp mở rộng phạm vi
phân tích lựa chọn đối tượng so sánh độc lập tại các thị trường địa lý khác, phải
phân tích tính tương đồng và các khác biệt trọng yếu định tính và định lượng
theo quy định tại
điểm e khoản này và khoản 2 Điều 7 Nghị định này; hoặc sử dụng số
liệu, dữ liệu của các đối tượng so sánh độc lập trong niên độ trước và thực hiện
điều chỉnh các khác biệt trọng yếu do yếu tố thời gian (nếu có). Thời
gian mở rộng thu thập số liệu, dữ liệu của đối tượng so sánh độc lập không quá
một năm tài chính so với năm tài chính của người nộp thuế nếu sử
dụng phương pháp xác định giá quy định tại khoản 2 Điều 7 Nghị định này. đ)
Căn cứ phương pháp xác định giá và các đối tượng so sánh độc lập được lựa chọn,
thực hiện điều chỉnh mức giá; tỷ suất lợi nhuận hoặc tỷ lệ phân bổ lợi nhuận của người nộp thuế để xác
định nghĩa vụ thuế thu
nhập doanh nghiệp của người nộp thuế không làm giảm nghĩa vụ thuế phải nộp ngân sách nhà nước. 3. Phân
tích so sánh áp dụng phương pháp đối chiếu, rà soát, điều chỉnh khác biệt trọng
yếu đối với các yếu tố so sánh để lựa chọn các đối tượng so sánh độc lập. a) Yếu
tố so sánh gồm đặc tính sản phẩm của hàng hóa, dịch vụ, tài sản (sau đây viết tắt
là đặc tính sản phẩm); chức năng hoạt động và tài sản, rủi ro sản xuất kinh
doanh; điều kiện hợp đồng và điều kiện kinh tế khi phát sinh giao dịch; b)
Phân tích chức năng hoạt động và tài sản, rủi ro sản xuất kinh doanh, phải xác
định được các chức năng
chính gắn với
việc sử dụng các loại tài sản, vốn, chi phí, bao gồm việc hợp tác khai thác sử
dụng nhân lực, chia sẻ chi phí giữa các bên liên kết và rủi ro từ việc đầu tư
tài sản, vốn, cũng như các rủi ro gắn với khả năng thu lợi nhuận liên quan đến giao dịch
kinh doanh. Phân tích chức năng là căn cứ để xác định, phân bổ lại rủi ro sản xuất kinh doanh thực tế của các bên
liên kết; c)
Phân tích các yếu tố so sánh đặc thù của tài sản vô hình, phải rà soát phân
tích các quyền
mang lại lợi ích kinh tế quy định tại hợp đồng,
thỏa thuận và các mối quan hệ phi hợp đồng mang lại lợi ích kinh tế cho các
bên. Phân tích tài sản vô hình phải căn cứ quyền sở hữu tài sản; lợi nhuận tiềm năng từ tài sản vô hình; các hạn chế về phạm vi địa
lý trong việc sử dụng, khai thác quyền đối với tài sản vô hình; vòng đời của tài sản vô hình;
các quyền và mối quan hệ mang lại lợi ích kinh tế; việc người được nhượng quyền
có tham gia phát triển tài sản vô hình và chức năng hoạt động, khả năng kiểm soát rủi ro kinh doanh trên thực tế của từng bên
liên kết liên quan đến toàn bộ quá trình phát triển, gia tăng, duy trì, bảo vệ
và khai thác tài sản vô hình; d)
Phân tích điều kiện kinh tế khi phát sinh giao dịch phải bao gồm lợi thế chi phí dựa trên yếu tố vị
trí địa lý, chức năng chuyên môn hóa; trình độ phát triển của thị trường và các
điều kiện kinh tế của ngành, lĩnh vực kinh doanh của người nộp thuế; đ)
Phân tích so sánh, loại trừ các khác biệt trọng yếu là phân tích loại trừ khác
biệt về mặt định tính và định lượng đối với thông tin hoặc số liệu tài chính có
ảnh hưởng trọng yếu đến yếu tố làm căn cứ xác định giá giao dịch liên kết theo
từng phương pháp xác định giá quy định tại Điều 7 Nghị định này. Việc xác định
khác biệt trọng yếu được căn cứ định lượng và định tính, bao gồm: Khác biệt định
lượng là khác biệt xác định bằng số tuyệt đối về chu kỳ kinh doanh, số năm
thành lập, hoạt động của doanh nghiệp hoặc số tương đối như khác biệt về chỉ
tiêu tài chính theo đặc thù ngành nghề đầu tư hoặc chức năng hoạt động, khác biệt
về vốn lưu động;
khác biệt định tính là các thông tin được xác định căn cứ vào từng phương pháp
xác định giá. Các
thông tin được xác định là trọng yếu bao gồm: Khác biệt về đặc tính sản phẩm,
điều kiện hợp đồng, chức năng, tài sản và rủi ro và ngành nghề kinh doanh, điều
kiện kinh tế của người nộp thuế và các đối tượng so sánh độc lập; các khác biệt
về chính sách, môi trường đầu tư, tác động của chi phí đầu vào sản xuất kinh
doanh tại các thị trường địa lý khác nhau. Các khác biệt định lượng và định tính phải được rà soát,
điều chỉnh tương ứng với các yếu tố so sánh có ảnh hưởng trọng yếu đến phương
pháp xác định giá giao dịch liên kết quy định tại Điều 7 Nghị định này. e) Kết quả phân tích là căn cứ lựa chọn đối tượng so sánh
độc lập phù hợp với từng phương pháp xác định giá giao dịch liên kết quy định
tại Điều 7 Nghị định này. 4. Quy trình phân tích so sánh bao gồm các bước: a) Xác định bản chất của giao dịch liên kết trước khi tiến
hành phân tích tính tương đồng với các đối tượng so sánh độc lập; b) Phân tích so sánh, tìm kiếm, lựa chọn các đối tượng so
sánh độc lập tương đồng trên cơ sở xác định thời gian so sánh, đặc tính sản
phẩm, điều kiện hợp đồng; phân tích ngành, thị trường, điều kiện kinh tế khi
phát sinh giao dịch; phân tích giao dịch liên kết và người nộp thuế thực hiện giao dịch liên
kết; nguồn cơ sở dữ liệu; phương pháp xác định giá giao dịch liên kết và điều
chỉnh các khác biệt trọng yếu (nếu có); c) Xác định mức giá, tỷ suất lợi nhuận hoặc tỷ lệ phân bổ lợi nhuận căn cứ kết quả phân
tích các đối tượng so sánh độc lập để làm cơ sở so sánh, áp dụng xác định nghĩa
vụ thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp của người nộp thuế, không làm giảm nghĩa
vụ thuế phải nộp ngân sách nhà nước. Phương pháp tính toán phải được áp dụng
thống nhất trong chu kỳ, giai đoạn sản xuất kinh doanh phù hợp chức năng, mô
hình kinh doanh theo quy định tại Điều 7 Nghị định này. Điều 7.
Các phương pháp so sánh xác định giá của giao dịch liên
kết Phương pháp so sánh xác định giá của giao dịch
liên kết (viết tắt là phương pháp xác định giá giao dịch liên
kết) được áp dụng phù hợp nguyên tắc giao dịch độc lập, bản chất giao dịch và
chức năng của người nộp thuế trên cơ sở tính toán, áp dụng thống nhất trong toàn
bộ chu kỳ, giai đoạn sản xuất kinh doanh; căn cứ dữ liệu tài chính của các đối
tượng so sánh độc lập được lựa chọn theo các nguyên tắc phân tích so sánh quy
định tại Điều 6 Nghị định này. Phương pháp xác định giá giao dịch liên kết được
lựa chọn trong các phương pháp quy định dưới đây, căn cứ vào đặc điểm của giao
dịch liên kết, tính sẵn có của thông tin dữ liệu và bản chất của phương pháp xác
định giá. Các phương pháp xác định giá giao dịch liên kết được quy
định như sau: 1. Phương pháp so sánh giá giao dịch liên kết với giá giao
dịch độc lập (sau đây viết tắt là phương pháp so sánh giá giao dịch độc
lập): a) Các trường hợp áp dụng phương pháp so sánh giá giao dịch
độc lập, bao gồm: Người nộp thuế thực hiện giao dịch liên kết đối với từng chủng
loại hàng hóa, tài sản hữu hình, loại hình dịch vụ có điều kiện giao dịch, lưu
thông phổ biến trên thị trường hoặc có giá được công bố trên các sàn giao dịch
hàng hóa, dịch vụ trong nước và quốc tế; giao dịch thanh toán phí bản quyền khi
khai thác tài sản vô hình; thanh toán lãi vay trong hoạt động vay và cho vay;
hoặc người nộp thuế thực hiện cả giao dịch độc lập và giao dịch liên kết đối với sản phẩm tương đồng về đặc tính sản phẩm và điều kiện
hợp đồng; b) Phương pháp so sánh giá giao dịch độc lập được thực hiện
trên nguyên tắc không có khác biệt về đặc tính sản phẩm và điều kiện hợp
đồng khi so sánh giá giao dịch độc lập và giá giao dịch liên
kết có ảnh hưởng trọng yếu đến giá sản phẩm. Trường hợp có các khác biệt ảnh
hưởng trọng yếu đến giá sản phẩm, phải loại trừ các khác biệt trọng yếu
này. Các yếu tố đặc tính sản phẩm và điều kiện hợp đồng có tác
động trọng yếu đến giá sản phẩm, bao gồm: Đặc tính, chất lượng, thương hiệu,
nhãn hiệu thương mại của sản phẩm và quy mô, khối lượng giao dịch; các điều kiện
hợp đồng cung cấp, chuyển giao sản phẩm: Khối lượng, thời hạn
chuyển giao, thời hạn thanh toán và các điều kiện khác của hợp đồng; quyền phân
phối, tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ, tài sản có ảnh hưởng đến giá trị kinh tế và thị
trường nơi diễn ra giao dịch và các yếu tố khác tác động đến giá sản phẩm là
điều kiện kinh tế và chức năng hoạt động của người nộp thuế. c) Phương pháp xác định: Giá sản phẩm trong giao dịch liên
kết được điều chỉnh theo giá sản phẩm trong giao dịch độc lập hoặc giá trị
giữa khoảng giá giao dịch độc lập chuẩn của các đối tượng so sánh độc lập theo
quy định tại Nghị định này. Trường hợp giá sản phẩm được công bố trên các sàn giao
dịch hàng hóa, dịch vụ trong nước và quốc tế, giá sản phẩm
trong giao dịch liên kết được xác định theo giá sản phẩm được công bố có thời
điểm và các điều kiện giao dịch tương đồng. Người nộp thuế mua máy móc, thiết bị từ bên liên kết ở nước
ngoài phải có tài liệu, chứng từ chứng minh giá mua máy móc, thiết bị tuân theo
nguyên tắc giao dịch độc lập tại thời điểm mua: Đối với máy móc, thiết bị mới,
giá so sánh là giá hóa đơn bên liên kết mua máy móc, thiết bị đó từ bên độc lập;
đối với máy móc, thiết bị đã qua sử dụng, phải có hóa đơn, chứng từ gốc tại thời
điểm mua, khi đó giá trị tài sản được xác định lại theo quy định hiện hành của
pháp luật về hướng dẫn quản lý, sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định. d) Kết quả xác định giá giao dịch liên kết là giá tính thuế
để kê khai, xác định số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp, nhưng không làm
giảm nghĩa vụ thuế phải nộp ngân sách nhà nước của người nộp thuế. 2. Phương pháp so sánh tỷ suất lợi nhuận của người nộp thuế
với tỷ suất lợi nhuận của các đối tượng so sánh độc lập: a) Các trường hợp áp dụng phương pháp so sánh tỷ suất lợi
nhuận của người nộp thuế với tỷ suất lợi nhuận của các đối tượng so sánh độc lập, bao gồm: Người nộp thuế không có cơ sở dữ liệu và thông tin để áp dụng
phương pháp so sánh giá giao dịch độc lập quy định tại khoản 1 Điều này hoặc
người nộp thuế không thể so sánh giao dịch theo sản phẩm trên cơ sở từng giao dịch đối với từng sản phẩm tương đồng, việc gộp
chung các giao dịch được tiến hành nhằm đảm bảo phù hợp bản chất, thực tiễn kinh
doanh và lựa chọn được tỷ suất lợi nhuận của các đối tượng so sánh độc lập phù hợp
hoặc người nộp thuế không thực hiện chức năng tự chủ đối với toàn bộ chuỗi hoạt động sản xuất, kinh doanh hoặc không tham gia thực
hiện các giao dịch liên kết tổng hợp, đặc thù theo quy định tại khoản 3 Điều
này; b) Nguyên tắc áp dụng: Phương pháp so sánh tỷ suất lợi
nhuận được áp dụng trên nguyên tắc không có khác biệt về chức năng hoạt động,
tài sản, rủi ro; điều kiện kinh tế và phương pháp hạch toán kế toán khi so sánh
giữa người nộp thuế và đối tượng so sánh độc lập có ảnh hưởng trọng yếu đến tỷ
suất lợi nhuận. Trường hợp có các khác biệt ảnh hưởng trọng yếu đến tỷ suất lợi
nhuận, khi đó phải loại trừ các khác biệt trọng yếu này. Các yếu tố chức năng, tài sản, rủi ro kinh doanh và điều kiện kinh tế
có tác động trọng yếu đến tỷ suất lợi nhuận, bao gồm: Các yếu tố về tài sản,
vốn, chi phí; quyền kiểm soát, quyền quyết định trên thực tế phục vụ cho việc
thực hiện chức năng chính của người nộp thuế; tính chất ngành nghề hoạt động
kinh doanh và thị trường sản xuất, tiêu thụ sản phẩm; phương pháp hạch toán kế
toán và cơ cấu chi phí của sản phẩm; điều kiện kinh tế diễn ra giao dịch. Các yếu tố tác động khác được xác định căn cứ thực tiễn
thực hiện giữa các bên liên kết, bao gồm các quan hệ thương mại hoặc tài chính của tập đoàn đa quốc gia; hỗ
trợ kỹ thuật; chia sẻ bí quyết kinh doanh; sử dụng nhân sự biệt phái hoặc kiêm
nhiệm và các điều kiện kinh tế của ngành, lĩnh vực kinh doanh của người nộp
thuế. Các yếu tố so sánh khác là đặc tính sản phẩm và điều kiện hợp đồng. Người nộp thuế thực hiện kinh doanh với chức năng đơn giản,
không có chức năng quyết định chiến lược và phát sinh giao dịch tạo giá trị gia
tăng thấp, bao gồm các doanh nghiệp thực hiện hoạt động sản xuất hoặc phân phối
không chịu rủi ro hàng tồn kho, rủi ro thị trường và không phát sinh doanh thu,
chi phí từ hoạt động khai thác tài sản vô hình thì không gánh chịu lỗ phát sinh trong hoạt động sản xuất kinh
doanh từ các rủi ro này; c) Phương pháp xác định: Phương pháp so sánh tỷ suất lợi
nhuận sử dụng tỷ suất lợi nhuận gộp hoặc tỷ suất lợi nhuận thuần của các đối tượng so sánh độc lập được chọn để xác định tỷ suất lợi nhuận gộp hoặc tỷ suất lợi nhuận thuần tương ứng của người nộp thuế. Việc lựa chọn
tỷ suất lợi nhuận bao gồm tỷ suất lợi nhuận gộp và tỷ suất lợi nhuận thuần tính
trên doanh thu, chi phí hoặc tài sản phụ thuộc vào bản chất và điều kiện kinh tế
của giao dịch; chức năng của người nộp thuế và phương pháp hạch toán kế toán của các bên. Cơ sở
xác định tỷ suất lợi nhuận bao gồm doanh thu, chi phí hoặc tài sản là số liệu kế toán của người nộp thuế không do các bên liên kết kiểm soát, quyết định giá giao dịch liên kết. - Phương pháp so sánh tỷ suất lợi nhuận gộp trên doanh thu
(phương pháp giá bán lại): Giá mua vào của hàng hóa, dịch vụ, tài sản (giá vốn) từ bên
liên kết bằng (=) giá bán ra (doanh thu thuần) của hàng hóa, dịch vụ,
tài sản bán lại cho bên độc lập trừ (-) lợi nhuận gộp trên giá bán ra (doanh thu
thuần) của người nộp thuế trừ (-) một số chi phí khác bao gồm trong giá mua:
Thuế nhập khẩu; lệ phí hải quan; chi phí bảo hiểm, vận chuyển
quốc tế (nếu có). Lợi nhuận gộp trên giá bán ra (doanh thu thuần) của người
nộp thuế được xác định từ các đối tượng so sánh độc lập bằng (=) giá bán ra
(doanh thu thuần) của người nộp thuế nhân (x) tỷ suất lợi nhuận gộp trên giá bán
ra (doanh thu thuần) của các đối tượng so sánh độc lập được lựa chọn. Tỷ suất lợi nhuận gộp trên giá bán ra (doanh thu thuần) của
các đối tượng so sánh độc lập được lựa chọn là giá trị giữa thuộc
khoảng giao dịch độc lập chuẩn của tỷ suất lại nhuận gộp trên giá bán ra (doanh
thu thuần) của các đối tượng so sánh độc lập được lựa chọn để điều chỉnh phù hợp
với các nguyên tắc quy định tại Nghị định này. Giá mua vào từ bên liên kết (hoặc giá vốn) được điều chỉnh
theo đối tượng so sánh độc lập là giá tính thuế, kê khai chi phí, xác định nghĩa vụ
thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp của người nộp thuế. - Phương pháp so sánh tỷ suất lợi nhuận gộp trên giá vốn
(phương pháp giá vốn cộng lãi): Giá bán ra hoặc doanh thu thuần của hàng hóa, dịch vụ, tài
sản bán cho bên liên kết được xác định bằng (=) giá vốn của hàng hóa, dịch vụ,
tài sản mua vào từ bên độc lập cộng (+) lợi nhuận gộp trên giá vốn của người nộp
thuế. Lợi nhuận gộp trên giá vốn của người nộp thuế được xác định
từ các đối tượng so sánh độc lập bằng (=) giá vốn của người nộp thuế nhân (x) tỷ
suất lợi nhuận gộp trên giá vốn của các đối tượng so sánh độc lập được lựa
chọn. Tỷ suất lợi nhuận gộp trên giá vốn của các đối tượng so
sánh độc lập được lựa chọn là giá trị giữa thuộc khoảng giao dịch độc lập chuẩn
của tỷ suất lợi nhuận gộp trên giá vốn của các đối tượng so sánh độc lập được
lựa chọn để điều chỉnh phù hợp với các nguyên tắc quy định tại Nghị
định này. Giá bán ra cho bên liên kết (hoặc doanh thu thuần) được
điều chỉnh theo đối tượng so sánh độc lập là giá tính thuế, kê khai chi phí, xác định nghĩa
vụ thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp của người nộp
thuế. - Phương pháp so sánh tỷ suất lợi nhuận thuần: Tỷ suất lợi nhuận thuần chưa trừ chi phí lãi vay và thuế
thu nhập doanh nghiệp trên doanh thu, chi phí hoặc tài sản của người nộp thuế
thực hiện giao dịch liên kết được điều chỉnh theo tỷ suất lợi nhuận
thuần chưa trừ chi phí lãi vay trên doanh thu, chi phí hoặc tài
sản của các đối tượng so sánh độc lập được chọn, trên cơ sở đó điều chỉnh, xác
định nghĩa vụ thuế của người nộp thuế. Lợi nhuận thuần không bao gồm chênh lệch doanh thu và chi
phí của hoạt động tài chính. Tỷ suất lợi nhuận thuần được lựa chọn là giá trị giữa thuộc
khoảng giao dịch độc lập chuẩn của tỷ suất lợi nhuận thuần của các đối tượng so sánh độc lập được chọn để điều chỉnh, xác định
thu nhập chịu thuế và nghĩa vụ thuế phải nộp của người nộp thuế phù hợp với các nguyên
tắc quy định tại Nghị định này. Các chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận thuần chưa trừ lãi vay và
thuế thu nhập doanh nghiệp được xác định theo quy định của pháp luật về kế toán, quản lý thuế và thuế thu nhập doanh
nghiệp. 3. Phương pháp phân bổ lợi nhuận giữa các bên liên kết: a) Các trường hợp áp dụng phương pháp phân bổ lợi nhuận của
các bên liên kết, bao gồm: Người nộp thuế tham gia thực hiện giao dịch liên kết
tổng hợp, đặc thù, duy nhất, khép kín trong tập đoàn, các hoạt động phát triển sản
phẩm mới, sử dụng công nghệ độc quyền, tham gia vào chuỗi giá trị giao dịch độc
quyền của tập đoàn hoặc quá trình phát triển, gia tăng, duy trì, bảo vệ và khai
thác tài sản vô hình độc quyền, không có căn cứ để xác định giá giữa các bên
liên kết hoặc các giao dịch có liên quan chặt chẽ, thực hiện đồng thời, các giao
dịch tài chính phức tạp liên quan đến nhiều thị trường tài chính trên thế giới;
hoặc người nộp thuế tham gia các giao dịch liên kết kinh tế số, không có
căn cứ để xác định giá giữa các bên liên kết hoặc tham gia
việc tạo giá trị tăng thêm thu được từ hợp lực trong tập đoàn hoặc người nộp
thuế thực hiện chức năng tự chủ đối với toàn bộ quá trình sản xuất, kinh doanh và không phải
đối tượng áp dụng theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều
này; b) Nguyên tắc áp dụng: Phương pháp phân bổ lợi nhuận là
phương pháp phân bổ tổng lại nhuận của giao dịch liên kết để xác định lợi nhuận
của người nộp thuế. Phương pháp phân bổ lợi nhuận được áp dụng đối với: Tổng
lợi nhuận thực tế và lợi nhuận tiềm năng của các giao dịch liên kết quy định tại
điểm a khoản này được xác định bằng các số liệu tài chính trên cơ sở các chứng
từ hợp lý, hợp lệ; giá trị và lợi nhuận của giao dịch liên kết phải được xác
định theo cùng phương pháp kế toán trong toàn bộ thời gian áp dụng phương pháp
phân bổ lợi nhuận; c) Phương pháp xác định: Lợi nhuận được điều chỉnh của
người nộp thuế được phân bổ trên tổng lợi nhuận của giao dịch liên kết, bao gồm lợi nhuận thực tế
và lợi nhuận tiềm năng của các bên tham gia giao dịch liên kết có thể thu
được. Lợi nhuận được điều chỉnh của người nộp thuế là tổng lợi
nhuận cơ bản và lợi nhuận phụ trội. Lợi nhuận cơ bản xác định theo phương pháp
so sánh lợi nhuận quy định tại khoản 2 Điều này. Lợi nhuận phụ trội xác định
theo tỷ lệ phân bổ dựa trên một hoặc một số yếu tố như doanh thu, chi phí, tài
sản hoặc nhân lực của các bên liên kết tham gia giao dịch và phù hợp nguyên
tắc giao dịch độc lập. Trường hợp không đủ thông tin, dữ liệu để phân bổ lợi nhuận
được điều chỉnh theo quy định trên, việc phân bổ có thể dựa trên một hoặc một số
yếu tố như doanh thu, chi phí, tài sản hoặc nhân lực của các bên liên kết tham gia giao dịch và phù hợp
nguyên tắc giao dịch độc lập. d) Lợi nhuận được điều chỉnh của người nộp thuế là căn cứ
xác định thu nhập chịu thuế và số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp, nhưng
không làm giảm nghĩa vụ nộp ngân sách nhà nước của người nộp thuế. 1. Giao dịch liên kết không phù hợp bản chất giao dịch độc
lập hoặc không góp phần tạo ra doanh thu, thu nhập cho hoạt động sản xuất, kinh
doanh của người nộp thuế không được trừ vào chi phí tính thuế trong kỳ, bao
gồm: a) Chi phí thanh toán cho bên liên kết không thực hiện bất kỳ hoạt động sản xuất, kinh
doanh nào liên quan đến ngành nghề, hoạt động sản xuất, kinh doanh của người nộp
thuế; b) Chi phí thanh toán cho bên liên kết có hoạt động sản
xuất, kinh doanh nhưng quy mô tài sản, số lượng nhân viên và chức năng sản xuất,
kinh doanh không tương xứng với giá trị giao dịch mà bên liên kết nhận được từ
người nộp thuế; c) Chi phí thanh toán cho bên liên kết không có quyền lợi,
trách nhiệm liên quan đối với tài sản, hàng hóa, dịch vụ cung cấp cho người nộp
thuế; d) Chi phí thanh toán cho bên liên kết là đối tượng cư trú
của một nước hoặc vùng lãnh thổ không thu thuế thu nhập doanh nghiệp, không góp phần tạo ra doanh thu, giá trị gia tăng cho hoạt động sản
xuất, kinh doanh của người nộp thuế. 2. Giao dịch cung cấp dịch vụ giữa các bên liên kết: a) Trừ các khoản chi quy định tại điểm b khoản này, người
nộp thuế được trừ các khoản chi phí dịch vụ vào chi phí tính thuế trong kỳ nếu
đáp ứng đủ các điều kiện như sau: Dịch vụ được cung cấp có giá trị thương mại,
tài chính, kinh tế và phục vụ trực tiếp cho hoạt động sản xuất kinh doanh của
người nộp thuế; dịch vụ từ các bên liên kết chỉ được xác định đã cung cấp trong
điều kiện hoàn cảnh tương tự các bên độc lập chi trả cho các dịch vụ này; phí
dịch vụ được thanh toán trên cơ sở nguyên tắc giao dịch độc lập và phương pháp tính giá giao dịch liên kết hoặc phân bổ
mức phí dịch vụ giữa các bên liên kết phải được áp dụng thống nhất trong toàn tập đoàn đối với loại hình dịch vụ tương tự và người nộp thuế phải
cung cấp hợp đồng, chứng từ, hóa đơn và thông tin về phương pháp tính, yếu tố
phân bổ và chính sách giá của tập đoàn đối với dịch vụ được cung cấp. Trường hợp liên quan đến các trung tâm thực hiện chức năng
chuyên môn hóa và hợp lực tạo giá trị tăng thêm của tập đoàn, người nộp
thuế phải xác định tổng giá trị tạo ra từ các chức năng này,
xác định mức phân bổ lợi nhuận phù hợp với giá trị đóng góp của các bên liên
kết sau khi đã trừ (-) mức phí dịch vụ tương ứng cho bên liên kết thực hiện chức
năng điều phối, cung cấp dịch vụ của giao dịch độc lập có tính chất
tương đồng. b) Chi phí dịch vụ không được trừ khi xác định thu nhập
chịu thuế bao gồm: Chi phí phát sinh từ các dịch vụ được cung cấp chỉ nhằm mục
đích phục vụ lợi ích hoặc tạo giá trị cho các bên liên kết khác; dịch vụ phục vụ
lợi ích cổ đông của bên liên kết; dịch vụ tính phí trùng lắp do nhiều
bên liên kết cung cấp cho cùng một loại dịch vụ, không xác định được giá trị gia
tăng cho người nộp thuế; dịch vụ về bản chất là các lợi ích người nộp thuế nhận
được do là thành viên của một tập đoàn và chi phí mà bên liên kết cộng thêm đối
với dịch vụ do bên thứ ba cung cấp thông qua trung gian bên liên kết không đóng
góp thêm giá trị cho dịch vụ. 3. Tổng chi phí lãi vay phát sinh trong kỳ của người nộp
thuế được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh
nghiệp không vượt quá 20% của tổng lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh cộng
với chi phí lãi vay, chi phí khấu hao trong kỳ của người nộp thuế. Quy định này không áp dụng với người nộp thuế là đối tượng
áp dụng của Luật các tổ chức tín dụng và Luật kinh doanh bảo hiểm. Người nộp thuế kê khai tỷ lệ chi phí lãi vay trong kỳ tính
thuế theo Mẫu số 01 tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này. Điều 9. Cơ
sở dữ liệu sử dụng trong kê khai, xác định, quản lý giá giao dịch liên
kết 1. Cơ sở dữ liệu sử dụng trong kê khai, xác định giá giao
dịch liên kết của người nộp thuế, bao gồm: a) Cơ sở dữ liệu do các tổ chức kinh doanh thông tin cung
cấp, bao gồm thông tin tài chính và dữ liệu của doanh nghiệp do các tổ chức này
thu thập từ các nguồn thông tin công khai và lưu giữ, cập nhật, quản lý sử dụng
(sau đây gọi là cơ sở dữ liệu thương mại); b) Thông tin dữ liệu của các doanh nghiệp được công bố công
khai trên thị trường chứng khoán; c) Thông tin, dữ liệu công bố trên các sàn giao dịch hàng
hóa, dịch vụ trong nước và quốc tế; d) Thông tin do các cơ quan bộ, ngành trong nước công bố
công khai hoặc các nguồn chính thức khác. 2. Cơ sở dữ liệu sử dụng trong quản lý giá giao dịch liên
kết của Cơ quan thuế, bao gồm: a) Cơ sở dữ liệu quy định tại khoản 1 Điều này; b) Thông tin, dữ liệu trao đổi với các Cơ quan thuế đối tác; c) Thông tin do các cơ quan bộ, ngành trong nước cung cấp
cho Cơ quan thuế; d) Cơ sở dữ liệu của Cơ quan thuế. Cơ sở dữ liệu của Cơ quan thuế sử dụng trong quản lý rủi ro
và ấn định giá giao dịch liên kết đối với các trường hợp vi phạm quy định tại
khoản 3 Điều 12 Nghị định này. 3. Phân tích lựa chọn đối tượng so sánh độc lập để phân
tích, xác định khoảng giao dịch độc lập tuân thủ nguyên tắc phân tích so sánh và
các phương pháp xác định giá giao dịch liên kết quy định tại Nghị định này, theo
thứ tự ưu tiên lựa chọn dữ liệu so sánh như sau: a) Đối tượng so sánh nội bộ của người nộp thuế; b) Đối tượng so sánh cư trú cùng quốc gia, lãnh thổ với
người nộp thuế; c) Đối tượng ở các nước trong khu vực có điều kiện ngành và
trình độ phát triển kinh tế tương đồng. Trường hợp lựa chọn đối tượng so sánh nước ngoài tại các thị trường địa lý khác, phải phân tích tính tương đồng và các khác biệt trọng
yếu định tính và định lượng theo quy định tại điểm e khoản 3 Điều 6 và khoản 2 Điều 7 Nghị định này. Điều 10.
Quyền và nghĩa vụ của người nộp thuế trong kê khai, xác định giá giao dịch liên
kết 1. Người nộp thuế có giao dịch liên kết thuộc phạm vi điều
chỉnh tại Nghị định này có các quyền theo quy định của Luật quản lý thuế. 2. Người nộp thuế có giao dịch liên kết thuộc phạm vi điều
chỉnh tại Nghị định này có trách nhiệm kê khai, xác định giá giao dịch liên kết,
không làm giảm nghĩa vụ thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp tại Việt Nam theo
quy định tại Nghị định này. Người nộp thuế có trách nhiệm chứng minh việc lựa chọn
phương pháp xác định giá theo quy định tại Nghị định này khi Cơ quan có thẩm
quyền yêu cầu. 3. Người nộp thuế có giao dịch liên kết thuộc phạm vi điều
chỉnh tại Nghị định này có trách nhiệm kê khai thông tin về quan hệ liên kết và
giao dịch liên kết theo Mẫu số 01 tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này và nộp
cùng Tờ khai quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp. 4. Người nộp thuế có trách nhiệm lưu giữ và cung cấp Hồ sơ
xác định giá giao dịch liên kết gồm: a) Hồ sơ quốc gia theo Mẫu số 02 tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này; b) Hồ sơ thông tin tập đoàn toàn cầu theo Mẫu số 03 tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này; c) Báo cáo lợi nhuận liên quốc gia của Công ty mẹ tối cao
theo Mẫu số 04 tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này. Trường hợp người nộp thuế là Công ty mẹ tối cao tại Việt
Nam có doanh thu hợp nhất toàn cầu trong kỳ tính thuế từ mười tám nghìn tỷ đồng
trở lên, có trách nhiệm lập Báo cáo lợi nhuận liên quốc gia tại Hồ sơ xác định
giá giao dịch liên kết theo Mẫu số 04 tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định
này. Trường hợp người nộp thuế có Công ty mẹ tối cao tại nước
ngoài, người nộp thuế có trách nhiệm cung cấp bản sao Báo cáo lợi nhuận liên
quốc gia của Công ty mẹ tối cao trong trường hợp Công ty mẹ tối cao của người
nộp thuế phải nộp Báo cáo này cho Cơ quan thuế nước sở tại theo biểu mẫu kê khai
của Cơ quan thuế nước sở tại hoặc Biểu mẫu kê khai theo Mẫu số 04 tại Phụ lục
ban hành kèm theo Nghị định này. Trong trường hợp người nộp thuế không cung cấp
được Báo cáo lợi nhuận liên quốc gia, người nộp thuế phải có văn bản giải thích
lý do, căn cứ pháp lý và trích dẫn quy định pháp luật cụ thể của nước đối tác về việc không cho phép người nộp thuế cung cấp Báo
cáo lợi nhuận liên quốc gia. 5. Hồ sơ xác định giá giao dịch liên kết được lập trước
thời điểm kê khai quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp hàng năm và phải lưu
giữ, xuất trình theo yêu cầu cung cấp thông tin của Cơ quan thuế. Khi Cơ quan thuế thực hiện thanh tra, kiểm tra người nộp thuế, thời hạn cung cấp Hồ sơ xác định giá giao dịch liên kết
không quá 15 ngày làm việc kể từ khi nhận được yêu cầu cung cấp thông tin. 5. Hồ sơ xác định giá giao dịch liên kết và các thông tin tài
liệu, chứng từ của người nộp thuế cung cấp cho Cơ quan thuế theo quy định của
pháp luật quản lý thuế. Các dữ liệu, chứng từ và tài liệu sử dụng làm căn cứ
phân tích so sánh, xác định giá giao dịch liên kết phải nêu rõ nguồn
gốc xuất xứ. Trường hợp dữ liệu của các đối tượng so sánh độc
lập là số liệu kế toán, người nộp thuế có trách nhiệm lưu trữ và cung cấp cho Cơ quan
thuế bằng bản mềm, dưới định dạng bảng tính. 6. Người nộp thuế có trách nhiệm cung cấp đầy đủ, chính xác
và chịu trách nhiệm trước pháp luật đối với các thông tin, tài liệu tại Hồ sơ
xác định giá giao dịch liên kết khi có yêu cầu của Cơ quan thuế trong quá trình
tham vấn trước khi tiến hành thanh tra, kiểm tra theo quy định tại Điều 12 Nghị
định này. Thời hạn cung cấp Hồ sơ xác định giá giao dịch liên kết không quá 30
ngày làm việc kể từ khi nhận được văn bản yêu cầu của Cơ quan thuế. Trường hợp người nộp thuế có lý do chính đáng thì thời
hạn cung cấp Hồ sơ xác định giá giao dịch liên kết được gia hạn 01 lần không quá 15 ngày làm việc, kể từ
ngày hết hạn. 7. Công ty tư vấn, kiểm toán độc lập hoặc công ty kinh
doanh làm thủ tục về thuế là đại diện cho người nộp thuế lập Hồ sơ xác định giá
giao dịch liên kết có trách nhiệm tuân thủ pháp luật quản lý thuế đối với doanh
nghiệp có quan hệ liên kết quy định tại Nghị định này và chịu trách nhiệm trước
pháp luật theo quy định. 1. Người nộp thuế được miễn kê khai xác định giá giao dịch
liên kết tại mục III, mục IV Mẫu số 01 tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này trong
trường hợp chỉ phát sinh giao dịch với các bên liên kết là đối tượng nộp thuế
thu nhập doanh nghiệp tại Việt Nam, áp dụng cùng mức thuế suất thuế thu nhập
doanh nghiệp với người nộp thuế và không bên nào được hưởng ưu đãi thuế thu nhập
doanh nghiệp trong kỳ tính thuế, nhưng phải kê khai căn cứ miễn trừ tại mục I,
mục II tại Mẫu số 01 Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này. 2. Người nộp thuế có trách nhiệm kê khai xác định giá giao
dịch liên kết theo Mẫu số 01 tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này nhưng được
miễn lập Hồ sơ xác định giá giao dịch liên kết trong các trường hợp sau: a) Người nộp thuế có phát sinh giao dịch liên kết nhưng
tổng doanh thu phát sinh của kỳ tính thuế dưới 50 tỷ đồng và tổng giá trị tất cả
các giao dịch liên kết phát sinh trong kỳ tính thuế dưới 30 tỷ đồng; b) Người nộp thuế đã ký kết Thỏa thuận trước về phương pháp
xác định giá thực hiện nộp Báo cáo thường niên theo quy định pháp luật về
Thỏa thuận trước về phương pháp xác định giá. Các giao dịch liên kết không thuộc
phạm vi áp dụng Thỏa thuận trước về phương pháp xác định giá, người nộp thuế có
trách nhiệm kê khai xác định giá giao dịch liên kết theo quy định tại Điều 10
Nghị định này; - Phân phối: Từ 5% trở lên; - Sản xuất: Từ 10% trở lên; - Gia công: Từ 15% trở lên. Trường hợp người nộp thuế không áp dụng theo mức tỷ suất
lợi nhuận thuần quy định tại điểm này thì phải lập Hồ sơ xác định giá
giao dịch liên kết theo quy định. Điều 12.
Trách nhiệm và quyền hạn của Cơ quan thuế trong quản lý giá giao dịch liên
kết 1. Áp dụng quản lý rủi ro trong quản lý thuế đối với giá
giao dịch liên kết theo quy định của pháp luật thuế. 2. Cơ quan thuế căn cứ các nguyên tắc phân tích so sánh,
nguyên tắc và phương pháp xác định giá giao dịch liên kết được quy định tại Nghị
định này và các thông tin kê khai nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp có giao dịch
liên kết để thực hiện ấn định thuế trong các trường hợp sau: a) Trường hợp doanh nghiệp thực hiện đầy đủ chế độ kế toán,
hóa đơn, chứng từ: Việc ấn định doanh thu, chi phí hoặc thu nhập chịu thuế để
xác định nghĩa vụ thuế được thực hiện theo các nguyên tắc phân tích so sánh,
phương pháp xác định giá giao dịch liên kết và cơ sở dữ liệu sử dụng trong quản
lý giá giao dịch liên kết quy định tại Nghị định này; b) Các trường hợp khác: Việc ấn định thuế căn cứ cơ sở dữ
liệu của Cơ quan thuế theo quy định về ấn định thuế đối với doanh nghiệp chưa
thực hiện đầy đủ chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ hoặc các quy định xử lý vi phạm về thuế. 3. Cơ quan thuế có quyền ấn định mức giá; tỷ suất lợi
nhuận; tỷ lệ phân bổ lợi nhuận được sử dụng để kê khai tính thuế, ấn định thu
nhập chịu thuế hoặc số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp đối với người nộp thuế
có phát sinh giao dịch liên kết trong kỳ tính thuế căn cứ các thông tin, dữ liệu
và phân tích đánh giá của Cơ quan thuế, trong các trường hợp người nộp thuế có
các hành vi vi phạm pháp luật về xác định giá giao dịch liên kết sau: a) Người nộp thuế không kê khai, kê khai không đầy đủ thông
tin hoặc không nộp Mẫu số 01 tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này; b) Người nộp thuế cung cấp không đầy đủ thông tin Hồ sơ xác
định giá giao dịch liên kết quy định tại Mẫu số 02, Mẫu số 03 tại Phụ lục ban
hành kèm theo Nghị định này hoặc không xuất trình Hồ sơ xác định giá giao dịch
liên kết và các dữ liệu, chứng từ và tài liệu được sử dụng làm căn cứ phân tích
so sánh, xác định giá tại Hồ sơ xác định giá giao dịch liên kết theo yêu cầu của
Cơ quan thuế trong thời hạn theo quy định tại Nghị định này; c) Người nộp thuế sử dụng các thông tin về giao dịch độc
lập không trung thực, không đúng thực tế để phân tích so sánh, kê khai xác định
giá giao dịch liên kết hoặc dựa vào các tài liệu, dữ liệu và chứng từ
không hợp pháp, không hợp lệ hoặc không nêu rõ nguồn gốc xuất xứ để xác định mức giá,
tỷ suất lợi nhuận hoặc tỷ lệ phân bổ lợi nhuận áp dụng cho giao dịch liên
kết; d) Người nộp thuế có hành vi vi phạm các quy định về xác
định giá giao dịch liên kết tại Điều 11 Nghị định này. 4. Cơ quan thuế có trách nhiệm bảo mật thông tin do người
nộp thuế cung cấp liên quan đến việc xác định giá giao dịch liên kết theo quy
định tại Nghị định này. Việc cung cấp thông tin cho các cơ quan, tổ chức thực
hiện theo quy định tại khoản 5 Điều này. 5. Trường hợp qua thanh tra, kiểm tra xác định giá giao
dịch liên kết có phát sinh vướng mắc về cơ chế, chính sách liên quan đến các
ngành, lĩnh vực chuyên ngành, Cơ quan thuế lấy ý kiến các cơ quan, tổ chức, cá
nhân liên quan, cụ thể: a) Cơ quan quản lý chuyên ngành, các tổ chức, hiệp hội
chuyên ngành; b) Cơ quan thuế có trách nhiệm cung cấp hồ sơ, thông
tin, tài liệu liên quan đến xác định giá giao dịch liên kết
cho các cơ quan, tổ chức chuyên ngành được lấy ý kiến. Các cơ quan, đơn vị được
lấy ý kiến có trách nhiệm bảo mật thông tin theo quy định của pháp luật. 6. Cơ quan thuế trao đổi thông tin với người nộp thuế và Cơ
quan thuế đối tác theo thủ tục thẩm vấn trước, trong và sau quá trình thanh tra,
kiểm tra giá giao dịch liên kết như sau: a) Trường hợp qua việc áp dụng quản lý rủi ro trong quản lý
thuế đối với giá giao dịch liên kết, Cơ quan thuế thấy cần thiết trao đổi thông
tin trước với người nộp thuế về Mẫu số 01 tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này và Hồ
sơ xác định giá giao dịch liên kết của người nộp thuế, Cơ quan thuế gửi công văn
đề nghị tổ chức tham vấn với người nộp thuế để trao đổi, cung cấp trước các thông tin về Hồ sơ xác định giá
giao dịch liên kết của người nộp thuế theo quy định tại Nghị định này; b) Trường hợp Cơ quan thuế cần thực hiện việc liên lạc,
trao đổi với Cơ quan thuế đối tác về Báo cáo lợi nhuận liên quốc gia và các
thông tin liên quan khác thực hiện theo quy định tại điều khoản về thủ tục thỏa
thuận song phương và trao đổi thông tin tại Hiệp định thuế có liên
quan. Trong trường hợp cần thiết, Cơ quan thuế thông báo bằng văn bản cho người nộp thuế về việc tạm dừng
thanh tra, kiểm tra để tiến hành trao đổi thông tin với Cơ quan thuế đối tác
theo quy định của pháp luật thuế; c) Cơ quan thuế có trách nhiệm tạo điều kiện cho người nộp
thuế chứng minh, giải trình về số liệu, dữ liệu của đối tượng so sánh độc lập sử
dụng trong Hồ sơ xác định giá giao dịch liên kết. 7. Trường hợp Cơ quan thuế ký Thỏa thuận trước về phương
pháp xác định giá với người nộp thuế, Cơ quan thuế có trách nhiệm: a) Thực hiện quản lý, kiểm tra, thanh tra các giao dịch liên kết không thuộc phạm vi áp dụng Thỏa
thuận trước về phương pháp xác định giá theo nguyên tắc quản lý rủi ro. b) Quản lý, kiểm tra, thanh tra việc tuân thủ Thỏa thuận
trước về phương pháp xác định giá của người nộp thuế theo quy định. 1. Bộ Tài chính: a) Chịu trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về giá giao
dịch liên kết theo quy định tại Nghị định này; b) Chủ trì, phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông thực
hiện công tác thông tin, tuyên truyền về quản lý nhà nước về giá giao dịch liên
kết; c) Thực hiện kiểm tra, thanh tra việc thực hiện các quy
định về giá giao dịch liên kết theo quy định tại Nghị định này. 2. Ngân hàng Nhà nước Phối hợp cung cấp thông tin, số liệu về các khoản vay và
trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp cụ thể có giao dịch liên kết trên cơ sở danh
sách do Cơ quan thuế yêu cầu, bao gồm dữ liệu về kim ngạch khoản vay, lãi suất,
kỳ trả lãi, trả gốc, thực tế rút vốn, trả nợ (gốc, lãi) và các thông tin liên
quan khác (nếu có). 3. Bộ Kế hoạch và Đầu tư Phối hợp cung cấp dữ liệu đăng ký ngành nghề kinh doanh của
doanh nghiệp; cơ sở dữ liệu về cơ cấu vốn đầu tư tại thời điểm cấp phép và các
thời điểm điều chỉnh, sửa đổi giấy chứng nhận đầu tư, giấy chứng nhận đăng
ký doanh nghiệp và các thông tin liên quan đối với các dự án
đầu tư khi cơ quan thuế thực hiện thanh tra, kiểm tra xác định có dấu hiệu
chuyển giá để trốn, tránh thuế theo đề nghị của Cơ quan thuế. 4. Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm Phối hợp cung cấp cơ sở dữ liệu liên quan đến các hợp đồng chuyển giao công nghệ; hợp đồng
chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp; chuyển giao quyền đối với giống cây trồng; hồ sơ đăng ký
quyền sở hữu trí tuệ sau khi được xác lập quyền sở hữu công
nghiệp, quyền đối với giống cây trồng và cung cấp thông tin khi được lấy ý kiến cho Cơ quan
thuế để thực hiện công tác quản lý thuế đối với các giao dịch liên kết. 5. Bộ Thông tin và Truyền thông Phối hợp cung cấp cơ sở dữ liệu về các doanh nghiệp được
cấp phép kinh doanh trong lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý và thông tin về giao dịch
liên kết trong lĩnh vực kinh tế số theo đề nghị của Bộ Tài chính. 6. Bộ Công Thương Phối hợp cung cấp cơ sở dữ liệu về cơ sở dữ liệu về giá
giao dịch của các hàng hóa trên các sở giao dịch hàng hóa trong nước và thông
tin theo chức năng nhiệm vụ thuộc phạm vi quản lý của Bộ Công Thương, theo yêu
cầu quản lý giá giao dịch liên kết của Cơ quan thuế. 7. Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương Chỉ đạo Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính và các sở, ban,
ngành xây dựng cơ sở dữ liệu thuộc lĩnh vực quản lý chuyên ngành phục vụ công
tác quản lý giá giao dịch liên kết. Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 5 năm
2017. 1. Bộ Tài chính hướng dẫn cụ thể các Điều 6, Điều 7, khoản
8 Điều 10, điểm c khoản 2 Điều 11; chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan
và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương triển khai thực
hiện Nghị định này. 2. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ
tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các tổ chức, cá
nhân liên quan chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này./. Nơi nhận: TM. CHÍNH PHỦ PHỤ LỤC (Kèm theo Nghị định số 20/2017/NĐ-CP ngày 24 tháng 02 năm
2017 của Chính phủ) Mẫu số 01 Thông tin về quan hệ liên kết và giao dịch liên
kết Mẫu số 02 Danh mục các thông tin, tài liệu cần cung cấp tại Hồ
sơ quốc gia Mẫu số 03 Danh mục các thông tin, tài liệu cần cung cấp tại Hồ
sơ toàn cầu Mẫu số 04 Kê khai thông tin Báo cáo lợi nhuận liên quốc gia |
ĐƠN VỊ HỖ TRỢ
|